1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan điểm chủ nghĩa mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về thời kỳ quá độ

30 429 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 124,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục Phần mở đầu…………………………………………………..1 Nội dung………………………………………………………2 I. Tư tưởng của Mác ăng ghen về thời kỳ quá độ lên CNXH trong tác phẩm “ Phê phán cương lĩnh GÔ TA”…………………...2 II Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về TKQĐ lên CNXH……………………………………………..4 1.Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về TKQĐ lên CNXH……4 2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội……..8 3. Tính tất yếu của TKQĐ lên CNXH:………………………..11 III. Phương thức sản xuất CSCN………………………………14 1. Giai đoạn thấp………………………………………………14 2. Giai đoạn cao của XHCS…………………………………...16 IV.nhận thức và vận dụng tư tưởng về thời kỳ quá độ vào thực tiễn ở việt nam trong thời gian qua…………………………………..18 Kết luận……………………………………………………….28 PHẦN MỞ ĐẦU Lịch sử Việt Nam hơn 70 năm qua với sự lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đi vào quý đạo cách mạng vô sản, đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thắng lợi của cách mạng tháng Tám, thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc nhằm giải phóng và thống nhất Tổ quốc Việt Nam, đặc biệt là thắng lợi của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước là thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam. Cách mạng Việt Nam, vừa thể hiện, vừa góp phần thúc đẩy trào lưu chính của thời đại ngày nay – thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Khúc quanh hiện nay của lịch sử cách mạng thế giới, dù có làm cho sự quá độ từ CNTB lên CNXH trên toàn thế giới bị kéo dài thêm, song không thể đảo ngược được xu thế ấy của thời đại. Con đường của thời đại, con đường mà nhân loại đi tới chính là con đường thắng lợi của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nhận thức đúng và làm rõ nội dung, tính chất của thời đại ngày nay là cơ sở quan trọng để chúng ta hoạch định đúng đắn đường lối và sách lược của chúng ta và “ chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hoặc nước nọ” như Lênin đã từng khẳng định.

Trang 1

Mục lục

Phần mở đầu……… 1

Nội dung………2

I Tư tưởng của Mác - ăng ghen về thời kỳ quá độ lên CNXH trong tác phẩm “ Phê phán cương lĩnh GÔ - TA”……… 2

II - Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về TKQĐ lên CNXH……… 4

1.Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về TKQĐ lên CNXH……4

2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội…… 8

3 Tính tất yếu của TKQĐ lên CNXH:……… 11

III Phương thức sản xuất CSCN………14

1 Giai đoạn thấp………14

2 Giai đoạn cao của XHCS……… 16

IV.nhận thức và vận dụng tư tưởng về thời kỳ quá độ vào thực tiễn ở việt nam trong thời gian qua……… 18

Kết luận……….28

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Lịch sử Việt Nam hơn 70 năm qua với sự lựa chọn con đường giảiphóng dân tộc đi vào quý đạo cách mạng vô sản, đã đi từ thắng lợi này đếnthắng lợi khác Thắng lợi của cách mạng tháng Tám, thắng lợi của hai cuộckháng chiến chống thực dân, đế quốc nhằm giải phóng và thống nhất Tổquốc Việt Nam, đặc biệt là thắng lợi của công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước là thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt củaĐảng cộng sản Việt Nam Cách mạng Việt Nam, vừa thể hiện, vừa góp phầnthúc đẩy trào lưu chính của thời đại ngày nay – thời đại quá độ từ CNTB lênCNXH trên phạm vi toàn thế giới

Khúc quanh hiện nay của lịch sử cách mạng thế giới, dù có làm cho

sự quá độ từ CNTB lên CNXH trên toàn thế giới bị kéo dài thêm, songkhông thể đảo ngược được xu thế ấy của thời đại Con đường của thời đại,con đường mà nhân loại đi tới chính là con đường thắng lợi của hoà bình,độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Nhận thức đúng và làm rõ nội dung, tính chất của thời đại ngày nay

là cơ sở quan trọng để chúng ta hoạch định đúng đắn đường lối và sách lượccủa chúng ta và “ chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản củamột thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nướcnày hoặc nước nọ” như Lênin đã từng khẳng định

