1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng chính trị của huỳnh thúc kháng và ý nghĩa lịch sử của nó

184 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, khi nghiên cứu về tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng, vẫn còn có không ít những tranh luận dưới những góc độ khác nhau như Huỳnh Thúc Kháng là chí sĩ yêu nước hay là nhà cách mạng d

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI



NGUYỄN HỮU SƠN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG VÀ Ý NGHĨA

LỊCH SỬ CỦA NÓ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI



NGUYỄN HỮU SƠN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG VÀ Ý NGHĨA

LỊCH SỬ CỦA NÓ

Ngành: Triết học

Mã số: 92.29.001

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Trương Văn Chung

2 TS Phạm Đào Thịnh

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được bảo vệ ở bất kỳ học vị nào Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Nguyễn Hữu Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6

1.1 Những nghiên cứu liên quan về điều kiện, tiền đề góp phần hình thành tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 6

1.2 Những nghiên cứu liên quan về quá trình hình thành và chuyển biến tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 9

1.3 Những nghiên cứu có liên quan về nội dung, đặc điểm tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 14

1.4 Những nghiên cứu đánh giá liên quan về giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 17

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG 25

2.1 Những điều kiện hình thành tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 25

2.2 Những tiền đề lý luận và phẩm chất cá nhân góp phần hình thành tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 37

2.3 Quá trình hình thành, chuyển biến trong tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 50 CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG 66

3.1 Nội dung tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 66

3.2 Đặc điểm tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 108

CHƯƠNG 4 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG 122

4.1 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 122

4.2 Ý nghĩa lịch sử tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng 138

KẾT LUẬN 152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 168

PHỤ LỤC BIÊN NIÊN TIỂU SỬ HUỲNH THÚC KHÁNG 169

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Huỳnh Thúc Kháng là một trong những nhân vật lịch sử đặc biệt của miền Trung nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung trong giai đoạn lịch sử cuối thế

kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX Về mặt lý luận, Huỳnh Thúc Kháng là người yêu nước

có quá trình chuyển đổi từ tư tưởng Nho giáo phong kiến sang lập trường dân chủ tư sản ôn hòa tiến đến tư tưởng dân tộc cách mạng theo Hồ Chí Minh

Huỳnh Thúc Kháng là người tham gia đấu tranh cách mạng dưới nhiều hình

thức như: đấu tranh nghị trường, ra báo Tiếng Dân đề tuyên truyền yêu nước, “thức

tỉnh” quần chúng nhân dân xây dựng đời sống mới có ý nghĩa nhất định trước sự kiểm soát chặt chẽ của nhà cầm quyền thực dân Pháp Có những thời điểm ở Trung

Kỳ, ông là một trong những người hoạt động tích cực trên nghị trường của Viện dân

biểu cũng như trên mặt báo Tiếng Dân để đấu tranh yêu nước một cách công khai,

hợp pháp Tuy còn có những hạn chế nhất định nhưng tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng thể hiện thông qua ngòi bút tuyên truyền trên báo chí đã góp phần vào sự phát triển tư duy lý luận chung của dân tộc Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX

Ở Trung Kỳ, trước Huỳnh Thúc Kháng chưa có ai là người yêu nước hoạt

động cách mạng công khai xây dựng một tờ báo riêng (tờ Tiếng Dân) để tuyên

truyền tinh thần yêu nước, tư tưởng đổi mới đất nước và kêu gọi quần chúng nhân dân xây dựng đời sống mới, nâng cao nhận thức về các mặt văn hóa, xã hội

Cho đến hiện nay, Huỳnh Thúc Kháng là một trong những nhân vật lịch sử

có không ít những cuộc hội thảo, tranh luận về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của ông Qua những đóng góp của Huỳnh Thúc Kháng về tư tưởng, có thể nói, ông là một trong những nhà tư tưởng, nhà báo, nhà văn hóa lớn của Trung Kỳ nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung nửa đầu thế kỷ XX

Huỳnh Thúc Kháng xuất thân trong một gia đình nông dân có truyền thống Nho học, quê ở Thạnh Bình, Tiên Cảnh, Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam Từ nhỏ, ông

đã nổi tiếng thông minh, văn hay chữ tốt; sớm đọc nhiều tân thư, chịu ảnh hưởng của tư tưởng trong canh tân nên năm 29 tuổi (1904) đỗ tiến sĩ, nhưng không ra làm

Trang 6

quan Và cũng từ đó, ông bắt đầu học chữ Quốc ngữ, ông cùng Trần Quý Cáp và

Phan Châu Trinh phát động phong trào Duy Tân trong quần chúng nhân dân ở

Trung Kỳ với chủ trương “khai trí, trị sanh” Năm 1908, sau vụ chống thuế của nhân dân Trung Kỳ mà Quảng Nam là điểm khởi phát, Huỳnh Thúc Kháng bị bắt rồi bị đày ở Côn Đảo đến năm 1921 mới được trả tự do Ra tù, ông tiếp tục các hoạt động yêu nước theo cách của mình và vẫn từ chối chính quyền thực dân, không ra làm quan

Cuối năm 1925, ông và một số người bạn ứng cử Viện dân biểu Trung Kỳ và trúng cử rồi được bầu làm Viện trưởng Nhận thức được “tên là Nhân dân đại biểu,

mà thật là một quan trường mới” [139; 251], ông đã từ chức cuối năm 1928 Sau khi

rời khỏi Viện Dân biểu Trung kỳ, Huỳnh Thúc Kháng ra tờ báo Tiếng Dân làm

công cụ để đấu tranh đ i các quyền tự do, dân chủ Hoạt động liên tục từ năm 1927

đến năm 1943, báo Tiếng Dân đã ra được 1766 số, trở thành tờ báo lâu năm nhất

phản ánh những sự kiện lịch sử diễn ra ở Trung kỳ, đồng thời là nơi tập hợp tiếng nói của các lực lượng có tinh thần dân tộc dân chủ trong tầng lớp trí thức tiểu tư sản miền Trung trong cuộc đấu tranh đ i độc lập, dân chủ ở Việt Nam trong nửa đầu thế

kỷ XX, như lời của Cố Tổng Bí thư Trường Chinh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (tháng 7-1948) khi ngợi ca về 16 năm hoạt động sôi nổi, đầy ắp hào khí cách mạng của tờ báo Tiếng Dân: “Thét Tiếng Dân giữa kinh thành Huế”

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng

h a ra đời như một luồng sinh khí mới đủ sức làm chuyển biến trong nhận thức và hành động của Huỳnh Thúc Kháng Ông đã nhận lời tham gia Chính phủ cách mạng liên hiệp Đó không chỉ là thời khắc có ý nghĩa bước ngoặt, đó c n là biểu hiện sinh động nhất về sự cao cả của tấm gương nhà chí sĩ yêu nước Vì vậy, nghiên cứu và tìm hiểu cuộc đời, hoạt động, tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng đồng thời chúng ta

có thể hiểu biết thêm về Phan Châu Trinh, người mà ông chịu ảnh hưởng ít nhiều của tư tưởng dân chủ tư sản ôn hòa trong các hoạt động yêu nước ở Trung Kỳ và Hồ Chí Minh, người mà ông cho rằng “được người tri kỷ”

Huỳnh Thúc Kháng bắt đầu làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a vào ngày 4/3/1946 và đảm nhiệm vị trí

Trang 7

Quyền Chủ tịch Chính phủ theo Sắc lệnh số 82 ngày 29/5/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, cho đến ngày 21/10/1946, khi Hồ Chí Minh về nước Sau đó, ông lại tiếp tục được tái nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ mới thành lập vào tháng 11-1946 Để mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc nhằm tăng

cường lực lượng bảo vệ thành quả cách mạng, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam

được thành lập, Huỳnh Thúc Kháng, một trong những sáng lập viên được bầu làm Hội trưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự Với tư cách là một trong những bậc trí thức lớn tham gia vào hoạt động của chính quyền cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng đã rất coi trọng sự thống nhất, đoàn kết toàn dân tộc, ông rất ý thức vai trò uy tín của mình đối với sự tập hợp đoàn kết quốc dân, đồng bào vì sự nghiệp chung của dân tộc

Trong diễn đàn tư tưởng, có thể nói Huỳnh Thúc Kháng là một trong những hiện tượng khá nổi bật ở Trung Kỳ nửa đầu thế kỷ XX Huỳnh Thúc Kháng đã có những đóng góp về các phương diện văn hóa, chính trị, giáo dục và xã hội Những quan điểm, tư tưởng của ông phản ánh quá trình chuyển biến từ hệ tư tưởng phong kiến nho giáo sang dân chủ tư sản và tiến đến tư tưởng dân tộc cách mạng của tầng lớp trí thức, góp phần quyết định đến vận mệnh của dân tộc và đất nước

Hiện nay, khi nghiên cứu về tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng, vẫn còn có không ít những tranh luận dưới những góc độ khác nhau như Huỳnh Thúc Kháng là chí sĩ yêu nước hay là nhà cách mạng dân tộc, hay ông chỉ là nhà tư tưởng thông qua các hoạt động thực tiễn để truyền qua các quan điểm mới, là nhà báo và thực chất tư tưởng của ông thuộc hệ tư tưởng nào, v.v Luận án của tác giả nghiên cứu

về “Tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng và ý nghĩa lịch sử của nó” sẽ góp

phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề tranh luận nêu trên cũng như cung cấp một hệ thống quan điểm, tư tưởng về chính trị của Huỳnh Thúc Kháng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu

Luận án làm rõ nội dung, đặc điểm cơ bản trong tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng Trên cơ sở đó, tác giả rút ra những giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng

Trang 8

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, luận án cần thực hiện nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu những điều kiện kinh tế - xã hội, tiền đề lý luận gắn với quá trình hình thành tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng;

- Nội dung và đặc điểm cơ bản tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng;

- Từ nội dung và đặc điểm trên rút ra giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: những quan điểm, tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc

Kháng

Giới hạn phạm vi nghiên cứu: giai đoạn lịch sử Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX

đến nửa đầu thế kỷ XX (1947)

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Tác giả thực hiện luận án trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam

Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng hệ thống các phương pháp khác như:

Trang 9

chính trị Việt Nam nói chung và tư tưởng chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX nói riêng Qua đó rút ra ý nghĩa lịch sử tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng

Ý nghĩa thực tiễn

Luận án được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX tại các trường Đại học – Cao đẳng, các cơ quan nghiên cứu chính trị, cơ quan chuyên môn của Đảng và Nhà nước

