1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc trưng cơ bản của dân số học và môi trường ở trên thế giới

33 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 724,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giáo trình xuất bản 1985 của một số trường đại học thuộc Liên Xô cũ định nghĩa: “Dân số học là khoa học nghiên cứu số lượng, phân bố theo lãnh thổ và cơ cấu của dân số với những bi

Trang 1

M T S Đ C TR NG C A ỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA Ố ĐẶC TRƯNG CỦA ẶC TRƯNG CỦA ƯNG CỦA ỦA

DÂN S H C Ố ĐẶC TRƯNG CỦA ỌC

1

Trang 2

I.Khái niệm dân số học:

1.Khái niệm

- Theo Pháp lệnh về dân số của nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm

2003 thì : “Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia,khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính”

-Dân số học là khoa học nghiên cứu sự biến động về số lượng, phân bố và các đặc tính của dân cư

- Thuật ngữ Dân số học hay Nhân khẩu học - Demography có nguồn gốc từ tiếng Latin: demos (dân chúng, dân cư) và grapho (mô tả) Thuật ngữ này được nhàkhoa học Pháp A Guillard đưa ra năm 1855 trong một quyển sách có nhan đề:

“Các thành phần thống kê của con người hay Dân số học so sánh” Sau đó, thuật ngữ này được thừa nhận chính thức trong Hội nghị quốc tế về Vệ sinh học và Dân

số học tại Genève năm 1882 và được sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX

Theo các nhà khoa học của tám nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Thụy Điển, Brazil, Ấn Độ trong quyển Nghiên cứu dân số, 1953: “Dân số học là khoa học nghiên cứu số lượng, phân bố và cơ cấu dân số cũng như biến động tự nhiên, biến động cơ học, biến động xã hội của nó”

Liên hiệp Quốc, 1958, xác định: “Dân số học là khoa học nghiên cứu về dân số,

về cơ bản có liên quan đến quy mô, cơ cấu và sự phát triển của dân số”

Theo tự điển Dân số học đa ngữ của Vande Walle, 1982: “Dân số học là nghiên cứu khoa học về dân số nhân loại, trước hết là quy mô, cấu trúc và sự phát triển của nó”

Trong giáo trình xuất bản 1985 của một số trường đại học thuộc Liên Xô cũ định nghĩa: “Dân số học là khoa học nghiên cứu số lượng, phân bố theo lãnh thổ và cơ cấu của dân số với những biến động của chúng, giải thích nguyên nhân và hậu quả của những biến động đó Mối quan hệ lẫn nhau giữa yếu tố kinh tế xã hội với những biến động trong dân cư”

Trang 3

Theo tự điển Dân số học (The Dictionary of Demography) do Pressat chủ biên,

1985, thì “Dân số học là khoa học nghiên cứu về dân số loài người trong mối tương quan với những biến đổi do tác động tương hỗ của các yếu tố sinh, chết và didân”

Theo giáo trình Dân số học và Địa lý dân cư của Nguyễn Minh Tuệ, 1992: “Dân

số học là khoa học nghiên cứu những quy luật của tái sản xuất dân số trong những điều kiện xã hội và lịch sử cụ thể, trên một lãnh thổ nhất định”

Tuy có nhiều định nghĩa về Dân số học của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau đưa

ra, nhưng chung quy lại, các định nghĩa đều có một số điểm chung nhất định: Dân

số học là môn khoa học xã hội độc lập, nghiên cứu tính quy luật của tái sản xuất dân cư thông qua các chỉ báo cơ bản như sinh, tử, chuyển cư, hôn nhân… và các điều kiện kinh tế xã hội liên quan đến nó

Nói cách khác, Dân số học là khoa học về dân số, có nhiệm vụ nghiên cứu các quy luật tái sản xuất dân cư trong những điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội cụ thể trên một lãnh thổ nhất định

Như một ngành khoa học xã hội độc lập, Dân số học tìm hiểu tính quy luật và những điều kiện xã hội liên quan đến các quá trình sinh, tử, hôn nhân, chấm dứt hôn nhân, tái sản xuất dân cư trong mối quan hệ thống nhất biện chứng của các quátrình này

Dân số học không những xem xét sự thay đổi kết cấu dân số theo lứa tuổi và giớitính, theo tình trạng hôn nhân và gia đình, mối quan hệ qua lại giữa các quá trình với kết cấu dân số, mà còn đề cập đến tính quy luật thay đổi số dân và gia đình như

là kết quả của sự tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng nói trên

2.Các học thuyết về dân số

a Học thuyết Malthus về dân số

Nội dung cơ bản của thuyết Malthus có thể tóm tắt như sau:

- Dân số nếu không được kiểm soát sẽ tăng theo cấp số nhân (2,4,8,16 ); còn lương thực thực phẩm, phương tiện sinh hoạt chỉ tăng theo cấp số cộng(1,2,3,4.)

