Thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, tự nhiên, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I -
nguyễn thuỷ chung
Điều tra nhóm rầy hại thân lúa và biện pháp
hoá học phòng chống chúng vụ xuân
năm 2007 tại Gia Lâm - Hà Nội
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts đặng thị dung
Hà Nội - 2007
Trang 2Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …i
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thuỷ Chung
Trang 3Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …ii
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo PGS, TS:
Đặng Thị Dung - Bộ môn Côn trùng - Trường Đại học Nông nghiệp
I - Hà Nội , tập thể cán bộ trạm BVTV huyện Gia Lâm, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong bộ môn Côn trùng đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ kỹ thuật hợp tác xã Nông nghiệp: Yên Thường, Ninh Hiệp, Kiêu Kỵ, Dương Xá, HTX Nông nghiệp phường Phúc Lợi, Giang Biên, Việt Hưng, quận Long Biên, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình
Cuối cùng tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn tới Khoa sau Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, ban lãnh đạo Chi cục BVTV - Hà Nội, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài khoa học được giao
Hà Nội, tháng 06 năm 2007
Nguyễn Thuỷ Chung
Trang 4Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …iii
Mục lục
4.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch phổ biến của
chúng vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội 39
Trang 5Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …iv
4.1.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa 394.1.2 Thành phần thiên địch bắt mồi nhóm rầy hại thân lúa 414.2 diễn Biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch của chúng
vụ xuân 2007 tại Gia Lâm - Hà Nội 434.2.1 diễn Biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa dưới ảnh hưởng của một
số yếu tố sinh thái 434.2.2 Diễn biến mật độ nhóm thiên địch bắt mồi rầy hại thân lúa dưới
ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái 694.3 Biện pháp hoá học trừ nhóm rầy hại thân lúa và ảnh hưởng của thuốc
đến nhóm thiên địch phổ biến trên ruộng lúa vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội 764.3.1 Hiệu lực của thuốc đối với nhóm rầy hại thân lúa 774.3.2 ảnh hưởng của thuốc hoá học trừ nhóm rầy hại thân lúa đến nhóm
thiên địch phổ biến trên ruộng lúa vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội 79
Trang 6Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …v
Danh mục các bảng
4.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa họ Delphacidae
(Homoptera) vụ xuân năm 2007- Gia Lâm, Hà Nội 39
4.2 Thành phần thiên địch bắt mồi của nhóm rầy hại thân lúa vụ
xuân năm 2007- Gia Lâm, Hà Nội 42
4.3 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa tại Gia Lâm, Hà Nội
vụ xuân 2007 44 4.4 Diễn biến mật độ rầy nâu trên các giống lúa vụ xuân 2007 tại
Gia Lâm- Hà Nội 49 4.5 Diễn biến mật độ rầy l−ng trắng trên các giống lúa vụ xuân
2007 tại Gia Lâm- Hà Nội 50
4.6 Diễn biến mật độ rầy xám trên các giống lúa vụ xuân 2007 tại
Gia Lâm- Hà Nội 51 4.7 Mức độ nhiễm rầy hại thân ở các giống đ−ợc trồng phổ biến vụ
xuân 2007 tại Gia Lâm- Hà Nội 52
4.8 Tỷ lệ loài của nhóm rầy hại thân trên các giống lúa vụ xuân
2007 tại Gia Lâm- Hà Nội 54
4.9 Tỷ lệ loài của nhóm rầy hại thân trên các giống lúa vụ xuân
2007 tại Gia Lâm- Hà Nội 56
4.10 Tỷ lệ loài của nhóm rầy hại thân trên các giống lúa vụ xuân
2007 tại Gia Lâm- Hà Nội 57
4.11 Tỷ lệ loài của nhóm rầy hại thân trên các giống lúa vụ xuân
2007 tại Gia Lâm- Hà Nội 58
4.12 Tỷ lệ loài của nhóm rầy hại thân trên các giống lúa vụ xuân
2007 tại Gia Lâm- Hà Nội 60
Trang 7Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …vi
4.13 Tỷ lệ loài của nhóm rầy hại thân trên các giống lúa vụ xuân
2007 tại Gia Lâm- Hà Nội 61
4.14 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân trên các chân đất khác
nhau vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội 63
4.15 Biến động mật độ rầy hại thân ở các tiểu vùng sinh thái khác
nhau ở huyện Gia Lâm, Hà Nội 65
4.16 Diễn biến mật độ một số loài thiên địch bắt mồi phổ biến của
nhóm rầy hại thân lúa vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội 69
4.17 Diễn biến số lượng thiên địch phổ biến của nhóm rầy hại thân
trên các chân đất đất khác nhau vụ xuân 2007, tại Gia Lâm, Hà
Nội 72 4.18 Biến động mật độ thiên địch chính của nhóm rầy hại thân lúa
trên các vùng sinh thái khác nhau 75
4.19 Hiệu lực của một số thuốc hoá học trừ nhóm rầy nâu hại
thân lúa 77 4.20 Hiệu lực của một số thuốc hoá học trừ nhóm rầy lưng trắng hại
thân lúa 78 4.21 Hiệu lực của một số thuốc hoá học trừ nhóm rầy xám hại
thân lúa 78 4.20 ảnh hưởng của thuốc hoá học đối với nhóm thiên địch bắt mồi
nhóm rầy hại thân lúa 79
Trang 8Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …vii
Danh mục các hình
4.4 Diễn biến mật độ rầy hại thân lúa vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà
Nội (giống Khang dân) 46 4.5 Quần thể nhóm rầy hại thân lúa trên giống Khang dân vụ xuân
2007 tại Giang Biên, Long Biên, Hà Nội 46
4.6 Hiện tượng lúa bị cháy do nhóm rầy hại thân, giống lúa Khang
dân vụ xuân 2007 tại Giang biên, Long biên, Hà Nội 47
4.7 Tỷ lệ loài rầy hại thân lúa giai đoạn đoạn đẻ nhánh vụ xuân 2007
tại Gia Lâm, Hà Nội 55 4.8 Tỷ lệ loài rầy hại thân lúa giai đoạn đoạn đòng vụ xuân 2007 tại
Gia Lâm, Hà Nội 56 4.9 Tỷ lệ loài rầy hại thân lúa giai đoạn đoạn lúa trỗ vụ xuân 2007
tại Gia Lâm, Hà Nội 58 4.10 Tỷ lệ loài rầy hại thân lúa giai đoạn đoạn lúa ngậm sữa vụ xuân
2007 tại Gia Lâm, Hà Nội 59
4.11 Tỷ lệ loài rầy hại thân lúa giai đoạn đoạn lúa chắc xanh vụ xuân
2007 tại Gia Lâm, Hà Nội 60
4.12 Tỷ lệ loài rầy hại thân lúa giai đoạn đoạn lúa chín vụ xuân 2007
tại Gia Lâm, Hà Nội 62 4.13 Quần thể nhóm rầy hại thân trên giống Khang Dân ở chân đất
trũng Giang Biên- Long Biên - Hà Nội 63
4.14 Cháy rầy trên giống lúa khang dân vụ xuân 2007 H4.6 tại
phường Giang Biên , Long Biên , Hà Nội 66
4.15 Quần thể nhóm rầy hại thân trên giống lúa Nếp 451 tại Kiêu Kỵ,
Gia Lâm, Hà Nội 68
Trang 9Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …viii
4.16 Hiện t−ợng cháy rầy trên giống lúa 451 tại Kiêu Kỵ , Gia Lâm,
Hà Nội 68 4.17 Diễn biến mật độ một số thiên địch bắt mồi nhóm rầy hại thân
lúa vụ xuân 2007 tại Gia Lâm - Hà Nội 71
4.18 Thiên địch nhện Ly cô sa Lycosa Pseudoannulata 73
4.19 Thiên địch Bọ xít mù xanh Cyrtohinus lividipennis Reuter 74
4.20 Bọ rùađỏ Micraspis discolor (Fabr) 74
Trang 10Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …9
1 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Lúa là một trong những cây lương thực chủ yếu của loài người và đang
được trồng trong những điều kiện khí hậu và sinh thái rất khác nhau Lúa được trồng ở cả Năm Châu (trừ châu Nam Cực), từ 500 độ vĩ Bắc (miền trung Tiệp Khắc) đến độ 350 vĩ Nam (vùng New South Wales ở úc và Uruguay) Thực tế
có thể trồng lúa đến 530 vĩ Bắc và 400 vĩ Nam, cả vùng xích đạo (miền trung Sumatra - Inđonexia), từ vùng ven biển ở nhiều nước như Việt Nam, Campuchia,… đến độ cao khoảng 3.000m trên mặt biển (vùng núi Hymalaya),
từ những đồng sâu có mực nước tới 6m ở vùng lúa nổi Banglades, Việt Nam,… Đến những nương lúa trông vào nước trời hầu như không lúc nào mặt ruộng có nước Lúa sinh trưởng, phát triển tốt từ những vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trong vụ lúa có khi tới trên 4.500 mm (Kazakhxtan, Liên Xô cũ); Từ những nơi có nhiệt độ trung bình trong vụ lúa 330C (Sukkus, Pakixtan), đến nơi nhiệt độ thấp 170 C vùng Otaru, Nhật Bản vùng Đông Nam á từ lâu được coi là vựa thóc của cả Thế giới với diện tích lúa hàng năm chiếm trên 1/2 tổng diện tích của thế giới Theo Nguyễn Xuân Hiển ctv (1979) (dịch) [7] Trong thập kỷ 60, cuộc cách mạng xanh đã làm thay đổi bộ mặt quá trình trồng lúa của các nước châu á Sản lượng lúa gạo tăng lên mạnh
