1. Trang chủ
  2. » Tất cả

skkn tieng anh lop 4 (1)

15 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 158 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo kinh nghiệm của bản thân ,Tôi thấy một thực trạng là đa số học sinh còn yếu về cách học tiếng Anh như : -Không nắm được từ vựng nên không hiểu nội dung các đoạn hội thoại, giao tiế

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SƠ YẾU LÝ LỊCH

Họ và tên: Lê Thị Hồng Loan

Năm sinh: 1993

Năm vào ngành: 2014

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Tân Hiệp

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng

Hệ đào tạo: Chính quy

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thời kì đất nước ta đang từng bước hội nhập với quốc tế, tiếng anh

là cách tốt nhất để kết nối cũng như giao lưu các nền văn hóa Nếu muốn hiểu được một quốc gia, một nền văn hóa mới, bắt buộc chúng ta phải biết ngôn ngữ cũng như cách sống của họ để dễ dàng hòa nhập hơn Đó là điều tiên quyết cũng như yếu tố quyết định bạn có thể đi đến đâu trong hành trang cuộc đời

Những điều đó chỉ có thể đạt được khi mà tiếng anh trở nên phổ biến và được giảng dạy một cách có hiệu quả trong nhà trường và ngoài xã hội Do vậy,

Sở giáo dục Bình Dương đã áp dụng chương trình giảng dạy từ lớp Một để các

em có thể bắt đầu làm quen với ngôn ngữ mới ngay từ nhỏ để các em có thể dễ dàng tiếp cận hơn trong những năm tiếp theo

Để có thể giao tiếp thì vốn từ vựng là rất quan trọng Đó chính là yếu tố tiên quyết để có thể truyền tải nội dung mà bạn muốn giao tiếp Thêm vào đó, việc học thuộc lòng cũng như biết sử dụng các từ vựng là rất khó đối với các em học sinh tiểu học khi mà các em còn chưa viết được nhiều Các em còn chưa nhận biết được một từ vựng sẽ viết thế nào trong Tiếng Anh cũng như rất khó nhớ đối với các em Đối với các em lứa tuổi nhỏ như lớp Một, lớp Hai, việc phải nhớ rằng một từ vựng ghi và công thức của các câu là không dễ dàng Theo kinh nghiệm của bản thân ,Tôi thấy một thực trạng là đa số học sinh còn yếu về cách học tiếng Anh như :

-Không nắm được từ vựng nên không hiểu nội dung các đoạn hội thoại, giao tiếp

-Không nắm từ vựng nên các em còn ngần ngại trong việc nói bằng Tiếng Anh trong các giờ học

Để khắc phục những tình trạng trên của học sinh, Tôi xin nêu ra vài phương pháp mà bản thân tôi đã sử dụng trong quá trình giảng dạy giúp học sinh đạt kết quả tiến bộ hơn trong học tập

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khó khăn, thuận lợi, và sự cần thiết của đề tài:

a Thuận lợi:

-Môn tiếng Anh đối với học sinh tiểu học là một môn khá mới mẻ và thú

vị Một số học sinh cảm thấy có hứng thú, hoặc yêu thích với môn học còn mới mẻ này, nên mỗi khi lên lớp đa số học sinh rất tích cực

- Cùng với đó, được sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám Hiệu nhà trường

và các anh chị đồng nghiệp đi trước đã tạo mọi điều kiện để việc dạy và học

Trang 3

môn tiếng Anh tốt hơn Có đầy đủ sách giáo khoa và thiết bị như: đĩa, máy tính, máy chiếu, internet cùng với đó là sự hỗ trợ của bảng tương tác thông minh giúp học sinh có thêm các hoạt động thú vị để hiểu bài hơn và dễ nhớ hơn

b Khó khăn:

- Theo phân phối chương trình hiện nay, môn tiếng Anh tiểu học mỗi tuần

02 tiết, mà hầu như tiết nào cũng có từ mới trong bài học và kể cả trong bài tập

Để có thể dạy tốt từ vựng để tiết học sinh động hơn, Giáo viên phải làm tranh ảnh, đồ dùng để minh hoạ, tạo điều kiện cho các em nhớ từ dễ dàng và hướng sự chú ý của các em vào chủ đề hay trọng tâm bài học Bên cạnh đó, các em học sinh còn có điều kiện và hoàn cảnh khó khăn, phụ huynh còn chưa quan tâm đến các em và chưa hiểu rõ được tầm quan trọng của môn tiếng Anh, nên chưa quan tâm, đốc thúc các em học môn học này Thêm vào đó, do điều kiện phát triển về mọi mặt còn hạn chế, điều kiện để các em học sinh tiểu học được tiếp xúc với các thông tin đại chúng, các chương trình giải trí sử dụng tiếng Anh còn

