1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm hưng yên

112 492 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại Trung tâm BVTV phía Bắc, Văn Lâm - Hưng Yên
Tác giả Bùi Đức Thịnh
Người hướng dẫn TS. Trần Đình Chiến
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 13,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, tự nhiên, kinh tế, nông nghiệp

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ5 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ5 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Bùi Đức Thịnh

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này tôi đ5 nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và động viên của các nhà khoa học, của tập thể giáo viên bộ môn côn trùng, Ban l5nh đạo và cán bộ Công ty cổ phần hoá chất Nông nghiệp Hoà Bình, Ban giám đốc và cán bộ Trung tâm BVTV phía Bắc

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến

TS Trần Đình Chiến, Trưởng Bộ môn Côn trùng đ5 trực tiếp tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học cùng tập thể các thầy cô Khoa sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp I đ5 tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban l5nh đạo và các cán bộ Công ty cổ phần hoá chất Nông nghiệp Hoà Bình, Ban giám đốc và cán bộ Trung tâm BVTV phía Bắc đ5 giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đ5 động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Bùi Đức Thịnh

Trang 4

Mục lục

4.1 Thành phần sâu hại trên lúa lai và lúa thuần vụ xuân 2007 tại

4.2 ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến diễn biến mật độ

Trang 5

4.2.1 ảnh hưởng của giống lúa đến diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy

lưng trắng tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc 424.2.2 ảnh hưởng của các giống lúa đến diễn biến mật độ Rầy nâu,

Rầy lưng trắng và Rầy xám tại Văn Lâm - Hưng Yên vụ xuân

4.2.3 ảnh hưởng của 3 mật độ cấy đến diễn biến mật độ Rầy nâu,

Rầy lưng trắng tại Văn Lâm -Hưng Yên vụ xuân 2007 494.2.4 ảnh hưởng của các chân đất khác nhau đến diễn biến mật độ

Rầy nâu, Rầy lưng trắng tại Văn Lâm - Hưng Yên vụ xuân

4.3 Thành phần thiên địch bắt mồi của Rầy nâu hại lúa vụ xuân

4.4 Diễn biến mật độ thiên địch bắt mồi trên lúa vụ xuân 2007 57

4.5.1 Thử tính kháng của giống với Rầy nâu trên nượng mạ vụ xuân

4.5.2 Tìm hiểu khả năng ăn Rầy nâu của nhóm thiên địch bắt mồi 614.5.3 Khảo sát một số loại thuốc hoá học phòng trừ Rầy nâu, Rầy

4.5.4 Hiệu quả kinh tế phòng chống Rầy nâu, Rầy lưng trắng bằng

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

4.3 ảnh hưởng của giống lúa đến diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy

lưng trắng tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc 43 4.4 Diễn biến mật độ Rầy nâu trên các giống tại Văn Lâm - Hưng

4.5 Diễn biến mật độ Rầy lưng trắng trên các giống tại Văn Lâm -

4.6 Diễn biến mật độ Rầy xám trên các giống tại Văn Lâm - Hưng

4.7 Diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng trên 3 mật độ cấy

Trang 8

4.8 Diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng trên các chân đất

4.9 Thành phần các loại thiên địch bắt mồi trên lúa lai và lúa thuần

4.10 Diễn biến mật độ thiên địch bắt mồi của nhóm rầy hại thân vụ

4.11 Xác định tính kháng của giống với Rầy nâu trên nương mạ vụ

4.12 Khả năng ăn Rầy nâu của một số loài thiên địch bắt mồi 61 4.13 ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học đến mật độ Rầy nâu,

4.15 ảnh hưởng của thuốc hoá học đến diễn biến mật độ Rầy nâu,

4.16 Diến biến mật độ thiên địch qua các kì điều tra 68

Trang 9

Danh mục các hình

4.1 Diễn biến mật độ Rầy nâu trên một số giống chính 444.2 Diễn biến mật độ Rầy l−ng trắng trên một số giống chính 444.3 Diễn biến mật độ Rầy nâu trên các giống gieo trồng phổ biến 464.4 Diễn biến mật độ Rầy l−ng trắng trên các giống gieo trồng

4.5 Diễn biến mật độ Rầy xám trên các giống gieo trồng phổ biến 48

4.7 Diễn biến mật độ Rầy l−ng trắng trên các mật độ cấy 514.8 Diễn biến mật độ Rầy nâu trên các chân đất khác nhau 544.9 Diễn biến mật độ Rầy l−ng trắng trên các chân đất khác nhau 544.10 Diễn biến mật độ thiên địch bắt mồi nhóm rầy hại thân 59

Trang 10

9 ThÝ nghiÖm thuèc trõ RÇy n©u hai lóa vô Xu©n 2007 64

Trang 11

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Lúa( Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Trên 1/2 dân số thế giới dùng gạo làm lương thực Để đảm bảo nhu cầu về lúa gạo ngày càng tăng cho con người, ngoài vấn đề tăng diện tích và năng suất lúa thì việc bảo vệ năng suất nhằm giảm tổn thất do sâu bệnh gây ra nói chung và nhóm rầy hại thân nói riêng là một công việc có ý nghĩa to lớn Trong những năm vừa qua, cùng với sự tăng trưởng của sản xuất lúa gạo, phát triển thâm canh và những chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một số sâu bệnh chính hại lúa đ5 diễn biến phức tạp Diện tích lúa hàng năm bị nhiễm Rầy nâu, Rầy lưng trắng tăng nhanh do nhiều giống lúa kháng rầy đ5 mất tính chống chịu Sự thay đổi Biotype Rầy nâu ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng còn là một vấn đề cần được theo dõi thường xuyên để đối phó kịp thời, nhanh chóng, tránh tổn thất tới năng suất và sản lượng lúa trong sản xuất lương thực hiện nay

Theo báo cáo tổng kết của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc thì diện tích lúa bị nhiễm nặng Rầy nâu, Rầy lưng trắng trong những năm gần đây tương đối cao, sau sâu cuốn lá nhỏ Năm 2006 diện tích nhiễm Rầy nâu, Rầy lưng trắng từ hàng chục đến hàng trăm nghìn ha, mật độ rầy nơi cao trên 10.000 con/m2, gây cháy ở nhiều nơi Tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Rầy nâu đ5 bùng phát trên diện rộng làm thiệt hại ước tính khoảng ngàn tỷ

đồng, gây nên mối lo ngại cho sản xuất

Một số nghiên cứu đ5 chỉ ra rằng Rầy nâu ở Việt Nam đang thay đổi độc tính (Nguyễn Công Thuật, Lương Minh Châu, Hồ văn Chiến và cộng sự, 1991,

1993, 1996, 2000) Ngoài gây hại trực tiếp Rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá trên lúa [2] Theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng trừ

Trang 12

Rầy nâu ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đến ngày 29/9/2006 diện tích nhiễm bệnh là 51.503,42 ha, tỷ lệ trung bình 10-20% cao 70% số khóm, nhiều diện tích đ5 bị tiêu huỷ để tránh lây lan Kết quả giám định cho thấy có tới 40% mẫu lúa bị nhiễm bệnh virus, 77% số cá thể Rầy nâu mang virus trong cơ thể

Những năm gần đây việc chuyển đổi cơ cấu giống lúa, những giống lúa

có tiềm năng năng suất cao, phẩm chất tốt được mở rộng đối với các tỉnh miền Bắc, trong đó chủ yếu là các giống lúa lai, lúa thuần Trung Quốc lại là những giống nhiễm nhiều loại sâu bệnh Trong đó Rầy nâu, Rầy lưng trắng là những

đối tượng thường xuyên xuất hiện và gây hại trên cây lúa cả 2 vụ chiêm xuân

và vụ mùa, tập trung từ giai đoạn lúa làm đòng đến chín, hại nặng và làm giảm năng suất đáng kể ở nhiều tỉnh trong vùng Thống kê trung bình mỗi vụ có hàng trăm ngàn ha phải phun trừ rầy, nhiều nơi nông dân phun trừ rầy khi mật

độ còn rất thấp, gây l5ng phí tiền của, làm ô nhiễm trầm trọng môi trường sống, đồng thời gây mất cân bằng sinh thái, để lại dư lượng thuốc cao trong nông sản phẩm vượt quá giới hạn cho phép, ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng

Để khắc phục tình trạng trên việc đi sâu nghiên cứu về nhóm rầy hại thân và tìm ra biện pháp phòng chống hợp lý, góp phần tích cực cho công tác chỉ đạo bảo vệ thực vật đạt hiệu quả cao, đồng thời đưa ra được những khuyến cáo trong việc bố trí cơ cấu giống cây trồng hợp lý để giảm áp lực của dịch hại, giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật và lượng thuốc độc rải trên đơn vị diện tích là việc làm cần thiết

Được sự phân công của Bộ môn Côn trùng Khoa Nông học - Trường

Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại Trung tâm BVTV phía Bắc, Văn Lâm - Hưng

Trang 13

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở xác định thành phần sâu hại trên giống lúa thuần, lúa lai, diễn biến mật độ của nhóm rầy hại thân và thiên địch của chúng để tìm biện pháp phòng trừ đạt hiệu quả kinh tế, an toàn với môi trường

- Điều tra thành phần thiên địch của Rầy nâu

- Tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng đến năng suất lúa và hiệu quả phòng trừ

- Khảo sát một số loại thuốc hoá học để phòng chống nhóm rầy hại thân

Trang 14

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong hệ sinh thái nông nghiệp dịch hại tồn tại trong mối quan hệ thống nhất với môi trường sống Biến động số lượng dịch hại phụ thuộc vào sự bất lợi hay thuận lợi của môi trường sống

Để nâng cao hiệu quả kinh tế, con người không ngừng hoàn thiện hệ thống canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên, x5 hội của từng vùng địa phương Điều này đ5 làm thay đổi mật độ của chủng quần dịch hại, một số dịch hại có xu hướng tăng lên và một số dịch hại có xu hướng giảm đi Trong

điều kiện thoả m5n tối đa các yêu cầu của dịch hại dẫn tới dịch hại sẽ bùng phát về số lượng và phát sinh thành dịch Nghiên cứu động thái quần thể giúp cho việc dự tính được số lượng quần thể sâu hại và thiên địch quan trọng của chúng trong điều kiện đồng ruộng Vì vậy hiểu biết về hệ sinh thái đồng ruộng

sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ cây lúa tránh những mất mát do dịch hại gây ra, đảm bảo năng suất, bảo vệ môi sinh và góp phần giữ cân bằng sinh thái

ở Việt Nam trong những năm gần đây Rầy nâu, Rầy lưng trắng hại lúa đ5 trở thành đối tượng sâu hại chủ yếu trên các vùng trồng lúa Phạm vi phân bố rộng, mức độ gây hại ngày càng lớn Việc phun trừ Rầy nâu, Rầy lưng trắng bằng thuốc hoá học trên thực tế không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả kinh tế mong muốn [5]

Qua nhiều năm theo dõi quy luật phát sinh gây hại của Rầy nâu và Rầy lưng trắng chúng tôi thấy một năm thường có 7 lứa rầy phát sinh, thời gian phát sinh các lứa sớm hay muộn tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết, sinh trưởng của cây trồng và thời vụ gieo cấy [7] Trong năm rầy gây hại cả 2 vụ lúa, song mức độ gây hại ở vụ mùa thường cao hơn vụ xuân (Báo cáo tổng kết hàng năm

Trang 15

Bảng 2.1 Thời gian phát sinh các lứa rầy cám từ năm 1995 - vụ xuân 2007

Nguồn: Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc

Để hạn chế tác hại của nhóm rầy hại thân gây ra, xu hướng ngày nay trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới bắt đầu từ thập kỷ 80 là xây dựng một

hệ thống Nông nghiệp bền vững Trong đó biện pháp phòng trừ tổng hợp đóng vai trò quan trọng, là biện pháp điều khiển quần thể sinh vật trong hệ sinh thái, áp dụng quan điểm sinh thái vào việc phòng chống sâu bệnh với mục

đích là hạn chế quần thể sinh vật gây hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế, do đó phòng trừ tổng hợp là một hệ thống các biện pháp (Sinh học, hoá học, canh tác, giống chống chịu ), các biện pháp này kết hợp với nhau một cách hài hoà, hợp lý sẽ ít tốn kém song phải phù hợp với đặc điểm về môi trường, trình

Trang 16

độ hiểu biết và khả năng kinh tế của nông dân [6]

Được sự tài trợ của chương trình IPM - Dự án DANIDA từ năm 1993 trở lại đây chương trình phòng trừ tổng hợp đ5 được áp dụng và triển khai sâu rộng đến từng x5, thôn Nhờ các lớp tập huấn, các câu lạc bộ IPM, từ đó nâng cao hiểu biết của người dân trên đồng ruộng của mình về sâu, bệnh và mối quan hệ với các sinh vật khác và môi trường cũng như có những kiến thức cơ bản về sinh thái để thực hiện tốt chương trình IPM cộng đồng

Nhằm giúp cho công tác dự tính dự báo, chỉ đạo bảo vệ sản xuất phòng trừ sâu hại nói chung và Rầy nâu, Rầy lưng trắng nói riêng đạt hiệu quả, đưa

ra khuyến cáo ngưỡng mật độ rầy bao nhiêu con/m2 ở giai đoạn nào là cần phun trừ mới đem lại hiệu quả kinh tế cao

Kết quả của đề tài là cơ sở cho công tác dự tính dự báo nhóm rầy hại lúa và thiết thực góp phần xây dựng biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại lúa

Từ những cơ sở khoa học trên với mục đích tìm hiểu nghiên cứu mối quan hệ giữa cây lúa với nhóm rầy hại thân và thiên địch của chúng trên đồng ruộng để từ đó đề xuất một số cải tiến trong biện pháp phòng trừ đối với nhóm rầy hại thân nhằm làm giảm thiệt hại do nhóm rầy gây ra là không đáng kể góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đưa ngành nông nghiệp nước nhà tiến tới một nền nông nghiệp sạch và bền vững góp phần đảm bảo chương trình an ninh lương thực quốc gia

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

2.2.1 Nghiên cứu sự phân bố và tác hại của nhóm rầy hại thân

* Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal)

Theo các nhà khoa học Hasegawa (1995) [35], Mochida và Dyck (1979) [40] Rầy nâu có tên khoa học là Nilaparvata lugens Stal, thuộc họ

Trang 17

Về phạm vi phân bố Mochida (1979) [40] cho rằng Rầy nâu phân bố rộng ở nhiều nước như Nhật bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Banglađet, ấn độ, Indonesia, Việt Nam Rầy nâu còn thấy ở cả những vùng dọc theo đường xích đạo, chứng tỏ chúng thuộc côn trùng nhiệt đới Rầy nâu phá hại nặng trên cây lúa ở nhiều nước vùng Nam và Đông Nam châu á

Theo Nguyễn Văn Huỳnh [12] cho thấy lúa là cây ký chủ quan trọng

đầu tiên của Rầy nâu, ngoài ra người ta còn tìm thấy trên các cây trồng và cỏ dại khác như lúa, kê, cỏ lồng vực, cỏ gấu, sậy, cỏ tranh, bông bụi Theo Hinekly [36] những ký chủ không phải là lúa chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của Rầy nâu

Theo Dale [33] khi nghiên cứu về phương thức gây hại của Rầy nâu cho rằng Rầy nâu có thể hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, đặc biệt

là giai đoạn mạ, giai đoạn làm đòng, trỗ và chín Nếu hại nặng giai đoạn mạ thì cây không thể sinh trưởng được dẫn đến héo và chết, giai đoạn làm đòng nếu nhiễm rầy nặng sẽ giảm năng suất hoặc không cho thu hoạch

Rầy non và rầy trưởng thành trích hút dịch nhựa từ mạch libe của cây, trong quá trình hút chúng có thể tiết ra một chất kết rắn đưa vào mô cây tạo thành ống hút, những ống này làm tắc nghẽn nhựa lưu thông cây làm cho chồi

bị héo và ngả màu nâu tạo ra hiện tượng cháy rầy, hiện tượng này xảy ra một cách cục bộ khi mật độ quần thể cao và trong những ngày trời nhiều mây Hiện nay nhiều tác giả đ5 khẳng định Rầy nâu là môi giới truyền bệnh virus lùn xoắn lá [54]

