MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp. Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại hạnh phúc và nhiều lợi ích nhất cho nhân dân, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình nắm giữ, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thường tiềm ẩn rất nhiều những nguy cơ khác nhau như tham nhũng, lãng phí, lạm quyền có thể dẫn tới tác động tiêu cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Và không chỉ dừng lại ở nguy cơ tiềm ẩn mà nhiều nguy cơ trong quá trình cầm quyền đã phát sinh thành những tai họa, tệ nạn tiêu cực trên thực tế làm ảnh hưởng rất lớn tới uy tín, danh dự của cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nước, làm giảm hiệu quả của bộ máy nhà nước, gây hậu quả xấu đến công cuộc quản lý và xây dựng đất nước, lợi ích và đời sống nhân dân. Vì vậy, vấn đề kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ cấp bách trong quản lý nhà nước ở các nước nói chung cũng như ở nước CHDCND Lào nói riêng. Trong bối cảnh nước CHDCND Lào đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân thì nghiên cứu cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của một số nhà nước dân chủ, pháp quyền trên thế giới nói chung đặc biệt là từ nước Anh nói riêng là hết sức quan trọng để từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho nước CHDCND Lào là việc làm quan trọng và cần thiết, nhằm đẩy nhanh tiến độ hội nhập sâu rộng quốc tế và phát triển của đất nước. Nước Anh được coi là nước có nền dân chủ ổn định lâu đời, là cái nôi của mô hình chính thể Nghị viện và các định chế chính trị hiện đại. Khác với các nước khác, sự hình thành và phát triển của các thể chế chính trị ở Anh là kết quả của quá trình tích tụ, đào luyện của chính sự phát triển nội tại của đất nước, thông qua sự phát triển và giải quyết mâu thuẫn, xung đột lợi ích của nhiều tầng lớp, giai cấp trong xã hội. Chính sự phát triển nội tại này hứa hẹn mang lại nhiều giá trị, kinh nghiệm cho việc xây dựng và phát triển thể chế chính trị của các nước đang phát triển. Đặc biệt là kinh nghiệm về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước đảm bảo hiệu lực, hiệu quả và tự do của công dân. Xuất phát từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn do vậy em đã lựa chọn đề tài: “Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước Anh hiện nay Thực trạng và bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực ở nước CHDCND Lào” để làm đề tài tiểu luận kết thúc môn Quyền lực chính trị với mong muốn hiểu rõ hơn được những vấn đề về kiểm soát quyền lực.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phứctạp Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ làđiều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại hạnh phúc vànhiều lợi ích nhất cho nhân dân, đất nước Tuy nhiên, trong quá trình nắmgiữ, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thường tiềm ẩn rất nhiều nhữngnguy cơ khác nhau như tham nhũng, lãng phí, lạm quyền có thể dẫn tới tácđộng tiêu cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Và không chỉdừng lại ở nguy cơ tiềm ẩn mà nhiều nguy cơ trong quá trình cầm quyền đãphát sinh thành những tai họa, tệ nạn tiêu cực trên thực tế làm ảnh hưởng rấtlớn tới uy tín, danh dự của cán bộ, công chức, các cơ quan nhà nước, làmgiảm hiệu quả của bộ máy nhà nước, gây hậu quả xấu đến công cuộc quản lý
và xây dựng đất nước, lợi ích và đời sống nhân dân Vì vậy, vấn đề kiểm soát
và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ cấp bách trong quản
lý nhà nước ở các nước nói chung cũng như ở nước CHDCND Lào nói riêng
Trong bối cảnh nước CHDCND Lào đang đẩy mạnh toàn diện côngcuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dânthì nghiên cứu cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của một số nhànước dân chủ, pháp quyền trên thế giới nói chung đặc biệt là từ nước Anh nóiriêng là hết sức quan trọng để từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho nướcCHDCND Lào là việc làm quan trọng và cần thiết, nhằm đẩy nhanh tiến độhội nhập sâu rộng quốc tế và phát triển của đất nước
Nước Anh được coi là nước có nền dân chủ ổn định lâu đời, là cái nôicủa mô hình chính thể Nghị viện và các định chế chính trị hiện đại Khác vớicác nước khác, sự hình thành và phát triển của các thể chế chính trị ở Anh là
Trang 2kết quả của quá trình tích tụ, đào luyện của chính sự phát triển nội tại của đấtnước, thông qua sự phát triển và giải quyết mâu thuẫn, xung đột lợi ích củanhiều tầng lớp, giai cấp trong xã hội Chính sự phát triển nội tại này hứahẹn mang lại nhiều giá trị, kinh nghiệm cho việc xây dựng và phát triển thểchế chính trị của các nước đang phát triển Đặc biệt là kinh nghiệm về tổchức và kiểm soát quyền lực nhà nước đảm bảo hiệu lực, hiệu quả và tự docủa công dân.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn do vậy em đã lựa
chọn đề tài: “Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước Anh hiện nay Thực trạng và bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực ở nước CHDCND Lào” để làm đề tài tiểu luận kết thúc môn
-Quyền lực chính trị với mong muốn hiểu rõ hơn được những vấn đề về kiểmsoát quyền lực
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất, Các công trình nghiên cứu về quyền lực
“Về kiểm soát quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước
ở Việt Nam hiện nay” (2006), Vũ Thư, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số12,
Hà Nội: Tác giả đã phân tích rất rõ lý do, yêu cầu cũng như cơ chế trong việckiểm soát quyền lực của nhánh hành pháp trong giai đoạn hiện nay của ViệtNam cũng như đưa ra một số giải pháp cho vấn đề này
“Một số vấn đề về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước” (2009),
PGS.TS Nguyễn Minh Đoan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: Qua cuốn sáchtác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận về quyền lực nhà nước, cũng như phântích các vấn đề trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở nước tatrong giai đoạn hiện nay
Thứ hai, Các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước
“Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong Nhà nước pháp quyền: một số vấn đề lý luận cơ bản” (2010), Lê Văn Cảm và
Trang 3Dương Bá Thanh, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 1: Tác giả đã đưa ra nhữngkhái quát chung cũng như những vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trongthực tiễn trong các nước tư bản để từ đó đưa ra được những giá trị tham khảo.