mẽ nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật Tuy nhiên ngành trồng trọt cũng phải đối mặt với những hậu quả về sinh thái như suy giảm độ phì nhiêu của đất, ô nhiễm môi trường, sâu bệnh hại kháng thuốc có thể làm phát sinh những đối tượng dịch hại quan trọng mới Hiện tượng này đã được ghi nhận
đối với nhện đỏ, sâu xanh hại bông, sâu tơ hại rau, sâu hại đậu nành, đặc biệt
là đối tượng rầy nâu hại lúa Một số nơi người ta nhận thấy trên diện tích lúa
có phun thuốc Methyl Parathion, Deltamethrin, mật độ rầy nâu ở những lứa sau tăng lên rõ rệt và gây hại nghiêm trọng hơn diện tích không phun các
Trang 11Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …10
thuốc trên Kết quả nghiên cứu của Viện lúa quốc tế (IRRI ) từ năm
1968-1986 cho thấy mức độ gây tái phát rầy nâu của một số thuốc như sau: Thường xuyên gây tái phát là Deltamethrin, Methylparathion Có thể gây tái phát hoặc gây tái phát không mạnh như Azinphos E, Carbofuran, Chlorpyrifos, ít có khả năng gây tái phát như Acephate, Fenvalrate, Permethrin, không gây tái phát : BPMC, Padan, Ethofenfos, MIPC
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tái phát, song chủ yếu là do sử dụng thuốc hoá học quá nhiều, lại không đúng liều lượng, cũng có thể không
đúng cách Trần Quang Hùng, (1999)[6]
Theo Reissig Henrichs (1993) [23], sự gia tăng về số lượng và thành phần nhóm rầy hại thân do nguyên nhân, mở rộng diện tích trồng lúa, tạo điều kiện cho rầy có điều kiện phát tán và lây lan trên diện rộng…Tưới tiêu chủ
động Tăng số vụ lúa trong năm tạo điều kiện cho rầy tồn tại và phát triển; Cơ cấu giống thường xuyên được thay đổi, thay các giống cũ có tính chống chịu tốt năng suất thấp các giống mới cho năng xuất cao tính chống chịu sâu bệnh lại kém ổn định Trồng nhiều giống mới và thay giống liên tục làm phát sinh các chủng rầy mới gây hại mạnh hơn Ngoài ra rầy lưng trắng và rầy xám cũng thường xuyên suất hiện trên lúa cùng với rầy nâu và được coi là những dịch hại quan trọng đối với vùng trồng lúa nhiệt đới và cận nhiệt đới châu á Việt Nam năm 1958, rầy nâu phát sinh thành dịch phá hại lúa chiêm từ thời kỳ trỗ - chín ở các tỉnh phía Bắc Vụ mùa 1962 và 1971, ở các tỉnh phía Nam từ 1970, rầy nâu đã gây thiệt hại nặng trên các giống lúa NN8, NN5, NN20 ở nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng ven biển khu
5 và Thừa Thiên Huế, năm 1974 diện tích lúa bị rầy nâu hại ở các tỉnh phía Nam lên tới 97.860 ha, đặc biệt từ tháng 11/1977, trong suốt 3 tháng từ tháng 11-1, rầy nâu gây thành dịch trên diện tích rộng (200.000 ha) Các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang và Long An là nơi bị rầy hại nghiêm trọng nhất Năm 1977-
1979 dịch rầy nâu đã gây hại 200.000 ha lúa ở đồng bằng sông Cửu Long,
Trang 12Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …11
năm 1978 là năm đại dịch rầy nâu Đồng bằng sông Cửu Long có 404 000 ha nhiễm rầy nâu Theo Cục BVTV, trong những năm 1999 - 2003, diện tích lúa
bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra trong cả nước là 408.908,4 ha (miền Bắc là 213.208,8 ha, miền Nam là 195.699 ha), trong đó diện tích bị hại nặng
là 34.287,4 ha, diện tích mất trắng là 179.2 ha Trong vụ đông năm 2005 –
2006 tại các tỉnh thành phía Nam tổng diện tích nhiễm rầy nâu toàn vụ là 200.039 ha chiếm 12,8% diện tích gieo trồng, mật độ rầy phổ biến 1.000 – 1.500 con/ m2 nơi mật độ cao lớn hơn 3000 con/ m2 xuấthiện trên diện tích 9.008 ha Vụ hè thu cao điểm đợt bộc phát rầy nâu vào giữa tháng 7/2006 với tổng diện tích nhiễm 96.708 ha Mật độ rầy phổ biến 2000 – 3000 con/m2 nơi cao lớn hơn 5.000 con/m2 với tổng diện tích 10.797 ha tập trung tại một số nơi như Lâm Đồng, Sóc Trăng, Long An…Như vậy diện tích lúa bị hại và bị hại nặng do rầy nâu gây ra xếp hàng thứ 3 trong 9 loài dịch hại lúa chủ yếu Nhưng điều đáng lưu ý là đa số các giống lúa đang gieo trồng thuộc dạng mẫn cảm với rầy nâu và bản thân rầy nâu ở nước ta đang thay đổi độc tính và thể hiện tính độc cao hơn trước đây [1]
Ngày nay nhóm rầy hại thân vẫn mang tính thời sự nóng Để phòng chống nhóm rầy hại thân lúa nói riêng và các dịch hại nói chung, với phương châm phối hợp lựa chọn, sử dụng các biện pháp phòng trừ một cách hợp lý như biện pháp kiểm soát - kỹ thuật canh tác, sức đề kháng của cây kết hợp với biện pháp hoá học trên cơ sở sinh thái trong hệ thống canh tác nông nghiệp (Cục BVTV, 1992) [4]
Để góp phần làm cơ sở cho công tác dự tính dự báo và biện pháp phòng chống nhóm rầy chích hút thân lúa một cách thích hợp và có hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Điều tra nhóm rầy hại thân lúa và biện pháp hoá học phòng chống chúng vụ xuân năm 2007 tại Gia Lâm - Hà Nội”
Trang 13Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …12
1.2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Điều tra nhóm rầy hại thân trên lúa giúp ta đánh giá được thực trạng các giống lúa nhiễm rầy trong các điều kiện trồng trọt nhất định của tiểu vùng sinh thái; Nắm được tập tính sinh sống và quy luật phát sinh gây hại của nhóm rầy hại thân lúa để có biện pháp phòng chống kịp thời khi mật độ vượt quá ngưỡng kinh tế
- Số liệu điều tra diễn biến mật độ nhóm rầy thân, giúp chúng ta tìm hiểu thêm các mối tương quan giữa các loài rầy hại thân lúa, giữa chúng với thiên địch, nhằm góp phần xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp nhóm rầy hại thân lúa nói riêng và sâu hại nói chung
1.3 Mục đích - yêu cầu của đề tài
* Mục đích
Trên cơ sở số liệu điều tra thu thập được về nhóm rầy hại thân lúa, nắm
được nhữnn quy luật phát sinh gây hại của chúng, mối quan hệ giữa chúng với nhau, giữa chúng với thiên địch, để từ đó đề xuất biện pháp thích hợp phòng chống chúng, góp phần bảo vệ năng suất lúa, bảo vệ sự cân bằng sinh học trên
đồng lúa và sức khoẻ con người
* Yêu cầu
- Điều tra nhóm rầy hại thân lúa (rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xám); thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi ăn thịt trên các giống lúa lai và lúa thuần vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội
- Điều tra diễn biến mật độ các loài rầy hại thân lúa và thiên địch chính
ăn rầy trên các giống lúa được trồng phổ biến tại Gia Lâm, Hà Nội
- Điều tra tìm hiểu quy luật xuất hiện (ưu thế loài) của nhóm rầy hại thân lúa
- Khảo sát hiệu lực một số thuốc hoá học trừ rầy đang được khuyến cáo
sử dụng
Trang 14Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …13
1.4 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối t−ợng nghiên cứu
Đối t−ợng nghiên cứu: nhóm rầy hại thân lúa (rầy nâu, rầy l−ng trắng, rầy xám), và các thiên địch phổ biến (nhện lớn, bọ rùa đỏ, bọ xít mù xanh, bọ cánh cứng ngắn và ong ký sinh rầy)
* Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu biến động số l−ợng của nhóm rầy hại thân lúa trên các hình thức canh tác khác nhau từ đó đánh giá mức độ gây hại của chúng góp phần xây dựng một hệ thống canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Gia Lâm
Trang 15Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …14
2 Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong toàn bộ xã hội cũng như trong đời sống của mỗi người dân Nhiều vấn đề về kinh tế và xã hội quan trọng đã được giải quyết, tuy nhiên vấn đề về lương thực vẫn còn là mối quan tâm thường xuyên của nhiều người Hàng năm thế giới bị thất thu trên 210 triệu tấn thóc vì sâu bệnh và cỏ dại (46,4% sản lượng thực tế có thể đạt được) Sâu hại là nguyên nhân quan trọng nhất trong những nguyên nhân trên: 26,7% sản lượng thóc bị mất vì sâu Trong hệ sâu hại lúa ở Đông Nam á, từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước
trở lại đây, rầy nâu Nilaparvata lugens Stal đã dần dần dẫn vị trí quan trọng
hàng đầu Rầy nâu đã suất hiện ở tất cả các nước trồng lúa Đông Nam á , gây nhiều thiệt hại rất nghiêm trọng trên diện rộng mà điển hình là hiện tượng cháy rầy Ngoài tác hại trực tiếp, rầy nâu còn là môi giới truyền hai bệnh virut:
bệnh hại mạ bệnh hại cỏ lúa, grassy stunt disease và bệnh lùn xoăn lá, ragged stunt disease Vì cháy rầy hoặc vì bị bệnh do rầy truyền, nhiều diện tích đã bị
mất trắng đang trở thành mối quan tâm của tất những người làm Khoa học Nông nghiệp, Nguyễn Xuân Hiển ctv, (1979) [7]
Chính vì vậy hiểu biết về hệ sinh thái nông nghiệp sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ cây lúa tránh những mất mát do dịch hại gây ra, đảm bảo năng xuất, bảo vệ môi trường và góp phần giữ cân bằng sinh thái Kết quả điều tra của đề tài là cơ sở cho công tác dự tính dự báo nhóm rầy hại thân lúa là thiết thực góp phần xây dựng biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại lúa
Trang 16Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …15
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Vị trí phân loại, triệu chứng gây hại, ký chủ và phân bố của nhóm
rầy hại thân Lúa
2.2.1.1 Rầy nâu
Rầy nâu (muội nâu) Nilaparvata lugens (Stal) thuộc giống Nilaparvata, họ
rầy Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ Cánh đều
Homoptera Nilaparvata lugens được Stal đặt tên đầu tiên vào năm 1854, Theo
Suennaga (1963) [64], có các tên gọi khác như: 1854- Delphax lugens Stal, 1863- Delphax sordescens Motschulsky, 1903- Liburnia sordescens Melichar, 1906-
Delphax oryzae Matsumura, 1906 - Kalpa acleata Distant, 1906 - Nilaparvata
greeni Distant, 1907- Delphax parysatis Kirkaldy, 1907 - Dicranotropis anderida Kirldy, 1907 - Delphacodesanderida Muir, 1924 - Nilaparvata lugens Muir và
Giffard
Về phạm vi phân bố của rầy nâu rộng khắp ở phía Nam và Đông Nam
châu á, Australia, Oceanic và một số đảo ở Thái Bình Dương Trên thế giới phạm vi phân bố của rầy nâu rất rộng Theo Mochida, (1979) [49], rầy nâu phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa nước vùng Nam và Đông Nam châu á như ấn Độ, Banladesh, Srilanca, Campuchia, Thái Lan, Lào, Indonesia, Philipine, Malaysia, Trung Quốc, Đài loan, Nhật Bản, úc, Việt Nam, Phạm
vi ký chủ của rầy nâu tương đối hẹp, chủ yếu là cây trồng và cây dại thuộc họ hoà thảo Lúa nước là ký chủ chính của rầy nâu Thực tế trong điều kiện thí nghiệm đã nuôi được rầy nâu từ tuổi một đến trưởng thành trên nhiều loài thực
vật khác nhau như Stellaria alsinevar Undulata, Carex thunbergii, Cyperus rotundus, Agropyron tsukushiense var transiens, Digitaria adscendes, Echinochloa crus galli var crusgalli, E crusgall var frumentacea, Eleusine indica, Eragrostis ferruginea, Glyceria acutiflora, Hordeum vulgare, Isachne globosa, Leersia japonica, L sayanuka, Oryza alta, O eichingeri, O
Trang 17Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …16
glaberrima, O latifolia, O minuta, O officinalis, O perennis, O ridleyi O sativa, O sativar var spontanea, O stapfii, Zoysia japonica,…Trên đồng ruộng, đã thấy trứng rầy nâu trên nhiều loài thực khác nhau như Aneilema keisak, Cyperus difformis, Eleochris acicularis var longiseta, Echinochloa crus-galli var plan-taginea và cũng bắt được rầy trưởng thành trên những loài thực vật tương tự: Aneilema keisak, Oryza alta, O eichingeri, O glaberrima,
O latifolia, O minuta, O officinalis, O perennis, O ridleyi O sativa, O sativar var spontanea, O stapfii, Zoysia japonica,… Lúa là cây ký chủ chính
của rầy nâu do đó thời gian không trồng lúa hoặc để ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số lượng rầy Lúa chét có thể là nơi ẩn náu hoặc thậm chí có thể là chỗ thích hợp để rầy nâu sinh sản Thí nghiệm ở Viện Quốc Tế nghiên cứu lúa cho thấy, cỏ dại ở ruộng lúa có thể góp phần làm tăng số lượng rầy khi lúa gần chín, có thể do đã tạo được môi trường có thảm cây rậm rạp Tuy nhiên, một số tác giả khác lại cho rằng, các ký chủ không phải là lúa chỉ
là nơi trú ngụ tạm thời của rầy nâu, Hinekly, (1963) [34]
Về phương thức gây hại của rầy nâu, nhiều tác giả trong và ngoài nước cho rằng: rầy nâu có thể hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, đặc biệt là giai đoạn mạ, giai đoạn làm đòng, trỗ và chín Nếu bị hại nặng ở giai
đoạn mạ thì cây không sinh trưởng được, héo và chết Giai đoạn làm đòng nếu nhiễm rầy nặng có thể gây ra cháy rầy làm giảm năng suất hoặc không cho thu hoạch ở Việt Nam điều này đã được khẳng định, Nguyễn Công Thuật, (1991) [17]
Theo Dale, (1994) [25], rầy nâu có thể hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, đặc biệt là giai đoạn mạ, làm đòng, trỗ và chín Giai đoạn làm đòng nếu nhiễm rầy nặng sẽ bị giảm năng suất hoặc không cho thu hoạch
Rầy non và trưởng thành hút dịch nhựa từ mạch liber của cây, trong quá trình chích hút chúng có thể tiết ra một chất kết rắn đưa vào mô cây tạo thành ống hút Những ống hút này làm tắc nhẽn nhựa lưu thông cây làm cho chồi bị
Trang 18Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …17
héo và ngả mầu nâu tạo ra hiện tượng cháy rầy Hiện tượng này xẩy ra một cách cục bộ, khi mật độ quần thể cao và trong những ngày nhiều mây Những ngày trời nắng, quang hợp giúp cây dễ dàng hồi phục phần nhựa bị hút, Reissig, Heinrichs et al., (1993) [23]
2.2.1.2 Những nghiên cứu về rầy lưng trắng
Rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath thuộc họ Delphacidae, bộ Homoptera Ngoài ra còn có 17 tên khác như: 1899 - Delphax furcifera Horvath, 1905 - Liburnica albolineosa Fowler, 1912 - Sogata distinctant Distant, 1917 - Megamelut furcifera Muir, 1924 - Sogata furcifera Muir and Giffard, 1929 - Delphacodes albolineosa Osborn, 1963 - Sogatella furcifera Horvath Rầy lưng trắng phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới châu á như Trung Quốc, ấn Độ, Inđônesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Srilanca, Đài Loan, Việt Nam và một số nước châu Mỹ như CuBa, Guana, một số nước châu úc và đảo Thái Bình Dương, Hills S Dennish, (1983) [35]
Nguyễn Xuân Hiển và ctv (1979) [7], ký chủ chính của rầy lưng trắng là lúa, ngoài ra rầy lưng trắng còn có thể hoàn thành phát dục của mình trên một
số cây khác như ngô Zea mays, cỏ lồng vực cạn Echinochloa colonum, lồng vực nước, cỏ đuôi phượng, cỏ mầm trầu, cỏ chắc, kê và các loại lúa dại Oryza sativa, Cũng như rầy nâu cả rầy non và rầy trưởng thành đều trực tiếp chích
hút vào thân cây lúa sự chích hút có thể làm cho cây héo vàng, xuất hiện màu
đỏ rỉ sắt lan từ phần ngọn lá đến các phần còn lại của cây Dịch ngọt do rầy tiết ra giúp cho sự phát sự phát triển của nấm bồ hóng, kéo theo sự khô héo của cây lúa
Reissig, Henrichs et al., (1993) [23], khi mật độ rầy cao và có thể lan nhanh Điển hình tại các vùng Assam ấn Độ, tháng 5 - 6 năm 1985 hơn 8,000
ha lúa IR8 đã bị cháy rầy lưng trắng
Trang 19Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …18
2.2.1.3 Những nghiên cứu về rầy xám
Rầy xám Laodelphax striatellut (Eallen), cũng thuộc họ Delphacidae, bộ Homoptera Có 11 tên đồng danh khác như: 1826 - Delphax striatella Fallen,
1854 - Delphax notula Stal, 1900 - Liburnia devastans Matsumura, 1900 - Liburnia nipponica Matsumura, 1900 - Liburnia giffuensis Matsumura,…
1917 - Delphacodes striatella Muir, 1949 - Delphacodes striatella Ishihara,
1963 - Laodelphax striatellut Falleu, 1963 - Delphacodes striatella Falleu
Những nghiên cứu về rầy xám ở trong và ngoài nước không nhiều vì nó ít phổ biến, khả năng gây cháy rầy không cao Một số tác giả cho rằng sự chích hút của rầy xám non và trưởng thành là phương thức truyền bệnh lùn sọc đen, bệnh sọc do virut tồn tại môi giới truyền bệnh trong suốt đời sống của nó sau khi chích hút một cây bị nhiễm virut, Mueller, (1992) [22]