Trang 3

NỘI DUNG

I TƯ TƯỞNG CỦA MÁC - ĂNG GHEN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘLÊN CNXH TRONG TÁC PHẨM “ PHÊ PHÁN CƯƠNG LĨNH GÔ -TA”

Tháng 5 / 1875 Đại hội đảng thông nhất giữa hai đẩng được họp tại

Gô - Ta, thông qua cương lĩnh gọi là cương lĩnh Gô - Ta Tinh thần cơ bảncủa cương lĩnh này mang tính chất cải lương, cơ hội, bởi phần lơn của cươnglĩnh theo quan điểm của phái Lat – Xan Khi cương lĩnh này ra đời Mac -Ăng ghen vô cùng thất vọng Các ông đã đấu tranh chống lại để vạch ra cái

cơ hội, cải lương để tiến tơi xây dựng một cương lĩnh thống nhất và triệt đểhơn Cho nên, đưa tới tác phẩm này ra đời Cuộc đấu tranh này hết sức gay

go, mãi đến năm 1891 tác phẩm này mới được công bố Đấy là thắng lợi tolớn, vạch trần được bộ mặt của chủ nghĩa cơ hội

Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta” Mác viết: “Giữa xã hội

tư sản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳcải biến cáchmạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một TKQĐchính trị, Nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nềnchuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”

Trích (C Mác và Ph Angghen trong tác phẩm “ Phê phán cương lĩnh Gô-Ta”, NXB ST, Hà Nội 1958, tr 50).

Một số người căn cứ vào sự phân tích của Mác trong “Phê phán cươnglĩnh Gô-ta” xem TKQĐ được bắt đầu khi giai cấp vô sản giành được chínhquyền, kết thúc khi xây dựng xong CNXH trong quan niệm đó TKQĐ đượchiểu là: TKQĐ từ CNTB lên CNXH

Từ luận điểm trên chúng ta rút ra những vấn đề sau:

Trang 4

+ Quá độ từ CNTB lên CNCS, thời kỳ quá độ này kéo dài trong giaiđoạn thấp.

+ Quá độ từ những nước TBCN đến đại công nghiệp cơ khí

+ Đây là một thời kỳ cải biến cách mạng toàn diện và sâu sắc trên tất

Thông qua vấn đề quá đọ này, Mác phê phán vấn đề cải lương, theo

họ thì muốn có CNCS không hề có cải biến cách mạng, không có đấu tranhgiai cấp, mà theo họ chỉ cần sự giúp đỡ của giai cấp tư sản đeer tạo điều kiệncho hợp tác xã để đi lên CNCS Họ tin rằng, với sự giúp đỡ của chủ nghĩa tưsản họ sẽ dễ dàng đi lên CNCS Đây là vấn đề ảo tưởng

Mác viết: “…Người ta “dọn đường” cho “việc giải quyết” vấn đề xãhội ấy Đáng lẽ là do quá trình cải biến cách mạng của xã hội mà ra, thì “tổchức xã hội chủ nghĩa của toàn bộ lao động” lại là kết quả của “sự giúp đỡcủa nhà nước”, sự giúp đõ mà nhà nước đem lại cho những hợp tác xã sảnxuất do chính nhà nước(chứ không phải do lao động) đã “tạo laap” Tin rằngngười ta có thể xây dựng một xã hội mới bằng trợ cấp của Nhà nước, cũng

dễ dàng như xây dựng một con đường sắt mới, tin như thể thật là một ảotưởng xứng đáng với ảo tưởng của Lat-Xan”

Trích (C Mác và Ph Angghen trong tác phẩm “ Phê phán cương lĩnh Gô-Ta”, NXB ST, Hà Nội 1958, tr 46).

Trang 5

II - QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒCHÍ MINH VỀ TKQĐ LÊN CNXH.