ít Dẫn đến khả năng giao tiếp của các em còn hạn chế, huống hồ là giao tiếp bằng tiếng Anh

- Đối với các em học sinh, bên cạnh một số em học hành nghiêm túc, còn không ít các em chỉ học với tinh thần cho có, không muốn học hoặc cảm thấy việc học từ vựng không thể nhớ được nên các em học quo loa, không nhớ lâu cũng như không hiểu dược nghĩa của các từ Đến khi cần áp dụng các em lại không thể nào nhớ cũng như ứng dụng vào thực tiễn Ngoài ra,, cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tự học ở nhà Bởi vì là môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết Đây cũng là vấn đề hết sức khó khăn trong quản lý việc học ở nhà của học sinh Các em chỉ học hành sơ sài và phụ huynh cũng không thể kiểm tra việc đọc cũng như việc phát âm của các em

là đúng hay sai dẫn đến tình trạng các em thích thì học còn không thì cũng không ai kiểm soát được

- Thêm vào đó, cách học từ vựng của học sinh cũng là điều đáng được quan tâm, học sinh thường học từ vựng bằng cách đọc nhẩm từ vựng nhiều lần bằng tiếng Anh và cố nhớ nghĩa bằng tiếng Việt, có viết trong tập viết cũng là để đối phó với giáo viên, chứ chưa có ý thức tự kiểm tra lại mình, để khắc sâu từ mới và vốn từ sẵn có Vì thế cho nên, các em rất mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ khác Do vậy, nhiều học sinh đâm ra chán học và bỏ quên Vì vậy, giáo viên cần chú ý đến tâm lý này của học sinh

c Sự cần thiết của đề tài:

*Cơ sở lý luận :

Trang 4

Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan Căn cứ Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đàotạo;Căn cứ Nghị định số 43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;

Căn cứ Chỉ thị số ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện Nghị quyết số 40/20002QH10 của Quốc hội Với mục tiêu :bên cạnh việc bám sát mục tiêu chung của bậc tiểu học, môn tiếng Anh với tư cách là môn học tự chọn ở trường tiểu học nhằm:

1 Bước đầu hình thành cho học sinh các kỹ năng giao tiếp cơ bản, đơn giản bằng tiếng Anh trong giao tiếp hàng ngày ở nhà trường và gia đình : kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; trong đó nhấn mạnh hai kỹ năng nghe và nói

2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, đơn giản về tiếng Anh, giúp học sinh bước đầu có những hiểu biết về đất nước, con người, nền văn hóa của một số nước nói tiếng Anh

3 Góp phần hình thành cho học sinh thái độ tích cực đối với tiếng Anh, thông qua việc học tiếng Anh học sinh có thêm hiểu biết và tình yêu đối với tiếng Việt Việc dạy học môn tiếng Anh cũng góp phần hình thành phương pháp học tập và phát triển nhân cách, trí tuệ của học sinh

*Cơ sở thực tiễn:

- Để có thể giao tiếp cũng như hiểu thêm về một ngôn ngữ nào đó, từ vựng là một vấn đề rất quan trọng mà học sinh cần nắm vững và thêm vào đó, vốn từ là điều kiện tiên quyết hàng đầu

- Trong tiếng Anh chúng ta nếu muốn rèn luyện và phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh thì phải dựa vào vốn từ vựng Vì nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không nghe được và hệ quả của nó là không nói được, đọc không được và viết cũng không xong, cho dù các em có nắm vững mẫu câu

- Thông qua việc dạy từ vựng cho học sinh, giúp tạo điều kiện cho các em thêm tự tin khi giao tiếp, hay tham gia các hoạt động, trò chơi bằng tiếng Anh

II Phạm vi và thời gian áp dụng của đề tài:

- Học sinh lớp 4 trường Tiểu Học Tân Hiệp

Thời gian áp dụng :Từ tháng 9/ 2017- Tháng 4/2018

- Tháng 9/2017: Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài

- Tháng 10-12/2017: Xây dựng bộ đề khảo sát chất lượng lần thứ nhất; tổ chức khảo sát chất lượng học tập môn Tiếng Anh của học sinh lớp 4