Theo Hills S Dennish, (1983) [35], phạm vi phân bố các môi trường trồng lúa từ những vùng khí hậu ôn đới, đặc biệt các vùng Đông á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Philipines, Đài loan, Siberia và một số nước châu
Âu ký chủ bao gồm lúa, mía, lúa mì Alopccurus spp và Eragnostis spp và Eragnostis spp Ký chủ trung gian đặc biệt trong mùa đông của rầy xám là lúa
đại mạch, lúa mỳ, lúa, cỏ túc hình Alopecurus, Lodium
Nguyễn Đức Khiêm, (1995a) [9], rầy xám phân bố ở tất cả các nước trồng lúa ở châu á…Ngoài tác hại trực tiếp rầy xám còn là môi giới truyền bệnh sọc đen lùn lúa làm cây còi cọc kém phát triển
2.2.2 Đặc điểm sinh vật học của nhóm rầy hại thân lúa
2.2.2.1 Rầy nâu
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của rầy nâu, các kết quả đều nghiên cứu đều cho thấy, rầy nâu đẻ trứng thành từng ổ trong mô ở phần dưới cây lúa; chủ yếu ở bẹ lá
và một phần ở bản lá
Trang 20Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …19
Theo tác giả Mochida and Dyck, (1976) [50] và Staley, (1976) [63], rầy nâu trưởng thành cánh dài xuất hiện và gây hại trên ruộng lúa từ 20 - 30 ngày sau cấy Sau đó lứa rầy non bắt đầu xuất hiện phát triển thành 2 dạng rầy cánh ngắn và rầy cánh dài,
Sogawa và cộng sự, (1986) [61], cho thấy, ở giai đoạn nhập cư quần thể rầy nâu bắt đầu xuất hiện với số lượng ít của rầy trưởng thành cánh dài vào lúc
3 tuần sau cấy Những lứa phát sinh nhiều đều có tỷ lệ rầy cánh ngắn cao hơn, mặt khác rầy cái cũng chiến số lượng rất đông Số lượng trứng trong một ổ và
vị trí đẻ trứng phụ thuộc vào thời kỳ phát triển của cây lúa Khi có nhiều rầy trưởng thành, có nhiều trứng ở phần trên cây lúa Giai đoạn trứng ở nhiệt đới dài khoảng 7-11 ngày, giai đoạn rầy non 10 - 15 ngày Thời kỳ trước đẻ trứng trung bình 3- 4 ngày đối với rầy cánh ngắn và 3- 8 ngày đối với rầy cánh dài Trên đồng ruộng, mỗi rầy cái đẻ khoảng 100- 150 trứng Khi mật độ rầy rất cao (trên 500 con/khóm), chúng tụ thành đám, cả ở lá đòng, cổ bông và trục bông Vòng đời của rầy phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường
Theo tác giả Trần Huy Thọ và Nguyễn Công Thuật, (1989) [20], tuỳ theo mức độ sinh trưởng của cây lúa rầy trưởng thành có thể đẻ vào bẹ hoặc gân chính của lá lúa Rầy trưởng thành đẻ trứng vụ đông xuân nhiều hơn vụ mùa Tuy nhiên số trứng trong mỗi ổ phụ thuộc vào giống lúa làm nguồn thức
ăn Tỷ lệ rầy cánh ngắn, cánh dài phụ thuộc vào nguồn thức ăn và mật độ rầy trong ruộng lúa ở giai đoạn lúa đẻ nhánh chủ yếu rầy cánh dài xâm nhập vào ruộng lúa thấp sau đó giai đoạn đòng đến trỗ đỏ đuôi rầy tăng nhanh về số lượng, tỷ lệ rầy cánh ngắn chiếm chủ yếu Rầy trưởng thành có xu thế bay vào
đèn mạnh Đây là đặc tính dùng trong việc dự tính dự báo rầy nâu
2.2.2.2 Rầy lưng trắng
Cũng như rầy nâu, rầy lưng trắng được đẻ ở phần mô bẹ lá và gân chính của lá, đẻ thành từng ổ, trứng có hình dạng và kích thước tương tự như rầy nâu nhưng đầu của trứng dài hơn Số trứng thay đổi rất nhiều tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu và từng thế hệ, mỗi con cái có thể đẻ từ 300 - 500 trứng Trứng
Trang 21Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …20
được đẻ tập trung trong 3- 6 ngày và kéo dài trong hai tuần lễ Thời gian phát dục của trứng phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ và độ ẩm môi trường, theo Pathak, (1968) [53]
ở Cuttak, ấn Độ, với điều kiện nhiệt độ trong tháng 9 cao nhất 32,7 0C, thấp nhất 25,30C, ẩm độ 83 - 85%, thời gian trứng của rầy lưng trắng là 6 ngày, ở Punjab (ấn Độ) là 3 - 5 ngày, ở Philipine là 8 ngày Rầy non có 5 tuổi, thời gian phát dục phụ thuộc vào nhiệt độ (Suenaga, 1963) [64]
Tác giả Mueller, (1983) [22] và Salim et Heinrichs, (1986) [57], thời gian trung bình của rầy non là 17 ngày ở 20 0C, 13 ngày ở 20 0C, 13 ngày ở 25
0C và 12 ngày ở 28- 30 0C, cũng cho thấy, Trưởng thành có hai dạng cánh ngắn và cánh dài Tất cả con đực đều có cánh dài, con cái có cả hai dạng cánh ngắn và cánh dài, Rầy trưởng thành dài 3- 4mm, thậm chí 5 mm Cánh trước
đồng dạng, trong suốt có nhiều gân đen Có một chấm đen rõ rệt ở giữa mép nơi giao nhau của mỗi cánh Ranh giới mảnh lưng ngực trước màu vàng Cơ thể đen ở mặt lưng và màu trắng kem ở những nơi khác Thời gian sống của trưởng thành phụ thuộc vào nhiệt độ, ở 20 0C trưởng thành sống trung bình 20 ngày, ở 25 0C là 16 ngày và 28 - 30 0C là 9 ngày kết luận thời gian sống của con cái dài hơn con đực
Nguyễn Đức Khiêm, (1995a) [9], Trong điều kiện nhiệt độ 23,8 - 29,8
0C và ẩm độ từ 93 - 94% thời gian phát dục trứng rầy lưng trắng là 6,4- 6,7 ngày ở nhiệt độ 24,9- 26,4 0C và ẩm độ 93- 93,4% tỷ lệ nở của trứng rầy lưng trắng là 47,8% ở nhiệt độ 26,1- 29,8 0C và độ ẩm 93- 93,9% thời gian phát dục của rầy non là 12,5- 12,9 ngày Nuôi trong điều kiện nhiệt độ 25- 26,60C
và độ ẩm 92- 93,8%, vòng đời của rầy lưng trắng 22 ngày
2.2.2.3 Rầy xám
Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy cũng giống như rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xám đẻ trứng thành từng ổ trên gân chính của lá hoặc bẹ gần gốc lúa, mỗi trứng đều có mũ trứng chụp lên đỉnh,
Trang 22Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …21
Reissig et Henrichs (1993) [23], trứng mới đẻ có màu trắng trong, khi gần nở có một chấm đỏ ở đầu trứng Mỗi con cái đẻ 50 - 200 trứng suốt thời gian sống của nó khoảng 3 tuần lễ Rầy non có kích thước nhỏ hơn rầy nâu và rầy lưng trắng cùng tuổi, rầy non trải qua 5 tuổi có màu nâu nhạt đến màu nâu
đậm Vào mùa đông rầy non tuổi 4, tuổi 5 nằm tiền sinh trên cây ký chủ trung gian Cũng theo Reissig, Henrichs (1993) [23], Hill S Dennish, (1983) [35], trưởng thành đầu tiên bay đến những ruộng lúa vào mùa xuân từ cỏ dại, lúa mì hoặc lúa mạch đông Thường 5% trưởng thành đầu tiên mang virus sọc đen Trưởng thành bị bẫy đèn và bẫy màu vàng thu hút mạnh
Nguyễn Đức Khiêm, (1995a) [9], trưởng thành rầy xám có hai dạng, cánh ngắn và cánh dài Khi đẻ trứng con cái làm thành từng ổ trên chồi lúa bằng bộ phận giống như gai đẻ, ở điều kiện nhiệt độ từ 23,8 - 29,8 0C, ẩm độ
93 - 94% thời gian phát dục của trứng rầy xám là 6,7 - 7,5 ngày, tỷ lệ nở 42,4%, thời gian phát dục của rầy non 13,1 - 14,3 ngày, vòng đời 24 ngày ở nhiệt độ 26,1- 29,8 0C và độ ẩm 93- 93,9% thời gian phát dục của rầy non là 13,1 - 14,3 ngày Nuôi trong điều kiện nhiệt độ 25- 26,6 0C và độ ẩm 92- 93,8% và vòng đời của rầy xám 24 ngày
2.2.3 Đặc điểm Sinh thái học của nhóm rầy hại thân lúa
2.2.3.1 Di chuyển của rầy nâu
Dale, (1994) [25], hoạt động di chuyển của rầy trưởng thành mạnh nhất vào lúc lúa chín, ngay trước khi thu hoạch Tuy nhiên cũng có thể có tình trạng di chuyển khi lúa chưa chín nếu lúc đó lúa đã không thích hợp với rầy (khi lúa bị cháy rầy) Thường rầy cái di chuyển nhiều hơn rầy đực và cũng thường bay trước kỳ đẻ trứng Rầy thường bay tương đối gần mặt đất, nhiều nhất ở độ cao 1m, ít hơn ở độ cao 4m và càng ít hơn ở độ cao 8m Nhiều ý kiến cho rằng rầy chỉ có thể bay vài km và di chuyển với số lượng ít do ở nhiệt
đới bao giờ cũng có rầy (bản địa)
Trang 23Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …22
Theo các giả nước ngoài [7], ở Philipin rầy có thể di chuyển theo luồng khí từ tỉnh này sang tỉnh khác Lần đầu thấy rầy trưởng thành cánh dài di chuyển xa ở Thái Bình Dương vào năm 1967 và biển Đông vào năm 1969 Từ tháng 5 đến tháng 8 trong các năm 1969 - 1972, khi đột nhiên thấy rầy trưởng thành cánh dài xuất hiện ở ruộng lúa trên những đảo chính của Nhật Bản thì
đã thu thập được 3,702 mẫu rầy nâu trong 13 chuyến ra khơi trên biển Đông, ở vùng biển xa đất liền trên 200km Những rầy trưởng thành này hình như chủ yếu từ miền nam lục địa Trung Quốc đến, sự di chuyển của chúng phụ thuộc vào hoạt động của các luồng khí
+ Biến động quần thể rầy nâu