1.Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về TKQĐ lên CNXH.

Bản thân vấn đề TKQĐ rất phức tạp, nó bao hàm nhiều nội dung rấtphong phú Lênin đã có lần đặt vấn đề: “Vậy bản thân từ quá độ có nghĩa làgì? ” Và Người nói: “Khi vận dụng vào vấn đề kinh tế, có phải nó có nghĩa

là trong chế độ hiện nay có cả thành phần, bộ phận và từng mảnh CNTB lẫnCNXH không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có Song không phải mỗi ngườithừa nhận điểm ấy đều suy nghĩ xem các thành phần của kết cấu xã hội- kinh

tế hiện có ở Nga, chính là như thế nào Mà tất cả mấu chốt của vấn đề lạichính là ở chỗ đó”

Trích (V I Lênin toàn tập, tập 27, NXB Sự thật Hà Nội 1971, tr 422).

Thực vậy, gọi là TKQĐ, vì nó vừa không phải là chính nó, lại vừakhông phải là cái khác, vừa không phải là chính bản thân xã hội XHCN, lạivừa không phải là xã hội cũ đã đẻ ra nó TKQĐ mới chỉ là thời kỳ xây dựngnhững tiền đề cơ sở của CNXH, chứ chưa phải là CNXH hoàn chỉnh, là thời

kỳ hình thành CNXH, hình thành hình thái kinh tế- xã hội cộng sản, chứkhông phải là thời kỳ xây dựng CNXH trên cơ sở của chính nó Lênin còncho rằng: “Bước quá độ từ CNTB lên CNXH có thể có những hình thứckhác nhau, tuỳ thuộc ở chỗ quan hệ đại tư bản hay nền kinh tế nhỏ chiếm ưuthế trong nước”

Trích (V I Lênin toàn tập, tập 32, NXB Sự thật Hà Nội 1970, tr 298).

Theo Lênin, chỉ trong những nước mà giai cấp vô sản đã phát triểnđầy đủ, thì mới có thể chuyển trực tiếp từ CNTB lên CNXH mà không cầnđến TKQĐ đặc biệt có tính chất toàn quốc Hoặc ở một nước nếu trong đó

Trang 6

nền đại công nghiệp chiếm ưu thế, hay thậm chí cứ cho là không chiếm ưuthế nhưng rất phát triển, và có cả nền sản xuất nông nghiệp cũng với quy môrất phát triển, thì có thể quá độ thẳng lên CNCS được Và Lênin khẳng địnhrằng nếu không có điều kiện đó thì bước quá độ lên CNCS không thể cóđược, xét về phương diện kinh tế.

Ở đây, nói đến việc chuyển trực tiếp lên CNXH, nói đến “Quá độthẳng CNCS” không có nghĩa là Lênin phủ nhận TKQĐ từ CNTB lênCNXH, mà chính là Người muốn luận chứng rằng, những nhiệm vụ tronglĩnh vực cải tạo cách mạng về mặt kinh tế- xã hội, những con đường vàphương pháp giải quyết các nhiệm vụ ấy, những hình thức đấu tranh giai cấp

để giải quyết vấn đề “ai thắng ai”, đều phụ thuộc vào những điều kiện lịchsử- cụ thể của những nước khác nhau Nhưng TKQĐ là vấn đề có tính quyluật chung cho tất cả những nước thực hiện việc quáđộ lên CNXH Tính quyluật ấy được quy định bởi tính chất đặc thù của chế độ sở hữu XHCN, là cơ

sơ của xã hội XHCN

Như vậy, TKQĐ, theo Lênin, là thời kỳ trải qua những “cơn đau đẻ”kéo dài, thời kỳ đấu tranh gay go, quyết liệt giữa CNTB đã bị lật đổ nhưngchưa bị đánh bại hẳn, với CNXH mới hình thành nhưng hãy còn non yếu.Chính trên ý nghĩa ấy, Lênin khẳng định rằng: “ ở một nước trong đó nhữngngười sản xuất tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số nhân khẩu, mà muốn thựchiện cách mạng XHCN thì phải trải qua một loạt biện pháp quá độ đặc biệt,hoàn toàn không cần thiết ở những nước tư bản phát triển, trong đó côngnhân làm thuê trong công nghiệp và nông nghiệp chiếm tuyệt đại đa số dâncư”

Trích (V I Lênin toàn tập, tập 32, NXB Sự thât Hà Nội 1970, tr

273 – 274).