6 Những điểm mới, kết quả nghiên cứu của luận án

Điểm mới và cũng là kết quả của luận án là: làm sáng tỏ nội dung, đặc điểm

và giá trị, hạn chế cũng như ý nghĩa lịch sử tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng giai đoạn đầu thế kỷ XX

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Huỳnh Thúc Kháng là một trong những nhà cách mạng dân chủ tiêu biểu của phong trào yêu nước Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Cuộc đời và sự nghiệp của ông

đã được rất nhiều các nhà khoa học, các học giả quan tâm nghiên cứu Trong quá trình tìm hiểu về tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng, tác giả của luận án nhận thấy đã có các hướng nghiên cứu sau đây:

1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ GÓP PHẦN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG

Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với những diễn biến đặc biệt của tình hình chính trị - xã hội - kinh tế đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học:

Các Giáo sư Trương Hữu Quýnh, Giáo sư Đinh Xuân Lâm và Phó giáo sư,

Tiến sĩ Lê Mậu Hãn trong bộ ba tập Đại cương Lịch sử Việt Nam, ở tập 2 (Nhà xuất

bản Giáo dục, Hà Nội, 2003) đã có những phân tích, đánh giá một cách tương đối toàn diện về đời sống kinh tế - xã hội – văn hóa…, đặc biệt là những dấu ấn giá trị

tư tưởng của các bậc sĩ phu yêu nước, các nhà tư tưởng Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông qua các phong trào yêu nước như Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục…gắn với các tên tuổi Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can… Từ góc độ lịch sử, các tác giả nhận định về tư tưởng, đường lối cứu nước, tinh thần cách mạng của các nhà tư tưởng tuy còn có những hạn chế nhất định nhưng đã có đóng góp rất lớn vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam trong những ngày đầu tiếp cận với khu vực và phương Tây về con đường cách mạng, giải phóng dân tộc Tuy nhiên, do đây là công trình thuần túy về lịch sử với các sự kiện mang tính tổng hợp nên các tác giả chưa có điều kiện đi sâu vào một nhân vật lịch sử cụ thể như Huỳnh Thúc Kháng Vì vậy, trong luận án này tác giả sẽ đi sâu vào những vấn đề lịch sử của Huỳnh Thúc Kháng nhằm khắc họa rõ nét tư tưởng chính trị của ông

Trang 11

Trong quyển Lịch sử Việt Nam – từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (Nhà xuất bản

Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2002), Giáo sư Đào Duy Anh đã có những đóng góp không nhỏ vào việc ghi chép và phổ biến lịch sử dân tộc thông qua các sự kiện mà

từ đó góp phần vào hệ thống các giá trị văn hóa, tư tưởng của Việt Nam Ông đã phân tích sâu sắc về thời kỳ suy vong của nhà nước phong kiến từ nửa cuối thế kỷ XIX cùng với sự du nhập của tư bản Pháp và sự chuyển biến tư tưởng của những nhà Nho đương thời về chính trị - giáo dục - kinh tế - tài chính - xã hội - võ bị - ngoại giao với mục đích là canh tân đất nước, từng bước thoát khỏi ngoại xâm Đây

là cơ sở quan trọng giúp cho tác giả của luận án có thể nhìn nhận tương đối toàn diện về bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX để từ đó đánh giá những ảnh hưởng đối với sự hình thành tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần trong quyển Tiến trình văn hóa Việt

Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XIX (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007) trình bày

về sự phát triển, biến đổi văn hóa trên lĩnh vực tư tưởng Việt Nam xuyên suốt trong dòng chảy lịch sử như là một phần của hệ thống văn hóa Việt thông qua các nhà tư tưởng yêu nước thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, đặc biệt là những thay đổi về ý thức

hệ từ phong kiến Nho giáo sang dân chủ tư sản qua việc tiếp thu những giá trị của phương Tây từ Trung Quốc, Nhật Bản và Pháp Mặc dù vậy, cách trình bày của công trình mới chỉ dừng lại ở góc độ lịch sử văn hóa, tác giả chưa đi sâu vào những nhân vật cụ thể với sự đóng góp ở góc độ về tư tưởng văn hóa của họ trước bối cảnh thay đổi của điều kiện xã hội Bên cạnh việc làm rõ các nội dung và đặc điểm cơ bản của tư tưởng chính trị, luận án cũng góp phần vào hệ thống giá trị tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng ở các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và đời sống xã hội

Trong quyển Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ Lê –

Nguyễn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013) Giáo sư Lê Văn Quán đã

trình bày về những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, chính trị, tư tưởng, xã hội ở Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX Trên cơ sở những biến đổi xã hội đó, tác giả đã hệ thống hóa những quan điểm, tư tưởng chính trị - xã hội chủ đạo thời kỳ phong kiến Lê Sơ cho đến triều đại cuối cùng của nền thống trị phong kiến Việt Nam – nhà Nguyễn Nội dung công trình nghiên cứu được chia làm hai phần:

Trang 12

(1) lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội triều Lê Sơ và (2) lịch sử tư tưởng chính trị -

xã hội triều Nguyễn Ở phần thứ hai tác giả đã khái lược tư tưởng chính trị - xã hội

cơ bản triều Nguyễn trước và sau khi thực dân Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược, triều đình phong kiến dần suy vong Mặc dù tác giả đã có những trình bày, phân tích

và đánh giá về bối cảnh thời đại và sự chuyển đổi của xã hội Việt Nam nửa cuối thế

kỷ XIX nhưng chưa phân tích nhiều đến ảnh hưởng của nó đối với thế hệ các nhà tư tưởng yêu nước sau này, trong đó có Huỳnh Thúc Kháng

Bên cạnh đó, năm 2013 Phó Giáo sư, Tiến sĩ Doãn Chính xuất bản công trình

nghiên cứu chuyên biệt về Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng

nước đến đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013) Tác giả

đã trình bày một cách hệ thống và cơ bản lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam qua năm thời kỳ gắn với điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa của dân tộc Trong đó, thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tác giả đã làm rõ được những thay đổi có tính chất là điều kiện, tiền đề tác động, ảnh hưởng đến các nhà tư tưởng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh…, nhưng chưa đề cập đến nhân vật Huỳnh Thúc Kháng một cách chi tiết Luận án sẽ góp phần khắc họa rõ những quan điểm, tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng đứng từ góc độ triết học

Tác giả Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tường với giáo trình sau đại học

Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà

Nội, 2012) đã có những khái quát và hệ thống hóa tư tưởng của Trung Quốc, Ấn

Độ, Ả rập và Việt Nam nhằm phục vụ cho quá trình đào tạo học viên Cao học và Nghiên cứu sinh tại Học viện Khoa học xã hội Mặc dù ở mỗi khu vực và thời kỳ lịch sử tác giả đều có những khái quát về bối cảnh, điều kiện lịch sử - xã hội với tư cách là cơ sở cho sự hình thành những quan điểm, tư tưởng nhưng khi đề cập đến tư tưởng chính trị Việt Nam về dân chủ tư sản qua những dòng tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường… đầu thế kỷ XX tác giả chưa có đánh giá về sự ảnh hưởng, tác động của hoàn cảnh đối với quá trình hình thành tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng Do đó, luận án này cần làm rõ hơn về vị trí, vai trò của nhân vật lịch sử Huỳnh Thúc Kháng trong dòng chảy chung các nhà tư tưởng ấy

Trang 13

Như vậy, những nghiên cứu trên đã có đóng góp nhất định về điều kiện, cơ

sở lịch sử – xã hội, tiền đề cho sự hình thành các quan điểm, tư tưởng ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Các nhà khoa học đã góp phần quan trọng vào việc hệ thống hóa những điều kiện, tiền đề kinh tế - xã hội quy định đối với tư tưởng Việt Nam qua từng giai đoạn Đó là căn cứ, cơ sở khoa học để tác giả luận án kế thừa, vận dụng sáng tạo vào việc làm sáng tỏ sự ảnh hưởng, tác động của các điều kiện, tiền đề đối với quá trình hình thành tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng đầu thế kỷ XX

1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

VÀ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG

Nghiên cứu tư tưởng chính trị Việt Nam và tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng giai đoạn đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học đã tập trung chủ yếu vào các nội dung như sau:

Trong công trình nghiên cứu về Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam – từ

thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

1997) của Giáo sư Trần Văn Giàu, ở tập II về Hệ ý thức Tư sản và sự bất lực của nó

trước các nhiệm vụ lịch sử, ông đã phân tích và đánh giá toàn diện về bối cảnh lịch

sử, điều kiện tiền đề lý luận, kinh tế - xã hội với vai trò quan trọng nhằm từng bước xóa bỏ ý thức hệ Nho giáo, tiến tới việc xây dựng một ý thức hệ mới – tư tưởng dân chủ tư sản Tuy nhiên, ý thức hệ tư sản bước đầu hình thành đó đã không thể giải quyết được những yêu cầu đặt ra của nhiệm vụ lịch sử là giải phóng dân tộc, chống xâm lược và đánh đổ nền thống trị chuyên chế phong kiến ngàn năm Tác giả Trần Văn Giàu đã có những nhận định và đánh giá về quá trình chuyển biến ý thức hệ tư tưởng của các bậc sĩ phu yêu nước tiến bộ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng khi từ bỏ “cái cũ” để chuyển sang “cái mới”

Dù là tích cực, tiến bộ so với điều kiện hoàn cảnh lịch sử khi đó nhưng ý thức hệ tư sản của các nhà tư tưởng vẫn bị bó hẹp trong một khuôn khổ chật hẹp mơ hồ, không

vững vàng về mặt lý luận bởi “tư tưởng tư sản không có giai cấp tư sản bản xứ”

Tác giả mới chỉ điểm qua ngắn gọn về vai trò của Huỳnh Thúc Kháng ở góc độ phê phán tư tưởng cách mạng “cải lương” của ông mà chưa đi sâu làm rõ về quá trình

Trang 14

hình thành, chuyển biến trong tư tưởng Trong luận án này sẽ làm sáng tỏ tính hệ thống về tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng xuyên suốt quá trình đấu tranh, hoạt động yêu nước của ông Từ đó chỉ ra những biến đổi trong tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam

Giáo sư Vũ Dương Ninh và các tác giả trong quyển Phong trào cải cách ở

một số nước Đông Á giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2004) đã xem xét xu thế phát triển trong thời đại chủ nghĩa tư bản đang mở rộng quy mô thế giới, cách ứng xử của chính quyền các quốc gia phương Đông và những hệ quả của nó Nhiều cố gắng tìm kiếm con đường cải cách bằng những ý tưởng canh tân qua Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện… cuối thế kỷ XIX cho đến phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Bội Châu, Lương Văn Can… và xu hướng dân chủ, dân quyền, duy tân của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… đầu thế kỷ XX đều không trở thành hiện thực Tác giả tuy khắc họa rõ nét về các nhân vật của các phong trào Đông Du, Duy Tân hội…nhưng ở góc độ đánh giá quá trình hình thành tư tưởng chính trị nhất là đối với nhân vật Huỳnh Thúc Kháng qua thực tiễn của phong trào Duy Tân thì chưa được làm rõ, vì vậy đây là một trong những nhiệm vụ của luận án