Staley (1976) [63], Mochida and Dych, (1976) [50], rầy nâu trưởng thành cánh dài xuất hiện và gây hại trên đồng ruộng từ 20 - 30 ngày sau cấy Sau đó lứa rầy non bắt đầu xuất hiện phát triển thành 2 dạng rầy cánh dài và rầy dạng cánh ngắn Do đó sắp xếp lại các vụ lúa trên đồng ruộng có lúc không có lúa hoặc luân canh lúa với những cây không phải là cây ký chủ của rầy cũng là một biện pháp phòng chống
Quần thể rầy nâu ở vụ mưa cao gấp nhiều lần so với vụ khô Nhiệt độ vừa phải trong suốt mùa mưa là điều kiện thuận lợi cho rầy nâu sinh trưởng
và phát triển, vòng đời sẽ ngắn lại và tăng số thế hệ trong vụ (Shamsul (1970) [58]
Tác giả Hsieh, (1975) [38] và Lin, (1976) [42], trong một năm thường
có hai thời kỳ cao điểm của rầy nâu vào hai vụ lúa chính Tốc độ quần thể của rầy nâu cao mặc dù số lượng rầy nâu nhập cư rất thấp nhưng số lượng quần thể rầy nâu tăng nhanh, mỗi thế hệ tăng lên tám lần Vì vậy có thể gây ra sự bùng phát số lượng dấn đến hiện tượng cháy rầy Tuy nhiên hiện tượng cháy rầy còn phụ thuộc vào mật độ của rầy non tại đỉnh cao đó
Theo tác giả Hokyo, Lee (1975) [37], các vùng khí hậu cận nhiệt đới như Nhật Bản, Triều Tiên, mùa đông nhiệt độ xuống thấp và thiếu ký chủ nên
Trang 24Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …23
rầy nâu bị gián đoạn theo mùa, quần thể rầy nâu đầu tiên trên ruộng lúa Nhật Bản là rầy du nhập từ lục địa qua biển đông, ở Nhật Bản có ba lứa rầy nâu, cuối vụ đa phần rầy trưởng thành chết trong mùa đông hoặc một phần nhỏ di chuyển đến những nơi khác có thức ăn và điều kiện ít khắc nhiệt hơn
ở Việt Nam có nhiều tác giả đã đề cập đến diễn biến của rầy nâu trên ruộng lúa Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995b) [10], Trần Huy Thọ, Nguyễn Công Thuật (1989) [20], Nguyễn Công Thuật (1991) [17], Hoàng Phú Thịnh
và ctv., (1995) [19], trong thời kỳ du nhập của rầy trưởng thành có mật độ rất thấp, trong thời kỳ này rầy tích luỹ số lượng quần thể mật độ rầy tăng nên nhanh qua các lứa, hệ số tích luỹ lứa 1,2 khoảng 11 lần, lứa 1- 3 khoảng 130 lần làm cho quần thể có thể lên cao gây ra hiện tượng cháy rầy Mật độ rầy nâu 600 - 700 con/khóm ở giai đoạn làm đòng và 350 - 400 con/khóm, ở giai
đoạn lúa trỗ chín thì gây ra cháy rầy Tuy nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long năm 1998 trong vụ hè thu mật độ rầy lên tới 30.000 - 50.000 con/m2 Nhưng mức độ gây cháy rầy thấp
Theo Trần Huy Thọ, Nguyễn Công Thuật (1989) [20], ở miền Bắc Việt Nam vào vụ lúa đông xuân có mùa đông lạnh làm hạn chế sự phát triển của rầy nâu, mật độ rầy nâu ở đầu vụ bao giờ cũng thấp Vụ mùa nhiệt độ cao các lứa rầy sẽ phát triển sớm hơn Trong điều kiện nước ta mỗi một vụ lúa quần thể rầy nâu đều có sự tích luỹ số lượng tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ, mật độ quần thể cao vào giai đoạn lúa trỗ bông, ngậm sữa và thường gây cháy rầy ở giai đoạn này Mật độ quần thể rầy nâu ở vụ mùa cao hơn vụ xuân, mùa mưa các trận dịch thường xẩy ra hơn so với vụ khô ở miền Nam các trận dịch thường xẩy ra trong vụ hè thu từ tháng 7 - 9
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến mật độ quần thể
Dale, (1994) [25], Sự phát sinh phát triển và gây hại của rầy nâu phụ thuộc nhiều vào các yếu tố sinh vật, phi sinh vật cũng như chế độ canh tác và trình độ thâm canh Quan niệm phổ biến cho rằng, tăng vụ sẽ làm nẩy sinh
Trang 25Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …24
nhiều vấn đề sâu hại Riêng đối với rầy nâu, tình hình gần đây của những vụ dịch ở Đông Nam á có vẻ khẳng định ý kiến trên Nhờ nước tưới và cấy các giống mới ngắn ngày, không mẫn cảm với chu kỳ sáng nên có thể trồng nhiều
vụ trong năm trên đồng ruộng luôn có lúa và nhiều lúc lại có lúa ở nhiều thời
kỳ phát triển khác nhau nên tất nhiên quần thể rầy có thể sinh sản trong thời gian dài hơn và do đó tạo được mật độ rầy cao hơn
Alam, (1917) [24], Hsieh, (1975) [38], rầy di chuyển dễ dàng từ ruộng
này sang ruộng khác và từ lúa già sang lúa non ở Sarawak, mật độ rầy nâu
thấp có thể mỗi năm chỉ trồng một vụ lúa và hơn thể nữa lại cấy những giống cao cây, thưa lá Những giống địa phương của Inđonexia ít bị rầy phá tuy cấy
đồng thời các giống mới ở Malaixia, dù trồng thâm canh những giống năng
xuất cao nhưng rầy vẫn chưa phá hại nhiều có lẽ do các vụ trồng cấy gián
đoạn nhau Tuy nhiên ở ấn Độ, Thái Lan,…vẫn còn nhiều trường hợp cháy rầy dù những nước này mỗi năm một vụ lúa trên phạm vi rộng
Mochida, (1976) [50], ở Inđonexia, một số vùng trồng hai vụ lúa một năm nhưng rầy vẫn chỉ gây thiệt hại ít Như vậy cho đến nay chỉ có thể kết luận, nếu trồng liên tục và xen kẽ nhiều vụ lúa trong năm thì có nhiều khả năng chứ không nhất thiết là sẽ bị rầy phá hại nặng Gieo cấy những giống năng xuất cao thường làm nẩy sinh nhiều vấn đề về sâu hại nhiều hơn Rất nhiều ý kiến cho rằng những vụ dịch rầy nâu gần đây có liên quan với việc
đưa vào sản xuất những giống lúa thấp cây, năng xuất cao Đã thấy rõ rệt một tương quan chung giữa sự tăng diện tích trồng giống mới ở Inđonexia với sự tăng mức độ phá hại của rầy
+ ảnh hưởng của thời tiết khí hậu
Nghiên cứu của tác giả Suennaga, [64], Mochida, (1964) [48], nhiệt độ thích hợp cho sự phát dục của rầy nâu là 25 - 30 0C Nhiệt độ 33 - 350C hoặc
15 - 180C là không thích hợp Nhiệt độ cao làm tăng số lượng rầy, thường
Trang 26Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …25
những trận dịch lớn xẩy ra vào thời điểm nhiệt độ 25 - 300C Tuy nhiên mối liên hệ giữa diễn biến mật độ rầy nâu và nhiệt độ còn chưa rõ rệt còn bị chi phối bởi ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng Nhiều tác giả nước ngoài cho thấy rầy nâu thích môi trường ẩm 70 - 80% nhưng ẩm độ ổn định là 50 - 60% là thích hợp với rầy nâu nhất
ở Việt Nam rầy nâu tồn tại quanh năm, rầy phát sinh phát triển nhiều sau mưa kéo dài, ẩm ướt, nhiệt độ tăng lên hoặc những năm đầu khô hạn, những năm mưa lớn tới 160mm, nhiệt độ 23 - 260 C, ẩm độ 81 - 87% Nguyễn Công Thuật, (1991) [17]
Những trận mưa kéo dài xen kẽ với những ngày nắng gắt là điều kiện cho rầy nâu phát sinh phát triển Tuy nhiên có mưa to gió lớn hoặc nhiệt độ
đột ngột hạ có thể làm hạn chế rầy nâu phát triển hoặc gây tử vong cho rầy Nguyễn Đức Khiêm, (1995b) [10]
Theo tác giả Pathak and Dych, (1973) [54], cấy dầy gieo vãi với lượng giống cao, nước đầy đủ làm tăng tác hại của rầy Ngoài ra việc sử dụng nhiều phân hoá học đặc biệt là phân đạm cũng làm tăng mật độ rầy nâu Việc tạo một môi trường không thích hợp với sự phát triển và sinh sản của rầy nâu nhưng vẫn thích hợp với cây lúa Các biện pháp này thường không có hiệu quả
đặc biệt tức thời nhưng lại có tác dụng chắc chắn, đáng tin, kinh tế và không gây ô nhiễm nên phù hợp với sinh thái Các biện pháp này rất thích hợp để phòng trừ một loài sâu hại hay phát thành dịch điển hình như rầy nâu; rầy tăng
Trang 27Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …26
số lượng với tốc độ nhanh, hay tập hợp thành đàn đông, hay trung bình từng
đám và có nhiều khả năng phân tán di chuyển
+ ảnh hưởng của thiên địch
Rầy nâu có tất cả 83 loài thiên địch, trong số này 43 loài ảnh hưởng đến
sự thay đổi số lượng rầy (25 loài ký sinh - 19 loài ký sinh trứng và 6 loài ký sinh rầy non và rầy trởng thành, 10 loài sâu và nhện ăn thịt, 1 hoặc 2 loài giun tròn ký sinh ở rầy non và rầy trởng thành, 7 loài vi sinh vật gây bệnh) Ngoài
ra còn phải kể đến cả kiến, cóc, ếch, nhái, chim, vịt,…chúng ta vẫn chưa hiểu biết đầy đủ và thành phần phân loại của hệ thiên địch này, chưa đánh giá chính xác được tỷ lệ ký sinh hoặc sức ăn rầy của các loài bắt mồi trong từng hoàn cảnh cụ thể,… Do đó, cũng khó xác định được quan hệ giữa thiên địch
và sự diễn biến của rầy nâu, tất nhiên quan hệ này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác của môi trường Dù sao, rất nhiều người tin rằng thiên địch thực
sự có ảnh hưởng lớn đến số lượng rầy trên đồng lúa