* Rầy lưng trắng: ( Sogatella furcifera Horv)

Phân bố rộng ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu á như Trung Quốc, ấn Độ, Indonesia, Việt nam [40], một số nước Châu Mỹ như CuBa, Gnana, Suriname, một số nước Châu úc và đảo Thái Bình Dương [59]

Trang 18

So với Rầy nâu thì khả năng gây thành dịch và mức độ phổ biến của Rầy lưng trắng ít hơn Tuy nhiên Rầy lưng trắng và Rầy xám xuất hiện trên ruộng cùng với Rầy nâu

Những năm gần đây mật độ Rầy lưng trắng tăng lên rất nhanh, có năm gây thiệt hại nghiêm trọng không kém Rầy nâu ở đồng bằng sông Cửu Long

và ven biển miền trung

Ký chủ chính của Rầy lưng trắng là lúa, ngoài ra Rầy lưng trắng có thể hoàn thành phát dục của mình trên một số cây khác như ngô, cỏ lồng vực cạn,

cỏ đuôi phượng, cỏ chác và các loại lúa dại họ Oryza sativa

Cũng như Rầy nâu cả rầy non và rầy trưởng thành đều trực tiếp trích hút thân cây lúa, sự chích hút có thể làm cho cây lúa biến vàng, xuất hiện màu

đỏ gỉ sắt lan từ ngọn lá đến các phần còn lại của cây Dịch ngọt do rầy tiết ra giúp cho sự phát triển của nấm bò hóng, kéo theo sự khô héo của cây lúa So với Rầy nâu nấm bò hóng trên thân cây ít hơn Hiện tượng cháy rầy xảy ra khi khóm lúa bị vàng đỏ và cây lùn thụt khi mật độ rầy cao và có thể lan nhanh,

điển hình tại vùng Asam ấn độ tháng 5-6 năm 1985 hơn 8000 ha lúa IR8 đ5 bị cháy do Rầy lưng trắng [43]

* Rầy xám: ( Delphacodes striatella Fall )

So với Rầy nâu và Rầy lưng trắng, những nghiên cứu về Rầy xám ở trong và ngoài nước không nhiều vì nó xuất hiện ít và hầu như khả năng gây cháy rầy là không xảy ra

Theo tác giả Hill S Dennish [40] cho rằng sự chích hút của Rầy xám non và trưởng thành là phương thức truyền bệnh lùn sọc đen, bệnh sọc do virus và tồn tại dưới dạng môi giới truyền bệnh trong suốt đời sống của nó sau khi chích hút một cây bị nhiễm virus

Phạm vi phân bố ở hầu hết các khu vực trồng lúa, trừ những vùng khí hậu ôn đới đặc biệt là các vùng đông á như Trung Quốc, nhật Bản, Triều

Trang 19

Ký chủ bao gồm lúa, mía, lúa mì, ký chủ trung gian đặc biệt trong mùa

đông của Rầy xám là lúa đại mạch, lúa mì cỏ túc hình

2.2.2 Đặc điểm sinh học của nhóm rầy hại thân

* Rầy nâu:

Trứng rầy mới đẻ có màu vàng nhạt, trong suốt, trước khi nở ngay ở đầu nhọn có một điểm đỏ vàng sau thành màu nâu đỏ, trứng được đẻ thành từng ổ, mỗi ổ có từ 1-30 quả, trứng thường đẻ trong bẹ hoặc gân lá, quá trình đẻ từ 7-9 ngày, mỗi con cái đẻ khoảng 50-100 quả (đối với Rầy nâu cánh dài), 300 quả (đối với Rầy nâu cánh ngắn) Theo Mochida và Okata [53] số lượng trứng của Rầy nâu biến động từ 100-500 quả/ con cái

áu trùng có 5 tuổi, khi mới nở có màu nâu sáng hoặc trong suốt dài 0,6

mm, sau đó biến thành màu nâu, đến tuổi thứ 5 dài 3mm, giai đoạn ấu trùng kéo dài khoảng 12-13 ngày [40]

Trưởng thành có 2 dạng Rầy nâu cánh ngắn và Rầy nâu cánh dài, con

đực có kích thước nhỏ hơn con cái, vòng đời nếu nuôi ở nhiệt độ ổn định 250C

là 23-32 ngày tuổi [53]

* Rầy lưng trắng:

Theo Hill S Dennish [40],[ 59] Rầy lưng trắng cũng như Rầy nâu, trứng

được đẻ ở phần mô bẹ lá hoặc gân chính của lá, đẻ thành từng ổ, trứng có hình dạng và kích thước tương tự Rầy nâu nhưng mũi trứng dài hơn, mỗi con cái có thể đẻ khoảng 300-500 trứng, đẻ tập trung trong 3-6 ngày và kéo dài khoảng 10-15 ngày

ở ấn độ với điều kiện nhiệt độ trong tháng 9 cao nhất 32,70C, cực tiểu 25,30C, ẩm độ khoảng 83-85% thời gian trứng của Rầy lưng trắng là 6 ngày

Rầy non có 5 tuổi, khi mới nở có màu trắng sữa, sau chuyển lấm chấm màu xám sẫm hoặc màu đen và trắng xen kẽ [64]

Trang 20

Trưởng thành cũng có 2 dạng cánh dài và cánh ngắn tương tự Rầy nâu, tất cả con đực đều có cánh dài, con cái có cả 2 dạng cánh ngắn và cánh dài

2.2.3 Đặc điểm sinh thái học của nhóm rầy hại thân

Theo tác giả Lin [49], Hsien [42] cho rằng trong một năm thường có 2 thời kỳ cao điểm của Rầy nâu ứng với 2 vụ lúa chính, tốc độ tăng trưởng của quần thể Rầy nâu cao mặc dù số lượng Rầy nâu nhập cư rất thấp nhưng số lượng quần thể Rầy nâu tăng nhanh, mỗi thế hệ tăng lên 8 lần [47]

ở Nhật Bản có 3 lứa Rầy nâu, cuối vụ đa phần rầy trưởng thành chết trong mùa đông hoặc một phần nhỏ di chuyển đến những nơi khác có thức ăn

và điều kiện ít khắc nhiệt hơn [41],[ 46]

Trang 21

thứ 4 vào khoảng 90-100 ngày sau cấy [43] Rầy nâu có thể di chuyển từ ruộng này sang ruộng khác, thường vào giai đoạn cuối vụ, khi thức ăn của ruộng này không còn thích hợp do lúa chín hay bị cháy rầy, Rầy nâu di chuyển chủ yếu là rầy cánh dài [42]

Vào mùa khô ở vùng nhiệt đới Rầy nâu còn có sự di chuyển giữa các ruộng lúa với khoảng cách 6-30 km sau khi cất cánh vào buổi tối [57]

Theo Dyck và cộng sự [35] số ngày mưa trong năm có liên quan đến diện tích lúa bị nhiễm rầy, tuy nhiên theo [58] điều kiện thời tiết khô hoặc lượng mưa thấp dẫn đến mật độ rầy tăng Nhưng theo Mochida [52] thì cho rằng lượng mưa không liên quan đến việc tăng số lượng Rầy nâu

Theo Heinrichs [38], Pathak [57] thì việc gieo trồng những giống lúa mới cho năng suất cao có sự tương quan rõ rệt tới sự phát triển của Rầy nâu, những giống lúa mới thấp cây, lá thẳng đứng và đẻ nhiều tạo một thảm lá dầy

là điều kiện thuận lợi cho Rầy nâu phát sinh và phát triển

Cấy dầy, gieo v5i với mật độ cao, nước đầy đủ cũng làm tăng tác hại của Rầy nâu [58]

Ngoài ra việc sử dụng nhiều phân hoá học đặc biệt là phân đạm cũng làm tăng mật độ quần thể của Rầy nâu

Theo Cruz, litsinger [34] sự có mặt của lúa chét trên ruộng giữa 2 vụ lúa cũng làm tăng mật độ của Rầy nâu

Một số giống có tác dụng hạn chế sự phát triển và gây hại của Rầy nâu, mức kháng khác nhau đối với Rầy nâu đ5 được nghiên cứu tại IRRI vào năm