Trang 7

Chính Lênin đã đặt vấn đề: “Làm thế nào để trên thực tế thực hiệnđược bước quá độ từ CNTB cũ, quen thuộc, mà mọi người đã biết sangCNXH mới, chưa hình thành hẳn, chưa có một cơ sở vững chắc- đó là nhiệm

vụ khó nhất Trong trường hợp tốt nhất thì bước quá độ ấy cũng chiếm mấtnhiều năm Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta, lại chia ranhiều bước quá độ nhỏ hơn”

Trích (V I Lênin toàn tập, tập 30, NXB Sự thât Hà Nội 1970, tr

418 – 419).

Những lời chỉ dẫn trên đây của Lênin đối với TKQĐ mà chúng tađang đi, có ý nghĩa phương pháp luận rất lớn Do vậy, vấn đề TKQĐ lênCNXH rõ ràng là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống lý luậncủa CNXH khoa học Đây là thời kỳ diễn ra quá trình cách mạng vô cùngsâu sắc, triệt để và toàn diện trên những quy mô chưa từng có trong mọi mặtcủa đời sống xã hội, trong toàn bộ những điều kiện vật chất cũng như đờisống tinh thần của xã hội, trong tồn tại xã hội cũng như trong ý thức xã hội

Trong những hình thái kinh tế- xã hội trước đây, sự quá độ từ mộthình thái này sang một hình thái khác diễn ra không có TKQĐ, vì chế độchiếm hữu tư nhân đã cho phép phương thức sản xuất mới ra đời và pháttriển ở trong lòng xã hội cũ Điều này có thể giải thích vì sao thành phầnkinh tế TBCN lại có thể nảy sinh và lớn lên trong những điều kiện của chế

độ phong kiến Còn thành phần kinh tế XHCN thì ngược lại, không thể rađời một cách tự phát bằng con đường tiến hoá từ CNTB, cũng như chế độ sởhữu XHCN không thể hình thành trong lòng chế độ tư bản Rõ ràng, CNXHchỉ có thế xây dựng nên do kết quả của cuộc cách mạng XHCN, và đượcđánh dấu bằng một TKQĐ đặc biệt- thời kỳ lật đổ toàn bộ chế độ xã hội cũ,xoá bỏ ngay chính nguồn gốc đẻ ra chế độ người bóc lột người, chế độchiếm hữu tư nhân, nhằm xây dựng những tiền đề, cơ sở của CNXH

Trang 8

Chiều sâu và tầm ảnh hưởng của bước qua độ đặc biệt này khôngnhững biểu hiện ở chỗ chỉ thủ tiêu các giai cấp bóc lột, thủ tiêu mọi quan hệ

xã hội đối kháng, mà đồng thời còn làm một cuộc cách mạng thực sự trêntoàn bộ lĩnh vực tinh thần- tư tưởng, tâm lý, tập quán, lối sống cũ còn để lạitàn dư trong xã hội mới TKQĐ lên CNXH phải làm biến đổi triệt để tất cảnhững cái đó Nhất là TKQĐ từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa,nửa phong kiến mà nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ tiến lên CNXH, bỏqua giai đoạn phát triển TBCN, thì do tính sâu sắc và phức tạp của nó, dotầm lớn lao của những nhiệm vụ lịch sử mà nó phải giải quyết, sự biến đổicòn sâu sắc hơn, triệt để hơn TKQĐ diễn ra ở những cuộc cách mạng XHCNtrong những điều kiện khác Điều đó có thể giải thích được ý nghĩa đặc biệtcủa TKQĐ trong những điều kiện như vậy