Trên ruộng lúa Việt Nam, trong số 38 loài sâu hại được theo dõi, đã phát hiện khoảng 300 loài thiên địch, trong đó có 167 loài là côn trùng ăn thịt, khoảng 100 loài là côn trùng ký sinh, 29 loài nhện bắt mồi, 4 loài vi sinh vật
và 1 loài tuyến trùng ký sinh trên sâu Chỉ riêng đối với rầy nâu, đã xác định
được 58 loài thiên địch, P.V Lầm, (1992) [12]
Theo một số tác giả (Phạm Văn Lầm, 1994) [13], Phạm Bình Quyền (1979) [15], thiên địch rầy nâu ở nước ta tương đối phong phú, ít nhất đã phát hiện 56 loài côn trùng bắt mồi, nhện lớn bắt mồi, côn trùng ký sinh, nấm và tuyến trùng ký sinh ở các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Tiền Giang, Đồng Tháp… Trong đó thiên địch nhiều nhất là bộ nhện lớn (17 loài chiếm 30,3%), tiếp đó là bộ cánh cứng (15 loài chiếm 26,8%), bộ cánh màng (13 loài chiếm 23,2%) Các bộ còn lại mỗi bộ chỉ thu được 1 - 4 loài
Trần Đức Viên, Trần Huy Thọ, và ctv., (1991) [21], 18 loài bắt gặp thường xuyên chủ yếu là các loài bắt mồi ăn thịt rầy nâu và các loài ký sinh
Trang 28Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …27
trên trứng rầy nâu Trong 32 loài bắt mồi ăn thịt thì loài Lycosa pseudoanulata
phổ biến trong mọi ruộng lúa kiến ba khoang, và bọ ba khoang
+ảnh hưởng của việc dùng thuốc hoá học đến hệ thiên địch của rầy
Ruộng lúa nhiệt đới hiện nay có nhiều rầy phần lớn cũng là do tiêu diệt mất thiên địch của chúng khi sử dụng rộng rãi những loại thuốc trừ sâu có phổ tác động rộng Phản ứng của các loài thiên địch chân đốt đối với thuốc trừ sâu biểu hiện rõ về thành phần loài hơn là về số lượng cá thể vì chúng đã bị chết với tỷ lệ cao ngay khi gặp thuốc phun để trừ sâu hại Độ độc trực tiếp của thuốc trừ sâu đối với thiên địch của rầy nâu Khi tiếp xúc trực tiếp đối với thuốc trừ sâu, nhiều thiên địch của rầy nâu bị chết, do đó tỷ lệ rầy bị ký sinh
hoặc ăn thịt đều giảm rõ rệt Dùng phương pháp nhúng nhện Lycosa pseudoannulata vào nước thuốc, thấy phosvet, bidrin và azonđrin ít độc hơn
trong khi đó hokbal, hopcid, orthobux, lebaycid và PM lại độc, độ độc của
lebaycid đối với Lycosa còn cao hơn của sumition và metyl paration Trong
điều kiện phòng thí nghiệm, Lycosa thường mẫn cảm với những loại thuốc trừ
sâu thông thường Đối với nhện, các loại cacbamatcũng độc hại hoặc có khi còn độc hại hơn các loại photpho hữu cơ, Hokbal (dạng sữa đặc), ortho-bux (sữa đặc) và furadan (viên) tỏ ra có độ độc cấp tính cao nhất đối với hai loài nhện trên là orthen (bột khô), azodrin (mù), MTMC (sữa đặc) và sevin (bột thấm nước) Tất cả các loại thuốc thí nghiệm (lebaycid, paration, kilval, imidan, sumition, azođrin, disysđton, hokbal, ortho-bux, MTMC, BPMC, MIPC, cacbamult, unden, CPMC, sevin, furadan) đều rất độc đối với bọ xít
mù Cyrtorhinus lividipennis Theo dõi 12 địa điểm thuộc Đài Loan trong 6 vụ
lúa liên tiếp thấy tổng số lượng nhện ăn rầy nâu và tỷ lệ trứng rầy bị ký sinh
đều cao nhất đếu ở những ô không phun thuốc, sau đó đến ô phun thuốc khi cần và cuối cùng thấp nhất ở những ô phun thuốc định kỳ cách ly 15 ngày một lần Một thí nghiệm khác cho thấy sau 4 vụ lúa nếu phun thuốc trừ sâu theo kế hoạch, cách 15 - 20 ngày một lần (trong mỗi vụ phun 5 - 6 lần), thì số lượng
Trang 29Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …28
rầy là 0,8 số lượng nhện Lycosa và Oedothorax là 0,4; nếu chỉ phun thuốc khi cần, các số lượng trên tương ứng là 4,4 và 0,7; nếu hoàn toàn không phun thuốc, sẽ tương ứng là 3,3 và 1,2 ở Malaixia, đã phun sogatox (2% MTMC
và 2% phenthoat) với mức 33,6 kg bột/ha cho ruộng lúa cấy được hai tháng và thấy 9 ngày sau, số lượng rầy nâu tăng nhiều vì thuốc không ảnh hưởng tới
trứng rầy nâu sẵn có ở ruộng, số lượng bọ xít C lividipennis không thay đổi (ở
ruộng không phun thuốc, số lượng này tăng hơn hai lần), số lượng
Coccinnella arcuata, Paederus fuscipes và Casnoidea interstitialis đều giảm
nhiều (ở đối chứng đều tăng với nhiều mức độ khác nhau) [Dẫn theo Nguyễn Xuân Hiển và ctv., (1979) [7]
Theo Cục BVTV [4], Nguyễn Văn Hành, (1992) [5], thuốc trừ sâu ít nhiều có tác dụng xấu đến quần thể thiên địch, gián tiếp hay trực tiếp hạn chế khả năng tích cực của chúng và vậy rầy nâu sẽ phát sinh số lượng nhanh hơn nếu sử dụng thuốc không hợp lý và sự tái bột phát rầy nâu sẽ xẩy ra
2.2.3.2 Rầy lưng trắng
+ Biến động quần thể của rầy lưng trắng
Reissig, Henrichs (1993) [23], Ram, (1986) [55], rầy lưng trắng thường
có số lượng lớn vào đầu vụ Quần thể rầy lưng trắng cao nhất vào thời kỳ đẻ nhánh đến trước khi phân hoá đòng (khoảng 7 - 8 tuần sau khi cấy), sau đó số lượng giảm dần vào giai đoạn lúa sau khi trỗ
Hokyo và ctv., (1975) [37] và Lui, (1995) [43], số lượng rầy lưng trắng cao vào giai đoạn đầu của cây lúa có thể là do sự có mặt của một số aminoaxit Tuy nhiên biến động số lượng của rầy lưng trắng còn phụ thuộc vàop nhịêt độ, độ ẩm làm ảnh hưởng đến hoạt động của rầy lưng trắng
Theo Shulkla, et al., (1990) [59], trong điều kiện thời tiết mát mẻ kéo dài vòng đời của rầy lưng trắng và hoạt động của chúng rất thấp Những vùng khí hậu cận nhịêt đới như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc thì vòng đời của rầy lưng trắng kéo dài gấp 2 lần so với vùng nhiệt đới
Trang 30Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …29
Theo Zhu, (1985) [66], ở Yiang Trung Quốc rầy lưng trắng có 5 thế hệ một năm, đỉnh của mật độ quần thể từ giữa đến cuối tháng 7 ở Hiroshima (Nhật Bản) trong một năm rầy lưng trắng có hai thế hệ trên lúa và ba thế hệ
trên cỏ hoà thảo Graminaceous Quần thể rầy lưng trắng đạt đỉnh cao vào thế
hệ thứ 2 khi trưởng thành di chuyển khỏi đồng lúa
Theo Misra and Prasad, (1985) [47], ở Praden (ấn Độ) quần thể rầy lưng trắng có số lượng cao nhất vào cuối tháng 10 Giữa mật độ quần thể rầy lưng trắng và thời gian chiếu sáng có mối tương quan chặt chẽ, nhiệt độ cực
đại trung bình và mật độ quần thể có mối tương đương, nhưng giữa mật độ quần thể rầy lưng trắng và ẩm độ lại có tương quan âm
Ram, (1986) [55], quần thể rầy lưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùa khô và có ít nhất 3 thế hệ Mặc dù số lượng nhập cư ban đầu của rầy lưng trắng cao hơn rầy nâu nhưng tốc độ quần thể lại thấp, chỉ tăng được 4 lần trong 3 thế hệ trong khi quần thể rầy nâu tăng 8 lần ở mỗi thế hệ Do tốc độ tăng trưởng thấp nên rầy lưng trắng hiếm khi đạt tới số lượng có thể gây thiệt hại cho kinh tế đối với cây lúa
Các tác giả trong nước Đinh Văn Thành, (1998) [16], Nguyễn Đức Khiêm, (1995a) [9], mô tả đặc điểm rầy lưng trắng có dải trắng dễ nhận thấy ở mảnh lưng giữa Mình màu nâu vàng, cánh trước có mặt cánh đen, cánh trước
có màu đen hoặc mầu xám Rầy đực dài 2,6 mm, không có dạng cánh ngắn, rầy cái dài 2,9 mm, mảnh lưng uốn cong không sâu phía dưới Rầy trưởng thành di chuyển nhiều hơn so với rầy nâu Rầy lưng trắng có năm tuổi, tuổi 1có màu trắng sữa cho đến khi xuất hiện nền trắng, và xám ở tuổi 3, tuổi 5 mảnh lưng và bụng đồng vàng, có các vết vằn trắng, xám trên nền trắng mịn, chiều dài thân thay đổi từ 0,8 - 2,1 mm Trứng đẻ thành từng ổ hình nải chuối, mỗi ổ từ hai đến bẩy quả, thường đẻ trong mô bẹ hoặc gân chính của lá tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng của lá Khi mới đẻ trong xuốt không màu dài từ 0,96 mm, rộng 0,2 mm, 3 ngày sau khi đẻ đầu trứng xuất hiện điểm màu đỏ,
Trang 31Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …30
cuối trứng có một đốm màu vàng đục Thời gian phát dục của rầy lưng trắng thay đổi theo điều kiện nhiệt độ và ẩm độ từ 23,8 - 29,8 0C, độ ẩm 93 - 94% thời gian phát dục của trứng là 6,4 - 6,7 ngày, rầy non là 12,5 - 12,9 ngày, vòng đời 23,6 - 20,4 ngày,