1963 có 7 gen đ5 được khẳng định tác động, chống chịu với Rầy nâu [38]

Cơ cấu tỷ lệ giống kháng, giống nhiễm hợp lý mới hạn chế sự bùng phát

số lượng Rầy nâu [45]

Việc dùng thuốc hoá học không đúng sẽ tiêu diệt các thiên địch của Rầy nâu và gây nên hiện tượng kháng thuốc của Rầy nâu [48]

Trang 22

Nhiều nghiên cứu của Trung Quốc, ấn độ cho thấy một số loại thuốc như Carbofuran, Bpmc, Buprofezin có hiệu quả cao đối với rầy non và rầy trưởng thành [51]

Thiên địch của Rầy nâu rất đa dạng và phong phú ở Đài Loan tuỳ theo

điều kiện từng vụ lúa mà trứng Rầy nâu bị một số loài ong ký sinh từ 3,3 - 31,8% ở Thái Lan tỷ lệ trứng bị ký sinh thấp nhất là 11% cao nhất là 100%; Nhật Bản tỷ lệ ký sinh dao động từ 45 - 69% (Lin [49]; Hokyo [41]; Otake [56]) Với số lượng lớn trên đồng ruộng các loài nhện có vai trò quan trọng trong việc kìm h5m mật độ quần thể rầy [62] Nhện lớn bắt mồi phát hiện thấy trên ruộng lúa 14 - 20 ngày sau cấy, sau đó mật độ nhện tăng dần và đạt đỉnh cao vào cuối tháng 6 [65]

* Rầy lưng trắng:

Rầy lưng trắng thường có số lượng lớn vào đầu vụ, quần thể Rầy lưng trắng cao nhất vào thời kỳ đẻ nhánh, trước khi phân hoá đòng vào khoảng 7-8 tuần sau khi cấy sau đó số lượng giảm dần vào giai đoạn lúa sau khi trỗ [60]

Quần thể Rầy lưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùa khô và có ít nhất

3 thế hệ, mặc dù số lượng nhập cư ban đầu của Rầy lưng trắng cao hơn Rầy nâu nhưng tốc độ tăng quần thể lại thấp, chỉ tăng được 4 lần trong 3 thế hệ trong khi quần thể Rầy nâu tăng 8 lần ở mỗi thế hệ Do tốc độ tăng trưởng thấp nên Rầy lưng trắng hiếm khi đạt tới đủ số lượng có thể gây thiệt hại cho kinh tế đối với cây lúa [60]

Sự di chuyển của Rầy lưng trắng liên quan đến cường độ ánh sáng và nhiệt

độ, hoạt động di chuyển của Rầy lưng trắng có liên quan đến tuần trăng [35]

Reley và cộng sự (1987) cho rằng Rầy lưng trắng còn có sự di cư giữa các vụ lúa với khoảng cách từ 6 - 30 km sau khi cất cách vào buổi tối trong mùa khô ở các vùng nhiệt đới

Trang 23

Bón nhiều phân đạm, cấy dầy, tưới nước thường xuyên và mật độ ký sinh thấp làm bùng phát số lượng Rầy lưng trắng [36]

Việc gieo trồng các giống lúa kháng đ5 làm giảm số lượng Rầy lưng trắng trên đồng ruộng

ở Trung Quốc có 41 trong 218 bộ giống lúa có tính chống chịu đối với Rầy lưng trắng Theo Jiang và cộng sự [44] cho rằng rầy ăn trên các giống kháng ít đẻ hơn, cơ thể nhỏ hơn và tỷ lệ sống sót của rầy non thấp, thời gian rầy non kéo dài, tốc độ phát triển của quần thể chậm hơn

Theo Lui và cộng sự [50] sự giảm ăn của Rầy lưng trắng trên giống kháng có thể do sự có mặt của chất ức chế trong cây

Thuốc hoá học có ảnh hưởng đến quần thể số lượng Rầy lưng trắng ở Pakistan [37] các loại thuốc Chlopyriphos và carbosulphal có hiệu lực cao và kéo dài trong 5 ngày đối với Rầy lưng trắng, ngoài ra dầu xoan, dầu neem cũng có tác dụng trừ Rầy lưng trắng

Các loài bắt mồi có vai trò đáng kể trong việc hạn chế số lượng Rầy lưng trắng [49] Trong các loài bắt mồi thì các loài bọ xít và nhện là những thiên địch quan trọng Cyrtorhinus và Tytthus đặc biệt thích ứng với trứng và rầy non tuổi nhỏ của rầy họ Delphacidae Theo Samsul [39],[ 61] ở Fiji Bọ xít

mù xanh đ5 hạn chế được số lượng Rầy lưng trắng có hiệu quả

* Rầy xám:

So với Rầy nâu và Rầy lưng trắng thì những nghiên cứu về Rầy xám không nhiều vì mức độ phổ biến trên đồng ruộng và phạm vi gây hại không lớn bằng 2 loại Rầy nâu và Rầy lưng trắng ở các vùng cận nhiệt đới Châu á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản Rầy xám phát sinh phát triển mạnh làm xuất hiện những trận dịch bệnh lùn sọc đen và bệnh sọc do virus [38]

So với Rầy nâu và Rầy lưng trắng thì Rầy xám ít di cư hơn, dưới áp lực

Trang 24

của việc sử dụng thuốc hoá học ở các nước cận nhiệt đới Châu á thì tốc độ phát triển tính kháng thuốc của Rầy xám xảy ra nhanh [55]

Việc sử dụng các giống lúa kháng Rầy xám đ5 được thử nghiệm và tiến hành ở Triều Tiên, Nhật Bản, trong đó giống ASD7 được ghi nhận là giống chống chịu cao [38]

Những loại thuốc có tác dụng diệt trừ Rầy nâu và Rầy lưng trắng đều có tác dụng diệt trừ Rầy xám, tuy nhiên số lượng, mật độ Rầy xám không quyết

định đến mức độ gây hại mà là tỷ lệ Rầy xám mang nguồn virus

2.3 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

2.3.1 Nghiên cứu sự phân bố và tác hại của nhóm rầy hại thân

Rầy nâu từ lâu đ5 được coi là một trong những loài sâu hại lúa quan trọng ở các tỉnh phía Bắc nước ta Đặc biệt từ vụ chiêm xuân 1981, sự phá hại của Rầy nâu đ5 trở thành mối lo ngại thường xuyên đối với sản xuất ở hầu hết các vùng thâm canh lúa

ở nước ta Rầy nâu, Rầy lưng trắng phân bố rộng từ Bắc vào Nam, song cây lúa là cây ký chủ quan trọng của Rầy nâu và Rầy lưng trắng, những ký chủ phụ xen kẽ như cỏ kê chân vịt, cỏ môi, cỏ mía

Trong những năm gần đây Rầy nâu, Rầy lưng trắng là đối tượng dịch hại nguy hiểm Theo số liệu tổng kết báo cáo công tác bảo vệ thực vật năm

2006 của Cục bảo vệ thực vật [8] cho thấy Rầy nâu, Rầy lưng trắng có xu hướng phát triển tăng lên về mật độ và diện phân bố Chỉ tính riêng năm 2006 cả nước có diện tích nhiễm Rầy nâu, Rầy lưng trắng là 605.593 ha (Tăng 3,2 lần so với năm 2005), trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 48.876 ha (Tăng 4,6 lần so với năm 2005), có 51,8 ha bị cháy rầy phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng

Đồng bằng Bắc Bộ

Trang 25

Bảng 2.2 Diện tích nhiễm Rầy nâu, Rầy l−ng trắng các tỉnh phía Bắc

Diện tích mất trắng

Diện tích nhiễm

Diện tích nặng

Diện tích mất trắng

Nguồn: Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc

Riêng các tỉnh miền Bắc có 141.190 ha bị nhiễm rầy, tăng 28,6% so với năm 2005, trong đó diện tích nhiễm nặng khoảng 20.000 ha, tăng 1,8 lần so với năm 2005

