Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Đẩy mạnhhoạt động TDTT, nâng cao tầm vóc thể trạng của người Việt Nam, phát triểnphong trào tập luyện thể thao quần chúng với m
Trang 1Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã chỉ ra quan điểm về sự phát triển sựnghiệp TDTT nước ta là chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dânđược coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Nhiệm vụ xâydựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chấtcường tráng…Vận động thể dục, thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăngcường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà Chủ tịch HồChí Minh cũng đã khẳng định với toàn dân ta trong lời kêu gọi toàn dân tập thểdục từ những ngày đầu tiên xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Dâncường thì nước thịnh”
Trong những năm gần đây, sự nghiệp thể dục, thể thao nước ta đã cónhiều tiến bộ Thể dục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển với nhiều hìnhthức đa dạng, góp phần nâng cao sức khoẻ, xây dựng lối sống lành mạnh, cảithiện đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân Thể thao thành tích cao có bướcphát triển, thành tích một số môn đạt được trình độ châu Á và thế giới Cơ sở vậtchất, kỹ thuật cho thể dục, thể thao từng bước được nâng cấp và xây dựng mới.Hfợp tác quốc tế về thể thao được tăng cường, vị thế của thể thao Việt Namđược nâng cao, nhất là ở khu vực Đông Nam Á
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nền kinh tế trí thức thìyếu tố con người là vô cùng quan trọng Con người là mục tiêu giáo dục, vừa làđộng lực phát triển kinh tế xã hội, giáo dục đã trở thành động lực chủ yếu cho sự
Trang 2phát triển kinh tế xã hội đất nước Bác Hồ đã chỉ rõ: “Muốn lao động sản xuấttốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ.” Người xác định vai trò của Thểdục Thể thao có tầm quan trọng tăng cường sức khoẻ nhân dân Từ đó người đặt
vị trí công tác TDTT là một công tác cách mạng trong sự nghiệp cách mạngchung của nước ta
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Đẩy mạnhhoạt động TDTT, nâng cao tầm vóc thể trạng của người Việt Nam, phát triểnphong trào tập luyện thể thao quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp, đàotạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, vận động viên thành tích cao, đưa thể thao ViệtNam lên trình độ phát triển cao trong khu vực Đông Nam Á.”
Đạt được những thành tích trên là do sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo củacác cấp ủy đảng, chính quyền; sự tham gia tích cực và có hiệu quả của cácngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và đông đảo nhân dân; sự nỗ lựcphấn đấu của huấn luyện viên, vận động viên và cán bộ thể dục thể thao
Ngày 03 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết
định số 2198/QĐ-TTg, kèm theo chiến lược về phát triển thể dục, thể thao Việt
Nam đến năm 2020 Mục tiêu của chiến lược đã nêu rõ “phát triển thể thao ViệtNam đến năm 2020 nhằm xây dựng và phát triển nền thể dục, thể thao nước nhà
để nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcphục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ củangười Việt Nam theo tinh thần vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập vàphát triển” Chiến lược cũng đã chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể cho mục tiêu,nhiệm vụ phát triển thể dục thể thao quần chúng cũng được quan tâm
Song, những thành tựu đã đạt được đó không có nghĩa là nền TDTT củanước nhà phát triển toàn diện Bên cạnh đó, còn có nhiều cơ sở TDTT ở các xã,phường, thị trấn đặc biệt là các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xagặp rất nhiều khó khăn trong việc phổ biến, tuyên truyền cũng như tổ chức cáchoạt động TDTT Sự chênh lệch giữa các vùng miền, các đối tượng tiếp cậnTDTT cũng tạo nên khoảng cách ngày càng cao Công tác quản lý, chỉ đạo phát
Trang 3triển TDTT quần chúng ở cơ sở còn nhiều hạn chế, chưa được hiệu quả và chưatheo kịp với yêu cầu của thực tiễn Điều đáng nói là hoạt động TDTT chưa đápứng được nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân, công tác TDTT chưa đến đượccác cơ sở đặc biệt là những nơi còn nhiều khó khăn Đầu tư của Nhà nước vàviệc triển khai chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực này còn chưa đáp ứng đượcyêu cầu nhất là cán bộ TDTT, hướng dẫn viên TDTT, cơ sở vật chất cũng nhưkinh phí đầu tư cho các hoạt động TDTT…
Quảng Bình là một tỉnh duyên hải vùng Bắc Trung Bộ được hình thành vàphát triển cách đây 410 năm, là tỉnh có chiều rộng hẹp nhất nước Việt Nam vớiphía đông giáp biển Đông và phía tây giáp với Lào Diện tích tự nhiên là 8.065
km2 với 85% là đồi núi có độ dốc từ Tây sang Đông
Lệ Thủy là huyện nằm ở phía nam của tỉnh Quảng Bình, phía nam giápvới huyện Vĩnh Linh (thuộc tỉnh Quảng Trị), phía Bắc giáp với huyện QuảngNinh (Quảng Bình), phía đông giáp biển Đông và phía tây giáp với tỉnh Khămmuộn (Lào) Diện tích tự nhiên 1.416,11 km2, có 36.545 hộ với 141.380 nhânkhẩu (theo điều tra dân số năm 2012), mật độ dân số 99,8 người/ km2
Huyện Lệ Thủy có 2 dân tộc chính là Kinh và Vân Kiều Đây là quêhương của Sùng Nham hầu Dương Văn An, Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật, Lễ Thành hầuNguyễn Hữu Cảnh, Kim tử Vinh Lộc Đại phu Đặng Đại Lược, Thạc Đức hầu Đặng Đại Độ, Sưbảo Nguyễn Đăng Tuân, Vũ Đăng Phương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm
Huyện Lệ Thủy có 02 thị trấn và 26 xã Với vị trí địa lý và điều kiện tựnhiên thuận lợi, huyện Lệ Thủy là một trong những huyện có phong trào TDTTphát triển của tỉnh Quảng Bình Được sự quan tâm của Đảng và chính quyền cáccấp huyện cũng đã không ngừng phấn đấu vươn lên, phong trào TDTT củahuyện tiếp tục được giữ vững và từng bước tiến bộ Từ đó công tác quản lý Nhànước về TDTT được tăng cường đã tạo điều kiện môi trường và các nhân tốthành lập để phát triển TDTT, nhất là TDTT quần chúng phát triển, góp phầnquan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng đời sống văn hóa, nền tảng
Trang 4tinh thần xã hội, thúc đẩy quá trình xây dựng, phát triển huyện Lệ Thủy Hàngnăm huyện cũng thường xuyên tổ chức các giải TDTT lớn nhỏ và được quầnchúng nhân dân tham gia đông đảo Huyện cũng đã cung cấp rất nhiều vận độngviên cho tỉnh Quảng Bình và các tỉnh lân cận Tuy nhiên, công tác quản lý Nhànước về TDTT trên địa bàn huyện không tránh khỏi một số tồn tại làm ảnhhưởng đến sự phát triển của phong trào TDTT quần chúng của huyện như:
- Nguồn kinh phí đầu tư hàng năm cho phát triển TDTT còn hạn chế
- Chế độ chính sách chưa thỏa đáng
- Công tác xã hội hóa hoạt động TDTT chưa được thúc đẩy mạnh
- Trình độ làm công tác văn hóa, thể thao còn hạn chế
- Phong trào TDTT phát triển không đồng đều
Vì vậy, làm thế nào để khắc phục những tồn tại và khó khăn đó là vấn đềcần được giải quyết để đưa phong trào TDTT quần chúng của huyện Lệ Thủynói riêng và phong trào TDTT tỉnh Quảng Bình nói chung không chỉ củng cốđược những thành tích đã đạt được mà còn ngày một phát triển mạnh mẽ hơnđúng với những tiềm năng vốn có của huyện
Ở nước ta, những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu có liênquan đến vấn đề này của các tác giả Đặng Quốc Nam(2006), Vũ Thị NgọcThư(2011), Đồng Thị Thu Thủy(2012), Đỗ Khánh Tùng(2012), Tuy nhiên đốivới phong trào thể dục thể thao quần chúng ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bìnhlại chưa được tác giả nào quan tâm nghiên cứu
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Lựa chọn giải pháp phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng
huyện Lệ Thủy - tỉnh Quảng Bình”.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnhhưởng đến phong trào tập luyện TDTT quần chúng huyện Lệ Thủy- tỉnh QuảngBình chúng tôi đề xuất các giải pháp phát huy các nguồn lực sẵn có nhằm pháttriển phong trào tập luyện TDTT quần chúng ở huyện Lệ Thủy- tỉnhQuảng Bình
Trang 5Nhiệm vụ nghiên cứu: Để giải quyết mục đích nghiên cứu, chúng tôi tiến
hành giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phong
trào tập luyện TDTT quần chúng huyện Lệ Thủy- tỉnh Quảng Bình
Để giải quyết nhiệm vụ 1, đề tài dự kiến giải quyết các vấn đề sau:
- Thực trạng phong trào TDTT quần chúng huyện Lệ Thủy- tỉnhQuảng Bình
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển phong trào TDTTquần chúng của huyện Lệ Thủy- tỉnh Quảng Bình
- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn các giải pháp nhằm phát triển phong trào tập
luyện TDTT quần chúng huyện Lệ Thủy- tỉnh Quảng Bình
Để giải quyết nhiệm vụ 2, chúng tôi dự kiến giải quyết các vấn đề sau:
- Lựa chọn các giải pháp phát triển phong trào TDTT quần chúng ở huyện
Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Xác định các tiêu chí lựa chọn thông qua phỏng vấn)
- Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp đã lựa chọn nhằm pháttriển phong trào TDTT quần chúng của huyện Lệ Thủy- tỉnh Quảng Bình
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về thể dục thể thao
Đường lối, quan điểm của Đảng về công tác TDTT, được hình thành ngay
từ những năm đầu của cách mạng nước ta, đã từng bước được bổ sung, hoànchỉnh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng và luôn luôn
là kim chỉ nam cho sự phát triển của nền TDTT nước nhà
Năm 1941, Chương trình Việt Minh đã chỉ rõ: “Cần khuyến khích nền thể dục quốc dân, làm cho nòi giống ngày càng thêm mạnh” Việc nâng cao sức
khỏe cho toàn dân đã được đẩy mạnh khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh
thành lập Nha Thể dục vào ngày 30 tháng 1 năm 1946 và ra lời kêu gọi “Toàn
dân tập thể dục” vào tháng 3 năm 1946 Trong lời kêu gọi đó Bác đã khẳng
định: “ Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần đòi hỏi có sức khỏe mới làm thành công Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khỏe là góp phần cho cả nước mạnh khỏe”
Hưởng ứng lời khuyên của Bác, phong trào thể dục với khẩu hiệu “Khoẻ
vì nước” đã nhanh chóng phát triển khắp thành thị, nông thôn Kể từ đó đến nay,
lời khuyên tập thể dục của Bác Hồ vẫn giữ nguyên giá trị và trở thành cươnglĩnh hành động của TDTT nước ta
Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về TDTT ở thời kỳ này đã thể hiệnrất rõ ở chỉ thị số 106-CT/TW ngày 2 tháng 10 năm 1958 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng về công tác TDTT Đó là: “Việc săn sóc sức khoẻ của nhân dân, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ” Và chỉ thị cũng đã khẳng định rằng: “Công tác thể dục thể thao và thể dục quốc phòng là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước, cần phải
có kế hoạch tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ nhằm đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao”[1] Sự quan tâm còn được thể hiện thông qua việc
thi hành các biện pháp:
Trang 7Tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong cán bộ và nhân dân về ý nghĩaquan trọng của thể dục thể thao và thể dục quốc phòng; vận động quần chúngtham gia ngày càng nhiều vào phong trào thể dục thể thao
Động viên cán bộ phải tập thể dục thường xuyên, và các đoàn viên thanhniên làm nòng cốt cho phong trào
Có kế hoạch giải quyết từng bước những yêu cầu cụ thể như: cơ sở vậtchất, sân bãi, dụng cụ thể dục thể thao và phương tiện làm việc để bảo đảm việclãnh đạo phong trào được tốt.