Nguyễn Đức Khiêm, (1995a) [9], trong điều kiện tháng 7 thì vòng đời của rầy lưng trắng từ 21,2 - 23,4 ngày Đinh Văn Thành (1998) [16], nhìn chung rầy lưng trắng cánh dài luôn chiến ưu thế trong quần thể Tuy nhiên theo Nguyễn Đức Khiêm, (1995a) [9], trong thời điểm từ 23 tháng 9 đến 1 tháng 11 năm 1989 thì tỉ lệ rầy cánh ngắn so với rầy trưởng thành cánh dài của rầy lưng trắng nhiều gấp 3,2 lần
+ Di chuyển của rầy lưng trắng
Cũng giống như rầy nâu, rầy lưng trắng cũng di chuyển hàng loạt, được phản
ánh như một '' Hội chứng bay sinh trứng'' của quá trình tiền sinh sản của rầy
di cư Sự di chuyển của rầy lưng trắng liên quan đến cường độ ánh sáng và nhiệt độ Hoạt động di chuyển của rầy lưng trắng có liên quan đến tuần trăng Dyck và ctv., (1979) [26] Theo Sogawa et al, (1994) [62], thời gian trung bình của con đực và con cái thay đổi từ 8 - 10 giờ và thời gian bay dài nhất được ghi nhận là 32 giờ Việc bay chịu ảnh hưởng của điều kiện áp suất khí quyển, nhiệt độ và ẩm độ Điều này liên quan đến việc di chuyển của rầy nâu và rầy lưng trắng qua biển đông đến Nhật Bản và Triều Tiên, Hàn Quốc Ngoài ra tốc độ gió còn quyết định việc hạ cánh của rầy lưng trắng,
Kisimoto, (1971) [40], có 5 đợt rầy di cư ở Trung Quốc từ giữa tháng 4
đến đầu tháng 5 với sự lưa hành của gió nam và gió tây nam, 3 đợt di cư hướng tây nam vào giữa và cuối tháng 8, cuối tháng 10 ở Bán đảo Triều Tiên việc du nhập qua qua biển đông của rầy nâu và rầy lưng trắng vào cuối tháng
6 và đầu tháng 7 và các đảo miền trung của nam Triều Tiên là cuối tháng 7
Ho, Liu, (1996) [36], Zhang (1991) [65], ở Trung Quốc rầy lưng trắng trưởng thành di chuyển vào cuối tháng 6 đầu tháng 7 Ngoài ra, Shingh,
Trang 32Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …31
Phaliwal, et al., (1989) [60], cũng như rầy nâu, rầy lưng trắng còn có sự di cư giữa các vụ lúa với khoảng cách từ 6 - 30 km sau khi cất cánh vào buổi tối trong mùa khô ở các vùng nhiệt đới
+ ảnh hưởng của điều kiện thời tiết,
Khí hậu thời tiết, đương nhiên ảnh hưởng quy luật phát sinh phát triển của mọi loài sinh vật trên trái đất Theo tác giả Shulkla, Shrivastva, (1990) [59] cho rằng, các điều kiện nhiệt độ cao, nhiệt độ thấp và số giờ chiếu sáng
có ảnh hưởng đến mật độ quần thể rầy lưng trắng Lượng mưa và ẩm độ hầu như ít ảnh hưởng đến mật độ quần thể ở ấn Độ, rầy lưng trắng đã trở thành dịch hại nguy hiểm khi gây ra hiện tượng cháy rầy trên 8.000 ha vào tháng 5 tháng 6 năm 1985
Theo Saha, (1986) [56], Ram, (1986) [55] cho rằng, các nhân tố ảnh hưởng đến sự bùng phát số lượng rầy lưng trắng là mưa kéo dài kéo theo thời tiết ẩm ướt, sử dụng một lượng phân đạm cao từ 175 - 250 kg N/ha và phòng trừ rầy lưng trắng bằng thuốc hoá học cho kết quả không cao
+ ảnh hưởng của điều kiện canh tác
Bón nhiều phân đạm, cấy dày, được tưới nước thường xuyên và mật
độ ký sinh thấp làm bùng phát số lượng rầy lưng trắng, theo Gao et al., (1994) [28]
Theo Kajimura (1995) [8], đã so sánh khả năng sinh sản của rầy trên ruộng bón phân hoá học và ruộng bón phân hữu cơ thấy mật độ rầy nhập cư ở ruộng bón phân hữu cơ cao hơn, trong khi đó tỷ lệ định cư của trưởng thành cái và tỷ lệ sống sót của các giai đoạn rầy non các thế hệ sinh sau đó là thấp hơn, số lượng trứng đẻ ở thế hệ sau, tỷ lệ nở và tỷ lệ rầy cánh ngắn cũng thấp hơn, do vậy mật độ rầy lưng trắng giảm ở ruộng bón phân hữu cơ Mật độ quần thể rầy lưng trắng ở ruộng lúa lai cao gấp 1,67- 7,5 lần so với giống cổ truyền Gao et al, (1994) [28] Theo Gyawali, (1988) [29] những nghiên cứu ở
Trang 33Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …32
Nepan cho thấy mật độ rầy lưng trắng sẽ giảm 46- 61% ở những ruộng lúa có luân canh lúa - đậu
+ ảnh hưởng của giống kháng và tính kháng của rầy lưng trắng
Theo Heinrichs, (1994) [32], việc trồng trọt các giống kháng đã làm giảm số lượng của rầy lưng trắng trên đồng ruộng có hơn 400 giống có tính kháng trong khoảng 50.000 giống đã được đánh giá với rầy lưng trắng tại IRRI Có 5 gen chống chịu với rầy lưng trắng là wbph1 từ giống NN22, wbph2 từ giống ARC10239, wbph3 từ giống Ndiang
Salim , Heinrichs, (1986) [57], một số giống kháng rầy lưng trắng khác
là IR48, IR52, IR60 và IR66 ở ấn Độ các giống Oryzae officinalis, O punctata và O latifobia, có sức kháng rầy lưng trắng và có 48 giống được
công nhận là kháng rầy lưng trắng trong nhà lưới, loại giống chống chịu cao IR2035- 117- 3 có các gen chống chịu wbph1 và wbph2, làm cho tỷ lệ rầy lưng trắng tử vong cao nhất, các gen này độc lập với nhau và được sử dụng trong chương trình tạo giống kháng
Theo Jiang et al, (1989) [39], ở Trung Quốc có 41 trong 218 bộ giống lúa có tính chống chịu đối với rầy lưng trắngcho rằng rầy ăn trên các giống kháng ít đẻ hơn, cơ thể nhỏ hơn và tỷ lệ sống sót của rầy non thấp hơn, theo Lui, (1995) [43], sự giảm ăn của rầy lưng trắng trên giống kháng có thể do sự
có mặt
Cũng theo Jiang et al, (1989) [39] cho rằng, giống lúa lai kháng rầy lưng trắng chủ yếu là do tính chịu đựng, ở một số giống cho thấy có thể có tính chịu đựng ở giai đoạn mạ và tính kháng ở giai đoạn gài hơn
Mishra et al, (1991) [45], cho biết rầy lưng trắng có định hướng về giống TN1 hơn giống kháng Pundia trong vòng 24 giờ sau khi thả rầy, số lượng rầy non tăng đột biến ở các giống nhiễm khoảng 24- 72 giờ, còn ở các giống kháng có sự giảm đột ngột số lượng rầy non
Trang 34Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …33
Nguyễn Đức Khiêm, (1995c) [11], Mức độ nhiễm rầy lưng trắng của tập đoàn giống lúa của bộ môn giống (Khoa Trồng trọt trường ĐHNNI Hà Nội) như sau: Nếp 451, Mộc tuyền, U17, CH, KV, mật độ rầy lưng trắng cao nhất lúc lúa đứng cái làm đòng, còn giống CR203 là giống kháng được rầy lưng trắng, rầy nâu, và rầy xám
+ ảnh hưởng của thuốc hoá học
ở ấn Độ (theo Shulkla, 1990) [59], ở Pakistan (Haq et al., (1991) [30], các loại thuốc Quinaphos, Carbaryl, Chlopyriphos và Carbosulphal có hiệu lực cao và kéo dài trong năm ngày đối với rầy lưng trắng, ngoài ra dầu xoan, dầu neem cũng có tác dụng trừ rầy lưng trắng, chỉ có Phosphamilon 0,05% có khả năng diệt trứng, ngoài ra Phosphamilon 0,05% và Fenvalirate 0,045% có tác dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy cái Nếu phun Buprofezin 0,075%
sẽ làm rầy hại thân tuổi 3 chết ngay sau khi lột xác
Mani et al, (1991) [44], nếu sử lý Flufenoxuron (Chất ức chế tổng hợp kitin) vào giai đoạn trứng vừa đẻ làm cho trứng chết nhanh, nếu sử lý vào giai
đoạn trước khi trứng nở thì rầy nở ra bị dị dạng, nếu sử lý vào giai đoạn rầy
đang lột xác thì rầy bị kìm hãm lột xác và chết, xử lý rầy đang hoá trưởng thành thì cánh bị biến dạng Flufenoxuron ở nồng độ 600ppm có tác dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy Thuốc hoá học dạng dung dịch hoặc bột mịn
độ hữu hiệu diệt rầy cao hơn dạng vãi ở ấn Độ sử lý Carbofuran 3G và phorate 10G với số lượng 10gam/ha hiệu lực thấp hơn nhiều so với sử lý bằng Chlorpyrifos 20 EC, Fenitrothion 50 EC
Xét về độc tính của thuốc Endo et al, (1988) [27] cho thấy, độ mẫn cảm của rầy lưng trắng đối với thuốc Lindan không thay đổi theo thời gian, trong khi đó đối với những loại thuốc khác độ mẫn cảm của rầy đều bị giảm Việc sử dụng thuốc trừ sâu làm rầy lưng trắng tái phát cũng như sự tái phát của rầy nâu Tuy nhiên tốc độ phát triển của tính kháng thuốc còn phụ thuộc
Trang 35Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …34
vào tuổi rầy, giới tính và dạng cánh, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng bởi mức độ kháng của rầy đối với ký chủ
Heinrichs, (1994a) [32], rầy nuôi trên giống kháng mẫn cảm với thuốc hơn rầy trên giống nhiễm, dạng cánh dài có trị số LD 50, cao hơn dạng cánh ngắn
2.2.3.3 Rầy xám Laodelphax striatellut (Eallen)
Rầy xám mức độ phổ biến không nhiều trên đồng ruộng và phạm vi gây hại không lớn so với hai loại rầy nâu và rầy lưng trắng, Rầy xám là loại có mật
độ cao nhất ở khu vực á nhiệt đới rầy truyền bệnh lúa lùn, sọc đen Rầy trưởng thành có 2 dạngcánh dài và cánh ngắn,