Từ cách đặt vấn đề trên, có thế khẳng định rằng TKQĐ là bước đi tấtyếu, cần thiết cho tất cả các nước tiến lên CNXH Do vậy, nếu TKQĐ đượcxem như quá trình phát triển tự nhiên của xã hội với tính quy luật nghiêmngặt của nó thì đúng như Mác đã nói, không thể nào nhảy vọt lên để vượtqua hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ giai đoạn phát triển tự nhiên ấy Lênin cũng

đã từng nói: đứng trên ý nghĩa vật chất, kinh tế, sản xuất mà xét thì TKQĐ

mà nước Nga đang đi là “thời kỳ còn chưa đến “ngưỡng cửa” của CNXH, vànếu không đi qua “ngưỡng cửa” mà chúng ta chưa đạt tới ấy thì chúng takhông thể tiến lên CNXH được”

Trích (V I Lênin toàn tập, tập 27, NXB Sự thât Hà Nội 1970, tr 431).

Kế thừa và phát triển tư tưởng phân kỳ trên Lênin quan niệm vềTKQĐ “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa CNTB và CNCS,

có một TKQĐ nhất định Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặcđiểm hay những đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế- xã hội ấy TKQĐ ấy

Trang 9

không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa CNTB đang giãychết và CNCS đang phát triển, hay nói cách khác, giữa CNTB đã bị đánh bạinhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và CNCS đã phát sinh nhưng vẫn còn rất nonyếu”.

Trích (V I Lênin toàn tập, tập 39, NXB Tiến bộ Matxcơva, 1997,

tr 309 – 310).

2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâusắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vậndụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể củanước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,tiếp thu văn hóa nhân loại”

Trích (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện lần thứ IX, NXB CTQG, Hà Nội 2001, tr 83).

Những luận điểm của Hồ Chí Minh về quá độ lên CNXH ở Việt Namđược hình thành, được chín muồi từ khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản vào những năm 20 của thế kỷ XX đến khiNgười ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, trực tiếp lãnhđạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam Hồ Chí Minh là người theo đuổi đến cùng lý tưởng và mục tiêucủa CNXH Người trung thành với chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời pháttriển sáng tạo học thuyết, chủ nghĩa ấy và thực sự là Người đã có nhữngđóng góp, những cống hiến làm sống động chủ nghĩa Mác- Lênin trong thựctiễn Sáng tạo nổi bật và cống hiến xuất sắc nhất của Hồ Chí Minh là đã giảiquyết thành công và có thể coi như một mẫu mực kinh điển về quan hệ giữadân tộc và giai cấp, giữa dân tộc và nhân loại trên lập trường của giai cấp vôsản, của cách mạng vô sản, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp,

Trang 10

xã hội và con người, giữa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cáchmạng xã hội chủ nghĩa Người đã tìm thấy câu trả lời cho sự lựa chọn conđường phát triển của đất nước Quyết định lựa chọn CNXH là quyết địnhNgười theo đuổi suốt cuộc đời Đối với Hồ Chí Minh, CNXH là một chân

lý, đồng thời là một niềm tin: không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trờimọc Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được CNXH phát triển

Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin về hình thái kinh tế- xã hộivào việc xác định vị trí của CNXH trong lịch sử tiến hoá của loài người, HồChí Minh khẳng định bằng những lời lẽ trong sáng và giản dị: “xã hội từ chỗ

ăn lông, ở lỗ, tiến đến xã hội nô lệ, tiến đến chế độ phong kiến, tiến đến xãhội tư bản, rồi tiến đến XHCN”

Trong bức tranh trên lịch sử loài người phát triển liên tục và CNXH lànấc thang cao của sự tiến hoá, nó xuất hiện kế tục xã hội tư bản, thay thế xãhội tư bản sau khi đã tiếp thu những thành quả của xã hội này ở đầy kháiniệm chế độ XHCN được dùng để chỉ hình thái kinh tế- xã hội CSCN xuấthiện sau hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa

Hình thái kinh tế xã hội CSCN có hai giai đoạn, “giai đoạn thấp tức làCNXH, giai đoạn cao, tức là CNCS” Khái niệm CNXH được dùng để chỉmột trong hai giai đoạn của hình thái kinh tế-xã hội CSCN Bước chuyển từCNTB lên CNXH-tức là TKQĐ từ CNTB lên CNXH-Theo Hồ Chí Minh, làmột “quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt,giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn

và cái đang phát triển” Nhưng Người luôn luôn thể hiện niềm tin vững chắcrằng cái mới, cái đang tiến bộ nhất định thắng và điều đó có nghĩa là: CNXH

và CNCS nhất định sẽ thắng lợi trên khắp địa cầu

Với các nước lạc hậu, tiền tư bản lên CNXH, các nhà kinh điển từMác, Ăngghen tới Lênin đều đặc biệt nhấn mạnh phải phát triển lực lượng

Trang 11

sản xuất, chỉ như vậy mới có thể dần dần xoá bỏ chế độ tư hữu về tư liệusản xuất, xoá bỏ triệt để tình trạng bóc lột, áp bức, bất bình đẳng, xác lập chế

độ công hữu đảm bảo cho sự phát triển của con người, xã hội tới dân chủ, tự

do, công bằng, bình đẳng thực sự

Theo Người, đặc điểm lớn nhất ở những nước lạc hậu trong TKQĐ là

từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh quagiai đoạn phát triển TBCN Cho nên, Người xác định toàn diện các nhiệm

vụ xây dựng CNXH ở những nước này là phát triển toàn diện các mặt kinh

tế, chính trị, xã hội, văn hoá phát triển giáo dục, xây dựng con người mới Mấu chốt của vấn đề kinh tế là phát triển lực lượng sản xuất Mấu chốt củavấn đề chính trị là giữ vững chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng Mấu chốtcủa vấn đề xã hội là đảm bảo công bằng xã hội hướng vào sự phát triển conngười và xã hội Và, thực chất của vấn đề văn hoá là xây dựng con ngườimới, đạo đức mới Theo Người, tức là phải phù hợp với điều kiện hoàncảnh của mỗi nước

Từ những quan điểm trên ta có thể tóm tắt khái niệm TKQĐ như sau:TKQĐ đó là thời kỳ đặc biệt nằm trong giai đoạn thấp của hình thái kinh tếcộng sản chủ nghĩa, thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc triệt để trên mọi lĩnhvực của đời sống xã hội TKQĐ được bắt đầu sau khi giai cấp công nhân vànhân dân lao động đã thiết lập được chính quyền Nhà nước và trức tiếp bắttay vào cải taọ xã hội cũ xây dựng xã hội mới cho đến khi xây dựng xongnhững cơ sở về kinh tế, chính trị xã hội và văn hoá tinh thần để CNXH bướcvào quá trình phát triển trên cơ sở của chính nó

Hay chúng ta có thể nói cách khác: TKQĐ lên CNXH là thời kỳ tạo ranhững tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết để hình thành một xã hội màtrong đó những nguyên tắc căn bản của xã hội XHCN sẽ được thực hiện

Trang 12

Như vậy, XHCN chỉ ra đời khi những nhiệm vụ cơ bản của TKQĐ đã đượchoàn thành.

3 Tính tất yếu của TKQĐ lên CNXH:

TKQĐ từ CNTB lên CNXH- thời kỳ cải tạo xã hội tư bản chủ nghĩathành xã hội xã hội chủ nghĩa bằng cách mạng là thời kỳ tất yếu, bởi vì khácvới mọi hình thái kinh tế -xã hội khác là những hình thái mà mỗi hình tháitrong số đó đều đã hoàn toàn chín muồi trong lòng hình thái trước, CNXHkhông ra đời trong lòng CNTB CNTB chỉ chuẩn bị những điều kiện vật chất