Quyển Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do tác

giả Trương Văn Chung – Doãn Chính đồng chủ biên với sự tham gia của tập thể các nhà khoa học, giảng viên của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh đã giới thiệu những tư tưởng tiêu biểu của giai đoạn lịch sử quan trọng này Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các tác giả đã đi sâu vào phân tích các sự kiện, bối cảnh lịch sử - chính trị, các điều kiện khách quan

và chủ quan của xã hội Việt Nam tác động đến các nhân vật tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Ái Quốc Từ đó, lý giải một cách logic những chuyển biến tư tưởng canh tân, thúc đẩy xã hội và những hạn chế lịch sử qua những phong trào yêu nước như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, vận động Duy Tân, Việt Nam Quang Phục hội, … Các tác giả chưa có đề cập đến nhân vật Huỳnh Thúc Kháng với tư cách là người đóng góp quan trọng trong quá trình chuyển biến tư tưởng kết nối giữa tư tưởng Phan Bội Châu với Phan Châu Trinh và

Trang 15

tiến tới tiếp cận với tư tưởng dân tộc cách mạng của Hồ Chí Minh sau này Do đó, luận án này cần phải làm đầy đủ hệ thống hóa quá trình chuyển biến tư tưởng đó nhằm góp phần bổ sung thêm những quan điểm, tư tưởng chính trị cho giai đoạn lịch sử có tính bước ngoặc, ý thức hệ dân tộc chuyển từ tư tưởng Nho giáo phong kiến sang hệ tư tưởng mới

Trong công trình Lịch sử báo Tiếng Dân (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1992) tác

giả Nguyễn Thành đã hệ thống chuỗi sự kiện lịch sử về quá trình hình thành, phát triển cho đến khi bị đình bản của tờ báo do Huỳnh Thúc Kháng sáng lập, kiêm chủ bút Tài liệu đã cung cấp những thông tin hết sức có giá trị về các mối quan hệ giữa Huỳnh Thúc Kháng với những bậc đàn anh và đồng sự như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Đình Phiên, Lê Nhiếp, Đào Duy Anh, Nguyễn Xương Thái, Võ Nguyên Giáp … trong quá trình ra đời tờ báo cũng như đấu tranh với chính quyền thực dân trên lĩnh vực báo chí Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở một lát cắt về

cuộc đời hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng khi làm báo Tiếng Dân mà chưa đánh

giá được toàn diện quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của ông trước khi làm

báo và sau khi báo đóng cửa Luận án cần xác định vai tr , ý nghĩa của tờ báo Tiếng

Dân trong chuỗi hoạt động đấu tranh yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng góp phần

hình thành nên tư duy lý luận về chính trị

Trong quyển sách Phong trào yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX – Nhân vật

và Sự kiện (Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2012) với tính chất là một tập hợp các

bài viết của Giáo sư Đinh Xuân Lâm và Phó Giáo sư Chương Thâu về giai đoạn lịch

sử đặc biệt đầu thế kỷ XX - thời kỳ chuyển biến của điều kiện hoàn cảnh lịch sử -

xã hội và sự biến chuyển tư tưởng chính trị của các nhà yêu nước từ tư tưởng Nho giáo sang lập trường dân chủ tư sản Trong đó, nổi bật vai trò của một bộ phận văn thân sĩ phu yêu nước trên nền tảng tinh thần yêu nước mãnh liệt vượt qua những hạn chế vốn có của nguồn gốc xuất thân để bước đầu tiếp cận tư tưởng thời đại mới vận dụng vào công cuộc giải phóng dân tộc: Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thành, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lương Ngọc Quyến, Huỳnh Thúc Kháng… Tuy nhiên, các tác giả chỉ dành phần lớn tập trung vào những nhân vật như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu mà chưa có đánh

Trang 16

giá nhìn nhận một cách toàn diện về quá trình hình thành, chuyển biến tư tưởng với

sự đóng góp không nhỏ của Huỳnh Thúc Kháng (mặc dù phạm vi và tầm ảnh hưởng của ông trong hoạt động yêu nước chủ yếu ở khu vực Trung kỳ) Luận án này góp phần làm rõ nét hơn vai tr của Huỳnh Thúc Kháng trong sự chuyển biến tư tưởng chung của các trí thức dân tộc

Từ góc nhìn văn hóa, tác giả Đỗ Thị Minh Thúy và Nguyễn Hồng Sơn có

công trình về Phong trào Duy Tân với sự chuyển biến của văn hóa Việt Nam đầu

thế kỷ XX (Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội, 2010) đề

cập đến: tiền đề kinh tế, chính trị xã hội dẫn đến sự xuất hiện của phong trào Duy Tân, vị trí của nó trong văn hóa Việt Nam hiện đại; các lĩnh vực hoạt động chính của phong trào; và những yếu nhân của phong trào Phong trào Duy Tân được tiến hành bởi các nhà Nho cấp tiến, những người đứng hai chân – một chân đứng trong

xã hội phong kiến truyền thống, bảo thủ và lạc hậu, một chân bước qua xã hội mới đang dần hình thành trước những tác động của những điều kiện bên ngoài và bên trong đất nước Bên cạnh những cải cách, đổi mới mang tính cách mạng, sợi dây quá khứ hiện lên một cách rõ nét thì các tác giả chưa có sự đánh giá những chuyển biến trong nhận thức văn hóa của tư tưởng Huỳnh Thúc Kháng thông qua các hoạt động chính trị yêu nước công khai trên nghị trường và trên báo chí

Trong công trình nghiên cứu về Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị

Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – Qua các nhân vận tiêu biểu (Nhà xuất

bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007) của tác giả Phó Giáo sư, Tiến sĩ Doãn Chính

và Thạc sĩ Phạm Đào Thịnh đã trình bày những tiền đề và quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tác giả đã chỉ ra những nội dung và đặc điểm cơ bản của quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh Đây là giai đoạn các phong trào yêu nước dưới ngọn cờ trung quân ái quốc và tư tưởng Nho giáo lần lượt bị thất bại Một bộ phận sĩ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của các cuộc cách mạng Minh Trị (Nhật Bản), cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc) và Cách mạng tháng Mười (Nga), đã nhận rõ những hạn chế về tư tưởng của các nhân sĩ lớp trước, đồng thời tìm một

hướng đi mới cho con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản Các tác

Trang 17

giả chưa dành nhiều sự quan tâm đến nhân vật Huỳnh Thúc Kháng nên chưa làm rõ được những tác động tư tưởng và mối quan hệ giữa Huỳnh Thúc Kháng với các nhân vật khác trong tiến trình lịch sử

Vào tháng 11 năm 2005 tại Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội và Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo Khoa học Quốc tế với chủ

đề Tư tưởng triết học Việt Nam trong bối cảnh du nhập các tư tưởng Đông – Tây

nửa đầu thế kỷ XX đã thu hút được sự quan tâm, tham gia đông đảo của các nhà

khoa học trong và ngoài nước ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu có liên quan như Triết học, Chính trị, Lịch sử, Văn hóa… Tiến sĩ Trịnh Trí Thức và Tiến sĩ Nguyễn Vũ Hảo đã chủ biên tập hợp nội dung của hội thảo xuất bản thành tập kỷ yếu (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006) gồm ba phần: (1) Tư tưởng triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX – phương pháp tiếp cận; (2) Sự du nhập các trào lưu tư tưởng phương Đông vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX; (3) Sự du nhập các trào lưu tư tưởng phương Tây vào Việt Nam và ảnh hưởng của chúng đến tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Trong

đó, các nhà khoa học đã có những bài tham luận nghiên cứu có liên quan đến giai đoạn nghiên cứu tư tưởng chính trị cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mà cụ thể là

Thạc sĩ Trần Thị Hạnh với bài viết Tư tưởng yêu nước theo khuynh hướng duy tân

của Huỳnh Thúc Kháng - đã khái quát những quan điểm, tư tưởng chính trị của

Huỳnh Thúc Kháng trong quá trình hoạt động yêu nước, bên cạnh những cái mới, cấp tiến thì vẫn còn những hạn chế của ông ít nhiều của cốt cách một nhà Nho phong kiến.v v Tuy nhiên bài viết của tác giả Trần Thị Hạnh mới chỉ dừng lại ở những khái quát về Huỳnh Thúc Kháng với tư cách là người kết nối giữa các quan điểm đấu tranh yêu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh trong một chừng mực nào đó mà chưa có những đánh giá về quá trình hình thành và chuyển biến tư

tưởng chính trị của ông với những đặc điểm riêng biệt

Tác giả Nguyễn Q Thắng đã có những nghiên cứu về các nhà tư tưởng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh,

… trong đó có nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng ở quyển Huỳnh Thúc Kháng: tác

phẩm (Nhà xuất thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992) Đây là tập hợp, các tác phẩm

Trang 18

của Huỳnh Thúc Kháng nhưng chưa đầy đủ Vào các năm 2001, 2006 tác giả tiếp

tục xuất bản Huỳnh Thúc Kháng: Con người và Thơ văn (1876 – 1947) với những

bổ sung đánh giá về con người Huỳnh Thúc Kháng, chủ yếu ở lĩnh vực thơ văn của

ông Bên cạnh đó, tác giả còn có quyển Phong trào Duy Tân – các khuôn mặt tiêu

biểu (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006) trình bày về nguyên nhân, nguồn gốc,

tiến trình hoạt động và kết quả, cũng như ý nghĩa phong trào đổi mới tư duy của các nhà Nho yêu nước tiến bộ tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh .Nhìn chung lại thì tác giả Nguyễn Q Thắng mới chỉ dừng lại ở chỗ hệ thống hóa tư liệu, tập hợp một số những tác phẩm chủ yếu nổi bật của Huỳnh Thúc Kháng mà chưa có những đánh giá, phân tích cụ thể về sự hình thành quan điểm, nhận thức chính trị và sự phát triển tư tưởng của ông trong quá trình hoạt động đấu tranh cách mạng yêu nước