Rầy gây hại chủ yếu các giống lúa nhiễm nh−: Bắc thơm số 7, Khang dân 18, Nếp, Tám thơm, Q5 giai đoạn ngậm sữa - chắc xanh của trà mùa chính vụ và trà lúa muộn từ trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10 chủ yếu các

Trang 26

tỉnh đồng bằng, miền núi phía Bắc mật độ phổ biến 2000-3000 con/m2 nơi cao

6000 con/m2 cá biệt hàng vạn con/m2

Các tỉnh miền nam có 464.763 ha bị nhiễm rầy, tăng 5,8 lần so với năm

2005, trong đó diện tích nhiễm nặng khoảng 30.000 ha, tăng 83 lần so với năm 2005, mật độ rầy và diện phân bố tăng tăng nhanh từ đầu đến trung tuần tháng 2 trên trà lúa đông xuân sớm giai đoạn đẻ nhánh - trỗ bông, gây cháy cục bộ trên trà lúa trỗ bông ở một số tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang mật độ phổ biến 1000 - 1500 con/m2 cao 5000 con/m2 cá biệt > 10.000 con/m2

Nhìn chung trên phạm vi cả nước Rầy nâu, Rầy lưng trắng có xu hướng gia tăng cả về mật độ, diện phân bố và mức độ gây hại

Nhận xét: Vụ xuân 2007 Rầy nâu, Rầy lưng trắng có mật độ cao, diện phân bố rộng hơn vụ xuân năm trước Rầy gây hại chủ yếu ở 2 lứa chính là lứa thứ 2 vào cuối tháng 4 - đầu tháng 5 và lứa thứ 3 vào cuối tháng 5 - đầu tháng 6 mật

độ phổ biến 1000 - 1500 con/m2nơi cao 5000-7000 con/m2 cá biệt hàng vạn con/m2, gây cháy nhiều ổ ở các tỉnh như: Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Sơn La Diện tích nhiễm toàn vùng vụ xuân 2007 là: 137.140 ha, nặng 28.691 ha cao hơn nhiều so cùng kỳ năm trước

Rầy xám thường xuất hiện vào cuối vụ lúa cùng với Rầy lưng trắng khi lúa đ5 vào chắc và chín, chủ yếu là rầy cánh dài để di chuyển đến các bờ cỏ, lúa chét và mía , trên đồng ruộng số lượng xuất hiện của Rầy xám thường thấp hơn Rầy nâu và Rầy lưng trắng, mức độ gây hại của Rầy xám ít xuất hiện, thiệt hại của Rầy xám gây ra là thấp [30]

2.3.2 Đặc điểm sinh vật học của nhóm rầy hại thân

* Rầy nâu:

Những nghiên cứu về Rầy nâu của một số tác giả như: Nguyễn Công

Trang 27

Đồng bằng Sông Cửu long, nhiệt độ bình quân các tháng trong năm không thay đổi nhiều, do vậy thời gian phát dục của các lứa rầy nuôi trong phòng cũng không thay đổi đáng kể

Theo dõi tại Trung tâm BVTV phía Bắc năm 2006 cho thấy thời gian phát dục của các lứa rầy nuôi liên tiếp trong năm thay đổi rất nhiều và phụ thuộc vào nhiệt độ

Bảng 2.3 Thời gian phát dục của các tuổi Rầy nâu qua các thời gian trong năm

Số ngày phát dục ở các tuổi

Trang 28

Trong thời gian khoảng tháng 4 - tháng 10 nhiệt độ trung bình ngày thay đổi từ 24,5 - 29,30C thời gian phát dục của các pha là: Trứng 6,6-7,4 ngày; Rầy non 13,9-15,7 ngày; rầy trưởng thành sống 12,2-14,7 ngày Thời gian một vòng đời 26 - 31 ngày Trong tháng 2- tháng 3 ở nhiệt độ thấp dưới

200C vòng đời kéo dài tới 50-55 ngày

Rầy non có 5 tuổi, thời gian qua mỗi tuổi rầy cũng thay đổi rất lớn, phụ thuộc vào nhiệt độ Tuổi rầy dài nhất trong tháng 2 tới 9 ngày và ngắn nhất trong các tháng mùa hè là 2,1 ngày

Trong mùa đông, nuôi rầy trong nhà lưới, nhận thấy những năm rét đậm kéo dài, một số rầy trưởng thành đ5 sống kéo dài khoảng trên dưới 80 ngày, từ cuối tháng 11 năm trước đến khoảng giữa tháng 2 năm sau, giai đoạn trứng trong tháng 2- tháng 3 có khi kéo dài tới 22 ngày

Quan sát rầy nuôi trong nhà lưới nhận thấy chất lượng thức ăn và mật

độ quần thể ở giai đoạn rầy non có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành dạng hình cánh ngắn hay cánh dài Nuôi rầy trên những cây lúa được chăm sóc tốt thì trong lồng xuất hiện hầu hết là rầy cánh ngắn, ngược lại trên những cây lúa sinh trưởng kém, còi cọc hoặc vào cuối thời kỳ sinh trưởng cây lúa thì trong lồng chủ yếu là rầy cánh dài Mật độ rầy quá cao trong giai đoạn ấu trùng cũng dẫn đến sự hình thành dạng cánh dài

Trên đồng ruộng tỷ lệ rầy cánh dài/ cánh ngắn thay đổi rất nhiều theo giai đoạn sinh trưởng cây lúa

Giai đoạn lúa mới cấy - đẻ nhánh, rầy trưởng thành chủ yếu ở dạng cánh dài, giai đoạn lúa đứng cái - làm đòng thì dạng cánh ngắn chiếm đa số, giai đoạn từ lúa trỗ trở đi hầu hết rầy trưởng thành ở dạng cánh dài

Rầy trưởng thành cánh ngắn thường đẻ trứng sớm hơn rầy cánh dài, thời gian trước đẻ trứng ở rầy cánh ngắn thường từ 2-3 ngày, còn ở rầy cánh dài thì chậm hơn 1-2 ngày

Trang 29

Bảng 2.5 Tỷ lệ rầy cánh dài và cánh ngắn thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng cây lúa

Theo Nguyễn Đức Khiêm [15] thời gian phát dục của Rầy nâu trong vụ mùa nhiệt độ từ 25 - 290C thì thời gian trứng khoảng 6,5 ngày, rầy non khoảng 13,5 - 16 ngày, trưởng thành 6 - 9 ngày, trước đẻ trứng 2,5- 3 ngày, vòng đời

26 - 30 ngày Tỷ lệ rầy cánh ngắn hay cánh dài tuỳ thuộc vào chất lượng thức

ăn và mật độ rầy trong ruộng lúa ở giai đoạn đẻ nhánh chủ yếu rầy cánh dài xâm nhập vào ruộng lúa thấp, sau đó từ giai đoạn đòng đến đỏ đuôi rầy tăng nhanh về số lượng, tỷ lệ rầy cánh ngắn chiếm chủ yếu

Rầy trưởng thành có xu hướng vào đèn mạnh, đây là đặc tính dùng trong việc dự tính dự báo Rầy nâu

Trang 30

* Rầy lưng trắng:

Theo Nguyễn Đức Khiêm [14] và Đinh văn Thành [27] mô tả hình thái Rầy lưng trắng như sau: Mảnh lưng giữa có 1 dải trắng, mình màu nâu vàng, cánh trước có màu đen hoặc xám, con đực dài 2,6 mm, không có dạng cánh ngắn, con cái dài 2,9 mm, mảnh lưng uốn cong không sâu phía dưới, rầy trưởng thành di chuyển nhiều hơn so với Rầy nâu

Trứng đẻ thành từng ổ hình nải chuối, mỗi ổ từ 2 - 7 quả, thường đẻ trong mô bẹ hoặc gân chính của lá tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng của lá, khi mới đẻ trứng có màu trong suốt không màu, 3 ngày sau khi đẻ đầu trứng xuất hiện điểm mắt màu đỏ, cuối trứng có một đốm màu vàng đục

Thời gian phát dục của Rầy lưng trắng thay đổi tuỳ theo điều kiện nhiệt

độ và ẩm độ Nhìn chung Rầy lưng trắng cánh dài luôn chiếm ưu thế trong quần thể [27]

* Rầy xám:

Các kết quả nghiên cứu cho thấy Rầy xám cũng giống như Rầy nâu và Rầy lưng trắng, trứng của Rầy xám được đẻ thành ổ trên gân chính của lá, mỗi trứng đều có mũ trứng chụp lên đỉnh

Rầy non có kích thước nhỏ hơn Rầy nâu và Rầy lưng trắng cùng tuổi Rầy non trải qua 5 tuổi có màu nâu nhạt đến nâu đậm, vào mùa đông rầy non tuổi 4, tuổi 5 nằm tiền sinh trên cây ký chủ trung gian

Theo Nguyễn Đức Khiêm [14] ở điều kiện nhiệt độ từ 23,8 - 29,8 0C,

ẩm độ 93 - 94% thời gian phát dục trứng Rầy xám là 6,7 - 7,5 ngày, tỷ lệ nở khoảng 42,4%, thời gian phát dục của rầy non là 13,1 - 14,3 ngày, vòng đời khoảng 24 ngày

Trang 31

2.3.3 Sinh thái học của nhóm rầy hại thân

* Rầy nâu:

Quan sát trên đồng ruộng ở nhiều địa điểm chúng tôi thấy hàng năm đợt rầy non đầu tiên xuất hiện ở các trà lúa sớm trong khoảng cuối tháng 2 - đầu tháng 3, những năm trời ấm sớm rầy non xuất hiện từ giữa tháng 1 - đầu tháng

2, còn những năm rét muộn kéo dài, m5i tới cuối tháng 3 mới thấy rầy non xuất hiện trên đồng ruộng

Trong điều kiện nước ta mỗi một vụ lúa quần thể Rầy nâu đều có sự tích luỹ tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ, mật độ quần thể đạt đỉnh cao vào giai

đoạn lúa trỗ bông - ngậm sữa và thường gây cháy ở thời điểm này, mật độ quần thể Rầy nâu ở vụ mùa thường cao hơn vụ xuân [1]

Mùa mưa các trận dịch thường xảy ra hơn so với mùa khô ở miền Nam các trận dịch thường xảy ra trong vụ hè thu từ tháng 7 - tháng 9 ở miền Bắc những năm mùa đông lạnh đ5 làm hạn chế sự phát triển của Rầy nâu, mật độ Rầy nâu ở đầu vụ sẽ thấp Mùa đông nhiệt độ cao các lứa rầy trong vụ xuân sẽ phát triển sớm hơn [25]

ở Việt Nam Rầy nâu tồn tại quanh năm, rầy phát triển mạnh sau mưa kéo dài, nhiệt độ tăng lên hoặc những năm đầu năm khô hạn, giữa năm lượng mưa lớn [28], những trận mưa kéo dài xen kẽ ngày nắng gắt là điều kiện thuận lợi cho Rầy nâu phát triển Tuy nhiên nếu mưa to gió lớn hoặc nhiệt độ đột ngột hạ xuống cũng làm hạn chế Rầy nâu phát triển [13]

Theo Nguyễn Công Thuật [24] cho rằng việc gieo cấy tập trung hay kéo dài đều có ảnh hưởng đến sự phát triển gây hại của rầy, cấy dầy làm tăng mật

độ Rầy nâu trong ruộng, bón nhiều phân đạm cũng cho thấy mật độ Rầy nâu tăng dần theo mức bón [15]

Tưới và thường xuyên giữ nước trong ruộng ở giai đoạn đứng cái - làm

Trang 32

đòng mực nước từ 5 - 10 cm thích hợp nhất cho Rầy nâu gia tăng mật độ đẫn

đến tăng tác hại của rầy [21]

Trần Huy Thọ [28] cho rằng những vùng thâm canh cao thì hệ số tích luỹ rầy cao, mức độ gây hại cao hơn nhiều so với những vùng thâm canh thấp

ảnh hưởng của giống kháng và tính kháng rầy: ở nước ta từ năm 1989 trở lại đây việc đánh giá và tuyển chọn những giống kháng rầy đ5 được tiến hành ở nhiều nơi ở miền bắc đ5 xác định được 332 giống và dòng lai có tính kháng Rầy nâu trong số 905 giống và dòng lai được đánh giá [9], [26]

Miền Nam xác định được 78 dòng lai có tính kháng với Rầy nâu trong

số 1134 giống và dòng lai được đánh giá [25]

Nhiều giống lúa có phản ứng kháng với Rầy nâu ở miền bắc như: IR36, IR42, IR17496, IR32423… nhưng lại nhiễm Rầy nâu ở đồng bằng sông Cửu long, đồng thời chưa thấy giống nào ở Đồng bằng sông Cửu long lại bị nhiễm rầy ở phía Bắc [25]

Các yếu tố ngoại cảnh và chế độ canh tác có ảnh hưởng đến quần thể Rầy nâu trên đồng ruộng [32]

Nhiệt độ thấp trong mùa đông đ5 làm chậm tốc độ phát dục kéo dài thời gian các pha phát triển của Rầy nâu đồng thời làm tăng tỷ lệ tử vong trong giai

đoạn rầy non và trưởng thành, do đó làm giảm mật độ quần thể của chúng

Các đợt rét đậm đột ngột vào đầu mùa xuân cũng làm cho tỷ lệ tử vong

ở các đợt rầy non đầu vụ tăng lên

Mùa đông lạnh hay ấm, đến và kết thúc sớm hay muộn đều có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các lứa rầy trong năm Những năm mùa đông kết thúc sớm, nhiệt độ trong tháng 1 và 2 lên cao thì các lứa rầy trong vụ chiêm xuân cũng phát triển sớm hơn so với những năm mùa đông kết

Trang 33

Những vùng cấy nhiều lúa chiêm xuân sớm, Rầy nâu thường phát triển sớm hơn và đạt đến mật độ cao gây cháy rầy trước các vùng cấy nhiều lúa xuân chính vụ và xuân muộn

ảnh hưởng của thuốc hoá học: Việc sử dụng thuốc hoá học trừ sâu, bệnh hại phải hợp lý Chú ý tới các loại chế phẩm sinh học, việc áp dụng hệ thống phòng trừ tổng hợp không những hạn chế được sự gây hại của sâu và bệnh còn bảo vệ được thiên địch

Để bảo vệ được thiên địch và làm giảm tác hại của sâu bệnh cần thực hiện ba vấn đề then chốt của việc dùng hoá chất bảo vệ thực vật một cách khoa học là:

1 Đề ra các thông số có căn cứ khoa học về phòng trừ sâu hại (ngưỡng gây hại kinh tế), chỉ sử dụng thuốc trừ sâu hại khi tới ngưỡng kinh tế

2 Chọn dùng các loại thuốc có hiệu lực trừ sâu, bệnh cao ít độc cho thiên địch, ít để lại dư lượng

3 Cải tiến phương pháp rải thuốc như giảm nồng độ, số lần phun Theo Nguyễn Văn Hành [10] thuốc trừ sâu ít nhiều đều có tác dụng xấu

đến quần thể thiên địch, gián tiếp hay trực tiếp hạn chế khả năng tích cực của chúng vì vậy Rầy nâu sẽ phát sinh số lượng nhanh hơn nếu sử dụng thuốc không hợp lý và sự tái bộc phát Rầy nâu xảy ra

Đặng Thị Bình [1] cho rằng dưới tác dụng của các loại thuốc Padan, Wofatox, validacin mật độ Rầy nâu ở lứa thứ 3 tăng lên rất nhanh, mặt khác

số lần phun thuốc tăng lên tạo điều kiện cho Rầy nâu tích luỹ quần thể nhanh

Theo Trần Đình Chiến [4] các thí nghiệm thử hiệu lực của thuốc đối với rầy cho thấy Bassa 50 EC có khả năng diệt trừ rầy cao nhất nhưng ảnh hưởng

rõ rệt đến quần thể thiên địch Các loại thuốc Shachong Shuang 9WP, Padan

95 SP, Wofatox 50 EC đều có độ độc cao đối với thiên địch của Rầy nâu

Trang 34

Tập quán dùng hoá chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp

được áp dụng cách đây khoảng 40 năm do điều kiện kinh tế cũng như trình độ của người nông dân mà việc sử dụng thuốc bất hợp lý, thuốc dùng đa số là loại thuốc không có tính chọn lọc cao, số lần sử dụng nhiều Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có tính chọn lọc cao và đúng bốn nguyên tắc, không những bảo vệ được tổn thất năng suất lúa do sâu, bệnh hại gây ra mà còn bảo vệ được thiên địch trong ruộng lúa