Trang 5

-Tháng 12/2017: Xây dựng bộ đề khảo sát chất lượng lần thứ hai; tiến hành

tổ chức khảo sát chất lượng học tập môn Tiếng Anh của học sinh lớp 4

- Tháng 01/2018: Tiến hành viết đề tài

III Giải pháp thực hiện:

1 Quá trình thực dạy:

a Lựa chọn từ để dạy:

Tiếng Anh là một môn học và cũng là một công cụ để giao tiếp với các nước trên thế giới, và để có thể giao tiếp tốt, chúng ta phải có vốn từ phong phú

để có thể sử dụng trong cuộc sống hàng ngày

Ở môi trường tiểu học hiện nay, khi nói đến ngữ liệu mới là chủ yếu nói đến ngữ pháp và từ vựng, từ vựng và ngữ pháp luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, luôn được dạy phối hợp để học sinh có thể áp dụng nghĩa của từ vựng Tuy nhiên việc dạy và giới thiệu từ vựng là vấn đề không phải dễ dàng, bởi trong các bài học luôn xuất hiện từ mới, xong vấn đề lại là không phải từ nào cũng cần đưa vào dạy Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét những vấn đề:

- Từ chủ động (active vocabulary)

- Từ bị động (passive vocabulary)

Như chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này là hoàn toàn khác nhau, đối với từ chủ động có liên quan đến bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết) thì giáo viên cần đầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều hơn

Với từ bị động chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng, Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết định xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động

- Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:

+ Form (dạng từ)

+ Meaning (ý nghĩa)

+ Use (cách sử dụng)

Đối với từ chủ động giáo viên chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa như từ điển thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao tiếp, giáo viên cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ, mà còn biết phát âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết nghĩa của từ

-Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độ của học sinh- Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau:

+ Từ đó cần thiết cho việc hiểu đoạn hội thoại

+ Từ đó khó so với trình độ học sinh

Trang 6

- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu đoạn hội thoại và phù hợp với trình độ của học sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho học sinh

- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu đoạn hội thoại nhưng khó so với trình

độ của học sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi cho học sinh hiểu nghĩa từ đó ngay

- Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu đoạn hội thoại và cũng không khó lắm thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán

b Các thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới:

- Giáo viên có thể dùng một số thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới như:

1 Visual (nhìn): giáo viên sử dụng các tranh ảnh, đối tượng vật cụ thể

hoặc có thể vẽ phác họa cho các em nhìn, để các em có thể hiểu nghĩa một cách nhanh nhất

Ví dụ: a car ví dụ: a flower

Tranh ảnh và màu sắc sẽ thu hút sự chú ý của học sinh trong việc rút ra từ mới, nhưng chỉ đối với các từ có hình ảnh cụ thể như đồ vật, trái cây, nhà cửa,

xe cộ… còn những từ vựng về hành động, thái độ, biểu cảm thì cách sử dụng tranh ảnh không thể diễn tả được nội dung của từ vựng mà cần có thêm các hoạt động miêu tả của giáo viên

Ví dụ : run,wake up, brush my teeth, wash my hands…

2 Mine (cử chỉ, điệu bộ): Thể hiện qua nét mặt, điệu bộ, hành động của

giáo viên để thể hiện ý nghĩa của từ

Ví dụ: happy

Teacher looks at watch, makes happy face

T asks: “How do I feel?”

3 Situation / explanation(tình huống/giải thích): giáo viên dùng tình

huống hoặc giải thích ý nghĩa bằng tiếng anh đơn giản

Ví dụ: flower

T explains, “a plant that is appreciated for its blossoms.”

T asks, “What am I? Tell me the word in Vietnamese.”

Trang 7

5 Example(ví dụ):giáo viên liệt kê các từ trong một nội dung cho học

sinh tìm thêm ví dụ khác

Ví dụ: toys

T lists examples of toys: “yo-yo, doll, ball – these are all toys Give

me another example of toys ”

6 Translation (dịch):

Giáo viên dùng những từ tương đương trong tiếng Việt để giảng nghĩa từ trong tiếng Anh và chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cách nào khác, thủ thuật này thường được dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để giải quyết một số lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, Giáo viên gợi ý học sinh tự dịch từ đó

Ví dụ: (to) jump

T asks, “How do you say “nhảy” in English?”