để quá độ lên CNXH Còn bản thân công cuộc xây dựng xã hội XHCN thìđược thực hiện sau khi đã gạt giai cấp tư sản khỏi chính quyền và thiết lậpchuyên chính vô sản Thêm vào đó, thậm chí sau khi giành được chínhquyền, giai cấp vô sản cũng không thể “đem áp dụng” ngay CNXH được.Lênin viết: “Mục đích đó, người ta không thể đạt ngay tức khắc được; muốnthế, cần phải có một TKQĐ khá lâu dài từ CNTB lên CNXH, vì cải tổ sảnxuất là việc khó khăn, vì cần phải có thời gian mới thực hiện được nhữngthay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, và vì phải trải qua mộtcuộc đấu tranh quyết liệt lâu dài mới có thể thắng được sức mạnh to lớn củathói quen quản lý theo kiểu tiểu tư sản và tư sản Bởi vậy, Mác nói đến cảmột thời kỳ chuyên chính vô sản, TKQĐ từ CNTB lên CNXH”

Trích (V I Lênin toàn tập, tiếng việt, tập 38, NXB Tiến bộ, NXB Tiến bộ Matxcơva, tr 464).

Do sự đối lập về chất của chế độ sở hữu TBCN và chế độ sở hữuXHCN, nên trong lòng xã hội cũ (tiền TBCN và TBCN) không thể nảy sinhquan hệ sản xuất XHCN Vì vậy, giai cấp công nhân phải tiến hành cách

Trang 13

mạng trên lĩnh vực chính trị trước, nhằm thiết lập Nhà nước XHCN Việcgiai cấp công nhân giành chính quyền chưa có nghĩa là đã có CNXH hoànchỉnh Muốn có CNXH đầy đủ và hoàn chỉnh (cả chính trị, kinh tế, văn hoá),giai cấp công nhân phát triển từ những tiền đề vật chất đã có và bằng biếncông cụ là Nhà nước XHCN để cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng xã hội mớiXHCN

Lênin đã viết nhiều về tính tất yếu của TKQĐ.người đã chỉ rõ rằng,thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của haikết cấu kinh- xã hội đối lập nhau:TBCN và XHCN “TKQĐ ấy không thểnào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa CNTB đang giãy chết vàCNCS đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa CNTB đã bị đánh bạinhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và CNCS đã phát sinh nhưng vẫn còn rất nonyếu”

Trích (V I Lênin toàn tập, tiếng việt, tập 39, NXB Tiến bộ, NXB Tiến bộ Matxcơva1977, tr 309 – 310).

Đó là thời kỳ lịch sử tất yếu để Nhà nước chuyên chính vô sản tiếnhành cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, XHCN về mọi mặt, là thời

kỳ đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội Cuộc đấu tranh giai cấp này được tiến hành trong những điều kiện mới,bằng những hình thức mới và phương pháp mới kết hợp cải tạo với xâydựng, chính trị với kinh tế, hoà bình với bạo lực, giáo dục với hành chính,thuyết phục với cưỡng bách , để đưa ra và thực hiện được một kiểu tổ chức

xã hội mới cao hơn xã hội tư sản

Theo Mác- Ăngghen, nhận thức tính tất yếu lịch sử của CNXH vàCNCS thông qua cách mạng đòi hỏi chỉ rõ nguyên nhân của cách mạng ấy.Kết luận mang tính chỉ dẫn của các ông là không có khủng hoảng kinh tế củaCNTB thì không có cách mạng để giai cấp cách mạng và khối quần chúng

Trang 14

đông đảo của nó sẵn sàng hành động chống CNTB được “ trong cảnh phầnbình phổ biến như vậy, khi mà lực lượng sản xuất của xã hội tư sản pháttriển rực rỡ tới mức nói chung có thể có được trong khuôn khổ những quan

hệ tư sản thì không thể nói đến chuyện có một cuộc cách mạng thật sự, mộtcuộc cách mạng như vậy chỉ có thể có trong những thời kỳ mà cả hai nhân tố

đó, lực lượng sản xuất hiện đại và các hình thức sản xuất tư sản mâu thuẫnvới nhau Cuộc cách mạng mới chỉ có thể xảy ra tiếp theo sau một cuộckhủng hoảng mới Nhưng việc cách mạng sẽ dẫn đến những tất yếu khongthể tránh khỏi như việc khủng hoảng sẽ xảy đến”

Trích (C Mác và Ph Angghen toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội

1995, Tập 7, tr 613).