Kiện toàn các Ban Thể dục thể thao trung ương và các cấp khu, tỉnh.Đồng thời chú ý khuyến khích cán bộ thể dục thể thao đi sâu vào nghiệp vụ củangành mình
Vấn đề đào tạo cán bộ thể dục thể thao là rất cấp bách
Dưới sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, phong trào TDTTthời bấy giờ đã phát triển và ngày càng lan rộng Đã có nhiều phong trào, hoạtđộng TDTT được tổ chức rộng khắp, đặc biệt là ở miền Bắc Các môn thể thaođược quan tâm ở giai đoạn này là “chạy, nhảy, bơi, bắn, võ” Năm 1965 khi đếquốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc thì phong trào TDTT với các môn “chạy,bơi, bắn và võ dân tộc” đã được phát động rộng rãi trong toàn thể nhân dân vớimục tiêu là phục vụ cho sản xuất và chiến đấu Tháng 1 năm 1966, Thủ tướngchính phủ ban hành chỉ thị 05-TTG/VG về việc tăng cường lãnh đạo công tác
TDTT trong tình hình mới, với phương châm “Công tác thể dục thể thao hiện nay là phải tập trung giải quyết những yêu cầu trước mắt của sản xuất và chiến đấu, đồng thời phải biết kết hợp chuẩn bị cho yêu cầu lâu dài, không ngừng nâng cao một cách có hệ thống trình độ mọi mặt cho cán bộ và vận động viên Phải có tinh thần cố gắng gấp bội, tinh thần tự lực cánh sinh, chủ động và sáng tạo để cho phong trào thể dục thể thao phát triển trong tình hình mới” [17].
Nhiệm vụ chủ yếu đặt ra trong chỉ thị 05-TTG/VG đó là nâng cao mởrộng phong trào TDTT nhằm phục vụ cho sản xuất và chiến đấu Chỉ thị cũng đãkhẳng định rằng trong sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ, cứu nước và xây dựng
Trang 8chủ nghĩa xã hội, công tác thể dục thể thao đóng vai trò rất cần thiết cho việctăng cường sức khoẻ để đẩy mạnh sản xuất và sức chiến đấu của toàn dân Côngtác thể dục thể thao còn phục vụ nhiệm vụ đối ngoại của Đảng và Chính phủ
Phong trào TDTT quần chúng luôn được phát triển rộng rãi ngay trong lúcchiến tranh vẫn diễn ra ác liệt Nhiều phong trào TDTT đã được phát động với
hàng ngàn người dân tham gia Điển hình là các phong trào: “ Thể dục vệ sinh” trong trường học; “Chạy nối liền Bắc Nam”, “Luyện vai trăm cân, luyện chân ngàn dăm” trong thanh thiếu niên; “ Chạy, nhảy, Bơi, Bắn, Võ” trong công nhân viên chức, dân quân tự vệ, lực lượng vũ trang; “Rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn”, “Toàn xã biết bơi”, “ Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời”, “Xây dựng các điển hình tiên tiến về TDTT”
Năm 1975 đất nước thống nhất, trong tình hình cả nước ra sức xây dựnglại đất nước Cùng với các ngành, lĩnh vực khác trong công cuộc xây dựng vàphát triển trong tình hình mới Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị Số 227-CT/TW, ngày 18 tháng 11 năm 1975 về công tác TDTT trong tình hình mới vớiphương châm[2]:
Kết hợp thể dục với thể thao, lấy thể dục làm cơ sở; kết hợp thể dục thểthao với vệ sinh phòng bệnh; kết hợp những thành tựu hiện đại của thế giới vớikinh nghiệm truyền thống của dân tộc
Tập luyện thể dục thể thao phải phù hợp với từng lứa tuổi, nam, nữ, ngànhnghề, sức khoẻ Phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnh địa lý tự nhiên vàtruyền thống của từng vùng Thực hiện kiểm tra y học và bảo đảm an toàn trongtập luyện và thi đấu
Kết hợp việc phát triển phong trào quần chúng với việc xây dựng lựclượng nòng cốt
Triệt để sử dụng những điều kiện thiên nhiên, cơ sở vật chất sẵn có và dựavào lực lượng của nhân dân là chính để xây dựng cơ sở vật chất, đồng thời có sựgiúp đỡ thích đáng của Nhà nước
Trang 9Chỉ thị số 227-CT/TW cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước vềviệc phát triển phong trào TDTT quần chúng và sức khỏe của nhân dân Sự quantâm tâm được thể hiện qua các biện pháp mà Chỉ thị đã nêu:
Để bảo đảm cho hoạt động thể dục thể thao đi đúng hướng và có hiệu quảthiết thực, các cấp uỷ đảng, các cấp chính quyền và cán bộ quản lý thể dục thểthao cần nắm vững và làm cho mọi người hiểu mục đích của thể dục thể thao
Đẩy mạnh phong trào vệ sinh và thể dục yêu nước trong nhân dân, gâythành ý thức tự giác giữ gìn vệ sinh và luyện tập thân thể một cáchthường xuyên
Ngành thể dục thể thao phải lựa chọn cán bộ đưa xuống cơ sở để giúp cácđịa phương xây dựng kế hoạch phát triển phong trào, đào tạo hướng dẫn viên,
mở lớp thanh niên, thiếu niên nghiệp dư, xây dựng các câu lạc bộ thể dục thểthao Đoàn Thanh niên phải gắn liền phong trào thanh niên với phong trào thểdục thể thao Cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên phải gương mẫu rèn luyệnthân thể
Nghiên cứu hoàn chỉnh sớm và thực hiện chặt chẽ chế độ rèn luyện thânthể theo tiêu chuẩn cho các đối tượng
Trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của ngành thể dục thể thao, ngànhgiáo dục và các ngành khác có liên quan, cần xây dựng quy hoạch đào tạo, bồidưỡng cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, giáo viên thể dục thể thao vàxây dựng hệ thống trường thể dục thể thao thích hợp với điều kiện nước ta
Các trường đào tạo cán bộ y tế cũng như các trường đào tạo cán bộ thểdục thể thao phải có nội dung giảng dạy về y học thể dục thể thao
Xây dựng các cơ sở thể dục thể thao quy mô vừa ở các tỉnh Xây dựng cáctrường đào tạo, các cơ sở nghiên cứu khoa học và một số cơ sở tập luyện đểnâng cao kỹ thuật thể dục thể thao
Kiện toàn và xây dựng hệ thống tổ chức chuyên trách thể dục thể thao ởcác cấp và các ngành trong cả nước
Trang 10Trong thời kỳ đổi mới đất nước, cùng với sự thành công của Đại hộiTDTT toàn quốc lần thứ I năm 1985 Tại Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đãchỉ rõ nhiệm vụ của TDTT là mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng thểdục thể thao, nhất là ở cơ sở, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sức khoẻ của nhân dân.Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại đại hội Đảng
lần thứ VI đã khẳng định: “Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào thể dục, thể thao quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân thể thành thói quen hằng ngày của nhân dân đông đảo, trước hết là của thế hệ trẻ Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học Củng cố và mở rộng hệ thống trường, lớp năng khiếu thể thao, phát triển lực lượng vận động viên trẻ Lựa chọn và tập trung sức nâng cao thành tích một số môn thể thao Coi trọng việc giáo dục đạo đức, phong cách thể thao xã hội chủ nghĩa Cố gắng bảo đảm các điều kiện về cán bộ, về khoa học, kỹ thuật, cơ sở vật chất, và nhất là về tổ chức, quản lý cho công tác thể dục, thể thao”[10]
Trong quá trình đổi mới, thực hiện nhiệm vụ của Đại hội Đảng VI đề rangày 09 tháng 5 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành chỉ thị số 112-CT
về công tác thể dục thể thao trong những năm trước mắt Chỉ thị đã xác định
nhiệm vụ trọng tâm trong những năm hiện tại là “nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh các trường học, duy trì và phát triển phong trào thể dục thể thao trong các lực lượng vũ trang, trong công nhân, viên chức và trong nhân dân Phong trào thể dục thể thao trong học sinh, sinh viên và lực lượng vũ trang phải trở thành nòng cốt của phong trào thể dục thể thao chung trong cả nước”[8]
Thực hiện sự lãnh đão của Đảng và Nhà nước, phong trào TDTT đặc biệt
là TDTT quần chúng đã có nhiều tiến bộ Thể hiện qua Đại hội Thể dục thể thaotoàn quốc lần thứ II năm 1990 và vai trò các Hội, Liên đoàn bước đầu chuyểnbiến trong việc phối hợp với các cơ quan Nhà nước lựa chọn VĐV tham gia thiđấu các giải thể thao Quốc tế đặc biệt là Seagames 15 năm 1989 và Asiad 10năm 1990
Trang 11Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 tiếp tục đề ra nhiệm vụ
“Bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể lực của nhân dân phải trở thành hoạt động tự giác của mỗi người, với sự quan tâm của Nhà nước và toàn xã hội” và “Công tác thể dục, thể thao cần coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học; tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân tham gia rèn luyện thân thể hằng ngày”[10] Nhiệm vụ đó đã được Chính phủ cụ thể hóa trong “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”, báo cáo tại Đại hội Đảng VII là “bảo vệ, nâng cao sức khỏe về thể chất nhân dân, chống suy dinh dưỡng trẻ em, tăng chiều cao, cân nặng của thế hệ trẻ, tăng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam Xây dựng phong trào toàn dân rèn luyện thân thể, hoạt động TDTT, nhất là trong thanh niên, kết hợp phổ cập với năng cao, phát triển các câu lạc bộ thể dục thể thao hoạt động theo nguyên tắc tự quản và
tự bù đắp chi phí, có sự quản lý và tài trợ một phần của nhà nước”[10]
Từ sự quan tâm sâu sắc và chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước mànền TDTT của nước ta ở thời điểm này ngày càng phát triển và cho thấy sự tiến
bộ như: Phong trào TDTT từng bước được mở rộng với nhiều hình thức, nhiềumôn thể thao dân tộc được khôi phục và phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật thểdục thể thao ở một số địa phương đã được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới Tuynhiên, sự phát triển đó vẫn còn ở trình độ thấp Số người thường xuyên tham giatập luyện TDTT còn ít, đặc biệt là thanh niên chưa tích cực tập luyện Hiệu quảGDTC trong trường học và trong các LLVT còn thấp Nhận thấy những tồn tại
và yếu kém đó, trong tình hình yêu cầu nhiệm vụ mới của ngành TDTT, Ban Bíthư Trung ương Đảng khóa VII đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 24tháng 3 năm 1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới[3] Chỉ thị đã khẳngđịnh một số nội dung sau:
Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách pháttriển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân
tố con người Công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực nâng cao sứckhoẻ, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phúđời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội vàsức chiến đấu của các lực lượng vũ trang
Trang 12Xây dựng nền thể dục thể thao có tính chất dân tộc, khoa học và nhân dân.Giữ gìn, phát huy bản sắc và truyền thống dân tộc, đồng thời nhanh chóng tiếpthu có chọn lọc những thành tựu hiện đại Phát triển rộng rãi phong trào thể dụcthể thao quần chúng với khẩu hiệu: “Khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Từng bước xây dựng lực lượng thể thao chuyên nghiệp đỉnh cao.
Phát triển thể dục thể thao là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chínhquyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, là nhiệm vụ của toàn xã hội
Mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về thể dục thể thao phục vụ cho sựphát triển thể dục thể thao của đất nước, tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biếtlẫn nhau giữa nhân dân ta và nhân dân các nước
Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thể dục thể thao là hình thành nền thểdục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, đáp ứngnhu cầu văn hoá, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đángtrong các hoạt động thể thao quốc tế, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á
Chỉ thị 36-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã cho thấy sự quantâm cần thiết của Đảng đối với sự nghiệp phát triển TDTT nước ta, đặc biệt đối
với TDTT quần chúng Mục tiêu mà Đảng đề ra trong chỉ thị đó là “hình thành nền thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hoá, tinh thần của nhân dân”, “thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học Làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, thanh niên, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, cán bộ, công nhân viên, công nhân viên chức và một bộ phận nhân dân” Để thực hiện được mục tiêu đó, Đảng cũng đã nêu ra một số
biện pháp:
Tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác thể dục thể thao Đẩy mạnh côngtác giáo dục, tuyên truyền về công tác thể dục thể thao trong toàn xã hội
Ban hành các văn bản pháp quy về công tác thể dục thể thao; quy định chế
độ tập luyện thể dục thể thao trong trường học, lực lượng vũ trang, cơ quan, xínghiệp Ban hành các chính sách, chế độ khuyến khích mở rộng phong trào vànâng cao thành tích thể thao
Trang 13Củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thể dục thể thao,hình thành hệ thống tổ chức xã hội thể dục thể thao Tăng cường tổ chức thể dụcthể thao trong các ngành giáo dục - đào tạo, quân đội, công an nhân dân, ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam.
Ngày 02 tháng 4 năm 1998 để đánh giá việc thực hiện Chỉ thị 36-CT/TWcủa Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới.Thường vụ Bộ Chính trị đã ban hành Thông tri số 03-TT/TW về tăng cường sựlãnh đạo công tác Thể dục thể thao Thông tri đã đánh giá phong trào TDTT đã
có bước phát triển toàn diện và đem lại hiệu quả tích cực Song “Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển chưa đều Giáo dục thể chất trong trường học còn nhiều hạn chế Cơ sở vật chất thể dục thể thao còn thiếu thốn và lạc hậu, nhiều trường học và địa bàn dân cư không có sân bãi tập luyện”[18] Bên
cạnh đó Thông tri cũng đã chỉ ra một số biện pháp để thực hiện tốt quan điểm,mục tiêu theo tinh thần của Chỉ thị 36-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương:
Có biện pháp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phong trào thể dục thể thaoquần chúng và thể thao thành tích cao Mở rộng tuyên truyền, giáo dục nâng caonhận thức về vai trò công tác thể dục thể thao đối với việc phát triển kinh tế - xãhội của đất nước.
Tiếp tục củng cố tổ chức ngành thể dục thể thao, nhất là xây dựng các tổchức thể dục thể thao hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân ở cơ sở
xã, phường, thôn ấp Tăng cường cán bộ cho ngành thể dục thể thao; tạo điềukiện thuận lợi về cơ sở vật chất, đặc biệt là trong các quy hoạch cần dành đất đểxây dựng các trung tâm thể dục thể thao và các sân tập thể dục thể thao ở các địabàn dân cư, các trường học, cơ quan, xí nghiệp.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001), Đại hội diễn ra trong thờiđiểm có ý nghĩa trọng đại, Kết thúc Thế kỷ XX và Thế kỷ XXI vừa bắt đầu Đại
hội IX với mục tiêu, đường lối của Đảng và Nhà nước là “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đối với lĩnh vực thể dục thể thao thì Đảng đã nhấn mạnh: “Phát động phong trào toàn dân tập luyện thể dục, thể thao, nâng cao sức khoẻ và tầm vóc người Việt Nam”[10].
Trang 14Sau 8 năm thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW của Ban Bí thư trung ương khóaVII, TDTT nước ta đã có những bước biến chuyển rõ rệt, góp phần tích cực vàothành tựu chung trong công cuộc đổi mới phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Đặc biệt, đối với TDTT quần chúng đã được mở rộng với nhiều địa bàn vànhiều đối tượng Đã có 13% dân số tham gia tập luyện TDTT thường xuyên.Điều này chứng tỏ sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về lĩnh vựcTDTT là hoàn toàn đúng đắn.
Song bên cạnh những thành tựu phát triển đó, TDTT nước ta ở thời điểmhiện tại cũng còn một số mặt hạn chế như: TDTT quần chúng còn phát triểnchậm, nhất là các khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, chất lượng và hiệuquả thể dục trong nhà trường còn hạn chế, thành tích các môn thể thaocòn thấp
Nhận thấy những thành tựu cũng như hạn chế đó, cùng với định hướngphát triển TDTT đến năm 2010, ngày 23 tháng 10 năm 2002, Ban Bí thư Trungương Đảng khóa IX đã ban hành Chỉ thị 17-CT/TW về phát triển thể dục thểthao đến năm 2010[4] Chỉ thị đã nêu rõ:
Trong giai đoạn mới, sự nghiệp thể dục thể thao cần được tiếp tục pháttriển theo những quan điểm đã nêu trong Chỉ thị 36-CT/TW và phương hướng,
nhiệm vụ đã được Đại hội IX của Đảng xác định: "Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao, nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam Phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu quả các hoạt động văn hoá thể thao".