“Nội hàm và thể hiện nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” (2010), PGS.TS Vũ Thư, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 21, Hà Nội: Qua bài báo tác giả đã làm rõ được vấn
đề về nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam cũng như phân tíchnhững ưu điểm và một số vấn đề đặt ra trong việc tổ chức quyền lực nhànước
“Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong vệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ở nước ta” (2015), GS.TS Trần Ngọc Đường (Chủ nhiệm), Đề tài
nghiên cứu (Văn phòng Quốc hội đã nghiệm thu), Hà Nội: Tác giả đã làm rõ
cơ sở lý luận, phân tích thực trạng từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, Các công trình nghiên cứu về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước Anh
“Cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở một số nước và những giá trị tham khảo cho Việt Nam” (2015), ThS Nguyễn Quang Anh,
Trưởng ban Tuyên giáo huyện ủy Thanh Thủy, Phú Thọ, Tạp chí Tổ chức nhànước điện tử, http://tcnn.vn: Bài báo đã làm rõ một phần cơ chế kiểm soátquyền lực nhà nước ở nước Anh cùng với nước Mỹ và Pháp trong các yếu tố
về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
Ngoài ra, còn có các tác giả và tác phẩm “Chính trị luận” (The politics) của Aristotle thời cổ đại; “Khảo luận thứ hai về chính quyền” (Two treasures of government) của J.Locke và “Bàn về tinh thần pháp luật” (De
L’Esprit des lois) của Montesquieu thời cận đại là những tác phẩm tiêu biểu
cho học thuyết phân quyền Tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” của Jean Jacques Rousseau; “Nền cộng hòa và những vấn đề” (The Public and Its
Trang 4Problems, 1929) của John Dewey (1859-1952) là những tác phẩm về chủquyền nhân dân, vai trò kiểm soát của nhân dân đối với nhà nước
Những công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu về rất nhiều khíacạnh, nội dung, tiếp cận ở nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên vẫn còn ítcác công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước Anh cũngnhư đưa ra các bài học vận dụng vào thực tiễn nước Lào Chính do vậy em đãthực hiện đề tài này với một cách tiếp cận khác để có thể làm rõ hơn về vấn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước;
- Phân tích thực trạng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước Anh trong giai đoạn hiện nay;
- Đưa ra một số bài học kinh nghiệm hoàn thiện đối với cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước CHDCND Lào
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước Anh”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tại nước Anh;
Phạm vi thời gian: Trong giai đoạn hiện nay
Trang 55 Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Kaysone Phomvihane, quan điểm đường lối của Đảng nhân dân cách mạng Lào về quyền lực chính trị và kiểm soát quyền lực nhà nước
Phương pháp mà đề tài sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành của ngành chính trị học như phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích tài liệu
6 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Đề tài được thực hiện sẽ làm rõ hơn những vấn đề lý luận về kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài là nguồn thông tin quan trọng để các sinh viêncác trường nghiên cứu về kiểm soát quyền lực và cơ chế kiểm soát quyền lực của nước Anh có thể lấy đây là tài liệu tham khảo
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài bào gồm 3 chương và 8 tiết
Trang 6NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước
“Kiểm soát” được cho là xem xét Đánh giá, theo dõi nhằm ngăn chặnnhững điều trái với quy định Như vậy, về cơ bản, thanh tra, kiểm tra, giámsát, kiểm soát có nghĩa như nhau, đó là xem xét, đánh giá hoạt động của cácchủ thể thực hiện quyền lực nhà nước để Hiến pháp, pháp luật được thực hiệnnghiêm chỉnh, chính xác, đầy đủ, nhưng chúng khác nhau về chủ thể thựchiện, về nội dung, hình thức, phạm và đối tượng chịu sự xem xét, đánh giá Sovới thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm sát thì kiểm soát có phạm vi xem xét,đánh giá rộng hơn, hình thức phong phú hơn, nó bao hàm cả việc giám sát,thanh tra, kiểm tra, theo dõi
.Đối tượng chịu sự xem xét, đánh giá của kiểm soát là tất cả các chủ thểthực hiện quyền lực nhà nước Nội dung kiểm soát bao gồm việc tổ chức vàviệc thực hiện đối với cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Chủ thể thựchiện kiểm soát quyền lực nhà nước khá đa dạng, đó có thể là nhân dân, cácđảng phái, của các tổ chức chính trị - xã hội, cũng có thể do chính nhà nước(các cơ quan nhà nước), thậm chí là các tổ chức quốc tế
Kiểm soát quyền lực nhà nước là toàn bộ những hoạt động xem xét,theo dõi, đánh giá, những biện pháp mà thông qua đó có thể ngăn ngừa, loại
bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của cơ quan, nhân viên nhà nướctrong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyền lựcnhà nước được tổ chức và thực hiện đúng mục đích mong muốn và đạt đượchiệu quả cao
1.1.2 Khái niệm cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước được hiểu là phương thức, quytrình, quy định và các thiết chế có liên quan đến việc kiểm soát quyền lực nhà
Trang 7nước, gắn kết chặt chẽ với nhau hợp thành một chỉnh thể, thông qua đó việckiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện, nhằm ngăn ngừa, loại bỏnhững nguy cơ, những việc làm sai trái của nhà nước, cơ quan, nhân viên nhànước trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm cho quyềnlực nhà nước được tổ chức và thực hiện theo đúng các quy định của Hiếnpháp, pháp luật, đúng mục đích mong muốn và có hiệu quả.