Luận chứng về tính tất yếu lịch sử của CNXH, Mac- Ăngghen khôngchỉ nhấn mạnh điều kiện khách quan và sự trưởng thành thực sự của nhân tốchủ quan cho sự chín muôi cách mạng vô sản để phòng ngừa những ảotưởng chủ quan duy ý chí có thể đưa phong trào tới chỗ thất bại mà còn đảmbảo cho phong trào phát triển nhất quán, giữ vững tính cách mạng triệt đểtrong những mục tiêu lý tưởng của CNXH

Giá trị bền vững trong lý luận của Mác và Ăngghen về CNXH là ởchỗ, nó là khoa học chứ không phải là mộng tưởng, không tưởng; là cáchmạng chứ không phải là cải lương, chỉ như vậy- trong nhận thức lý luận vàhành động thực tiễn- mới có thể đưa giai cấp vô sản và quần chúng lao độngtới thành công trong sự nghiệp của mình: phá huỷ thế giới cũ- TBCN và xâydựng thế giới mới- XHCN “CNXH này là lời tuyên bố cách mạng khôngngừng, là chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản, coi đó là giai đoạn quá

độ tất yếu để đi đến xoá bỏ những sự khác biệt giai cấp nói chung, xoá bỏ tất

cả những quan hệ sản xuất làm cơ sở cho những sự khác biệt ấy, xoá bỏ tất

cả những quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó, để đi đến

Trang 15

cải biến tất cả những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ sản xuất xã hộiđó”.

Trích (C Mác và Ph Angghen toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội

1995, Tập 7, tr 126).

Tóm lại, với Mác và Ăngghen, lần đầu tiên trong lịch sử, CNXH mới

có được những chứng giải khoa học thật sự, mới vượt qua tính chất khôngtưởng để trở thành CNXH khoa học lý luận khoa học này đã soi sáng conđường giải phóng giai cấp vô sản và toàn bộ xã hội loài người, con đường đitới CNXH và CNCS như một tất yếu lịch sử đó là sự phủ định biện chứngđối với CNTB, bằng cách mạng, thông qua cách mạng trong một tiến trìnhlịch sử lâu dài

III PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CSCN

1 Giai đoạn thấp.

Giai đoạn này là giai đoạn chưa phát triển trên cơ sở của riêng nó , nóvừa thoát thai từ CNTB Vì vậy trên mọi phương diện còn mạng những dấuvết của xã hội cũ Mác viết: “ Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây, là một xã hộicộng sản, nhưng không phải là xã hội cộng sản đã phát triển trên những cơ

sở riêng của nó, mà trái lại, là một xã hội cộng sản vừa trong xã hội tư bảnthoát ra; vì vậy mà, mọi phương diện kinh tế, đạo đức, trí tuệ, xã hội ấy cònmang những dấu vết của xã hội cũ, xã hội đã hoài thai ra nó”

Trích (C Mác và Ph Angghen trong tác phẩm “ Phê phán cương lĩnh Gô-Ta”, NXB ST, Hà Nội 1958, tr 31).

Giai đầu của CNCS chưa thể thực hiện được công bằng và bình đẳng

về mặt của cải, thì vẫn còn chênh lệch, bất công nữa; nhưng tình trạng ngườibóc lột người thì không còn nữa, vì không ai có thể chiếm tư liệu sản xuất,công xưởng, máy móc, đất đai… làm của riêng được Trong khi bác bỏ cầunói mo hồ và tiểu tư sản cuat Lat-Xan về bình đẳng và công bằng nói chung

Ngày đăng: 16/07/2018, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w