Công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụkinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đấtnước, trước hết là góp phần nâng cao sức khoẻ, rèn luyện ý chí, giáo dục đạođức, nhân cách, lối sống và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân;xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi tệnạn xã hội ở từng địa phương Phấn đấu đến năm 2010 toàn quốc đạt tỉ lệ
Trang 1518 - 20% dân số tập luyện thể dục thể thao thường xuyên; 80 - 90% học sinh,sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo quy định; giữ vị trí là một trong
ba nước đứng đầu về thể thao ở khu vực Đông - Nam Á, một số môn có thứhạng cao tại các giải thể thao châu Á và thế giới.
Để thực hiện phương hướng, nhiệm vụ trên, các cấp uỷ đảng và chínhquyền cần lãnh đạo thực hiện tốt những việc sau:
Tạo cho được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm củacác cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể về nhiệm vụ phát triển thểdục thể thao nhằm nâng cao thể lực, bồi dưỡng ý chí, phát huy nhân tố conngười, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hoạt động thể dục thể thao quần chúng ở xã, phường, cơ sở là cái nền cơbản để phát triển thể dục thể thao ở nước ta Cần có sự chỉ đạo hướng dẫn pháttriển thể dục thể thao quần chúng ở cơ sở trong toàn quốc, đối với tất cả các đốitượng, kể cả người cao tuổi, người khuyết tật, trước hết là thanh, thiếu niên, lựclượng vũ trang; chú trọng địa bàn nông thôn, miền núi; khai thác và phát huy cáchình thức tập luyện cổ truyền và các môn thể thao dân tộc Xây dựng mạng lướihướng dẫn viên, vận động viên làm nòng cốt cho phong trào Từng bước hìnhthành khu trung tâm thể dục thể thao của xã, phường, thị trấn gắn với trườnghọc, các điểm vui chơi của thanh, thiếu niên và các thiết chế văn hoá tại cơ sở.Trên cơ sở đó, phát hiện, bồi dưỡng các tài năng thể thao trẻ.
Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ở trường học Tiến tới bảo đảm mỗitrường học đều có giáo viên thể dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng tiêuchuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục thể chất; xem đây là một tiêuchí xét công nhận trường chuẩn quốc gia.
Phát triển các môn thể thao Việt Nam có ưu thế
Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá thể dục thể thao Đổi mới cơ bản các hìnhthức và biện pháp quản lý nhà nước về thể dục thể thao; chuyển giao phần lớnviệc điều hành các hoạt động thể thao cho các tổ chức xã hội về thể dục thể thao.Tạo cơ sở phát triển kinh tế thể thao.
Trang 16Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và xây dựng cơ sở vật chất đểđảm bảo cho sự nghiệp thể dục thể thao nước ta phát triển bền vững, nhanhchóng rút ngắn khoảng cách với các nước
Tăng mức đầu tư của Nhà nước cho lĩnh vực thể dục thể thao, ưu tiên choviệc phát triển thể dục thể thao ở trường học, ở nông thôn và miền núi
Cùng với việc thực hiện Chỉ thị 17-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng khóa
IX, ngày 10 tháng 5 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số100/2005/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt chương trình phát triển Thể dục thể thao
ở xã, phường, thị trấn đến năm 2010” với mục tiêu chung là: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả phong trào thể dục thể thao quần chúng tại các xã, phường, thị trấn trong cả nước; huy động sức mạnh của toàn xã hội chăm lo giáo dục thể chất cho nhân dân, làm cho mỗi người dân ở xã, phường, thị trấn được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa thể thao nhằm tăng cường sức khỏe, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cả về trí tuệ và thể chất, phục vụ lao động sản xuất, công tác, học tập; góp phần ổn định, giữ gìn an ninh chính trị và đẩy lùi các tệ nạn xã hội Phấn đấu đến năm 2010 xóa các “xã trắng” về thể dục thể thao và đưa việc tập luyện thể dục thể thao trở thành thói quen hàng ngày của đa số nhân dân”[19]
Quyết định 100/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thể hiện sự quantâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác Thể dục thể thao, và đặc biệt là thểthao quần chúng Quyết định đã đặt ra từng mục tiêu cụ thể cho đến năm 2010với các tiêu chí: Đạt tỷ lệ 23 - 25% dân số nước ta tham gia tập luyện thể dục thểthao thường xuyên, số cán bộ hướng dẫn viên, cộng tác viên thể dục thể thao ởcấp xã trong cả nước được bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ về thể dục thể thao đạttrên 90%, Số lượng xã, phường, thị trấn xây dựng được các địa điểm tập luyệnthể dục thể thao đạt trên 80%
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) với nội dung “ Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới ” Báo cáo của Ban chấp hành TW Đảng
Trang 17khóa IX tại Đại hội đã chỉ rõ nhiệm vụ cho Thể thao và các lĩnh vực liên quan là
“xây dựng và thực hiện chương trình nâng cao năng lực thể chất và tầm vóc con người Việt Nam, đặc biệt là thiếu niên, thanh niên” [10] Đặc biệt đối với Thể
dục thể thao và thể thao quần chúng Đảng đã đề ra nhiệm vụ:
Đẩy mạnh các hoạt động thể dục, thể thao cả về quy mô và chất lượng.Khuyến khích và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển
sự nghiệp thể dục, thể thao
Phát triển mạnh thể thao quần chúng, thể thao nghiệp dư, trước hết là trongthanh niên, thiếu niên Làm tốt công tác giáo dục thể chất trong trường học Từng bước chuyển các đơn vị sự nghiệp thể dục, thể thao công lập sang ápdụng chế độ tự chủ tài chính, tiến tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện nhưcác tổ chức cung ứng dịch vụ công cộng khác Khuyến khích các doanh nghiệpngoài công lập đầu tư và kinh doanh cơ sở luyện tập, thi đấu thể thao
Thể thao Việt Nam, đặc biệt là thể thao quần chúng ngày càng cho thấy sựphát triển rõ rệt, tính đến năm 2009 đã có 25% dân số tập luyện thể thao thườngxuyên, 15,8% hộ gia đình đặt tiêu chuẩn gia đình thể thao, với hàng ngàn câu lạc
bộ thể thao lớn, nhỏ khắp cả nước, hầu hết các xã phường đều có câu lạc bộ thểthao, có sân chơi, bãi tập rộng rãi Chương trình phát triển thể dục thể thao xãphường, thị trấn đến năm 2010 theo Quyết định số 100/2005/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ ngày 10/5/2005 đã đóng vai trò tích cực trong việc duy trì vàđẩy mạnh phong trào TDTT quần chúng
Thực hiện đường lối của Đảng ta về phát triển công tác thể dục thể thaotrong thời kỳ đổi mới: “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe,tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi.Tăng cường thể lực của thanh niên Phát triển mạnh thể dục, thể thao, kết hợpthể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại” Ngày 03tháng 12 năm 2010, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 2198/QĐ-TTg vềviệc phê duyệt chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2020
Mở đầu chiến lược cũng đã khẳng định: “Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể
Trang 18chất của nhân dân được coi là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ” và
“Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng ”[20].