Có nhiều cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước như: cơ chế kiểm soátquyền lực nhà nước của nhà nước (các cơ quan nhà nước); cơ chế kiểm soátquyền lực nhà nước của nhân dân (các tổ chức nhà nước và cá nhân khôngphải nhà nước) Trong các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước thì cơ chếkiểm soát của nhà nước được xem là hiệu quả hơn cả trong giai đoạn hiệnnay Nếu các cơ chế kiểm soát khác là phương thức kiểm soát quyền lực nhànước của các chủ thể không phải nhà nước thường được gọi là cơ chế kiểmsoát ngoài, thì cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của nhà nước là phươngthức kiểm soát trong
1.2 Nội dung của cơ chế kiểm soát kiểm soát quyền lực
1.2.1 Kiểm soát quyền lực nhà nước phải dựa trên cơ sở những nguyên lý căn bản của lý thuyết phân quyền
Thuyết phân quyền ra đời như là sự cứu cánh cho việc thiết lập mộtnhà nước dân chủ, pháp quyền tư sản, chống lại chế độ chuyên chế tronglịch sử của nhân loại Ngày nay thuyết phân quyền được vận dụng, áp dụngkhá phổ biến ở các quốc gia trên thế giới với những mức độ khác nhau.Nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận nguyên tắc phân quyền là mộttrong những nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, nhưng đồng thời thừanhận sự thống nhất quyền lực nhà nước, sự thống nhất giữa quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp
Chính sự phân công quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước ởtrung ương là sự vận dụng lý thuyết phân quyền theo chiều ngang trong tổchức quyền lực nhà nước Trong đời sống nhà nước và xã hội, bất kỳ một
Trang 8thiết chế nào cũng đều có giá trị nhất định của nó, đều do con người sáng tạonên và để phục vụ con người Thời đại ngày nay: nhà nước pháp quyền,kinh tế thị trường, xã hội dân sự được ví như ba trụ cột để nâng đỡ xã hộiphát triển
Nếu nhà nước pháp quyền bảo đảm cho xã hội trong một trật tự, dânchủ, tự do trên cơ sở những chuẩn mực chung - pháp luật, thể hiện ý chícủa nhân dân thông qua nhà nước, thì kinh tế thị trường bảo đảm cho conngười ấm no, còn xã hội dân sự bảo đảm sự tự do, làm chủ của con ngườiqua các thiết chế của đời sống dân sự Với quan niệm như vậy, ở đây đã có
sự phân quyền (dù hiểu theo nghĩa nào: phân chia quyền lực hay phân cônglao động trong xã hội) thì mỗi một bộ phận trong xã hội đều có vị trí, vaitrò nhất định thực hiện hoạt động theo chức năng của mình mà pháp luậtthể hiện ý chí của nhân dân, chứ không phải ý chí chủ quan của các cơquan nhà nước đã quy định
Trong các thiết chế này, dù đó là thiết chế nào nhà nước, kinh tế thịtrường (các doanh nghiệp) khi thực hiện chức năng của mình cũng luôn có xuhướng lạm quyền, lợi dụng quyền lực của mình (quyền lực nhà nước, quyềnlực kinh tế, quyền lực của xã hội dân sự), vận động ra ngoài khuôn khổ củapháp luật vì những mục tiêu của mình, hay thực tiễn là vi phạm pháp luật vìvậy đòi hỏi cần có sự kiểm soát lẫn nhau giữa các thiết chế này
Nhà nước với tư cách là tổ chức của xã hội rộng lớn nhất bao gồm tất
cả các công dân kiểm soát kinh tế thị trường (các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế khác nhau) và xã hội dân sự (các tổ chức xã hội của côngdân) và ngược lại xã hội dân sự, kinh tế thị trường kiểm soát nhà nước và đếnlượt mình xã hội dân sự kiểm soát nhà nước và kinh tế thị trường
Trong hệ thống chính trị để bảo đảm sự thống nhất của hệ thống, trật tựcủa hệ thống đòi hỏi sự kiểm soát lẫn nhau của các bộ phận cấu thành của hệthống Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội, kiểm tra, giám sát nhà nước và xãhội thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng; Nhà nước kiểm tra hoạt
Trang 9động của các tổ chức đảng trên cơ sở những quy định của pháp luật “mọi tổchức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”, Mặttrận Tổ quốc Việt Nam giám sát đối với nhà nước Như vậy, chính cơ chế sựphân công quyền lực dẫn tới sự kiểm soát lẫn nhau giữa các thiết chế trong hệthống chính trị Trong cơ cấu quyền lực nhà nước theo truyền thống, đượcchia thành: Lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhiều quốc gia trên thế giới còncoi quyền lực của các cộng đồng lãnh thổ - tự quản địa phương như mộtnhánh của quyền lực, còn ở Việt Nam thì hòa vào cùng quyền lực nhà nước,bởi các thiết chế của cộng đồng lãnh thổ đều là những thiết chế nhà nước.
Để bảo đảm sự “cân bằng quyền lực”, tránh xu hướng lạm quyền củatừng nhánh quyền lực đòi hỏi có sự kiềm chế, kiểm soát lẫn nhau giữa cácnhánh quyền lực nhà nước, giữa chính quyền trung ương và chính quyền địaphương, mặt khác đòi hỏi sự độc lập của các thiết chế nhà nước, giữa lậppháp, hành pháp và đặc biệt là tư pháp, đồng thời bảo đảm sự độc lập, tự quảncủa chính quyền địa phương thì mới bảo đảm được hiệu quả, hiệu lực củakiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước Như vậy, chính sự phân côngquyền lực (phân quyền) dẫn đến sự kiểm soát đối với từng nhánh quyền lựcnhà nước
1.2.2 Kiểm soát quyền lực nhà nước là nhu cầu của nhà nước và của xã hội
Trong thực tiễn thường có những nhận thức khác nhau về nhà nước,đôi khi đánh giá không đầy đủ về vai trò - công dụng của nhà nước, khi thìtuyệt đối hóa vai trò của nhà nước trong đời sống xã hội, coi nhà nước như làthiết chế cứu cách cho toàn xã hội, mà không quan tâm đúng mức tới các thiếtchế xã hội khác, khi thì lại coi nhẹ vai trò của nhà nước mà đề cao vai trò củacác thiết chế khác trong xã hội Tất nhiên, không nên tuyệt đối hóa, hay coinhẹ vai trò - công dụng của nhà nước, nhà nước là một thiết chế trong đờisống xã hội, cũng giống như mọi thiết chế trong xã hội khác
Trang 10Dù quan niệm như thế nào về nhà nước thì nhà nước là thiết chế quantrọng nhất trong các thiết chế xã hội - thiết chế quản lý toàn xã hội về mặt nhànước, có thể nói không có một khu vực nào lại không có sự quản lý của nhànước, ở đây quản lý hiểu theo nghĩa tổ chức, nâng đỡ sự phát triển của xã hội,chứ không phải cai quản xã hội Nhà nước quản lý xã hội thông qua pháp luật
do chính nhà nước ban hành - thể hiện ý chí của cả cộng đồng quốc gia, dântộc Trong các thiết chế của xã hội chỉ có nhà nước mới có khả năng đó