Trong khi dạy từ mới giáo viên cần phải ghi nhớ các điểm sau: Sau khi giới thiệu nghĩa của từ cũng như cách phát âm, nên giới thiệu từ trong mẫu câu,

ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên kết hợp việc làm việc đó, bằng cách thiết lập được sự quan hệ giữa từ cũ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục

Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách cho các

em viết từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể quan sát được toàn bộ học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ cho học sinh vận dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tế giúp các em nhớ

từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao

Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thì các em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế

2 Biện pháp tổ chức thực hiện:

a/ Các bước tiến hành giới thiệu từ mới:

* Bước giới thiệu bài, giới thiệu chủ đề: đây là bước khá quan trọng trong việc dạy từ vựng Bằng những cách giới thiệu cho học sinh một cách thú vị, sẽ

có thể mở đầu một tiết học mới mà làm học sinh hứng thú

Điều quan trọng nhất trong giới thiệu từ mới là phải thực hiện theo trình tự: nghe, nói, đọc, viết Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động nào khác “nghe” Hãy nhớ lại quá trình học tiếng mẹ đẻ của chúng ta, bao giờ cũng bắt đầu bằng

Trang 8

nghe, bắt chước phát âm rồi mới tới những hoạt động khác Hãy giúp cho học sinh của bạn có một thói quen học từ mới một cách tốt nhất:

b/ Dạy từ:

Khi dạy từ vựng, giáo viên nên thực hiện các bước sau:

-Đọc từ một cách rõ ràng bằng cách đọc hoặc cho học sinh nghe băng đĩa

để có thể quen với cách đọc và viết từ vựng lên bảng

-Cho cả lớp đọc lại từ vựng nhiều lần và cho đọc từng cá nhân để các em nhớ cách đọc

-Trình chiếu nghĩa của từ vựng cho học sinh ghi nhớ cách sử dụng

-Cho một vài ví dụ bằng tiếng anh cho học sinh hiểu

-Hỏi các câu hỏi sử dụng từ vựng mới để học sinh nắm nghĩa tốt hơn

-Với học sinh tiểu học thì việc học và nhớ nghĩa từ là điều vô cùng quan trọng trong việc học tiếng anh.Vì thế giáo viên nên cho thực hành trong nhiều mau64cau6 khác nhau để học sinh có thể nhớ nghĩa của từ mà không cảm thấy chán và khó nhớ

-Đối với học sinh tiểu học giáo viên không phiên âm các từ mới.Chỉ nên khuyến khích các em nghe và phát âm các từ theo mức độ nghe của mình và ghi chú cách đọc theo sự hiểu biết của mình

- Giáo viên không nên tách các từ vựng riêng lẻ mà nên cho học sinh học theo cụm rõ ràng để các em dễ áp dụng

- Lứa tuổi tiểu học là lứa tuổi dễ học theo cái gì có sẵn Vì vậy giáo viên không nên giải thích nhiều về cấu trúc trong đơn vị từ Đôi lúc giáo viên cần phải giải thích sự khác biệt về nghĩa chứ không phải chỉ cho nghĩa của từ.Ngôn ngữ là một hệ thống ,vì vậy việc giải thích nghĩa nên thông qua hình ảnh và so sánh đối

chiếu Ví dụ để dạy nghĩa của hai từ “big”và từ “small”giáo viên chỉ cần vẽ lên

bảng 2 các thước kẻ một cái lớn và một cái bé như vậy học sinh sẽ hình dung ra ngay nghĩa của từng từ

- Trong Tiếng Anh cũng như tiếng Việt , các từ ngữ thường có quan hệ khắng khít với nhau.Vì vậy dạy theo cách dùng từ đồng nghĩa và trái nghĩa cũng rất hiệu quả Đồng nghĩa không có nghĩa là giống hệt nhau mà chúng có nghĩa tương tự :Ví dụ như từ “see”(nhìn, thấy, xem) và từ “Look”(nhìn)hoặc từ

“Table”(bàn không có ngăn)và từ “desk”( bàn có ngăn)

- Việc dạy từ vựng là một vấn đề quan trọng nhưng việc học như thế nào để nhớ được từ lâu cũng quan trọng không kém Giáo viên không nên ép buộc học

Trang 9

sinh phải học theo một cách gò bó nhất định mà khuyến khích động viên học sinh chủ động nghĩ ra cách học theo kiểu của riêng mình, càng có thêm nhiều cách càng khiến các em hứng thú hơn với môn tiếng anh rất nhiều

- Bên cạnh đó, giáo viên luôn phải học hỏi và tìm tòi cách dạy mới để các em có niềm đam mê đối với môn ngoại ngữ phổ biến này

-Ngoài những phương pháp cụ thể ,giáo viên có thể kết hợp một lúc nhiều kỹ thuật để dạy từ nhưng yêu cầu phải thao tác nhanh tránh mất thời gian.Ví dụ dạy

từ “ jump rope”,sau khi đọc và viết lên bảng giáo viên nói:

T:look at the picture.He can jump rope now look at me I can jump rope,too(bắt chước hành động đang nhảy dây).it’s an action.repeat.jump rope

Sts:jump rope

T:Good Sts A,what does “jump rope”mean in Vieettnamese?