Quan điểm của Chiến lược đó là:
Phát triển thể dục, thể thao là yếu tố quan trọng trong chính sách phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người,tăng cường thể lực, tầm vóc, tăng tuổi thọ người Việt Nam và lành mạnh hóa lốisống của thanh thiếu niên Phát triển thể dục, thể thao là trách nhiệm của các cấp
ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và toàn thể nhân dân;ngành thể dục, thể thao giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện các chính sách pháttriển thể dục, thể thao của Đảng và Nhà nước
Phát triển đồng bộ thể dục, thể thao trong trường học, trong lực lượng vũtrang, ở xã, phường, thị trấn cùng với phát triển thể thao thành tích cao, thể thaochuyên nghiệp
Thực hiện xã hội hóa các hoạt động thể dục thể thao, kết hợp việc kinhdoanh thể dục, thể thao với công tác cung ứng dịch vụ công theo quy định củapháp luật Mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về thể dục, thể thao
Với mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển thể thao Việt Nam đếnnăm 2020 nhằm xây dựng và phát triển nền thể dục, thể thao nước nhà để nângcao sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ của ngườiViệt Nam theo tinh thần vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập vàphát triển
Chiến lược cũng đã đề ra từng mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho Thể dụcthể thao Việt nam phát triển đến năm 2020 đó là:
Số người tham gia luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên đến năm 2015đạt tỷ lệ 28% và năm 2020 đạt 33% dân số
Số gia đình luyện tập thể dục thể thao đến năm 2015 đạt 22% và năm
2020 đạt 25% số hộ gia đình trong toàn quốc
Trang 19Số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình giáo dục thể chất nộikhóa đến năm 2015 đạt 100% Số trường học phổ thông có câu lạc bộ thể dục,thể thao, có hệ thống cơ sở vật chất đủ phục vụ cho hoạt động thể dục, thể thao,
có đủ giáo viên và hướng dẫn viên thể dục, thể thao, thực hiện tốt hoạt động thểthao ngoại khóa đến năm 2015 đạt 45% và đến năm 2020 đạt từ 55 – 60% tổng
số trường
Số học sinh được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyệnthân thể đến năm 2015 đạt 75% và đến năm 2020 đạt 85% - 90% tổng số họcsinh phổ thông các cấp
Số cán bộ chiến sỹ kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thể lực theo từng quân,binh chủng đến năm 2015 đạt 82,5%, đến năm 2020 đạt 85,5%
Tiếp tục thực hiện “Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theogương Bác Hồ vĩ đại” gắn với triển khai phong trào xây dựng gia đình văn hóa,làng, bản, tổ dân phố, khu dân cư, cơ quan, đơn vị ở các địa phương, các ban,ngành và đoàn thể
Tuyên truyền phổ biến hướng dẫn mọi đối tượng quần chúng tập luyện,tham dự thi đấu thể dục, thể thao trong các câu lạc bộ từng môn hoặc nhiều mônthể thao được thành lập, hoạt động ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trườnghọc, xã, phường và thị trấn
Củng cố và tăng cường hệ thống thiết chế về quản lý các mô hình thể dục,thể thao quần chúng: câu lạc bộ thể dục, thể thao, mô hình điểm về phát triển thểdục, thể thao quần chúng đối với những vùng có mức độ phát triển kinh tế - xãhội đặc trưng
Duy trì và hoàn thiện hệ thống thi đấu thể thao cho mọi người chu kỳhàng năm, hai năm hoặc bốn năm…;
Tiếp tục hỗ trợ đầu tư và ban hành các chính sách khuyến khích huy độngcác nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển thể dục, thể thao quần chúng
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hướng dẫn viên thể dục,thể thao quần chúng; chú trọng tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn chocộng tác viên thể dục, thể thao cấp xã và thôn, làng, bản
Trang 20Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức,trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền cơ sở và các cán bộ ngành thể dục, thểthao về vai trò của hoạt động thể dục, thể thao, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Xây dựng mô hình điểm về cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động thể dục,thể thao tại các thôn, bản và xã; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực cho phát triểnthể dục, thể thao ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Thực hiện chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2020,ngày 05 tháng 4 năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chỉthị số 48/CT-BVHTTDL về việc tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược pháttriển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2020” Chỉ thị đã nêu rõ: Phát triển thểdục, thể thao quần chúng, phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học,phát triển thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang
Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI (5/2011) diễn ra trong thời điểm có ýnghĩa quan trọng Sự nghiệp đổi mới đất nước đã trải qua 25 năm Báo cáo chính
trị của Ban chấp hành TW Đảng khóa X tại đại hội với nội dung “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” đã tiếp tục khẳng định “Phát triển mạnh phong trào thể dục, thể thao đại chúng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng một số môn thể thao thành tích cao nước ta có ưu thế Kiên quyết khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong thể thao”[23].
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 tại Đại hội cũng đã một
lần nữa chỉ rõ: “Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam Đẩy mạnh phát triển thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao”.
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ của sựnghiệp thể dục, thể thao trong đến năm 2020, Bộ chính trị yêu cầu các cấp uỷĐảng quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp
Trang 21đã được đề ra trong nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 1/12/2011 của Ban chấphành Trung ương Đảng về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước pháttriển mạnh mẽ TDTT đến năm 2020 như sau:
Về quan điểm:
Phát triển thể dục, thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằmgóp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chấtlượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trườngvăn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan
hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng,chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân
Đầu tư cho thể dục thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triểncủa đất nước
Gìn giữ, tôn vinh những giá trị thể dục, thể thao dân tộc, tiếp thu tinh hoavăn hóa của nhân loại, phát triển nền thể dục, thể thao nước ta mang tính dântộc, khoa học, nhân dân và văn minh
Về mục tiêu:
Hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ thể dục, thể thao; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoahọc, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sựnghiệp thể dụcthể thao; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rènluyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp
có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân;trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngang tầm Châu Á vàthế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai tổ chức thành công các
sự kiện thể thao lớn của Châu Á và thế giới
Về nhiệm vụ và giải pháp:
Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học.
Cần quan tâm đầu tư đúng mức thể dục, thể thao trường học, với vị trí là
bộ phận quan trọng của phong trào thể dục, thể thao; là một mặt của giáo dụctoàn diện nhân cách học sinh, sinh viên
Trang 22Xây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thểthao trường học” Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nội khóa;phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mụctiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinhviên, góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao.
Đối với chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thểchất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹnăng sống của học sinh, sinh viên Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũgiáo viên thể dục hiện có; mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sởnghiên cứu khoa học về tâm lý lứa tuổi và thể dục, thể thao trường học
Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục thể thao quần chúng
Duy trì và nâng cao chất lượng phong trào “toàn dân rèn luyện thân thểtheo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tậpluyện thể dục, thể thao, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các hìnhthức tổ chức tập luyện thể dục, thể thao ở cơ sở Gắn việc chỉ đạo phát triểnphong trào thể dục, thể thao với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựngđời sống văn hóa ở cơ sở” với Chương trình xây dựng nông thông mới, xâydựng khu đô thị văn minh; quan tâm phát triển phong trào thể dục, thể thaongười cao tuổi, người khuyết tật và người lao động tại các khu công nghiệp
Bảo tồn, phát triển các môn thể thao dân tộc và phát huy bản sắc văn hóadân tộc trong các hoạt động thể dục, thể thao Có các giải pháp để phát huy tínhtích cực, tính văn hóa, văn minh trong thể dục, thể thao
Có quy hoạch dành đất cho thể dục, thể thao ở các trường học, xã,phường, thị trấn, khu công nghiệp, chú trọng tới xây dựng cơ sở vật chất thểdục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân; quan tâm tới xây dựng cáckhu vui chơi giải trí trong lĩnh vực văn hóa, thể dục, thể thao
Trang 23Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền
Các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính
trị-xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác thể dục,thể thao, trên cơ sở đó có chủ trương phù hợp để lãnh đạo, chỉ đạo công tácthể dục, thể thao ở từng địa phương, cơ sở Quan tâm chỉ đạo công tác tuyêntruyền đúng mức, giáo dục, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của các cấp,các ngành và toàn xã hội đối với công tác thể dục, thể thao
Các cấp ủy đảng, chính quyền cần đặc biệt chăm lo xây dựng tổ chức và
bố trí cán bộ có phẩm chất và năng lực để lãnh đạo, quản lý công tác thểdục,thể thao; thường xuyên kiểm tra việc triển khai thực hiện “Chiến lược phát triểnthể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020”, xây dựng và thực hiện quy hoạchphát triển thể dục, thể thao; quy hoạch đất và huy động nguồn lực để xây dựngcác cơ sở tập luyện thể dục, thể thao ở xã, phường, thị trấn gắn với trường học;
hỗ trợ phát triển thể dục thể thao ở các địa phương có điều kiện kinh tế, xã hộikhó khăn
1.2 Tổng quan về huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