Nhà nước dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào và vào bất kỳ thời đại nàothì nhà nước là một thiết chế nắm các công cụ công lực như quân đội, cảnhsát, nhà tù, tòa án, và bộ máy hành chính nhà nước có khả năng áp dụng cácbiện pháp cưỡng chế nhà nước, cưỡng chế hành chính Khi sử dụng bộ máycông lực, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, cũng dễ xuất hiện khảnăng lạm dụng quyền lực, hoặc vì một lý do khách quan, chủ quan nào đó mà
cơ quan công quyền, mà các nhân viên nhà nước không chấp hành pháp luật,xâm phạm tới quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà nhànước có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ
Vì vậy, bản thân nhà nước có nhu cầu kiểm soát hoạt động của các cơquan nhà nước, của cán bộ, công chức, viên chức, hay nhân viên nhà nước nóichung, nhằm phát hiện những sai phạm của cơ quan nhà nước, những nhượctật, khiếm khuyết của chính bản thân bộ máy nhà nước, của cán bộ, côngchức, viên chức, nhân viên nhà nước để tự hoàn thiện mình Tự hoàn thiện vàthích nghi của nhà nước là nhu cầu tất yếu nhằm đáp ứng sự phát triển của xãhội Nếu nhà nước không tự hoàn thiện mình thì xã hội có thể thay đổi nhànước bằng những cuộc cách mạng xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã minh chứng điều này Nhànước là một thiết chế thực hiện sự quản lý đối với toàn xã hội - tổ chức cácquá trình kinh tế - xã hội, thông qua các chính sách, pháp luật do mình đặt ra
vì vậy, bản thân nhà nước xuất hiện nhu cầu hoàn thiện chính sách, pháp luật.Việc hoàn thiện chính sách, pháp luật phải thông qua hoạt động thực tiễn,
Trang 11thông qua hoạt động kiểm soát việc thực hiện chính sách, pháp luật để đánhgiá mức độ thực hiện, sự hoàn thiện, sự phù hợp của chính sách, pháp luậtvới các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội, từ đó mà hoàn thiện chính sách,pháp luật
Đây là yêu cầu đòi hỏi, nhu cầu của chính nhà nước để tự hoàn thiệnmình, để thích nghi với những thay đổi của các quá trình quản lý của đốitượng, khách thể quản lý không ngừng vận động phát triển theo tiến trình pháttriển của xã hội Nhìn từ góc độ kinh tế thì nhà nước là chủ sở hữu lớn nhấtcủa nền kinh tế - xã hội, nhà nước là chủ nợ, con nợ lớn nhất trong xã hội, vàcũng là người tiêu dùng lớn nhất của nền kinh tế quốc dân
Nhưng nhà nước lại không trực tiếp tạo ra các giá trị vật chất cho xãhội, nhà nước thu thuế của mọi người lao động xã hội, hay thay mặt nhân dânbán tài nguyên đất nước, cho thuê lãnh thổ để bảo đảm, nuôi dưỡng bộ máynhà nước và các khỏan chi tiêu công khác vì lợi ích xã hội, cộng đồng và đảmbảo sự phát triển kinh tế xã hội thông qua các đầu tư của nhà nước cho pháttriển kinh tế, sự nghiệp, quân sự, an ninh, quốc phòng, cung ứng các dịch vụcông và bảo trợ xã hội
Tất cả mọi chi tiêu công của nhà nước đều phải được công khai, minhbạch, tiêt kiệm Chính vì vậy, mọi hoạt động chi tiêu công của nhà nước đềuphải được kiểm soát không chỉ trong nội bộ nhà nước, mà từ phía các côngdân, tổ chức đã nộp thuế để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước
Như vậy, chính điều này đòi hỏi mọi hoạt động trong lĩnh vực kinh tếphải được kiểm soát từ xã hội - từ các công dân, tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội Tóm lại, kiểm soát đối với hoạt động của bộ máy nhà nước là nhu cầucủa chính bản thân của nhà nước, của xã hội nhằm bảo đảm cho hoạt độngđúng đắn của bộ máy nhà nước, bảo đảm cho sự hoàn thiện nhà nước trên tất
cả các lĩnh vực hoạt động nhà nước và đời sống xã hội
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế kiểm soát quyền lực
Những yếu tố sau đây có mối quan hệ, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chếkiểm soát quyền lực nhà nước nói chung:
Trang 12Kiểm soát quyền lực nhà nước vừa được thực hiện bởi cơ chế pháp lý
do nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước tiến hành, vừa đượcthực hiện bằng cơ chế pháp lý do các cơ quan nhà nước thực hiện các quyềnlập pháp, hành pháp, tư pháp kiểm soát lẫn nhau
Về hệ thống chính trị; về mối liên hệ giữa công quyền và xã hội dân sự;
về các đảng chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp; các nhómlợi ích và các nhóm áp lực; về các hình thức vận động hành lang (lobby); vềkhả năng xã hội hoá các cơ chế kiểm tra, giám sát, khả năng kết hợp giữacông quyền và xã hội trong tổ chức giám sát các thiết chế công quyền
Pháp luật là yếu tố không thể thiếu trong cơ chế kiểm soát quyền lựcnhà nước, trong đó quy định rất chặt chẽ, chính xác các chủ thể có thẩmquyền kiểm soát quyền lực nhà nước, đối tượng, nội dung, hình thức, quytrình, hậu quả pháp lý …của việc kiểm soát Trong cơ chế kiểm soát quyềnlực nhà nước của nhà nước, nguyên tắc pháp chế luôn được đề cao, nó đòi hỏitất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nướcphải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định pháp luật về kiểm soát quyền lựcnhà nước trong tổ chức cũng như trong hoạt động
Việc các cơ quan nhà nước tự kiểm soát mình và kiểm soát lẫn nhautrong việc thực hiện quyền lực nhà nước có tác dụng: 1) là để giữ các cơ quannhà nước luôn duy trì được mối quan hệ nội tại với nhau với tư cách là bộphận của một bộ máy, đảm bảo sự thống nhất về cơ cấu tổ chức, về mục tiêuhoạt động của cả bộ máy nhà nước, giúp cho bộ máy nhà nước tránh đượcnhững nguy cơ đe dọa phá vỡ tính thống nhất và sự vận hành có hiệu quả caocủa cả bộ máy nhà nước từ những sai lệch có thể xảy ra của mỗi cơ quan, mỗi
bộ phận của bộ máy nhà nước; 2) để bảo đảm sự hợp lý trong việc phân công
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước sao cho phùhợp với những yêu cầu của quá trình thực hiện quyền lực nhà nước trong bộmáy nhà nước thống nhất; 3) để thực hiện phối hợp về chức năng, nhiệm vụgiữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
Trang 13mục tiêu chung của cả bộ máy nhà nước nhằm duy trì sự kiểm soát, chế ước,phát hiện và xử lý kịp thời những biểu hiện không đúng, không hiệu quả trongviệc thực hiện quyền lực nhà nước của mỗi cơ quan, nhân viên nhà nước hoặccủa các thiết chế khác khi tham gia thực hiện quyền lực nhà nước Từ kết quảkiểm soát quyền lực nhà nước, các cơ quan nhà nước có thể đưa ra và lựachọn những phương án tối ưu trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nướcnhằm đạt được một kết quả tốt nhất trong hoạt động.