Theo Mueller, (1987) [22], ở các vùng cận nhiệt đới Châu á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, rầy xám phát sinh phát triển mạnh làm xuất hiện những trận dịch bệnh lùn sọc đen và bệnh sọc do virut
Theo Heinrichs (1994b) [33], số lượng quần thể rầy xám phát thường phát triển chậm hơn rầy nâu và rầy lưng trắng đỉnh cao của rầy xám vào giai
đoạn lúa chín sáp và chúng chưa bao giờ đủ số lượng để gây ra cháy rầy
Reissig, Henrichs, et al., (1993) [23], những ruộng bỏ hoang suốt mùa
đông là nơi cư trú của rầy xám, các loại cỏ dại là nguồn thức ăn cho rầy xám
và cỏ dại cũng là nguồn bệnh đầu tiên cho ruộng lúa nương mạ được trồng vào mùa xuân năm sau khi trưởng thành rầy xám di cư đến, trong những trường hợp này có khoảng 5% rầy xám mang nguồn bệnh
Hill S Dennish, (1983) [35], so với rầy nâu và rầy lưng trắng thì rầy xám
ít di cư hơn Việc sử dụng thuốc hoá học của các nước cận nhiệt đới châu á thì tốc độ phát triển tính kháng thuốc của rầy xám cao hơn và xẩy ra nhanh hơn
Nashu, (1969) [52], vòng đời của rầy xám thường dài hơn so với rầy nâu và rầy lưng trắng, rầy xám thích nghi với điều kiện thời tiết mát mẻ, một năm có khoảng 3 - 4 lứa, mỗi vụ chỉ có 1 - 2 lứa Vào mùa xuân, trưởng thành cánh dài từ các ký chủ phụ bay đến nương mạ hoặc những ruộng lúa mới cấy
Trang 36Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …35
rầy xám qua đông ở giai đoạn rầy non tuổi 4 - 5 trên các cây ký chủ trung gian Reissig et Henrichs, (1993) [23], cũng như rầy nâu và rầy lưng trắng rầy, xám
có thể bị các thiên địch tấn công ở các giai đoạn, trứng rầy xám bị ong
Trichogrammatidae ký sinh và là mồi của bọ xít mù xanh Cyrtorhinus livipennis, rầy non và trưởng thành bị các loài ong Dryinidae, bọ cánh cuốn Elenchidae ký sinh, rầy non và rầy trưởng thành thường bị bọ cánh cứng thuỷ
sinh sống trong nước và ấu trùng chuồn chuồn ăn thịt, ngoài ra còn bị các loài nhện và bọ xít nước săn bắt
Nagata and Masuda, (1980) [51], những loại thuốc diệt rầy nâu rầy lưng trắng đều có tác dụng đến rầy xám Tuy nhiên số lượng, mật độ quần thể rầy xám không quyết định đến mức độ gây hại mà tỷ lệ rầy xám mang nguồn bệnh virut, ở Nhật Bản trong 10 năm 1961- 1971, 3 nhóm thuốc Clo hữu cơ, lân hữu cơ và Carbamat đã được thay đổi luân phiên để sử dụng phòng trừ rầy lưng trắng và rầy xám Nagata, Kilin và cộng sự cho rằng sự di cư đã ảnh hưởng đến tính kháng thuốc của nhóm rầy hại thân, rầy xám di cư ít hơn
Phạm Văn Lầm, Bùi Hải Sơn, (1994) [14], các thuốc trừ sâu hoá học có phổ tác động rộng (như Thiodan, Azodrin, Monitor, Wofatox, Basudin)
Không chỉ có hiệu lực mà còn có khả năng gây ra những hậu quả không mong muốn Sau phun các thuốc này 2- 3 lần, thì mật độ nhóm rầy hại thân đều tăng nên nhiều so với trước phun Hệ số tích luỹ quần thể của rầy ở nơi dùng thuốc
Trang 37Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …36
3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại huyện Gia Lâm - Hà Nội, từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2007
3.2 Vật liệu nghiên cứu
+ Cây trồng: Các giống lúa trồng phổ biến trong vụ xuân năm 2007 tại Gia Lâm- Hà Nội (Xi23, Nếp DT21, Nếp 451, CR203, C70, C71, Khang dân, Q5, HT1, LT2)
+ Sâu hại: Rầy nâu Nilaparvata lugens, Rầy lưng trắng (Sogatella
furcifera), Rầy xám (Laodelphax striatellus), (Delphacidae, Homoptera)
+ Thiên địch: Nhóm bắt mồi phổ biến (nhóm nhện lớn, bọ rùa đỏ, bọ cánh cứng cánh ngắn, bọ xít mù …)
3.3 Dụng cụ nghiên cứu
Vợt thu bắt côn trùng, hộp đựng mẫu, ống nghiệm thủy tinh (1,5 - 2,0 cm), khay điều tra (kích thước 20 x 20 x 5 cm), panh, bút lông, kính lúp cầm tay, bình bơm tay10 lít, ống đong 20cc, sổ ghi chép…
3.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trang 38Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …37
3.4.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.4.2.1 Xác định thành phần nhóm rầy hại thân lúa, thành phần thiên địch bắt
mồi nhóm rầy hại thân lúa tại Gia Lâm- Hà Nội, được thực hiện theo phương pháp điều tra tự do Điểm điều tra không hạn chế Định kỳ điều tra mỗi tuần 1 lần Thu thập tất cả các loài thuộc nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch bắt mồi
ăn thịt về nuôi tiếp để giám định
3.4.2.2 Điều tra diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa (rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xám), diễn biến mật độ thiên địch chính ăn rầy, chúng tôi điều tra theo phương pháp của Cục BVTV (Tiêu chuẩn Việt Nam, 2002) [2],
điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 4 khóm, dùng khay 20 x 20 x5cm để
điều tra đối với nhóm rầy; quan sát đếm trực tiếp trên từng khóm đối với nhóm thiên địch ăn rầy
3.4.2.3 Điều tra mật độ rầy hại thân lúa trước khi phun thuốc hoá học và sau
phun 1, 3, 5 và 7 ngày ở các công thức thí nghiệm cũng được thực hiện theo quy định Tiêu chuẩn Việt Nam (2002) [2]
3.4.2.4 Thí nghiệm khảo sát hiệu lực thuốc hoá học trừ rầy hại thân lúa, được
bố trí 3 công thức theo kiểu trình diễn Mỗi công thức 1 loại thuốc phun trên diện tích 1 sào Bắc Bộ Phun thuốc vào giai đoạn lúa có đòng già
3.5 Xử lý mẫu vật
Toàn bộ mẫu rầy hại thân lúa được sơ xử lý bằng cồn loãng (30-350) Thay cồn mới khi thấy cồn trong lọ bị đục
3.6 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán
* Lập bảng thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch bắt mồi của chúng vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội
Mức độ phổ biến của các loài rầy và thiên địch bắt mồi ăn thịt được lượng hoá theo tần suất bắt gặp như sau:
Trang 39Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …38
Na: Số lượng cá thể từng loài (theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa)
N: Tổng số cá thể rầy hại thân điều tra
* Hiệu lực thuốc (%) sẽ được hiệu chỉnh theo công thức Henderson-Tilton
Ta x Cb HL(%) = [1 - - ] x 100
Ca x Tb Trong đó: Ta - Số rầy sống (con/m2) ở công thức xử lý thuốc sau khi phun
Tb - Số rầy sống (con/m2) ở công thức xử lý thuốc trước khi phun
Ca - Số rầy sống (con/m2) ở công thức đối chứng sau khi phun
Cb - Số rầy sống (con/m2) ở công thức đối chứng trước khi phun
3.7 Phương pháp sử lý số liệu
Các số liệu thí nghiệm được sử lý theo phương pháp thống kê thông
thường trong chương trình xử lý thống kê Microsoft Excel ở độ tin cậy P∝=
0.05 Số liệu khảo nghiệm thuốc được xử lý thống kê theo chương trình
IRRITAT (version 3.1)
Trang 40Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ……… …39
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch phổ biến của chúng vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội
4.1.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa
Nhóm rầy chích hút thân cây lúa là nhóm sâu hại nguy hiểm đối với sản xuất lúa không những ở Việt Nam, mà trên nhiều nước trồng lúa có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới Tác hại nguy hiểm của chúng không chỉ làm khô héo cây lúa, giảm hoặc mất trắng năng suất, mà còn là môi giới truyền bệnh virut lúa lùn xoăn lá Để khẳng định thành phần của chúng trong điều kiện sinh thái
vụ xuân 2007 tại Gia Lâm, Hà Nội, chúng tôi tiến hành điều tra Kết quả được thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa họ Delphacidae
(Homoptera) vụ xuân năm 2007- Gia Lâm, Hà Nội
TT Tên Việt Nam Tên khoa học Bộ, Họ Mức phổ
biến
1 Rầy nâu Nilaparvata lugens (Stal) Delphacidae +++
2 Rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath ‘’ +++
Ghi chú: +: Xuất hiện ít (<30% tần suất bắt gặp); ++: Xuất hiện trung bình (30-60%); +++: Xuất hiện nhiều (>60% tần suất bắt gặp)
Số liệu bảng 4.1 hình 4.1 cho thấy, nhóm rầy hại thân lúa xuất hiện cả 3 loài Rầy nâu, rầy lưng trắng là 2 loài có mức độ phổ biến cao Còn rầy xám xuất hiện với mức độ phổ biến thấp hơn Điều này thể hiện sự thuận lợi về các yếu tố sinh thái cho nhóm rầy hại thân lúa phát triển