1.2.1 Các yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Huyện Lệ Thủy là một huyện trực thuộc tỉnh Quảng Bình có vị trí địa lýtừ: 16055’ đến 17022’ vĩ độ Bắc, và từ 106025’ đến 106059’ độ kinh Đông; córanh giới:
- Phía Bắc giáp huyện Quảng Ninh
- Phía Nam giáp huyện Vĩnh Linh (tỉnh Quảng Trị)
- Phía Đông giáp biển Đông
- Phía Tây giáp tỉnh Savanakhẹt của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Huyện Lệ Thủy là một đoạn “khúc ruột” miền Trung, có các đường giaothông nối với 2 đầu đất nước như đường Quốc Lộ 1A, đường Hồ Chí Minh(nhánh Đông và Tây), đường sắt Bắc Nam nên có điều kiện thuận lợi cho việc
Trang 24mở rộng liên kết, giao thương và hợp tác phát triển với các địa phương trongtỉnh, vùng Duyên hải miền Trung và với cả nước… Lệ Thủy nằm trong vùngtác động của các Khu kinh tế đang trong quá trình phát triển sôi động ở miềnTrung như KKT Đông Nam Quảng Trị, KKTCK Lao Bảo (Quảng Trị), KKTCKCha Lo, KKT Hòn La (Quảng Bình), KKT Vũng Áng (Hà Tỉnh)
Huyện Lệ Thủy có địa hình phía Tây là núi cao lại rất hiểm trở, giáp vớinước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào với chiều dài đường biên giới 27km, vềphía Đông huyện là biển Đông
Huyện Lệ Thủy nằm không xa các trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trịlớn nhất của các tỉnh là thành phố Đồng Hới và Đông Hà, Huế; có đường bờbiển dài (hơn 30km) với nhiều tiềm năng cho phát triển du lịch biển cũng nhưphát triển thủy sản; là điều kiện thuận lợi để huyện phát huy các thế mạnh, khaithác hiệu quả tiềm năng sẵn có, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân
Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Huyện Lệ Thủy nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn, có địa hình phíaTây là núi cao và thấp dần từ Tây sang Đông; có 4 dạng địa hình chính, gồm:vùng núi cao, vùng đồi trung du, vùng đồng bằng và vùng cồn cát ven biển
Vùng núi: Địa hình vùng núi có đặc điểm là núi có độ cao trung bình từ
600-800m, một số đỉnh có độ cao trên 1000m, vùng núi có tổng diện tích trên74.000 ha, chiếm trên 50% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Do địa hình núicao nằm gần biển, độ chênh cao lớn, độ chia cắt sâu mạnh, nên địa hình có độdốc lớn Do hoạt động tạo sơn trong thời kỳ kỷ Đề vôn-Pécmi nên trầm tích biển
đã tạo nên nhiều khối núi sa phiến thạch, đá vôi gần Biên giới Việt Lào, thuộccác xã Lâm Thuỷ, Ngân Thuỷ, Kim Thuỷ Vùng núi còn nhiều tiềm năng lớn vềrừng tự nhiên có nhiều loài gỗ quý và sự đa dạng sinh học Trong vùng núi cónhiều thung lũng đất đai khá màu mỡ có điều kiện phát triển chăn nuôi gia súc,trồng cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày
Trang 25Vùng gò đồi (trung du): Đây là vùng chuyển tiếp từ khu vực núi cao ở
phía Tây với vùng đồng bằng phía Đông, gồm các dãy đồi có độ cao trung bình
từ 30-100m nằm dọc 2 bên đường Hồ Chí Minh Đông kéo dài từ Bắc xuốngNam huyện, thuộc thị trấn Lệ Ninh, các xã Hoa Thuỷ, Sơn Thuỷ, Phú Thuỷ, MaiThuỷ, Dương Thủy, Thái Thủy, Sen Thuỷ Diện tích đất đồi chiếm khoảng21,5% diện tích đất tự nhiên Càng về phía nam, vùng đồi càng được mở rộng.Địa hình vùng gò đồi thường có dạng úp bát, sườn thoải, nhiều cây bụi, độ dốcbình quân từ 10 – 20 độ, đất đai phần lớn bị xói mòn, bạc màu Đây là vùng cónhiều tiềm năng cho phát triển các loại cây lâm nghiệp, công nghiệp dài và ngắnngày và chăn nuôi gia súc với quy mô tương đối lớn
Vùng đồng bằng: Nằm kẹp giữa vùng đồi và dãy cồn cát ven biển là vùngđồng bằng Đây là vùng địa hình thấp, bằng phẳng, chiều rộng (Đông-Tây) bìnhquân 5-7km, diện tích khoảng 20.500 ha, độ cao từ (- 1,00) - (+2,50m) Giữavùng đồng bằng có sông Kiến Giang và các phụ lưu gồm: Rào Sen, Rào An Mã,Rào Ngò, Mỹ Đức, Phú Kỳ, Thạch Bàn (Phú Thuỷ) Vùng đồng bằng có độcao không lớn, phổ biến từ -0,5- 2,5m nên hàng năm thường bị ngập lụt từ 2,0-3,0m và được phù sa bồi đắp nên đất đai khá màu mở Vùng đồng bằng có nhiềunơi thấp hơn mực nước biển nên chịu ảnh hưởng của thuỷ triều vì vậy hay bịnhiễm mặn, chua phèn
Vùng đồng bằng là nơi tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm chínhcủa huyện với các loại cây chủ yếu như lúa, khoai lang, lạc, rau củ quả, nuôithủy sản, chăn nuôi lợn, gia cầm Nếu được đầu tư thâm canh theo hướng côngnghiệp hóa, vùng này có khả năng phát triển nông nghiệp hàng hóa phục vụ chothị trường trong và ngoài tỉnh
Vùng cát ven biển: Vùng cát ven biển chủ yếu gồm các cồn cát, đụn cát,đồi cát cao 10-30 m Diện tích vùng cát chiếm khoảng 11,46% diện tích đất tựnhiên toàn huyện Thành phần của đất chủ yếu là cát hạt mịn, lượng SiO2 chiếm97-99%, độ liên kết kém nên dễ bị di động do gió, dòng chảy Vùng cát ven biển
có nước ngầm khá phong phú, ngoài ra có một số bàu, đầm nước ngọt như Bàu
Trang 26Sen, Bàu Dum… là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và đời sống của nhândân trong vùng Vùng cát ven biển có tiềm năng về phát triển nghề biển, chănnuôi gia súc và đặc biệt là phát triển nuôi trồng thủy sản theo phương thức côngnghiệp và du lịch biển.
Khí hậu, thủy văn: Huyện Lệ Thủy mang đặc trưng chế độ khí hậu Nhiệt
đới gió mùa, trung bình một năm có 1.750 - 1.900 giờ nắng; Một năm được chialàm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa bắt đầu vào giữa tháng 9 vàkết thúc vào tháng 2 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là: 24,60C, tháng giêng
có nhiệt độ thấp nhất là 16,90C, tháng cao nhất (tháng 6) là 34,30C Lượng mưahàng năm dao động trong khoảng 1.448mm - 3.000mm, lượng mưa cả năm caonhưng phân bổ vào các tháng không đều, mưa lớn tập trung vào các tháng 9, 10,
11 riêng lượng mưa tháng 10, 11 chiếm hơn 75% lượng mưa cả năm (từ 1.455 mm) Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 có nền nhiệt độ cao Trong mùa khôthường có gió mùa Tây Nam sau khi đi qua lục địa Thái- Lào và dãy TrườngSơn bị mất độ ẩm nên gây ra khô nóng gay gắt
Khác với nhiều con sông khác ở miền Trung, sông Kiến Giang bắt nguồn
từ dãy Trường Sơn chảy về biển, nhưng khi đến vùng đồng bằng bị dãy cát venbiển chặn lại nên chảy về phía Bắc, gặp sông Đại Giang tại xã Hiền Ninh huyệnQuảng Ninh thành sông Nhật Lệ và đổ ra biển tại cửa Nhật Lệ, thành phố ĐồngHới Nhờ sông Kiến Giang uốn lợn quanh co nên nhận thêm các phụ lưu chínhnhư: Rào Con, Rào Ngò, Rào Sen, Rào Phú Hoà, Phú Kỳ, Mỹ Đức nên tạo ravùng đồng bằng 2 huyện Quảng Ninh - Lệ Thủy rộng lớn, màu mỡ cùng nhiềuđầm phá nước lợ với sự đa dạng sinh học cao Sông suối ở Lệ Thuỷ có đặc điểm
là chiều dài ngắn, dốc nên tốc độ dòng chảy lớn Sự phân bố dòng chảy ở LệThuỷ theo mùa rõ rệt Mùa mưa thường gây lũ lụt Mùa khô ít mưa, vùng đấtthấp ở hạ lưu sông Kiến Giang nhiễm mặn, phèn ảnh hưởng xấu đến sản xuấtnông nghiệp
Về thiên tai: Nhiều năm về mùa mưa thường có lũ lụt trên diện rộng vàbão lốc; mùa khô nắng gắt có gió Tây Nam khô nóng lượng nước bốc hơi lớnđạt 200mm/tháng, độ ẩm không khí thấp, gây hạn hán nghiêm trọng Đây là
Trang 27những yếu tố gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp và thủy sản, làm ảnhhưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 141.611,41 ha chiếm 17,56% diệntích toàn tỉnh Đất nông nghiệp chiếm 89,97% tổng diện tích tự nhiên(127.412,66 ha), trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 17,19%, đất lâmnghiệp chiếm 82,7%
Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm 6,90% tổng diện tích tự nhiên(9.764,97 ha), trong đó đất phát triển hạ tầng hiện nay chiếm 37,17%, đất sôngsuối và mặt nước chuyên dùng chiếm 32,89% tổng diện tích đất phinông nghiệp
Diện tích đất chưa sử dụng còn không nhiều, khoảng 3,13% tổng diện tích
tự nhiên của huyện, trong đó đất bằng chưa sử dụng là 1.579,54 ha, phân bố chủyếu ở các xã vùng giữa và ven biển Đất đồi núi chưa sử dụng có 2.074,11 ha,phân bố ở các xã vùng gò đồi và vùng núi Núi đá không có rừng cây có 780,13
ha phân bố tập trung ở xã Sơn Thủy
Tài nguyên nước
Nhờ nằm trong vùng có lượng mưa lớn và hệ thống sông ngòi, ao hồ, đầmphá phân bố khá đều trong huyện nên trên địa bàn huyện có lượng nước mặt vànước ngầm khá phong phú Mùa mưa lượng nước rất lớn thường gây lũ lụt ởvùng đồng bằng, vùng trũng, tuy nhiên lưu lượng trong mùa kiệt thường ở mứcthấp, nước mặn xâm nhập ở phía bắc huyện (phía Hạc Hải) Sông Kiến Giang làsông chính có các phụ lưu như: Rào Con, Rào Ngò, Rào Sen, Phú Hoà, Phú Kỳ,
Mỹ Đức vừa là nguồn dự trữ nước vừa làm kênh dẫn đảm bảo tưới tiêu chohơn 13.000 ha vùng đồng bằng của huyện
Toàn huyện hiện có 25 hồ chứa nước nhân tạo lớn nhỏ với dung tích 235triệu m3 nước và gần 7,8 km2 sông ngòi và đầm phá tự nhiên, nguồn nước ngầmtrong cát vùng ven biển có thể phục vụ tưới từ 550 - 600 ha lúa và cấp nước chohàng trăm ha nuôi thủy sản mặn lợ
Trang 28Tài nguyên biển và đầm phá:
Huyện Lệ Thuỷ có đường bờ biển với chiều dài hơn 30 km và vùng biểnrộng lớn là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế ven biển
Vùng biển huyện Lệ Thủy có trữ lượng hải sản tương đối lớn và phongphú về loài (hầu hết các loại có ở Việt Nam) có giá trị kinh tế cao trong xuấtkhẩu và tiêu dùng như: tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang, cá thu được thịtrường quốc tế ưa chuộng
Vùng đất cát ven biển của huyện với diện tích tự nhiên khoảng 10,9 nghìn
ha, nơi rộng nhất 7 km, có độ cao trung bình 10- 20m Cát trong khu vực này cókhả năng dùng làm nguyên liệu thuỷ tinh và làm gạch silicat, đồng thời đây làvùng có điều kiện mở rộng diện tích rừng phòng hộ, phát triển du lịch biển vớibãi tắm sạch đẹp ở Ngư Thủy Bắc
Diện tích đầm phá nuôi trồng thuỷ sản và có khả năng nuôi trồng thuỷ sảnkhoảng 1.300 ha, trong đó có Bàu Dum, Bàu Sen xã Sen Thuỷ, phá Hạc Hải Tạicác đầm phá còn có nhiều loài tôm cá có trữ lượng lớn và điều kiện phát triểnngành nuôi trồng thuỷ sản
Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện đến năm 2010 là 105.389,14 ha,trong đó diện tích rừng sản xuất của huyện là 68.785,93 ha, chiếm 67,9% tổngdiện tích rừng Rừng phòng hộ có 36.603,21ha, bằng 32,1% tổng diện tích rừngcủa huyện Độ che phủ đạt 68% Rừng tự nhiên có nhiều loại gỗ quý như: lim,táu, sến, gụ, huỳnh, trầm hương, Đặc sản dưới tán rừng khá đa dạng, phongphú và có giá trị kinh tế cao như: song mây, lá nón và các loại dược liệu quý,chim thú ở trong rừng khá phong phú như công, trĩ, gà lôi, nai, sơn dương, khỉ,vượn, báo, sóc Trong những năm qua do tình trạng khai thác rừng vẫn cònmột số bất hợp lý dẫn tới diện tích rừng có dấu hiệu suy giảm, tỷ lệ rừng nghèo
có xu hướng tăng nhanh, đặc sản rừng không còn phong phú như trước kia
Trang 29Tài nguyên khoáng sản.