Kiểm soát quyền lực nhà nước là rất quan trọng và cần thiết Khôngquốc gia nào có thể phát triển nhanh, ổn định và bền vững nếu như quyền lựcnhà nước không được kiểm soát và thực hiện đúng đắn Tuy nhiên, trên thực
tế tình trạng lạm quyền, tha hóa quyền lực vẫn luôn tiềm ẩn và thườngxuyên xảy ra Một số nhân viên nhà nước, thậm chí cả các cơ quan nhànước thay mặt nhân dân nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nước nhưnglại lợi dụng quyền lực được giao vào mục đích vụ lợi hoặc vì mục đích cụcbộ; một số nhân viên nhà nước do năng lực, trình độ hạn chế nên đã mắcsai lầm trong việc đưa ra những quyết định làm ảnh hưởng tới lợi ích củacác tổ chức, cá nhân
Việc kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện bởi nhiều chủ thể,thông qua hình thức, phương tiện với những nội dung và quy trình kiểm soátkhác nhau ở các thời điểm khác nhau
Trang 14Chương 2:
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
TẠI NƯỚC ANH HIỆN NAY
2.1 Khái quát chung về nước Anh
2.1.1 Về vị trí địa lý
Anh là một quốc gia có chủ quyền tại châu Âu, nằm tại ngoài khơi đạilục châu Âu, bao gồm đảo Anh và phần đông bắc của đảo Ireland, cùng nhiềuđảo nhỏ
Anh nằm giữa Bắc Đại Tây Dương và biển Bắc, bờ biển đông nam Anhnằm cách bờ biển miền bắc Pháp trong vòng 22 dặm (35 km), cách nhauqua eo biển Manche
Anh có diện tích 130.395 kilômét vuông (50.350 sqmi) Hầu hết nướcAnh có địa hình đất thấp, địa hình đồi núi nằm ở tây bắc của đường Tees-Exe;gồm dãy núi Cumbrian tại Lake District, Pennines và các đồi đá vôi tại PeakDistrict, Exmoor và Dartmoor Các sông và cửa sông chính là Thames,Severn và Humber Núi cao nhất Anh là Scafell Pike (978 mét (3.209 ft)) tạiLake District
Anh có khí hậu ôn đới, lượng mưa dồi dào quanh năm Nhiệt độ biếnhóa theo mùa, hiếm khí giảm xuống dưới −11 °C (12 °F) hoặc tăng trên 35 °C(95 °F) Gió phổ biến thổi từ tây nam và mang theo thường xuyên các đợt thờitiết ôn hòa và mưa từ Đại Tây Dương, song phần phía đông hầu như bị chắngió do hầu hết mưa rơi tại các khu vực phía tây, phía đông do đó khô hơn.Các hải lưu Đại Tây Dương được Gulf Stream làm ấm và đem đến mùa đông
ôn hòa; đặc biệt là tại phía tây nơi mà mùa đông có mưa nhất là tại vùng cao.Mùa hè ấm hơn tại khu vực đông nam của Anh, do là nơi nằm sát đại lục châu
Âu nhất, và phía bắc là nơi mát nhất Tuyết rơi dày có thể xuất hiện trong mùađông và đầu mùa xuân tại những vùng cao
Trang 152.1.2 Về kinh tế
Anh có một nền kinh tế thị trường chịu kiểm soát cục bộ Dựa theo tỷgiá hối đoái thị trường Anh là nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới và lớn thứ
ba tại châu Âu sau Đức và Pháp
Lĩnh vực dịch vụ chiếm khoảng 73% GDP Anh Luân Đôn là một trong
ba "trung tâm chỉ huy" của kinh tế toàn cầu (cùng với New York và Tokyo),
là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới cùng New York, và là thành phố cóGDP lớn nhất tại châu Âu
Ngành công nghiệp ô tô là một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực chếtạo của Anh tạo công việc cho hơn 800.000 người, với doanh thu khoảng 65
tỷ bảng (2016) Ngành công nghiệp hàng không vũ trụ của Anh lớn thứ nhìhoặc thứ ba thế giới tùy theo cách thức tính Ngành công nghiệp dược phẩmđóng một vai trò quan trọng trong kinh tế Anh, quốc gia này có tỷ lệ chi tiêudược khoa R&D cao thứ ba toàn cầu (sau Hoa Kỳ và Nhật Bản)
Nông nghiệp Anh có đặc điểm thâm canh, cơ giới hóa cao độ, và cóhiệu quả theo tiêu chuẩn châu Âu, sản xuất khoảng 50% thực phẩm cần thiếtvới ít hơn 1,6% lực lượng lao động
2.1.3 Về giáo dục
Giáo dục tại Anh là trách nhiệm của Bộ trưởng Giáo dục song quản lýthường ngày và tài trợ cho các trường công là trách nhiệm của chính quyềnđịa phương Giáo dục công miễn phí được tiến hành dần dần từ năm 1870 đếnnăm 1944 Giáo dục nay là bắt buộc trong độ tuổi từ 5 đến 16 (15 nếu sinhvào cuối tháng 7 hoặc tháng 8) Năm 2011, TIMSS xếp hạng các học sinh 13-14 tuổi tại Anh thứ 10 thế giới về toán và thứ 9 về khoa học Năm 2010, trên45% chỉ tiêu tại Đại học Oxford và 40% tại Đại học Cambridge thuộc về cácsinh viên đến từ các trường tư thục, dù chỉ chiếm 7% số học sinh phổ thông.Anh có hai đại học cổ nhất trong thế giới Anh ngữ, đó là Đại học Oxford vàĐại học Cambridge, với lịch sử trên tám thế kỷ Anh có 9 trường đại học nằm
Trang 16trong nhóm 100 đại học hàng đầu theo xếp hạng của Times Higher Educationnăm 2013, số lượng chỉ đứng thứ hai sau Hoa Kỳ.