Như vậy, tư tưởng chính trị cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chủ yếu tập trung trên hai mặt: đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược với tinh thần yêu nước

và tinh thần canh tân dân tộc chống lại nền Hán học cổ hủ, bảo thủ, tiếp thu văn minh tiến bộ phương Tây với các giá trị về dân chủ, dân quyền Trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu đã góp phần quan trọng cho việc nhận thức về tư tưởng chính trị, gợi mở nhiều vấn đề mới cần được quan tâm và tiếp tục nghiên cứu, phát triển thêm Đó là nguồn tài liệu phong phú, có giá trị cao, để luận án kế thừa, chọn lọc,

hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng

1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỀ NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM

Luận án Tiến sĩ của tác giả Phạm Đào Thịnh với đề tài Bước chuyển tư tưởng

chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – giá trị và bài học lịch sử (tại

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009)

Trang 19

đã phân tích bối cảnh lịch sử với những yếu tố tác động của thời đại và những điều kiện bên trong thúc đẩy quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đó là bước chuyển từ ý thức hệ phong kiến Nho giáo từng bước chuyển dần sang ý thức hệ dân chủ tư sản mang đặc trưng của Việt Nam Qua đó, luận án đã nêu lên quá trình hình thành với nội dung và đặc điểm cơ bản của bước chuyển tư tưởng chính trị trong thời kỳ này thông qua những nhà tư tưởng tiêu biểu Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh và Huỳnh Thúc Kháng Từ đó, tác giả chỉ ra những giá trị của bước chuyển tư tưởng chính trị trước những yêu cầu của điều kiện hoàn cảnh lịch sử và những hạn chế nhất định trong tiến trình thực hiện để rút ra được những bài học lịch sử đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, nhân vật Huỳnh Thúc Kháng chưa được tác giả Phạm Đào Thịnh bóc tách ra khỏi hệ thống những nhà tư tưởng có bước chuyển đặc biệt vượt lên khỏi những nhà tư tưởng tiêu biểu cùng thời như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh để tiến tới tiếp cận với tư tưởng dân tộc cách mạng của

Hồ Chí Minh

Tác giả Trần Thị Hạnh với công trình: Luận văn Thạc sĩ Triết học về Tư

tưởng yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng (2002) đã có những đóng góp nhất định khi

nghiên cứu về tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng nhưng mới chỉ dừng lại trong một phạm vi hẹp ở giai đoạn khi ông làm chủ bút tờ báo Tiếng Dân Do đó, tác giả Trần Thị Hạnh chưa có những đánh giá một cách hệ thống toàn diện về tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng xuyên suốt quá trình đấu tranh hoạt động

yêu nước Mặc khác, ở công trình luận án Tiến sĩ với đề tài Quá trình chuyển biến

tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX (tại Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2012), tác giả Trần Thị Hạnh đã khái quát những điều kiện, tiền đề cho sự chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu của thế kỷ XX Từ đó, tác giả chỉ ra khuynh hướng tư tưởng dân chủ tư sản mà các nhà Nho tiến hành đổi mới tư tưởng Từ chỗ đổi mới tư duy, chuyển biến về tư tưởng từ ý thức hệ phong kiến sang dân chủ tư sản, các nhà Nho cũng từng bước thay đổi phương thức hoạt động từ đấu tranh bạo động sang những hoạt động thực tiễn với mong muốn cải biến xã hội Việt Nam góp phần vào việc

Trang 20

cứu nước trước ngoại xâm trên nhiều lĩnh vực quân sự, ngoại giao, chính trị, văn hóa, xã hội… Mặc dù sự chuyển biến tư tưởng của các nhà Nho có nhiều giá trị tiến

bộ và ý nghĩa tích cực nhưng tác giả luận án cho rằng dù là bạo động hay cải cách

ôn h a thì các nhà Nho đã không nhận ra được gốc rễ là vấn đề kinh tế - xã hội, không nhận thức được đến cùng vấn đề giai cấp, bản chất của chủ nghĩa thực dân,

đế quốc đang thống trị Việt Nam lúc bấy giờ Tác giả cũng chưa đi vào phân tích đánh giá cụ thể đối với nhân vật Huỳnh Thúc Kháng về nội dung sự chuyển biến trong tư tưởng cũng như những đặc điểm vừa mang tính phổ biến với những nhà tư tưởng cùng thời nhưng cũng thể hiện tính đặc thù vượt qua được những giới hạn của thời đại, hoàn cảnh lịch sử mang tính tiêu biểu trong số những nhà tư tưởng tiêu biểu của thời kỳ này Vì vậy, trong luận án nghiên cứu lần này, tác giả sẽ tập trung làm rõ hơn và đầy đủ hơn những nội dung và đặc điểm cơ bản của tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng trong quá trình lịch sử

Tác giả Chương Thâu đã nghiên cứu và có những sưu tầm, hệ thống hóa những tác phẩm, bài viết của Huỳnh Thúc Kháng thành các công trình tiêu biểu

như: quyển Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1989), quyển

Huỳnh Thúc Kháng - Tuyển tập (cùng tác giả Phạm Ngô Minh của nhà xuất bản Đà

Nẵng, 2012) là một công trình tập hợp công phu, khá đầy đủ về sự nghiệp và trước tác của Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng Công trình thể hiện di sản đa dạng, phong phú của nhà cách mạng trong các lĩnh vực văn chương, báo chí, sử học, dịch thuật

và trước tác mà ông đã thực hiện trong sự nghiệp của mình Bên cạnh phần giới thiệu mạch lạc, các tác giả đã sưu tầm, sao lục trên 200 bài báo, hàng trăm bài thơ,

bài phú, câu đối và nhiều chuyên đề, dịch phẩm từng đăng trên báo Tiếng Dân, một

số báo chí đương thời, và từ các trước tác của Huỳnh Thúc Kháng Đây là một công trình có ý nghĩa quan trọng cho những nhà nghiên cứu có được hệ thống nguồn tư liệu cụ thể trong việc đánh giá khái quát nội dung tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng chứ chưa phải là một nghiên cứu về quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị của ông

Như vậy, các công trình khoa đã nghiên cứu khá sâu sắc với nhiều góc nhìn

về tư tưởng triết học, chính trị ở các nhà tư tưởng khác nhau như Phan Châu Trinh,

Trang 21

Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, … trong giai đoạn cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, việc nghiên cứu cụ thể về nội dung tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng vẫn chưa có tác giả nào đi sâu và hệ thống hóa toàn diện với tư cách là một mắt khâu quan trọng của bước chuyển tư tưởng trong tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung

1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ LIÊN QUAN VỀ GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG

Việc công bố các nghiên cứu về Huỳnh Thúc Kháng nói riêng và các nhà tư tưởng yêu nước cùng thời với ông nói chung trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã được thực hiện từ những năm cuối thế kỷ XX cho đến nay, trong đó

có thể điểm qua một số các công trình như sau:

Công trình Kỷ yếu Hội thảo Khoa học về Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc

Kháng do Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng tổ

chức vào tháng 9 năm 1992 (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1993) đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực lịch sử, tư tưởng, chính trị, văn hóa, giáo dục … Hội thảo đã có những phân tích, đánh giá nhiều mặt về quá trình hoạt động yêu nước của Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng Một sự tiệm cận tương đồng trong đánh giá tư tưởng của hai ông về dân chủ, tuy cùng hoạt động trong phong trào yêu nước đặc biệt là tư tưởng Duy Tân nhưng giữa hai ông vẫn có những khác biệt rất cơ bản Tuy nhiên, giới nghiên cứu ít nhiều vẫn c n “ưu ái” trong nghiên cứu về Phan Châu Trinh mà phần nào chưa đào sâu về nhân vật Huỳnh Thúc Kháng (trong tổng số 32 báo cáo tham luận tại Hội thảo, chỉ có 05 báo cáo tham luận trình bày nghiên cứu về Huỳnh Thúc Kháng) với những bước chuyển biến trong tư tưởng trước những tác động của điều kiện hoàn cảnh lịch sử - xã hội trong và ngoài nước Tại thời điểm đó, sự quan tâm của giới nghiên cứu vẫn chưa nhiều đối với nhân vật Huỳnh Thúc Kháng, nhất là nghiên cứu về những nội dung, đặc điểm tư tưởng của ông

Hai mươi năm sau kể từ ngày tổ chức Hội thảo Khoa học về Phan Châu

Trinh và Huỳnh Thúc Kháng do Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh

Trang 22

Quảng Nam – Đà Nẵng tổ chức vào tháng 9 năm 1992, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức một hội thảo

riêng về Thân thế và Sự nghiệp cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) tổ chức vào

tháng 4 năm 2012 (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Đà Nẵng, năm 2012) nhằm góp phần vào việc đánh giá và làm sáng tỏ hơn những đóng góp, công lao của ông đối với lịch sử dân tộc Hội thảo thu hút sự tham gia đông đảo các nhà khoa học với khoảng 80 bài viết, báo cáo, tham luận nghiên cứu về Huỳnh Thúc Kháng trên nhiều mặt văn hóa, kinh tế, chính trị, tư tưởng, giáo dục… Qua đó, hội thảo góp phần rất lớn vào việc nghiên cứu về Huỳnh Thúc Kháng với tư cách là một nhà yêu nước, một nhà Nho - sĩ phu của chế độ phong kiến Việt Nam đang suy tàn, đổi mới

tư duy tiếp cận với văn minh phương Tây, hoạt động cải cách chấn hưng dân tộc và tiến tới bước theo con đường cách mạng do Hồ Chí Minh khới xướng và lãnh đạo Tuy nhiên, những báo cáo được tập hợp trong hội thảo chỉ thuần tuý mang tính khái quát chung về một số mặt, lĩnh vực của Huỳnh Thúc Kháng mà chưa có sự tập trung nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện về những giá trị, hạn chế cũng như ý nghĩa lịch sử tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng

Năm 2016, nhân kỷ niệm 140 ngày sinh của Huỳnh Thúc Kháng, hội thảo khoa học về “Huỳnh Thúc Kháng với Cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam” do Ban Tuyên Giáo Trung ương, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

và Tỉnh ủy Quảng Nam tổ chức thực sự là dấu ấn đối với xã hội Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu, đánh giá và phân tích ở nhiều góc độ, khía cạnh và sâu sắc ở nhiều lĩnh vực xoay quanh cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng Các báo cáo tham luận trong hội thảo đã đi sâu phân tích, xác định các nhân tố: Quê hương, gia đình, d ng họ, dân tộc, thời đại và những phẩm chất cá nhân tác động sâu sắc đến việc hình thành nhân cách, con người, con đường, chí hướng cứu nước, cuộc đời của Huỳnh Thúc Kháng Nêu bật những đóng góp và vai trò của Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, các tham luận khẳng định: Huỳnh Thúc Kháng là nhà yêu nước nhiệt thành đã dành cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc Tài năng lãnh đạo của Huỳnh