ảnh hưởng của thiên địch: Cùng với sự xuất hiện của Rầy nâu trên

đồng ruộng thường có mặt một số loại ký sinh và ăn thịt Rầy nâu Các loại Bọ rùa thường thấy vào cuối vụ lúa, khi mật độ rầy lên cao Bọ 3 khoang và Bọ cánh ngắn thường gặp từ giai đoạn lúa con gái đến sau khi trỗ Bọ xít mù xanh thường gặp từ giai đoạn lúa con gái tới cuối vụ, số lượng tăng dần lên theo sự phát triển của Rầy nâu Bọ xít này vừa ăn trứng, vừa ăn ấu trùng Rầy nâu, mật

độ của chúng có 2 thời kỳ lên cao vào tháng 5 trên lúa xuân và tháng 9 - tháng

10 trên lúa mùa trùng vào 2 thời kỳ cao điểm của Rầy nâu [3], [32]

Trong số các loài bắt mồi, quan trọng hơn cả là nhện Lycosa pseudoannulata Nhện này thường thấy phổ biến trên đồng ruộng ở nhiều nơi,

có mặt từ khi lúa mới cấy cho đến cuối vụ, chúng hoạt động rất nhanh nhẹn, khả năng ăn mồi cao Nuôi trong lồng lưới trung bình một nhện có thể ăn 6 - 7 rầy non và 3 - 4 rầy trưởng thành trong một ngày đêm [17], [19]

Ong Anagnus sp thường gặp ký sinh trên trứng Rầy nâu từ tháng 4 - tháng 11, tỷ lệ trứng bị ký sinh từ 15-22% Ong Trichogramma sp và Oligosita

sp có tỷ lệ ký sinh thấp hơn [18]

Theo Phạm Văn Lầm [16] và Phạm Bình Quyền [23] thiên địch Rầy nâu ở nước ta tương đối phong phú, đ5 phát hiện ít nhất 56 loài côn trùng bắt mồi ký sinh nhện, nấm và tuyến trùng ở các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Tiền

Trang 35

thu được 1 - 4 loài, 18 loài bắt gặp thường xuyên chủ yếu là các loài bắt mồi ăn thịt Rầy nâu và các loài kí sinh trên trứng Rầy nâu ở hải Phòng ong Ganotocerus sp

ký sinh với tỷ lệ cũng rất thấp dưới 1% (Nguyễn Hồng Thuỷ) [29]

Vùng ngoại ô Hà Nội đ5 ghi nhận có 10 loài nhện lớn bắt mồi trên lúa, trong đó loài nhện lớn bắt mồi Pardosa pseudoannulata là loài thiên địch quan trọng của Rầy nâu [16]

* Rầy lưng trắng:

Theo Đinh Văn Thành [27] mỗi năm Rầy lưng trắng phát sinh khoảng 7

đợt, trong đó có 3 đợt ở vụ chiêm xuân và 4 đợt trong vụ mùa ứng với các giai

đoạn đẻ nhánh, đứng cái và làm đòng, các đỉnh cao đợt rầy cách nhau từ 25 -

30 ngày

Theo Nguyễn Đức Khiêm [14] ở vụ mùa Rầy lưng trắng có đỉnh cao mật độ vào lứa thứ 3

ở nước ta thời kỳ nhiệt độ thấp trên ruộng mạ vẫn thấy Rầy lưng trắng,

tỷ lệ rầy non tuổi lớn chiếm ưu thế, nhiệt độ thấp kéo dài thời gian phát dục, lượng mưa và chế độ nước có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của quần thể Rầy lưng trắng Trong vụ xuân ít mưa, những chân ruộng trũng có mật độ rầy cao hơn những ruộng chân cao ít nước, ngược lại trong vụ mùa lượng mưa nhiều thì mật độ rầy trên ruộng chân cao lại cao hơn chân ruộng trũng thường xuyên có mực nước cao [27]

Theo Lê Thị Sen và các cộng tác viên đ5 tuyển chọn những giống lúa địa phương kháng Rầy lưng trắng qua cơ chế chọn lựa ký chủ Trong số 953 giống

đưa ra trắc nghiệm có 7 giống có phản ứng rất kháng, 247 giống có phản ứng kháng, 411 giống có phản ứng trung bình và 288 giống có phản ứng nhiễm

ở miền Bắc những giống nhiễm Rầy lưng trắng cao là TK90, Nếp, thuần Trung Quốc B132, Nếp 415, X21 và giống CR203 [27]

Trang 36

ảnh hưởng của thuốc hoá học: Các kết quả thí nghiệm của Trần Đình Chiến [4] cho thấy những loại thuốc độc có hiệu quả đối với Rầy nâu thì cũng

có hiệu quả đối với Rầy lưng trắng như Bassa 50 EC, Mipcin tuy nhiên các loại thuốc này đều gây chết cao đối với thiên địch của rầy

ảnh hưởng của thiên địch: Trong tự nhiên Rầy lưng trắng cũng có nhiều loại thiên địch và vai trò điều tiết quần thể của chúng đ5 được nhiều tác giả công nhận Theo Đinh Văn Thành [27] vùng Hà Nội có 18 loại thiên địch của Rầy lưng trắng, trong đó nhóm bắt mồi gồm 5 loại nhện, 3 loại bọ rùa, 2 loại bọ xít, 1 loại bọ 3 khoang và 1 bọ cánh ngắn Nhóm ký sinh gồm 4 loại

ký sinh trứng và 1 loại ký sinh rầy non, 1 loại là bọ cánh cuốn

* Rầy xám

Rầy xám thích nghi với thời tiết mát mẻ, vòng đời của Rầy xám thường dài hơn so với Rầy nâu và Rầy lưng trắng Số thế hệ của Rầy xám trong 1 năm chỉ khoảng 3 - 4 thế hệ, mỗi vụ chỉ có 1 - 2 lứa Vào mùa xuân những con trưởng thành cách dài từ các ký chủ phụ bay đến nương mạ hoặc những ruộng lúa mới cấy, Rầy xám qua đông ở dạng rầy non tuổi 4 hoặc tuổi 5 trên các cây

đoạn lúa chín sáp sau đó giảm dần

Trong vụ mùa Rầy xám thường có 3 lứa, lứa thứ 2 có mật độ cao nhất tương đương với đỉnh cao của mật độ Rầy lưng trắng

Trang 37

3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nhóm rầy hại thân ( Rầy nâu, Rầy lưng trắng )

- Thiên địch của nhóm rầy hại thân

3.2 Vật liệu nghiên cứu

- Giống lúa thuần: Khang dân 18, Q5

- Giống lúa lai: Nhị ưu 838, D ưu 527

- Một số loại thuốc hoá học trừ rầy

3.3 Dụng cụ thí nghiệm

3.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Đề tài được tiến hành ở vụ xuân 2007

- Địa điểm: Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, Văn Lâm - Hưng Yên 3.5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trang 38

- Điều tra thành phần thiên địch của Rầy nâu

- Thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng đến năng suất lúa và hiệu quả phòng trừ

- Khảo sát một số loại thuốc hoá học để trừ nhóm rầy hại thân

- Điều tra diễn biến mật độ rầy hại thân định kì 7 ngày / lần

- Thu thập các loài sâu hại và các thiên địch bắt mồi ăn thịt của sâu hại

- Đối với Rầy nâu, Rầy lưng trắng: Dùng khay ( 20 x 20 x 5 cm) dưới

đáy khay có tráng một lớp dầu mỏng Đặt nghiêng 1 góc 450 với khóm lúa rồi

đập 2 đập, đếm số rầy vào khay rồi nhân với hệ số 2, nhân với số khóm trên 1m2 ( Nếu mật độ rầy thấp có thể đập liền vài khóm rồi đếm)