2.1.4 Về văn hóa
Văn hóa Anh chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố gồm: tình trạng đảo quốc;
có lịch sử là một thể chế dân chủ tự do Tây phương và là là một cường quốclớn; cũng như là một liên minh chính trị của bốn quốc gia với mỗi quốc giaduy trì các yếu tố truyền thống, phong tục và tượng trưng đặc biệt Do sự tồntại của Đế quốc Anh, có thể quan sát thấy ảnh hưởng của Vương quốc Liênhiệp Anh và Bắc Ireland trong ngôn ngữ, văn hóa, và các hệ thống tư phápcủa nhiều cựu thuộc địa như Ấn Độ, Canada, Ireland, New Zealand, Nam Phi,Hoa Kỳ và Úc Phạm vi ảnh hưởng văn hóa đáng kể của Anh khiến quốc gianày được mô tả như là một “siêu cường văn hóa”
2.2 Khái quát chung về thể chế chính trị của nước Anh
Về cơ cấu tổ chức: Hạ viện bầu một Chủ tịch và 3 Phó chủ tịch Trong
đó Chủ tịch là người của đảng cầm quyền, lãnh đạo mọi hoạt động của Hạviện, đại diện cho Hạ viện trong quan hệ với Nhà vua, chính phủ và các cơquan khác, chủ tọa các phiên họp toàn thể, quyết định đưa dự luật ra thảoluận, chỉ định ủy ban chỉnh lý pháp luật Sauk hi được bầu chủ tịch hạ việnphải ra khỏi đảng cầm quyền, không được phát biểu và biểu quyết, hếtnhiệm kỳ chủ tịch Hạ viện nhận tước vị nam tước và chở thành thành viênThượng viện
Trang 17Điểm đặc biệt trong Hạ viện Anh là có chức danh Thủ lĩnh ban lãnhđạo đảng đoàn tại Hạ viện của đảng cầm quyền do Thủ tướng bổ nhiệm,người đại diện cho Chính phủ tại Hạ viện có quyền quyết định chương trìnhnghị sự của kỳ họp, xác định chương trình hoạt động lập pháp của Hạ viện và
đề nghị ứng cử viên vào một số chức vụ của Chính phủ Đảng nắm Chính phủ
là cầm quyền còn đảng kia là đảng đối lập và đang đối lập có quyền thành lập
“Chính phủ bóng”
Bộ phận thư ký của Hạ viện do Tổng thư ký phụ trách nhưng Tổng thư
ký không phải là thành viên của Hạ viện, do Nhà vua bổ nhiệm không theonhiệm kỳ và Tổng thư ký là cố vấn về các vấn đề thủ tục hoạt động, quyềnhạn vủa Hạ viện
Để thực hiện chức năng của mình thì Hạ viện thành lập các ủy bangiúp việc mà mỗi ủy ban phụ trách một vấn đề hay một lĩnh vực nhất định.Hiện nay, Hạ viện Anh có 16 ủy ban chuyên môn có nhiệm vụ soạn thảo,nghiên cứu, thẩm tra các dự án luật, giám sát các hoạt động của các bộ, ngànhcủa Chính phủ
Về vai trò, chức năng: Hạ viện là cơ quan quyền lực nhà nước caonhất, là cơ quan lập pháp, có chức năng phê chuẩn tất cả các đạo luật vàhiệp định ký với nước ngoài, có quyền phủ quyết đối với Thượng viện và
có quyền thành lập Chính phủ và cũng có thể giản tán Chính phủ thông qua
bỏ bất tín nhiệm
Trong Hạ viện Anh, đảng đa số có quyền thành lập Chính phủ và lãnh
tụ của đó trợ thành Thủ tướng Như vậy, đảng cầm quyền nắm cả quyền lậppháp và hành pháp mà điều đó có thể nói Hạ viện là Đại hội của đảng cầmquyền và Chính phủ là ban chấp hành của nó
Tóm lại, Hạ viện Anh được tổ chức rất chặt chẽ, phân chia trách nhiệm
rõ ràng cho các cá nhân, cơ quan chuyên trách Hạ viện Anh là cơ quan quyềnlực nhà nước tối cao có quyền lập pháp, quyết định việc thành lập, giám sáthoạt động và bãi miễn Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác Vì vậy, các
Trang 18đảng phái mới tranh giành nhau chiếm đa số ghế trong Hạ viện để có quyềnthành lập Chính phủ và mọi hoạt động của hạ viện đều bị đảng đa số chi phối.