Thúc Kháng thể hiện xuyên suốt từ khi tham gia lãnh đạo phong trào Duy Tân, Viện

Trang 23

Dân biểu Trung Kỳ và đặc biệt nổi bật khi ông tham gia chính quyền cách mạng,

đảm nhận cương vị Quyền Chủ tịch nước trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh đi

Pháp Huỳnh Thúc Kháng còn là nhà hoạt động văn hóa xuất sắc, thể hiện trên nhiều lĩnh vực văn học, báo chí, giáo dục ; là tấm gương đạo đức trong sáng, cao

cả, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân Các nghiên cứu đã nhấn mạnh, tư tưởng, nhân cách cao đẹp của Huỳnh Thúc Kháng có ý nghĩa to lớn đối với công cuộc đổi mới hiện nay Cuộc đời hoạt động cách mạng và nhân cách cao đẹp, tài năng đức độ của ông là tấm gương sáng để các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau học tập và noi theo Kỷ yếu hội thảo do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Sự thật ấn hành (2016) là một tập tài liệu rất có giá trị

về mặt khoa học để tác giả luận án có thể tham khảo và kế thừa những nội dung có liên quan mà đã được các nhà khoa học nghiên cứu, xây dựng, phát triển nhằm bổ sung vào luận án

Tác giả Trần Thị Hạnh trong bài báo: “Quá trình chuyển biến tư tưởng ở

Huỳnh Thúc Kháng” (Tạp chí Triết học, số 10 (185) 2006, tr 56-63), đã khái quát

quá trình hình thành và chuyển đổi ý thức hệ của Huỳnh Thúc Kháng từ Nho giáo phong kiến sang dân chủ tư sản và đích đến kết thúc bằng sự tham gia vào chính quyền cách mạng của Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước chuyển hoàn chỉnh ở chủ nghĩa dân tộc tiến bộ, tiếp cận với tư tưởng vô sản Tác giả đánh giá về tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng tựa như một gạch nối giữa các ý thức hệ trong bối cảnh đất nước khủng hoảng về đường lối tư tưởng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà chất kết dính là tư tưởng và hành động vì dân, vì nước của các nhà cách mạng yêu nước Việt Nam Mặt khác, tác giả cũng nghiên cứu Huỳnh Thúc Kháng trong mối dây liên hệ với nhà tư tưởng yêu nước có cùng quan điểm trong phong trào Duy Tân là

Trần Quý Cáp, trong các bài viết “Tư tưởng duy tân của Trần Quý Cáp” (Tạp chí

Khoa học, Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 24, số 4,

2008) và “Trần Quý Cáp – nhà tư tưởng theo khuynh hướng duy tân” (Tạp chí Triết

học, số 12 (211), tháng 12 năm 2008) Tuy nhiên, tác giả Trần Thị Hạnh chưa đánh

giá đầy đủ để có thể thấy rõ được giá trị, ý nghĩa lịch sử tư tưởng chính trị của

Trang 24

Huỳnh Thúc Kháng với những biến chuyển của hoàn cảnh lịch sử mà mới chỉ dừng lại ở việc mô tả quá trình hoạt động của ông ở khía cạnh sự kiện lịch sử

Tác giả Minh Hương ở Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) đã cung cấp chi tiết

sử liệu về việc Huỳnh Thúc Kháng ra Bắc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và chấp nhận tham gia chính phủ liên hiệp Việt Nam Dân chủ Cộng h a năm 1946 qua bài viết

“Chủ tịch Hồ Chí Minh với cụ Huỳnh Thúc Kháng” (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10,

tr.63-65, 2006) Trên cơ sở tư liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (ký hiệu H25C15/10) hồi ký của ông Nguyễn Xương Thái cho thấy những năm cuối đời của Huỳnh Thúc Kháng hoàn toàn ủng hộ và đi theo Hồ Chí Minh – theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc, một thứ chủ nghĩa dân tộc tiến bộ Tác giả Minh Hương chưa luận giải được về ý nghĩa lịch sử của mối quan hệ đặc biệt giữa Hồ Chí Minh và Huỳnh Thúc Kháng cũng như nêu bật lên được những giá trị đóng góp của Huỳnh Thúc Kháng đối với chính phủ cách mạng của Hồ Chí Minh

Đánh giá về mối quan hệ hữu hảo, một tình bạn tri kỷ giữa Phan Châu Trinh

và Huỳnh Thúc Kháng, tác giả Lê Thí đã chỉ ra ở hai ông có “5 đồng” (đồng lứa, đồng hương, đồng môn, đồng khoa và đồng chí) qua bài viết “Phan Châu Trinh –

Huỳnh Thúc Kháng đôi bạn chân tình” (Tạp chí Xưa và Nay, số 334 (6), tr.14 – 18,

2009) Tác giả đã khái quát về quá trình hoạt động tư tưởng cách mạng yêu nước của hai ông từ cuối thế kỷ XIX cho đến khi Phan Châu Trinh mất vào đầu thế kỷ

XX năm 1926 Bên cạnh những điểm tương đồng giữa hai ông vẫn còn có những điểm khác biệt trong cách nhìn nhận vấn đề thời cuộc, phương pháp tổ chức và hoạt động yêu nước Nếu như Phan Châu Trinh dở dang trong bước chuyển tư tưởng chính trị ở ý thức hệ dân chủ tư sản thì Huỳnh Thúc Kháng trọn vẹn hoàn thành một quá trình chuyển biến tiến tới tiếp cận tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh Đặc biệt là “đồng chí” giữa Huỳnh Thúc Kháng và Phan Châu Trinh tồn tại trong giai đoạn của ph ng trào Duy Tân, c n sau đó thì chí hướng quan điểm của Huỳnh Thúc Kháng đã có những khác biệt với Phan Châu Trinh Sự khác biệt này tác giả cũng chưa làm rõ được nội dung này, đặc biệt là giá trị tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm lý luận về dân chủ của Phan Châu Trinh

Trang 25

Tác giả Nguyễn Xuân Trung với bài viết “Huỳnh Thúc Kháng và Hồ Chí

Minh – Sự gặp gỡ hai tư tưởng, nhân cách lớn” đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân

số ra ngày 30 tháng 9 năm 2016 đã trình bày những điểm chung giống nhau giữa hai con người, hai thế hệ khác nhau về tuổi tác, với hai hoàn cảnh khác nhau nhưng lại cùng hướng đến một mục đích vì đất nước vì dân tộc Vì vậy, giữa Hồ Chí Minh và Huỳnh Thúc Kháng tuy không cùng chung một con đường từ ban đầu nhưng lại gặp nhau ở cùng đích đến và coi nhau như “tri kỷ” để mà có thể hợp tác, gắn bó và tin cậy lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau một cách chân thành, nhiệt liệt và sâu sắc Bài báo của tác giả Nguyễn Xuân Trung có giá trị tham khảo cho tác giả luận án khi nghiên cứu góp phần vào việc hệ thống hóa các quan điểm tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng trong giai đoạn tham gia chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh

Nghiên cứu về nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng đã được các nhà khoa học trong nước tiến hành ở nhiều góc độ khác nhau Sự chi phối bởi những điều kiện, hoàn cảnh của lịch sử mà ít nhiều những nghiên cứu về Huỳnh Thúc Kháng từ các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài còn hạn chế Bởi việc viết về một người như Huỳnh Thúc Kháng có sự liên quan đến chính quyền cách mạng của Hồ Chí Minh còn có những trở ngại từ góc nhìn và cách tiếp cận do sự khác biệt về ý thức hệ tư tưởng Ngoài ra những ảnh hưởng của Huỳnh Thúc Kháng ở bên ngoài vượt khỏi phạm vi biên giới quốc gia tiếp cận với thế giới là rất ít, hầu như không có vì ông chưa từng xuất dương như các ông Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh… Đồng thời mối dây liên hệ với những lãnh tụ cách mạng ở khu vực và thế giới của Huỳnh Thúc Kháng cũng không có Trong khi đó, Phan Bội Châu có mối quan hệ khá thân thiết với những “đồng chí” ở Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp… và Phan Châu Trinh thì quan hệ với nhiều “đồng chí” ở Pháp… Vì vậy, những nghiên cứu có thể sẽ ít nhiều vẫn còn có những chủ quan, định kiến trong nước, chưa thể khách quan một cách toàn diện như cách nhìn từ bên ngoài của các học giả quốc tế, phương Tây cùng với phương pháp luận tiếp cận vấn

đề cũng hết sức quan trọng

Trang 26

Như vậy, các công trình nghiên cứu đã góp phần làm rõ thân thế, sự nghiệp

và quá trình hoạt động yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng Tuy nhiên, việc hệ thống hóa toàn bộ nội dung, đặc điểm tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng về chính trị, đặc biệt là quá trình chuyển biến tư tưởng từ ý thức hệ Nho giáo phong kiến sang ý thức

hệ dân chủ tư sản tiếp cận với tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh chưa được làm sáng tỏ và đầy đủ Do đó, trong luận án này đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu là: trên cơ

sở phân tích những điều kiện hoàn cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX cùng với việc xác định những tiền đề lý luận, phẩm chất năng lực cá nhân góp phần vào việc hình thành nên tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng Qua

đó, hệ thống những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng và rút ra những đặc điểm tư tưởng chính yếu làm căn cứ để đánh giá những giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của nó Đây là nhiệm vụ chủ yếu đặt ra đối với

luận án này trong quá trình nghiên cứu và làm rõ: “Tư tưởng chính trị của Huỳnh

Thúc Kháng và ý nghĩa lịch sử của nó”

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Vấn đề về tư tưởng chính trị nói chung và tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng nói riêng đã được các nhà khoa học trong nước quan tâm, nghiên cứu Các công trình nói trên đã khai thác, tiếp cận dưới những góc độ khác nhau, song đều đi đến thống nhất chung về Huỳnh Thúc Kháng là một nhà yêu nước tâm huyết, với tư tưởng tiến bộ mong muốn góp phần vào việc chấn hưng dân tộc Các tác giả đã đưa

ra hệ thống lý luận chung nhất về quá trình chuyển biến tư tưởng của các nhà Nho yêu nước từ ý thức hệ Nho giáo sang tư tưởng dân chủ tư sản theo những khuynh hướng khác nhau (bạo lực hay hòa bình); khẳng định rằng, trong điều kiện lịch sử

xã hội nhất định của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chi phối nhận thức, của các nhà Nho về đấu tranh đ i quyền tự do, dân sinh, dân chủ và giải phóng dân tộc