Sts: nhảy dây

c/ Các thủ thuật kiểm tra và củng cố từ mới:

Việc củng cố từ vựng và kiểm tra cũng là việc vô cùng cần thiết để kiểm tra lại xem các em có thật sự hiểu bài cũng như nghĩa và cách sử dụng của các từ trong tình huống cụ thể Sau đây là các thủ thuật kiểm tra từ mới:

1.Matching: Học sinh sẽ nối các từ ở cột A với từ ở cột B, nối từ /cụm từ với tranh /đồ vật, nối các câu hỏi và trả lời v v

Ex:nối câu hỏi và câu trả lời

1- what’s your name ? I’m seve years old

2-how old are you ? I can fly a kite

3-what can you do ? My name’s Loan

3 Slap the board :giáo viên ghi những từ vựng trên bảng và chia lớp làm hai nhóm Mỗi nhóm cử 1 thành viên lên bảng và quay mặt về phía lớp sau đó, giáo viên sẽ đọc 1 từ có trên bảng và học sinh sẽ quay lại và đập tay vào từ đó trên bảng Đội nào nhanh hơn và có nhiều từ đúng hơn sẽ chiến thắng

4 Lucky number

5 Bingo

6 Picture drill

7.Hang man

8 Kim’ s Game

Trang 10

9.Simon says.

3.Hướng dẫn học sinh học từ vựng ở nhà:

Để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiến thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các

em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình

Hơn nữa thời gian học ở trường rất ít, cho nên đa phần thời gian còn lại ở gia đình các em phải tổ chức cho được hoạt động học tập của mình Làm được điều đó, thì chắc chắn hoạt động dạy và học sẽ ngày càng hoàn thiện hơn

Cho nên ngay từ đầu từ năm học, giáo viên cần hướng dẫn học sinh xây dựng hoạt động học tập ở nhà

a/ Chuẩn bị từ vựng

b/ Học thuộc lòng từ vựng

4 Tính mới của đề tài:

*Tính mới của đề tài:

- Ngay từ đầu, giáo viên cần xem xét các thủ thuật khác nhau cho từng bước xử lý từ vựng trong các ngữ cảnh mới : gợi mở, dạy từ, kiểm tra và củng

cố từ vựng

- Có nên dạy tất cả những từ mới không ? dạy bao nhiêu từ trong một tiết thì thừa ?

- Dùng sẵn mẫu câu đã học hoặc sắp học để giới thiệu từ mới

- Dùng tranh ảnh , dụng cụ trực quan để giới thiệu từ mới

- Đảm bảo cho học sinh nắm được cấu trúc , vận dụng từ vựng vào cấu trúc để hoàn thiện chức năng giao tiếp Thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc mới

và vốn từ đã có

- Khắc sâu vốn từ trong trí nhớ của học sinh thông qua các mẫu câu và qua những bài tập thực hành

- Bên cạnh đó, phương pháp này có thể áp dụng với mọi đối tượng trên địa bàn huyện

* Định hướng chung của đề tài:

Sau khi phân tích những nguyên nhân làm cho học sinh sợ học tiếng Anh, thường xuyên không thuộc bài và việc dạy từ vựng ở trường phổ thông chưa đạt hiệu quả cao Cụ thể vào đầu năm học khi nhận giảng dạy tiếng Anh tiểu học, sau vài tiết học đầu tiên, tôi cho học sinh của lớp 4a2 và 4a3 làm bài ki m tra t ểm tra từ ừ

v ng, tôi yêu c u các em n i t ti ng Anh v i ngh a t ti ng Vi t phù h p ầu các em nối từ tiếng Anh với nghĩa từ tiếng Việt phù hợp ối từ tiếng Anh với nghĩa từ tiếng Việt phù hợp ừ ếng Anh với nghĩa từ tiếng Việt phù hợp ới nghĩa từ tiếng Việt phù hợp ĩa từ tiếng Việt phù hợp ừ ếng Anh với nghĩa từ tiếng Việt phù hợp ệt phù hợp ợp

Ngày đăng: 15/07/2018, 17:28

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w