Theo các tài liệu điều tra hiện có, trên địa bàn huyện Lệ Thủy tập trungmột số loại khoáng sản có thể khai thác phục vụ phát triển kinh tế như vàng, bạc
và đặc biệt là Titan(Inmenit) phân bố ven ở các xã ven biển của huyện có hàmlượng quặng trong cát trung bình 90,43 kg Inmenít/m3, 12,06 zircon/m3 khaithác hàng năm với trữ lượng lớn, giải quyết một phần việc làm cho nhân dân ở
đó Ngoài ra, huyện Lệ Thủy nổi tiếng có nguồn nước khoáng nóng Bang, đượckhai thác để sản xuất nước khoáng đóng chai Nguồn nước khoáng Bang đượcphân bố thành vùng nhỏ với 30 điểm phun, nhiệt độ sôi tại lỗ phun trên 1050C,
có áp lực và lưu lượng khá lớn (3,54 lít/giây), chất lượng nước khá tốt Ngành y
tế xác nhận nguồn nước khoáng này không chỉ có giá trị về sản xuất nước giảikhát mà còn có tác dụng chữa bệnh Do nguồn nước khoáng có nhiệt độ cao vànằm khá sâu nên các nhà khoa học dự đoán ở đây có thể xây dựng nhà máy điệnđịa nhiệt công suất 30-40MW mà không ảnh hưởng đến chất lượng, trử lượng
mỏ nước khoáng cũng như môi trường
Tài nguyên du lịch
Lệ Thủy nổi tiếng về làng quê “gạo trắng nước trong” có bờ biển dài,nhiều bãi cát rộng, thoải, sạch, được bao bọc bởi hệ thống rừng phòng hộ venbiển đẹp và mát, đồng thời với tổng lượng bức xạ lớn (khoảng 1750 – 1900 giờnắng trong năm) là điều kiện thuận lợi cho nghỉ dưỡng và du lịch biển Bên cạnh
đó hệ thống các đầm phá như Bàu Dum, Bàu Sen (Sen Thủy), phá Hạc Hải, Hồ
An Mã vừa có thể khai thác để nuôi trồng thủy sản vừa có thể kết hợp phát triển
du lịch sinh thái
Suối nước nóng Bang là một tiềm năng lớn đang được Tập đoàn ĐôngDương đầu tư xây dựng thành một điểm du lịch sinh thái- nghỉ dưỡng- chữabệnh có giá trị không chỉ của địa phương mà của cả tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ
Lệ Thủy còn có nhiều di tích lịch sử và nhân vật lịch sử khá nổi tiếng nhưthành nhà Ngo Liên Thủy, chùa Hoàng Phúc Mỹ Thủy, nhà thờ danh tướngHoàng Hối Khanh, lăng mộ Lễ thành hầu Thượng đẳng công thần và khai quốccông thần Nguyễn Hữu Cảnh, nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Trang 301.2.2 Đặc điểm về Kinh tế - Xã hội
Cơ cấu kinh tế trong năm 2013 các ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm38%, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 25,5%, các ngành dịch
vụ chiếm 36,5% Kinh tế huyện Lệ Thủy phát triển với thế mạnh là Nôngnghiệp, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu Nông – lâm – ngư nghiệp, chiếm80% giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Lệ Thủy tăng mạnh hàngnăm Năm 2013 là 80.043 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2012 Thu nhập bìnhquân đầu người trong năm 2013 ước tính đạt 21 triệu/người, tăng 1,3% so vớinăm 2012
1.2.2.2 Các yếu tố xã hội
Dân cư và dân số
Theo số liệu thống kê dân số trung bình của huyện Lệ Thuỷ đến năm 2013
có 141.787 người; trong đó có 70.757 người nam và 71.030 người nữ; và có11.379 người ở thành thị, 130.408 người sống ở nông thôn chiếm 91,97% dân số
toàn huyện Mật độ dân cư trung bình là 99,67 người/km2[9]
Nhìn chung vấn đề gia tăng dân số của huyện trong giai đoạn vừa qua đãgiảm dần Tỷ lệ tăng dân số năm 2010 là 10,25%, năm 2012 là 10.00% và năm
2013 là 9,95%
Đại bộ phận dân cư huyện Lệ Thuỷ là người Kinh phân bố trên hầu khắpcác địa bàn của huyện từ đồng bằng ven sông, ven biển đến gò đồi trung du, từthị trấn, thị tứ đến các vùng nông thôn Phía Tây huyện có đồng bào dân tộc VânKiều ở 3 xã vùng cao Kim Thủy, Ngân Thủy và Lâm Thủy, mật độ dân cư thưathớt, trình độ dân trí và phương thức canh tác còn lạc hậu, kém hiểu biết về kinh
tế thị trường
Trang 31Nguồn nhân lực lao động
Dân số trong độ tuổi lao động trong năm 2013 là 82.952 người, chiếm58,50% tổng dân số Cơ cấu lao động chính của huyện Lệ Thủy là nông lâm ngưnghiệp Năng xuất lao động trong các nghành nông – lâm – ngư nghiệp hàngnăm đều tăng ở mức cao
Huyện Lệ Thủy có nguồn lao động dồi dào, đáp ứng nhu cầu phát triểncủa các ngành kinh tế Trong năm 2013 lực lượng lao động có trình độ chuyênmôn kỹ thuật ngày càng tăng, chiếm 35% tổng lao động, lực lượng lao động đãđược đào tạo có bằng cấp chiếm 24% tổng lao động được đào tạo Sự phát triểnvượt bậc về số lượng lao động có kỹ thuật và được đào tạo ở huyện Lệ Thủyđáng khen ngợi Song, tỷ lệ lao động có kỹ thuật còn thấp, sự chênh lệch vềtrình độ giữa các đối tượng lao động còn cao, mất cân đối, không phù hợp với sựphát triển kinh tế của huyện
Giáo dục - đào tạo
Sự nghiệp giáo dục – đào tạo của huyện Lệ Thủy trong những năm quaphát triển toàn diện và khá ổn định Chất lượng giáo dục luôn được coi trọng,các điều kiện phục vụ cho giảng dạy được quan tâm, từng bước đầu tư xây dựngtheo hướng chuẩn quốc gia Đến nay, trên địa bàn huyện có 04 trường THPT, 01trường THCS &THPT, 01 trường trung học phổ thông kĩ thuật, 01 Trung tâmGDTX, 24 trường THCS, 32 trường TH (trong đó có 01 trung tâm giáo dục trẻkhuyết tật), 05 trường TH&THCS và 30 trường mầm non Hệ thống trường lớpcác cấp được phân bố khá hợp lý ở các vùng trên địa bàn huyện, cơ bản đáp ứngnhu cầu học tập, đào tạo và rèn luyện của con em trong huyện, nhất là bậc họcmầm non, tiểu học, THCS và THPT; Trung tâm GDTX, Trường trung học phổthông kĩ thuật đã góp phần việc nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn.