+ Chỉ tiêu theo dõi: Mật độ con/m2

3.5.2.2 Điều tra thiên địch

- Điều tra thành phần thiên địch trên hai giống lúa: Điều tra ngẫu nhiên

để xác định tần suất xuất hiện, mức độ phân bố của thiên địch theo quyết định 82/ 2003/ BNN về phương pháp điều tra sinh vật hại cây trồng

Trang 39

Chúng tôi tiến hành cấy lúa trong chậu vại đặt trong nhà lưới, mỗi chậu cấy 1 khóm lúa, giai đoạn lúa làm đòng- trỗ bông chúng tôi tiến hành thả rầy

để theo dõi Mỗi khóm lúa chúng tôi thả 20 con rầy và 1 con nhện, hàng ngày

đếm số rầy trong chậu bị nhện ăn mất và tiếp tục thả bổ sung rầy vào cho đủ như số lượng rầy ban đầu thả vào, theo dõi liên tục trong 7 ngày liền

Đối với bọ cánh cộc và bọ rùa đỏ cũng làm tương tự như trên

3.5.2.3 Điều tra theo dõi diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng trên các giống lúa vụ xuân 2007

Chúng tôi tiến hành điều tra theo dõi mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng trên một số giống chính cấy trong khu thí nghiệm của trung tâm BVTV phía Bắc và các giống gieo cấy phổ biến ngoài sản xuất tại Văn Lâm - Hưng Yên

vụ xuân 2007

- Điều tra mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng trên một số giống trong khu thí nghiệm chúng tôi tiến hành điều tra định kỳ 7 ngày / lần từ khi lúa đẻ nhánh đến cuối vụ theo phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng của Cục BVTV

- Điều tra mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng trên các giống gieo cấy ngoài sản xuất thì chúng tôi điều tra theo giai đoạn sinh trưởng của lúa, từ giai

đoạn lúa đẻ nhánh đến giai đoạn lúa chắc xanh- đỏ đuôi, điều tra theo phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng của Cục BVTV

3.5.2.4 Xác định tính kháng của giống với Rầy nâu trên nương mạ:

Kết hợp với cán bộ của Trung tâm BVTV phía Bắc chúng tôi có theo dõi để xác định tính kháng của giống với Rầy nâu trên nương mạ: theo phương pháp chuẩn của IRRI Số giống theo dõi là 11 giống, mỗi giống gieo 1 hàng trong khay, nhắc lại 3 lần

- Ngày gieo mạ: 25/4/2007; Ngày thả rầy 4/5/2007

- Đánh giá tính kháng rầy của các giống theo thang 9 cấp, sau đó phân tính kháng của giống theo 4 mức:

Trang 40

+ Cấp 1: Kháng cao

+ Cấp 3: Kháng vừa

+ Cấp 5: Nhiễm vừa

+ Cấp 7 - 9: Nhiễm cao

3.5.2.5 Theo dõi diễn biến mật độ của Rầy nâu, Rầy lưng trắng của một số yếu tố: Mật độ cấy và chân đất

- Bố trí thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ cấy đến mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng

Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh trên giống lúa Q5 Thí nghiệm diện rộng với 3 công thức, mỗi công thức 300 m2

Công thức 1: cấy mật độ 30 khóm /m2

Công thức 2: cấy mật độ 40 khóm /m2

Công thức 3: cấy mật độ 50 khóm /m2

Điều tra theo dõi mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng định kỳ 7 ngày/ lần từ

đầu vụ đến cuối vụ theo phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng

- Theo dõi ảnh hưởng của các chân đất khác nhau đến mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng

Chúng tôi điều tra mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng trên 3 chân đất khác nhau là chân cao, chân vàn và chân trũng trên cùng một giống lúa khang dân

18 Tiến hành điều tra định kỳ 7 ngày/ lần từ khi lúa đẻ nhánh cho đến cuối vụ theo phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng

3.5.2.6 Biện pháp phòng trừ nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007

* Thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ Rầy nâu, Rầy lưng trắng

đến năng suất lúa và hiệu quả phòng trừ

Ngày đăng: 08/08/2013, 20:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thời gian phát sinh các lứa rầy cám từ năm 1995 - vụ xuân 2007   Lứa - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
Bảng 2.1. Thời gian phát sinh các lứa rầy cám từ năm 1995 - vụ xuân 2007 Lứa (Trang 15)
Bảng  2.2.  Diện  tích  nhiễm  Rầy  nâu,  Rầy  l−ng  trắng  các  tỉnh  phía  Bắc   từ năm 1995 - 2007 - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
ng 2.2. Diện tích nhiễm Rầy nâu, Rầy l−ng trắng các tỉnh phía Bắc từ năm 1995 - 2007 (Trang 25)
Bảng  2.4.  Thời  gian  phát  dục  của  các  pha  phát  triển  Rầy  nâu   qua các tháng trong năm - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
ng 2.4. Thời gian phát dục của các pha phát triển Rầy nâu qua các tháng trong năm (Trang 27)
Bảng  2.5.  Tỷ  lệ  rầy  cánh  dài  và  cánh  ngắn  thay  đổi   theo giai đoạn sinh tr−ởng cây lúa - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
ng 2.5. Tỷ lệ rầy cánh dài và cánh ngắn thay đổi theo giai đoạn sinh tr−ởng cây lúa (Trang 29)
Bảng  4.3.  ảnh  hưởng  của  giống  lúa  đến  diễn  biến  mật  độ  Rầy  nâu,   Rầy l−ng trắng tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
ng 4.3. ảnh hưởng của giống lúa đến diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy l−ng trắng tại Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc (Trang 53)
Hình 4.1. Diễn biến mật độ Rầy nâu trên một số giống chính - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
Hình 4.1. Diễn biến mật độ Rầy nâu trên một số giống chính (Trang 54)
Hình 4.2. Diễn biến mật độ Rầy l−ng trắng trên một số giống chính - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
Hình 4.2. Diễn biến mật độ Rầy l−ng trắng trên một số giống chính (Trang 54)
Hình 4.3. Diễn biến mật độ Rầy nâu trên các giống gieo trồng phổ biến - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
Hình 4.3. Diễn biến mật độ Rầy nâu trên các giống gieo trồng phổ biến (Trang 56)
Bảng  4.4.  Diễn  biến  mật  độ  Rầy  nâu  trên  các  giống   tại Văn Lâm - H−ng Yên vụ xuân 2007 - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
ng 4.4. Diễn biến mật độ Rầy nâu trên các giống tại Văn Lâm - H−ng Yên vụ xuân 2007 (Trang 56)
Bảng  4.5.  Diễn  biến  mật  độ  Rầy  l−ng  trắng  trên  các  giống   tại Văn Lâm - H−ng Yên vụ xuân 2007 - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
ng 4.5. Diễn biến mật độ Rầy l−ng trắng trên các giống tại Văn Lâm - H−ng Yên vụ xuân 2007 (Trang 57)
Hình  4.4.  Diễn  biến  mật  độ  Rầy  l−ng  trắng  trên  các  giống  gieo  trồng   phổ biến - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
nh 4.4. Diễn biến mật độ Rầy l−ng trắng trên các giống gieo trồng phổ biến (Trang 57)
Bảng  4.7.  Diễn  biến  mật  độ  Rầy  nâu,  Rầy  l−ng  trắng  trên  3  mật  độ  cấy   tại Văn Lâm - H−ng Yên vụ xuân 2007 - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
ng 4.7. Diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy l−ng trắng trên 3 mật độ cấy tại Văn Lâm - H−ng Yên vụ xuân 2007 (Trang 60)
Hình 4.6. Diễn biến mật độ Rầy nâu trên các mật độ cấy - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
Hình 4.6. Diễn biến mật độ Rầy nâu trên các mật độ cấy (Trang 61)
Bảng 4.8. Diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy l−ng trắng trên các chân đất khác  nhau tại Văn Lâm - H−ng Yên vụ xuân 2007 - Nghiên cứu thành phần sâu hại lúa thuần, lúa lai và biện pháp phòng chống nhóm rầy hại thân vụ xuân 2007 tại trung tâm BVTV phía bắc, văn lâm   hưng yên
Bảng 4.8. Diễn biến mật độ Rầy nâu, Rầy l−ng trắng trên các chân đất khác nhau tại Văn Lâm - H−ng Yên vụ xuân 2007 (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w