Trong nghiên cứu về tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng (giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) cũng cần được kế thừa những thành quả nghiên cứu của các thế hệ đi trước, nhất là các nghiên cứu của các nhà khoa học về Lịch sử,

Trang 27

Triết học, Chính trị, Văn hóa, Xã hội … từ nửa cuối thế kỷ XX cho đến hiện nay Việc này giúp tác giả rút ngắn được không chỉ về thời gian nghiên cứu mà còn cho phép tác giả có được cái nhìn tổng thể về bối cảnh lịch sử, những tiền đề tư tưởng

và quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong

đó tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng là một bộ phận trong dòng chảy lịch

sử tư tưởng ấy

Trên cơ sở các nguồn tài liệu tham khảo, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã kế thừa những thành quả nghiên cứu chủ yếu của các nhà khoa học như: Phạm Đào Thịnh, Trần Thị Hạnh, Lê Thị Lan, Doãn Chính, Trương Văn Chung, Trần Văn Giàu, …cùng những công trình nghiên cứu khác được trích dẫn và ghi trong tài liệu tham khảo

Bên cạnh đó, khi nghiên cứu tư tưởng của một con người thuộc về lịch sử thì

cơ sở quan trọng nhất chính là thông qua những gì mà nhân vật đó đã từng nói (được ghi lại), các bài viết, tác phẩm đã được in ấn, xuất bản hay những di cảo … được xác định với tư cách là nguồn tài liệu gốc Tuy nhiên, thực tế quá trình nghiên cứu về những nội dung trong tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng, tác giả luận án chưa có được đầy đủ các điều kiện để tiếp cận những tài liệu với tính chất là nguyên tác của Huỳnh Thúc Kháng, mà chỉ có thể tiếp cận thông qua việc kế thừa của các nhà khoa học với các công trình nghiên cứu của họ trước đó Mặt khác, việc

hệ thống hóa và tập hợp trọn vẹn toàn bộ những tác phẩm, di cảo của Huỳnh Thúc Kháng lúc sinh thời là một việc làm không hề đơn giản, hiện nay việc này chưa có nhà khoa học nào thực hiện được một cách đầy đủ Do đó, trong quá trình nghiên cứu tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng, tác giả sử dụng nguồn trích dẫn tác phẩm của Huỳnh Thúc Kháng chủ yếu từ các tác giả Chương Thâu – Phạm Ngô Minh (2012)

với công trình Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập và một số các công trình khoa học khác

của các nhà nghiên cứu tập hợp trong các kỷ yếu hội thảo về Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức nhân những sự kiện kỷ niệm ngày sinh hay ngày mất của ông

Như vậy, mặc dù vấn đề nghiên cứu tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng ít nhiều đã được các nhà khoa học đặt ra nhưng chưa được quan tâm đúng mức nhằm đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện như các nhà tư tưởng Phan Bội

Trang 28

Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh… mà mới chỉ dừng lại ở việc khái quát,

mô tả quá trình hoạt động đấu tranh yêu nước của ông trong dòng chảy lịch sử dân tộc Do đó, các vấn đề về tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng cần được tiếp tục nghiên cứu Trong những vấn đề về tư tưởng chính trị đó, luận án này sẽ giải quyết và làm

rõ là những nội dung, đặc điểm cơ bản để rút ra giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của nó trong tiến trình lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Trang 29

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG

Ý thức, tư tưởng là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội Khi nghiên cứu lịch sử triết học, C Mác đã nhận định: “các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [80; 157]

Đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất, do đó, chúng ta không thể đi tìm nguồn gốc của tư tưởng xã hội hay tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa là không thể tìm trong đầu óc của con người nguồn gốc của nó mà phải tìm trong hiện thực vật chất Như Mác đã từng viết: “…không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy Trái lại phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội…” [83;15]

Do đó, nghiên cứu tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng cần phải gắn với bối cảnh thời đại, điều kiện xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bên cạnh tiền đề lý luận và những phẩm chất, năng lực cá nhân góp phần hình thành

2.1.1 Bối cảnh thời đại từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thế giới có nhiều biến động, trong đó, sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản ở phương Tây với chính sách xâm lược, bóc lột tàn bạo đã đánh thức và làm trỗi dậy tinh thần dân tộc ở các quốc gia

Trang 30

phương Đông Chủ nghĩa tư bản đã góp phần thúc đẩy các dân tộc ở phương Đông phải chuyển mình từ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm sang một thời đại mới với những chế độ chính trị mới, thời kỳ bắt đầu của những cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

(1) Chủ nghĩa tư bản tiến hành xâm lược thuộc địa ở phương Đông (nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

Chủ nghĩa tư bản ra đời làm thay đổi mọi phương diện của đời sống xã hội phương Tây, đồng thời ảnh hưởng lớn đến những quốc gia dân tộc chậm phát triển trên thế giới Trong quá trình phát triển kinh tế, sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia tư bản phương Tây cùng với yêu cầu ngày càng lớn về nguồn nguyên, vật liệu và thị trường tiêu thụ đ i hỏi các nước tư bản phải mở rộng thị trường bằng cách xâm lược các dân tộc phương Đông Quá trình xâm lược đã tác động to lớn và thay đổi trực tiếp toàn bộ đời sống xã hội của các dân tộc ở phương Đông Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm thay đổi cơ bản phương thức sản xuất xã hội trước

đó đã tồn tại dưới chế độ phong kiến Chủ nghĩa tư bản cũng làm thay đổi mối quan

hệ về quyền lực trong xã hội phong kiến từ chỗ độc tài, quân chủ chuyên chế sang dân chủ, từ quân quyền sang pháp quyền, thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các quốc gia phong kiến, đặc biệt là làm chuyển biến tư tưởng chính trị của những nhà Nho yêu nước tiến bộ, trong đó có Huỳnh Thúc Kháng Họ đã có những nhận thức mới về thế giới xung quanh, bước đầu vượt ra khỏi phạm vi của biên giới quốc gia, dân tộc tiến ra với thế giới

(2) Cuộc cách mạng về khoa học, kỹ thuật do chủ nghĩa tư bản phương Tây tạo ra

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ ở các quốc gia tư bản phương Tây

nở rộ những thành tựu về khoa học, kỹ thuật Nó tạo điều kiện thuận lợi cho con người nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, hiểu biết tự nhiên, xã hội một cách sâu sắc hơn Do đó, thế giới quan của con người ngày càng được mở rộng, phong phú tạo điều kiện cho sự tiếp thu những trào lưu tư tưởng tiến bộ Khi làn sóng khoa học của phương Tây tràn vào Việt Nam đã có những tác động không nhỏ

Trang 31

đến quá trình nhận thức nói chung cũng như sự thay đổi về tư duy chính trị nói riêng

Khi chủ nghĩa tư bản tiến hành xâm lược thuộc địa các quốc gia dân tộc phương Đông: “nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi” và “nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi

là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản” [85, 80-81] Mặc dù trong lòng xã hội các dân tộc phương Đông, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất phong kiến chưa đủ sâu sắc để xuất hiện nhu cầu phải giải quyết và phát triển lên một phương thức sản xuất mới Các cuộc xâm lược này của chủ nghĩa tư bản đã để lại cho các dân tộc thuộc địa cả những hệ quả tích cực lẫn hậu quả tiêu cực, trong đó

tiêu cực là chủ yếu

Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tại các quốc gia phương Tây đã góp phần làm tan rã nền sản xuất phong kiến với kiểu quan hệ sản xuất lạc hậu, tạo nên những hạ tầng cơ sở kỹ thuật mới, phát triển Mặt khác, sự xâm nhập của chủ nghĩa

tư bản đối với các thuộc địa lại tạo ra một nền kinh tế mất cân đối, trì trệ, chậm phát triển và ngày càng lệ thuộc vào chính quốc Phương thúc sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên sự hiện đại hóa sản xuất tạo ra hàng loạt sản phẩm làm tăng năng xuất lao động đã buộc những phường, hội thủ công trước đây từng bước phá sản do năng suất thấp, trình độ tay nghề ngày càng lạc hậu so với những phương thức sản xuất mới Từ chỗ là những người chủ, họ trở thành vô sản và buộc phải gia nhập vào đội quân lao động làm thuê trong các xí nghiệp, nhà máy, hầm lò, v.v

Tuy nhiên, thông qua các cuộc xâm lược của các nước phương Tây đối với các dân tộc phương Đông đã mang theo những thành tựu của khoa học, kỹ thuật nhất định nằm ngoài ý muốn của chủ nghĩa thực dân Các nước thuộc địa bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ, chính thể đại nghị, tinh thần pháp luật phương Tây; những yếu tố kinh tế tạo cơ sở cho xã hội tiến hành những cải cách, xóa bỏ những

hủ tục, xây dựng lối sống mới, tiếp thu những ảnh hưởng tích cực của văn hóa, ngôn ngữ…phương Tây

(3) Những biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp và tư tưởng - chính trị do Chủ nghĩa tư bản tạo ra

Trang 32

Về cơ cấu xã hội – giai cấp: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nảy sinh

từ trong l ng phương thức sản xuất phong kiến nhưng nó chỉ thực sự xuất hiện khi

có đủ hai điều kiện: (1) Phải tập trung một khối lượng tiền tệ tương đối lớn vào trong tay một số người, lượng tiền này đủ để bảo đảm cho họ mua tư liệu sản xuất xây dựng xí nghiệp và thuê mướn nhân công; (2) Phải có những người tự do nhưng không có tư liệu sản xuất, buộc phải mang sức lao động của mình ra bán để kiếm sống

Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, sự tác động tự phát của quy luật giá trị đã làm phân hoá những người sản xuất hàng hoá Một số người phát tài giàu lên nhanh chóng, họ đầu tư mở rộng sản xuất, thuê mướn nhân công và trở thành ông chủ tư bản Những người khác không gặp may mắn bị vỡ nợ, phá sản trở thành lao động làm thuê Sự tác động phân hoá này của quy luật giá trị diễn ra chậm chạp, để tạo ra những điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản mà chỉ dựa vào tác dụng này của quy luật giá trị thì phải mất một thời kỳ lâu dài Vì vậy, trong lịch sử của mình, giai cấp tư sản đã đẩy mạnh quá trình này bằng tích luỹ nguyên thuỷ Đó là sự tích luỹ ban đầu của tư bản, nó được thực hiện bằng bạo lực tước đoạt hàng loạt những người sản xuất nhỏ, nhất là nông dân Việc tước đoạt tư liệu sản xuất của người sản xuất nhỏ và ruộng đất của nông dân, một mặt tập trung tư liệu sản xuất vào tay các nhà tư bản, mặt khác biến những người sản xuất nhỏ, những người nông dân trở thành lao động làm thuê Đồng thời ban hành các đạo luật hà khắc để buộc những người nông dân bị mất đất phải vào làm thuê trong các xí nghiệp tư bản Sự tước đoạt đó của giai cấp tư sản là cơ sở cho sự hình thành những mẫu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản với “con đẻ” của nó là giai cấp vô sản (công nhân) bị tước đoạt tất cả buộc phải bán sức lao động của chính mình cho nhà tư bản để tồn tại