Trong những năm qua ngành giáo dục của huyện đã tích cực chỉ đạo côngtác phổ cập giáo dục các cấp học Năm học 2013- 2014 đã hoàn thành xong phổcập tiểu học và THCS Đạt 100% các em trong độ tuổi đến trường
Trang 32Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên rõ rệt; tỷ lệ huy động họcsinh vào các cấp học được đảm bảo Học sinh tốt nghiệp các cấp học, học sinhgiỏi, học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệpnăm sau cao hơn năm trước
Tỷ lệ học sinh giỏi và học sinh năng khiếu luôn ở mức cao Trong nhiềunăm liền, đội tuyển học sinh giỏi huyện Lệ Thủy luôn đứng ở vị thứ cao trongcác cuộc thi học sinh giỏi Tỉnh Quảng Bình trong tất cả các bậc học
Mạng lưới trường lớp được cải tạo và xây dựng mới Trang thiết bị dạy vàhọc, thư viện được đầu tư mới Đến nay có 97 trường học nối mạng internet,61/61 thư viện trường tiểu học và THCS đạt chuẩn (trong đó thư viện tiên tiến30/61, thư viện xuất sắc 13/61); 51 trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó MN 9trường, TH 28 trường, THCS 12 trường, THPT 2 trường)
Giáo dục huyện Lệ Thủy đã tích cực tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ, phát huynội lực đẩy mạnh xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia; tăng cường cơ sở vậtchất phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên, học sinh Đến cuối năm 2013,toàn huyện có 59 trường học đạt chuẩn Quốc gia, chiếm 60,2%, tăng 4 trường sovới năm 2012
Về y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, y tế dự phòng cáccấp chính quyền đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị, bổ sung cán bộchuyên môn cho các bệnh viện huyện, trung tâm y tế dự phòng và hệ thống y tếphường xã nên đã đạt được nhiều thành tựu tích cực
Nhờ cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được quan tâm đầu tư nâng cấp; độingũ cán bộ y tế được tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng nên chấtlượng khám, chữa bệnh được nâng lên, đảm bảo chăm sóc và bảo vệ sức khoẻcho nhân dân Công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng
Đến năm 2013, toàn huyện có 43 cơ sở y tế, trong đó gồm bệnh viện trungtâm, trung tâm y tế dự phòng, 28 cơ sở y tế xã và phòng khám tư nhân phân bốkhá hợp lý trên địa bàn Tổng số xã, thị trấn có trạm y tế là 28/28 đạt 100% số
xã có trạm y tế Tổng số giường bệnh là 338 giường, tổng số cán bộ y tế 472người, trong đó ngành y có 440 người
Trang 33Dịch vụ khám chữa bệnh được mở rộng, quan tâm đối tượng chính sách,người nghèo, bà mẹ và trẻ em Các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng, vệsinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường thực hiện có hiệu quả Bệnh viện đakhoa và trạm y tế xã, thị trấn từng bước được nâng cấp, đầu tư trang thiết bị,mạng lưới y tế thôn, bản được củng cố, toàn huyện có 85% xã, thị trấn đạt chuẩnQuốc gia về y tế; 28/28 trạm y tế có bác sỹ, tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ đạt 100%
Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của ngành y tế còn hạn chế, khoảng cách vàmức độ hưởng thụ các dịch vụ y tế còn chênh lệch; mặc dù các chỉ tiêu công táckhám chữa bệnh đều đạt và vượt cao so với kế hoạch đề ra song ngành đangthiếu nhiều trang thiết bị và nhân lực, đặc biệt là đội ngũ bác sĩ chuyên khoa sâu,chủ yếu là chữa bệnh thông thường, hiệu quả công tác truyền thông giáo dục sứckhoẻ, y tế công cộng (xét nghiệm, y tế trường học, đặc biệt là chăm sóc răngmiệng, an toàn lao động, vệ sinh lao động ) còn thấp
Các chính sách xã hội
Đã chú trọng thực hiện các chính sách xã hội về lao động, việc làm, đảmbảo an sinh xã hội, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 4.100 laođộng, trong đó xuất khẩu lao động 773 người Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ34,16% năm 2005 xuống còn 10% năm 2012 (theo chuẩn mới còn 20,11%) Đờisống của nhân dân ngày càng được nâng cao, GDP bình quân đầu người năm
2010 ước đạt 14,5 triệu đồng/năm, đến năm 2013 đạt 21 triệu/người Tỷ lệ hộdùng điện trên toàn huyện đạt 99,65%, hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt trên 67%
Chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, phong tràođền ơn đáp nghĩa và các hoạt động từ thiện nhân đạo được các cấp, các ngànhquan tâm thực hiện Công tác bảo hiểm xã hội và các hoạt động bảo hiểm khácđều đạt kết quả cao Trong năm 2013 kịp thời cấp phát 46.803 thẻ BHYT chongười có công, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi, hộ nghèo Tập trungchỉ đạo đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nhất là đốivới các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao so với bình quân toàn huyện; trong năm đã đàotạo nghề cho 325 học viên, giải quyết việc làm cho hơn 4.200 lao động Tỷ lệlao động qua đào tạo 50,47% (trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghềđạt 27,5%)
Trang 341.2.3 Phong trào TDTT quần chúng ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Huyện Lệ Thủy là một trong những huyện đi đầu trong việc phát triểnphong trào TDTT của tỉnh Quảng Bình Trong những năm qua, các cấp ỦyĐảng cũng như lãnh đạo huyện luôn luôn quan tâm và theo sát với sự phát triểnphong trào TDTT của huyện nhà, coi trọng công tác tuyên truyền, xây dựngphong trào tự giác rèn luyện TDTT trong quần chúng nhân dân
Quán triệt học tập theo Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 23 tháng 10 năm 2002của Ban Bí thư TW Đảng khóa IX về việc phát triển TDTT đến năm 2010 Cán
bộ, nhân dân huyện Lệ Thủy đã thấy rõ sự quan trọng của TDTT trong chínhsách phát triển KT- XH, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Công tácTDTT góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lốisống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần, có tác dụng nângcao năng suất lao động, công tác xã hội và chiến đấu của lực lượng vũ trang
Phong trào TDTT quần chúng đã được xã hội hóa một cách rộng rãi theotinh thần Chỉ thị 17-CT/TW Cuộc vận động “toàn dân rèn luyện thân thể theogương Bác Hồ vĩ đại” được triển khai và tích cực hưởng ứng Hàng năm, các cơquan, trường học, xã, thị trận trong huyện đã tổ chức nhiều cuộc thi đấu thu hútnhiều VĐV và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia
Năm 2003 toàn huyện Lệ Thủy có 33.308 người tập luyện thể thao thườngxuyên chiếm 23%, có 4.026 hộ gia đình đạt Gia đình Thể thao chiếm 12% Năm
2005 có 35.000 người tập luyện thể thao thường xuyên chiếm 24.4%, có 5.500
hộ gia đình thể thao chiếm 18%
Phong trào TDTT quần chúng của huyện Lệ Thủy tiếp tục phát triển sâurộng, nhiều môn thể thao được mọi người thường xuyên tập luyện như: Bóngchuyền, cầu lông, bóng bàn, bóng đá, cờ tướng, bơi lội Các câu lạc bộ thểthao luôn ở trong tình trạng hoạt động tốt và đa dạng Năm 2003 có 40 CLB thểthao với các môn Bơi lội, cờ tướng, võ, bóng bàn, thể dục dưỡng sinh, đến năm
2009 đã có 51 CLB thể thao với các môn bơi lội, bóng chuyền, cờ vua, cờ
Trang 35tướng, võ thuật các môn phái, cầu lông, bóng bàn, thể dục dưỡng sinh đâycũng là những môn có thế mạnh của huyện Lệ Thủy, hàng năm cung cấp nhiềuVĐV cho các cuộc thi đấu thành tích cao.
Phong trào TDTT được xã hội hóa một cách rộng rãi theo tinh thần củaQuyết định số 100/2005/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt chương trình phát triểnThể dục thể thao ở xã, phường, thị trấn đến năm 2010” ban hành ngày 10 tháng
5 năm 2005 Hằng năm huyện đã xây dựng kế hoạch phát triển TDTT sát đúngvới tình hình địa phương làm cho phong trào TDTT từng bước phát triển cảchiều rộng lẫn chiều sâu Đến năm 2009 toàn huyện có 38.992/140.527 ngườitập luyện thể thao thường xuyên chiếm 27%; có 9.682 Gia đình Thể thao/34.242
hộ chiếm 28%, có 156 sân bãi TDTT với diện tích 565.220 m2, có 21 đội bóngchuyền nam, 24 đội bóng chuyền nữ, 39 đội bóng đá ở xã, thôn; có 51 CLBTDTT đang hoạt động; tổ chức 147 cuộc thi đấu thể thao cơ sở
Thực hiện Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 26/4/2012 củaBan Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình về thực hiện Nghị quyết số08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020”, lãnhđạo huyện Lệ Thủy đã ban hành Kế hoạch số 669/KH-UBND ngày 20/6/2012
về việc thực hiện chương trình số 12-CTr/TU của Ban thường vụ tỉnh QuảngBình Với sự quan tâm, của các cấp Ủy Đảng và chính quyền địa phương, nhândân, cán bộ trong huyện Lệ Thủy đã nêu cao truyền thống cách mạng, văn hoá,phát huy nội lực TDTT của quê hương, đã vượt qua thử thách, khó khăn đạtđược những kết quả quan trọng trong thực hiện sự nghiệp phát triển TDTT, nhất
là các môn thể thao: Bơi lội, việt dã, bóng chuyền, cờ tướng…làm cho đời sốngtinh thần của nhân dân đã có nhiều tiến bộ, bộ mặt quê hương được khởi sắc
Công tác xã hội hoá TDTT được nhân dân ủng hộ, đã có hàng trăm giađình đóng góp tiền để thôn, xóm xây dựng các công trình thể dục thể thao Đãtiếp tục khai thác nguồn lực để phát triển TDTT theo phương thức nhà nước vànhân dân cùng làm, nhất là kinh phí cho các cuộc thi đấu thể thao ở huyện Tính