2.2.1.2 Thượng viện
Bao gồm các nhà quý tộc được danh tiếng được kế thừa từ tước đếndanh hiệu quý tộc Họ từ 21 tuổi trở lên và có nhiệm kỳ suốt đời, số lượngthành viên không cố định mà thay đổi theo thời gian và thường trên 1000người Thành phần của Thượng viện gồm:
Quý tộc thế tập (công, hầu, bá, tử, nam tước): Trong những năm gầnđây có xu thế giảm dần Quý tộc không thế tập (được nhà vua phong theo
đề nghị của Thủ tướng): có xu thế ngày càng tăng Tổng giám mục, giámmục (Thượng nghị sỹ tinh thần đại diện cho nhà thờ Anh): có 26 đại biểu.Các thẩm phán (Thượng nghị sỹ về luật pháp, do nhà vua bổ nhiệm): có 12đại biểu Tuy có số lượng khá đông nhưng đa số các Thượng nghị sỹ khôngtích cực hoạt động, chỉ có trên 100 vị thượng xuyên tham dự các phiên họpcủa viện
Về cơ cấu tổ chức: gồm Chủ tịch và 2 Phó chủ tịch, do Thượng việnbầu ra, nhiệm kỳ 1 năm Trong đó Chủ tịch là thành viên của Chính phủ donhà vua bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng và Chủ tịch Thượng viện còn làngười đứng đầu cơ quan Tư pháp và Thượng viện có 17 ủy ban thường trực,mỗi ban có chủ nhiệm và 24 thành viên theo tỷ lệ số ghế của đảng phái trongThượng viện
Vai trò của Thượng viện rất hạn chế, nó không có khả năng cản trở việcthông qua luật của hạ viện, bởi nó chỉ trì hoãn trong vòng 1 năm (riêng luật vềtài chính chỉ trong 1 tháng) đồng thời tránh đối đầu với chính phủ
Thượng viện Anh là thượng viện duy nhất trên thế giới có số lượngthành viên đông đảo và có phương thức thành lập không dân chủ, nhiệm kỳsuốt đời Đây là tàn dư của chế độ phong kiến và là nét đặc trưng của thể chếchính trị Anh
Trang 192.2.1.3 Thủ tục hoạt động của Nghị viện
Hàng năm, 2 viện đều bắt đầu họp vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 vàhầu như làm việc suốt năm trừ các lễ, nghỉ hè và các phiên họp được coi làhợp lệ khi Hạ viện có từ 40 đại biểu trở lên và Thượng viện có 30 đại biểu trởlên Nghị viện họp phần lớn là thảo luận về các dự luật do Chính phủ đệ trình
và theo quy định thì một dự luật nào đều trình ở Hạ viện trước
Các bước của một dự luật ở Hạ viện: Tuyên bố dự luật mà Tổng thư kýchỉ đọc tên gọi của dự luật và Hạ viện bác bỏ hoặc biểu quyết tiếp nhận Tiếnhành ngay khi dự luật được tiếp nhận và Hạ viện chỉ thảo luận các nội dungchính, các nguyên tắc chung mà trường hợp tán thành thì chuyển cho một ủyban để thảo luận và chỉnh lý từng điều khoản Toàn viện chỉ thảo luận vềnhững vấn đề bao trùm mà không có những sửa đổi bổ sung mới và sau đóChủ tịch Hạ viện đặt vấn đề biểu quyết thông qua Nếu dự luật đều được haiviện thống nhất thì dự luật này được trình Nữ hoàng ký và Ban chấp thuậnhoàng gia tuyên bố
2.2.2 Về hành pháp
Đứng đầu là Chính phủ Chính phủ gồm Thủ tướng và gần 80 bộ và cácthành viên của Chính phủ phần lớn hạ nghị sỹ và một số là thượng nghị sỹ
Trình tự thành lập Chính phủ: Chính phủ được thành lập sau mỗi cuộc
bầu cử hạ viện, Thủ tướng do Nữ hoàng chọn nhưng trên thực tế Thủ tướng làlãnh tụ của đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện Theo đề nghị của Thủ tướng
Nữ hoàng bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ và họ thường là các nghị sỹthuộc đảng cầm quyền, Thủ tướng có quyền cách chức các bộ trưởng màkhông cần tư vấn của hạ viện
Thủ tướng Chính phủ: Thủ tướng là cố vấn tối cao của Nữ hoàng, mọi
hoạt động đều nhân danh Nữ hoàng, là người đứng đầu Nội các, Chính phủ vàThủ tướng đảm nhiệm các năng đại diện Nhà nước trong quan hệ đối nội vàđối ngoại
Trang 20Thủ tướng có những quyền hạn sau: Xác định đường chính sách, chiếnlược chung, lãnh đạo Chính phủ Thiết lập chương trình nghị sự của các cuộchọp Chính phủ và Nội các Đệ trình Nữ hoàng phê chuẩn thành phần của Nộicác và cơ cấu Chính phủ Quyết định bãi miễn các bộ trưởng và giải tánChính phủ Chỉ đạo hoạt động sáng tạo pháp luật của Chính phủ Thay mặt
Nữ hoàng triệu tập và giải tán Hạ viện và kiểm soát nghị trình Tuyên bốchiến tranh và hòa bình, ký kết hiệp định với nước ngoài Để đảm bảo hoạtđộng có hiệu quả, Thủ tướng lập Ban thư ký giúp việc khoảng 10 người và có
6 thư ký riêng giữ mối liên hệ với các bộ, 1 thư ký liên hệ với báo chí và cònlại là cố vấn chính trị
Nội các: Nội các là cơ quan quyền lực cao nhất trong cơ quan hànhpháp, thành phần do Thủ tướng ấn định và ngoài đó là một số bộ trưởng quantrọng như: Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Quốc, có khoảng 20 - 25 người Nộicác lãnh đạo bộ máy hành chính, phối hợp các hoạt động của các bộ, xác địnhphương hướng cơ bản của Chính phủ, chuẩn bị dự luật, ban hành các văn bảnthuộc thẩm quyền của mình Nội các có khoàng 20 ủy ban thường trực, các ủyban này có nhiệm vụ soạn thảo sơ bộ những vấn đề sẽ được thảo luận trongNội các Nội các lập Ban thư ký giúp việc: chuẩn bị báo cáo cho Thủ tướng,tài liệu cho các phiên họp và ghi biên bản các cuộc họp Nội các và ngoài racòn có Ban thống kê Nội các họp hàng tuần để thảo luận những vấn đề quantrọng của đất nước, các Bộ trưởng cũng có mời tham dự khi Nội các thảo vềnhững vấn đề có liên quan Nội các chịu trách nhiệm trước Nghị viện và nhândân và nội dung các cuộc họp của Nội các giữ bí mật tuyệt đối 30 năm Thủtướng tổng hợp, tóm tắt kết quả và tuyên bố quyết định cuối cùng
Các bộ trưởng: Các bộ trưởng có thể chia làm 4 nhóm đó là Bộ trưởnglãnh đạo các bộ là Quốc vụ khanh do đảng cầm quyền cử và không chuyênnghiệp Bộ trưởng không bộ Bộ trưởng nhà nước (các thứ trưởng, các nhàchuyên môn và người đứng đầu các cơ quan thuộc bộ mà bất cứ đảng nàocũng cần) Bộ trưởng thư ký (thư ký nhà nước phụ trách việc đảm bảo thông
Trang 21tin giữa Nghị viện và Chính phủ) Các bộ trưởng có trách nhiệm điều hành cơquan mình phụ trách, nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì họ có thể từ chức vàThủ tướng quyết định người thay thế.