Mặt khác, tích luỹ nguyên thuỷ c n được thực hiện bằng việc đi chinh phục

và bóc lột thuộc địa, buôn bán nô lệ da đen từ các thuộc địa về chính quốc hoặc đến các vùng đất mới, thực hiện thương mại không bình đẳng, v.v Bên cạnh những mâu thuẫn hiện hữu giữa địa chủ với nông dân từ trước đó, chúng góp phần vào sự

Trang 33

phân hóa xã hội ở ở các thuộc địa, hình thành nên những mâu thuẫn giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân xâm lược

Trong sự phân hóa cơ cấu xã hội, chủ yếu tập trung mâu thuẫn ở sự phân hóa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân khi xã hội bắt đầu nền sản xuất mới với phương thức sản xuất công nghiệp, cơ khí hiện đại Quá trình biến đổi cơ cấu xã hội giai cấp tất yếu dẫn đến những biến đổi về chính trị xã hội, tác động tới việc hình thành những ý thức hệ tư tưởng mới trong thời kỳ này

Về tư tưởng - chính trị: Các nước thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản

thực dân Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa với thực dân càng gay gắt, sự phản ứng của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt Điều đó đã kích thích tinh thần dân tộc của các quốc gia, làm cho tinh thần dân tộc trỗi dậy, buộc họ phải đứng lên đấu tranh, hình thành những phong trào phản kháng, giải phóng dân tộc, chống lại áp bức, bóc lột của thực dân và tay sai phong kiến Các cuộc đấu tranh diễn ra ở nhiều thời điểm khác nhau trong suốt tiến trình lịch sử Bên cạnh những hình thức và phương thức tổ chức, đấu tranh cách mạng khác nhau cùng với những tư tưởng nhận thức, lập trường quan điểm, ý thức hệ khác nhau Tất cả đều có chung một mục đích chống thực dân xâm lược, giành lại độc lập cho dân tộc

Chính chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc địa lại tạo cho các dân tộc bị chinh phục những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lập lại các quốc gia dân tộc độc lập trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâm lược, thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân

(4) Ảnh hưởng của thắng lợi Cách mạng vô sản Tháng 10 – Nga 1917 đến các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc

Sự kiện Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 đã có những tác động mạnh mẽ đến phong trào cách mạng thế giới, ghi dấu ấn đậm nét vào tư tưởng của các nhà yêu nước Việt Nam về con đường giải phóng dân tộc với học thuyết mới – học thuyết Mác – Lênin, khác hẳn so với tư tưởng dân chủ tư sản trước đó Cách mạng Tháng Mười đã cổ vũ cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và phong

Trang 34

trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Đó là minh chứng cụ thể cho sự thắng lợi dưới ngọn cờ cách mạng vô sản do Đảng Cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và toàn thể dân tộc – lãnh đạo, dẫn đường Bên cạnh những thất bại của phong trào đấu tranh yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản, phong trào giải phóng dân tộc có sự chuyển hướng mang tính bước ngoặt sang con đường cách mạng mới Các sự kiện nổi bật

đó đã có những tác động không nhỏ đến tư duy chính trị của các nhà cách mạng, các nhà Nho yêu nước

Những tác động khách quan của thời đại là nguồn cổ vũ cho sự thay đổi nhận thức, tư duy cách mạng đối với các quốc gia, dân tộc và giai cấp Đồng thời, các yếu tố chủ quan chuyển biến trong lòng các quốc gia, dân tộc cũng không kém phần quan trọng làm xuất hiện những khuynh hướng canh tân đất nước nhằm thay đổi căn bản những thể chế chính trị lạc hậu, bảo thủ, thúc đẩy quá trình phát triển trong bối cảnh chung của khu vực và thế giới

2.1.2 Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX

Nửa đầu thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một quốc gia phong kiến độc lập, có chủ quyền Khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên ở bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng (1858) mở đầu quá trình xâm lược thuộc địa, tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc và to lớn Để biến Việt Nam thành một thuộc địa và đặt ách thống trị hoàn toàn ở Việt Nam, thực dân Pháp đã mất 25 năm (từ năm 1858 đến năm 1884) Giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam mất dần vai trò lịch sử của nó Bước phát triển mới của chủ nghĩa đế quốc và sự ổn định tương đối về quân sự, chính trị của thuộc địa đã cho phép thực dân Pháp bắt tay ngay vào công cuộc khai thác với mục đích tối cao là biến Đông Dương thành cơ sở khai khẩn trọng yếu, đảm bảo lợi nhuận cao nhất ở chính quốc

Như vậy, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp với tính chất nửa phong kiến Bộ máy chính quyền triều đình Nguyễn trở thành bù nhìn, làm tay sai cho Pháp Tính chất thuộc địa nửa phong kiến được biểu hiện rõ nét trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội, v.v

Trang 35

Về chính trị: Ngay sau khi đã hoàn thành quá trình xâm lược và xác lập được

vị thế, vai trò của mình, thực dân Pháp liền thiết lập một hệ thống cai trị hoàn chỉnh

từ trung ương tới địa phương, bằng việc thành lập Liên bang Đông Dương gồm: An Nam (Việt Nam), Ai Lao (Lào) và Căm-pốt (Campuchia) Pháp chia cắt Việt Nam làm ba kỳ với ba chế độ khác nhau, trong đó: Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, Trung Kỳ là nửa bảo hộ, về mặt hình thức vẫn còn giữ lại bộ máy chính quyền phong kiến, nhưng thực chất do Pháp quản lý, chi phối tất cả; Nam Kỳ hoàn toàn là đất thuộc địa của Pháp cùng với Lào và Campuchia Tên Việt Nam, Lào và Campuchia đã bị Pháp xóa bỏ trên bản đồ thế giới và chỉ có một tên gọi duy nhất là Liên bang Đông Dương (thường được gọi tắt là Đông Dương)

Thực tế, với dã tâm “chia để trị” – “dưới chia rẽ nhau thì trên được an” [65; 136] nhằm mục tiêu mở rộng cơ sở xã hội nhưng không làm ảnh hưởng đến nền tảng thống trị ở thuộc địa, Pháp chủ trương chính sách “dùng người Việt trị người Việt” bằng công cuộc cải cách chính trị - hành chính như: tăng cường số lượng công chức, viên chức người Việt trong bộ máy thuộc địa bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và tay sai người Việt Pháp từng bước gạt bỏ vai trò của chính quyền phong kiến trong các công việc quốc gia Việc này càng làm cho sự phân hóa xã hội Việt Nam ngày một thêm gay gắt

Về kinh tế: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được đưa vào Việt Nam

kết hợp với quan hệ bóc lột của chế độ phong kiến, càng đảm bảo tăng cường lợi nhuận thương mại cho đế quốc Pháp Đặc biệt, sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), với tư cách là một nước thắng trận, Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa

Trong điều kiện xã hội thuần nông, với kiểu quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, phương thức sản xuất mới đã phá vỡ hình thái công xã nông thôn làng xã vốn

đã hình thành từ lâu đời ở Việt Nam Thực dân, tay sai bắt đầu một quá trình rào đất, cướp ruộng của nông dân nhằm hình thành các đồn điền theo kiểu phương Tây: trồng lúa, cà phê, cao su, thầu dầu, chè, đay, bông nhưng ở trình độ canh tác sản xuất vẫn rất thấp, chủ yếu theo kiểu thủ công truyền thống Kinh tế hộ gia đình rất nhỏ lẻ, phần lớn là sản xuất nguyên liệu, chưa chú ý đến việc chế biến thành sản

Trang 36

phẩm Với mục đích chủ yếu là vơ vét của cải thuộc địa nên việc ứng dụng và phát triển khoa học cho sản xuất nông nghiệp hoàn toàn không được đầu tư và quan tâm Đời sống của người nông dân vẫn rất khổ cực, không tạo ra nền tảng phát triển kinh

tế nông nghiệp bền vững Trong khi đó, các ngành công nghiệp ít nhiều có sự phát triển, bởi trước hết là sự đầu tư máy móc kỹ thuật của thực dân Pháp từ chính quốc nhằm khai thác nguồn tài nguyên quý giá lớn như: than, kim loại, đá quý, vàng v.v làm xuất hiện các ngành công nghiệp mới mà từ trước tới giờ xã hội phong kiến truyền thống hoàn toàn không có

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, đẩy mạnh hoạt động giao thương xuất khẩu tư bản của thực dân Pháp, chính quyền bảo hộ đã tiến hành mở mang đường xá, xây dựng cầu, cống và nạo vét kênh, rạch, khai thông vận chuyển hàng hóa giữa các vùng miền bằng cả đường bộ, đường thủy và đặc biệt là sự xuất hiện lần đầu tiên của đường sắt Giao thông dễ dàng, thuận tiện, tạo điều kiện cho hoạt động thương mại phát triển cùng với các hoạt động giao lưu tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và các nền văn minh thế giới

Thực dân Pháp hoàn toàn không đầu tư với mục đích phát triển kinh tế Đông Dương mà nhắm đến bóc lột ngày càng cao và nhiều lợi nhuận từ sự vơ vét tài nguyên, nông – lâm – thủy sản và sức lao động nhân công rẻ mạt cho chính quốc Việc đưa vào phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không hoàn toàn triệt để nhằm thay thế cho phương thức sản xuất phong kiến cũ kỹ, lạc hậu mà chỉ là sự đan xen giữa phương thức sản xuất cũ và mới, các lực lượng sản xuất của xã hội phong kiến truyền thống vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong mối quan hệ sản xuất Điều này tạo nên sự mâu thuẫn gay gắt giữa cái cũ và cái mới làm cho tính chất, trình độ phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành một cách chậm chạp cùng với giai cấp tư sản dân tộc nhỏ lẻ, non yếu Những thay đổi cơ sở kinh tế là tiền đề, tạo điều kiện cho các trào lưu văn hóa, tư tưởng mới du nhập vào Việt Nam trong quá trình giao thương với bên ngoài, từng bước góp phần vào quá trình chuyển hóa tư tưởng dân tộc trong sự vận động của ý thức xã hội