Pháp luật Anh cho phép đảng đối lập thành lập “Nội các trong bóngtối” và Thủ tướng của Nội các này cũng được hưởng lương từ ngân sách nhànước Vai trò của Chính phủ Anh rất lớn bởi những lý do sau: tính kỷ luật củacác đảng cầm quyền; hệ thống lưỡng đảng; sự kiểm tra, giám sát Chính phủcủa Hạ viện rất lỏng lẻo
2.2.3 Tư pháp
Hệ thống tòa án ở Anh được thành lập từ thời phong kiến đến đến naychỉ thay đổi chút ít cho phù hợp và là hệ thống tòa án phân cấp cho trungương và địa phương
Các tòa án địa phương gồm:
Tòa Hòa giải: là tòa án cấp thấp nhất, thẩm phán là người hoạt độngkiêm nhiệm không được hưởng lương và ở thành phố tòa này do cảnh sát đảmnhiệm
Tòa án Quận (vùng) có quyền xét xử các vụ án mà tòa hòa giải không
có quyền giải quyết và các thẩm phán này do nhà vua bổ nhiệm theo đề nghịcủa Chính phủ
Tòa án trung ương là tòa án tối cao, thành 1873, tổ chức và hoạt độngtheo luật về tòa án tối cao năm 1925, 1970 Thành phần gồm: tòa Nhà vua làtòa án hình sự tối cao có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự đặc biệt quantrọng như: tội phạm quốc gia gia, giết người; tòa Tối cao là tòa sơ thẩm các
vụ việc tranh chấp dân sự vượt khỏi thẩm quyền của tòa án địa phương và tòaKháng án là tòa Phúc thẩm của tòa Nhà vua và tòa Tối cao Ngoài ra, còn cócác tòa chuyên nghiệp (TAHC, TAQQS…)
Tòa nhà vua là tòa án hình sự tối cao có thẩm quyền xét xử các vụ ánhình sự đặc biệt quan trọng
Trang 22Tòa tối cao là tòa sơ thẩm các vụ việc tranh chấp nhân dân vượt khỏithẩm quyền của tòa án địa phương.
Tòa kháng án là tòa phúc thẩm của tòa nhà vua và tòa tối cao.Thựơngnghị viện là tòa án cao nhất chỉ xét xử những vụ kháng án của tất cả các tòa
án Tham gia xét xử các thượng nghị sĩ do nhà vua bổ nhiệm, quyết định củatòa là quyết định cuối cùng và không được kháng án
Điều đặc biệt Anh không có bộ Tư pháp, hệ thống tư pháp hoạt độngdưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Thượng viện và ông vừa là Chánh án tòa án tốicao, vừa là thành viên Chính phủ Anh cũng không có hệ thống công tố màthay vào đó là hệ thống luật sư, đứng đầu là Tổng chưởng lý và ông là cố vấnpháp lý của nhà vua và Chính phủ và có quyền buộc tội và khởi tố bất kỳ vụ
án hình sự nào
2.2.4 Chính quyền địa phương
Cơ cấu chính quyền địa phương ở Anh vô cùng phức tạp, lãnh thổ Anhđược chia thành 44 vùng trong đó 6 lãnh địa là đô thị, dưới lãnh địa là quận
và tất cả có 36 quận đô thị và 333 quận khác Tất cả các cơ quan trên đều có
tổ chức quản lý là Hội đồng Quản hạt, đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng hay Thịtrưởng do nhân dân bầu ra, nhiệm kỳ 4 năm Sự phân cấp giữa các cấp tươngđối rõ ràng và mặc dù ở Anh có 4 vùng địa lý nhưng quyền lực vẫn tập trungvào trung ương Các vùng có tổ chức bộ máy chính quyền riêng nhưng quyềnlực rất hạn chế bởi trung ương kiểm soát trực tiếp chính quyền các địaphương thông qua sự theo dõi trực tiếp của các vị bộ trưởng và việc phân bổngân sách quốc gia cho các địa phương
2.2.5 Các chính đảng
Các đảng chính trị bắt đầu xuất hiện tại Anh từ năm 1662 sau khi cuộcNội chiến Anh kết thúc với sự ra đời của Đảng Cung đình (Court Party) vàĐảng Nông thôn (Country Party), sau này trở thành Đảng Tory (nay là đảngBảo thủ, mặc dù vẫn thường được gọi là “Tory”) và Đảng Whig (nay là đảng
Trang 23Dân chủ Tự do) Hai chính đảng này vẫn duy trì vị thế chính trị quan trọngtrong cho đến thế kỷ 20.
Tên gọi của hai đảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng Dự luật Khaitrừ trong những năm 1678-1681 - đảng Whig ủng hộ việc khai trừ Công tước
xứ York theo đức tin Công giáo khỏi quyền kế thừa ngai vàng của xứ Anh, ÁiNhĩ Lan và xứ Tô Cách Lan, trong khi đảng Tory chống lại chủ trương khaitrừ này Cả hai tên gọi được dùng để biểu thị sự khinh miệt: “whiggamor” là
“đồ chăn bò” (cattle driver) và “tory” trong tiếng Ái Nhĩ Lan nghĩa là “đồ vôlại” (an outlaw) Đảng Tory có quan hệ với giới thượng lưu và Giáo hội Anh,trong khi đảng Whig gần gũi hơn với giới nghiệp đoàn, tài chính và chủ đất
Đảng Cấp tiến Rochdale qui tụ những người theo đuổi khuynh hướngcải cách triệt để, hoạt động tích cực cho phong trào hợp tác xã Họ chủ trươngxây dựng một xã hội bình đẳng hơn Đảng này nên được xếp vào cánh tả nếuxét theo tiêu chuẩn đương đại
Sau năm 1815, đảng Tory trải qua một cuộc cải tổ sâu sắc dưới ảnhhưởng của Robert Peel, một nhà công nghiệp, trong năm 1834 với bản Tuyênngôn Tamworth, Peel phác thảo triết lý “Bảo thủ” chủ trương cải cách những
tệ nạn trong khi vẫn bảo tồn những tập quán tốt
Năm 1846, do bất đồng về vấn đề tự do thương mại, một số người ủng
hộ Peel tách khỏi đảng Tory để gia nhập đảng Whig và kết hợp với đảng Cấptiến để thành lập Đảng Tự do, trong khi chủ trương của Peel vẫn được duy trìtrong đảng Tory, từ đó đảng này chính thức chấp nhận danh xưng Bảo thủ
Mặc dù đã được sử dụng trong những thập niên trước đó, tên “Đảng Tựdo” trở nên danh xưng chính thức trong năm 1868 Năm 1870 Đảng Tự dothành lập chính phủ, từ đó cùng với Đảng Bảo thủ luân phiên cầm quyền suốt
từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20
Năm 1882, Đảng Đại nghị Ái Nhĩ Lan được thành lập để thế chỗ củaLiên minh Cầm quyền Nội địa Mãi đến năm 1918 đảng này vẫn là chính