Trang 37

Về cơ cấu xã hội – giai cấp: Những chuyển biến cơ cấu kinh tế kéo theo sự

phân hóa xã hội ngày càng rõ rệt và sâu sắc Hậu quả của chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa đã làm cho xã hội xuất hiện những tầng lớp, giai cấp mới: trí thức Tây học (một bộ phận con nhà địa chủ giàu có đi học ở Pháp tiếp thu những tư tưởng, văn hóa phương Tây), tư sản (một bộ phận địa chủ giàu có chuyển sang kinh doanh thương mại, thầu khoán, sản xuất) và vô sản (những nông dân mất đất, phải bán sức lao động ở trong các nhà máy, đồn điển, hầm mỏ) bên cạnh những giai cấp, tầng lớp cũ như: quan lại, địa chủ phong kiến, nông dân, sĩ phu, v.v tất cả tạo nên bức tranh xã hội đầy mâu thuẫn về lợi ích giữa các bộ phận với nhau

Giai cấp địa chủ phong kiến: bị phân hóa sâu sắc bởi những điều kiện kinh tế

- xã hội và chính sách bóc lột của thực dân Pháp: phần lớn địa chủ phong kiến câu kết, thỏa hiệp với thực dân Pháp ra sức bóc lột nhân dân nhằm tiếp tục bảo vệ những quyền lợi của mình dù không còn giữ vai trò thống trị xã hội như trước Đây chính là bộ phận phản động nhất, lộ rõ bộ mặt thân Pháp, sẵn sàng đi ngược lại lợi ích của dân tộc: “…từ trong trường học “nô lệ” đúc ra, lớp cao chiếm được cái địa

vị “quan lớn bổng nhiều”, thôi thời dựa hơi lổ mũi kẻ khác, sợ được sợ mất, nếu làm cách gì mà giữ được cái hà bao thì không việc gì mà không làm.” [65;81] Bên cạnh địa vị chính trị là do được ưu ái, nâng đỡ của thực dân Pháp, địa chủ phong kiến còn làm chỗ dựa vững chắc, đắc lực cho chính quyền thực dân trong công cuộc khai thác thuộc địa và duy trì một trật tự xã hội có lợi cho chúng

Giai cấp nông dân: vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chiếm đến hơn 80%

dân số Việt Nam Sự tập trung cao độ ruộng đất của địa chủ và tư bản Pháp thành các đồn điền đã làm cho người nông dân bị bần cùng hóa không tài sản, buộc phải thoát ly khỏi đồng ruộng, tha phương cầu thực ra các đô thị và bán sức lao động của mình trong các xí nghiệp, hầm mỏ,v.v góp phần gia nhập vào hàng ngũ giai cấp vô sản Giai cấp nông dân bị thực dân đế quốc, địa chủ chèn ép cùng với những mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp, trong đó mâu thuẫn dân tộc là lớn nhất nên ý chí đấu tranh chống thực dân, phong kiến rất mạnh mẽ Đồng thời, giai cấp nông dân cũng là lực lượng đông đảo nhất và hăng hái nhất, đóng vai tr quan trọng trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc Tuy nhiên giai cấp nông dân cũng không thể

Trang 38

trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng do hạn chế về trình độ học thức và hiểu biết

Giai cấp công nhân (vô sản): hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ

nhất của thực dân Pháp nhưng chưa có lý luận dẫn đường, còn ở trình độ “tự phát”

mà chưa “tự giác” Nguồn gốc chủ yếu của giai cấp công nhân là từ nông dân mất ruộng đất phải rời bỏ làng quê ra thành thị bán sức lao động trực tiếp để kiếm sống

Do trình độ hiểu biết thấp mà nhận thức của công nhân hạn chế Hầu hết, họ không phải là lực lượng công nhân chuyên nghiệp theo đầy đủ ý nghĩa của nó, phần lớn họ vẫn gắn bó mật thiết với nông thôn, xuất phát từ giai cấp nông dân Bởi vì, phương thức bóc lột của thực dân Pháp và một bộ phận tư sản Việt Nam chủ yếu là tận dụng tối đa sức lao động tay chân nhằm tăng lợi nhuận triệt để nên họ hoàn toàn không được tiếp cận nhiều với máy móc hiện đại, trình độ học vấn, khoa học, kỹ thuật rất thấp, cũng không được tiếp xúc với nền sản xuất lớn theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Cuộc sống, làm việc và những quan hệ xã hội của người công nhân

đã vượt ra khỏi phạm vi làng xã nông thôn Họ trở thành một bộ phận mới trong cơ cấu xã hội Việt Nam với tư cách là một chủ thể tiếp biến những tư tưởng ở Việt Nam bởi tinh thần đấu tranh cách mạng triệt để với thực dân và phong kiến, sớm giác ngộ và trưởng thành nhanh chóng khi thời cơ tới và hội đủ các điều kiện

Giai cấp tư sản và tầng lớp trí thức, tiểu tư sản: Ra đời trong điều kiện bị tư

sản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, năng lực chính trị yếu đuối Trong quá trình hình thành và phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam có sự phân hóa:

Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc, bao

thầu những công trình xây dựng của thực dân, đế quốc ở Đông Dương Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc

Tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm những tư

sản loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp

và tiểu thủ công nghiệp Họ muốn phát triển chủ nghĩa tư bản dân tộc Việt Nam

Trang 39

nhưng do chính sách độc quyền và chèn ép của thực dân Pháp nên không thể phát triển được Xét về mặt quan hệ với đế quốc Pháp, tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước, có mâu thuẫn về quyền lợi với đế quốc thực dân và phong kiến, nên họ

có tinh thần chống đế quốc và phong kiến

Tầng lớp trí thức Nho học cũng bị phân hóa:

Thứ nhất, một bộ phận nhà Nho chủ trương “ẩn dật” nơi thôn dã, tách mình

khỏi mọi thị phi của chốn quan trường và đời sống xã hội để giữ khí tiết “trung quân, ái quốc” với phương châm “mũ ni che tai” hay “lánh đời” … vẫn giữ tấm

l ng như xưa, song “vì hoàn cảnh ác liệt, sanh kế khuẩn bức, nên nếu tạm được yên trước mắt là giữ lấy cái thái độ quan vọng” [65; 80];

Thứ hai, những nhà Nho yêu nước với tinh thần dân tộc, sẵn sàng đứng về

phía nhân dân cùng chống lại thực dân Pháp và phong kiến tay sai, từng bước tìm

t i con đường cách mạng mới cho dân tộc Tuy nhiên, bộ phận này thực lực cũng nhỏ bé, mang tính địa phương, cục bộ ít nhiều

Lực lượng sĩ phu yêu nước xuất thân từ những trí thức Nho học của chế độ

cũ là một trong những lực lượng căn bản trong quá trình tư sản hóa, chuyển từ địa

vị phụ thuộc sang địa vị lãnh đạo xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định để thực hiện cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam Tuy nhiên, cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam không phải do giai cấp tư sản lãnh đạo mà lại do giới trí thức, sĩ phu yêu nước lãnh đạo Vì vậy, nội dung, tính chất của cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam hoàn toàn khác biệt với cách mạng tư sản ở phương Tây Một bộ phận tầng lớp trí thức, sĩ phu, nhà Nho yêu nước có tư tưởng cấp tiến đã chuyển mình trong nhận thức và tư tưởng chính trị, vươn lên giữ vị trí vai tr lãnh đạo cuộc cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản

Đầu thế kỷ XX, tầng lớp trí thức, tiểu tư sản ra đời bao gồm một bộ phận các

trí thức trong xã hội phong kiến cũ làm việc ở các công sở hay tư nhân, những người làm nghề tự do, các nhà tiểu công nghệ, các tiểu thương buôn bán ở các đô thị, v.v Tuy đời sống vật chất của những người này so với các tầng lớp lao động khác có phần khá hơn nhưng họ cũng bị chèn ép về nhiều mặt Người thợ thủ công bình dân vẫn khổ cực, thậm chí là phá sản buộc phải bán mình vào làm công nhân

Trang 40

trong các nhà máy, xí nghiệp nhưng cũng góp phần bổ sung lực lượng vào giai cấp

vô sản đang từng bước hình thành

Các tầng lớp xã hội với những quan hệ xã hội không ngừng biến động về quy

mô lẫn tính chất và nội dung Nó từng bước phá vỡ kết cấu xã hội truyền thống và hình thành kết cấu xã hội hiện đại mới khiến cho khoảng cách giữa “tân và cựu”

“già với trẻ” cách biệt nhau không dung hợp được Chính các yếu tố kinh tế mới làm thước đo giá trị để chi phối các quan hệ xã hội, đồng thời xác lập địa vị, vị thế

xã hội của các giai cấp, tầng lớp Sự mâu thuẫn giữa người Pháp và người Việt không chỉ đơn thuần ở lợi ích kinh tế mà còn là sự đan xen lẫn nhau giữ các mâu thuẫn giai cấp, dân tộc, tạo nên sự phức tạp, phân hóa sâu sắc trong xã hội Việt Nam Trong đó cũng chứa đựng những yếu tố tích cực chuẩn bị cho quá trình duy tân và cách mạng sau này

Nhìn chung, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những biến chuyển dẫn đến những mâu thuẫn hết sức sâu sắc và quyết liệt: mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến (đây là mâu thuẫn cơ bản); mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp (đây là mâu thuẫn chủ yếu) Tất cả những mâu thuẫn đó tạo tiền đề cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp ngày càng mạnh mẽ

Về văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật: bên cạnh những chuyển biến của

cơ cấu kinh tế - xã hội thì những yếu tố về văn hóa, giáo dục, khoa học – kỹ thuật cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình chuyển biến của

tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Với chính sách văn hóa – giáo dục: Thực dân Pháp thực hiện nhiều biện pháp khác nhau đối với những giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội Việt Nam Những tầng lớp trên được hưởng những đặc quyền về nền giáo dục Pháp – Việt, trong khi đó những tầng lớp thấp hèn bên dưới hoàn toàn ngược lại với chính sách bóc lột, áp bức và chủ trương “ngu dân dễ trị”, nô dịch, đầu độc về văn hóa nên phần lớn người dân Việt Nam vẫn thất học, mù chữ phổ biến Những tri thức mới của nền giáo dục Pháp – Việt ít nhiều đã có tác động, ảnh hưởng nằm ngoài ý muốn của chính quyền thực dân, do vậy mà tri thức khoa học của phương Tây đã du nhập

Ngày đăng: 17/07/2018, 11:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w