- Sự gia tăng dân số diễn ra với nhịp độ không thay đổi còn sự gia tăng về lương thực, thực phẩm là có giới hạn bởi những điều kiện (diện tích, năng suất.) khó có thể vượt qua

Trang 4

- Dân cư trên Trái Ðất phát triển nhanh hơn khả năng nuôi sống nó Từ đó, đói khổ, đạo đức xuống cấp, tội ác phát triển là sự tất yếu.

- Về các giải pháp thì thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh là cưú cánh để giải quyết vấn đề dân số mà ông gọi là các "hạn chế mạnh "

Malthus là người có công đầu trong công việc nêu lên và nghiên cứu vấn đề dân

số, cố gắng tìm ra một qui luật nào đó, đặc biệt là lên tiếng báo động cho nhân loại

về nguy cơ của sự tăng nhanh dân số Tuy nhiên, một mặt do những hạn chế về lịch sử và mặt khác, quan trọng hơn, xuất phát từ chổ cho rằng qui luật dân số là qui luật tự nhiên, vĩnh viễn, nên ông đã đưa ra những giải pháp sai lệch, vô

nhân đạo

Ông viết:

“Chúng ta phải triệt để tạo điều kiện cho các tác động tự nhiên gây cái chết…”

“Chúng ta khuyến khích một cách thật lòng những lực lượng tàn phá khác của tự nhiên mà chính chúng ta phải làm cho nó xảy ra.”

“Thay cho việc giáo dục người nghèo cần thiết phải giữ vệ sinh,chúng ta phải khuyến khích tập quán ngược lại.”

“Cần phải xây dựng trong thành phố những con đường chật hẹp, làm cho nhà cửa chen chúc những người và giúp cho bệnh dịch tái phát nhiều lần.”

Tóm lại, thực chất của thuyết Malthus là đặt giới hạn cho số người trên Trái Ðất,

mà là việc giải thích sai lầm động lực dân số, cắt nghĩa không đúng những hậu qủa

xã hội do sự gia tăng dân số gây ra và đặc biệt là việc đề ra các giải pháp sai lầm,

ấu trĩ và phản động

b.Học thuyết Mác –Lênin về dân số

- Mỗi hình thái kinh tế-xã hội có qui luật dân số tương ứng:

“Mỗi phương thức sản xuất của sản xuất xã hội đều có qui luật nhân khẩu riêng của

nó, qui luật chỉ áp dụng riêng cho phương thức đó và vì vậy chỉ giá trị lịch sử thôi.Một qui luật nhân khẩu trừu tượng và bất di bất dịch chỉ tồn tại với thực vật và súc vật ,và cũng chỉ tồn tại chừng nào mà thực vật và súc vật không chịu ảnh hưởng của con người.”

Trang 5

- Sản xuất vật chất và tái sản xuất dân cư, suy cho cùng là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội loài người.

- Mỗi quốc gia phải có trách nhiệm xác định dân số tối ưu

- Con người đủ khả năng điều khiển quá trình dân số theo mong muốn

c.Thuyết dân số hiện đại

Quan niệm biện chứng về dân số

- Phát triển dân số theo qui luật tự nhiên

- Phát triển dân số theo qui luật xã hội

- Qui luật xã hội chi phối quyết định

Quan niệm quá độ dân số

* Thuyết quá độ dân số là thuyết nghiên cứu sự biến đổi dân số qua các thời kì dựavào những đặc trưng cơ bản của động lực dân số Thuyết này hướng sự nghiên cứu

và lý giải vấn đề phát triển dân số thông qua việc xem xét mức sinh, mức tử qua từng giai đoạn để hình thành một quy luật Tài liệu cơ bản để xây dựng thuyết quá

độ dân số là các số liệu về dân số chủ yếu ở các nước Tây Âu và thời kì cách mạngcông nghiệp

Nội dung chủ yếu của thuyết này thể hiện ở chổ sự gia tăng dân số thế giới là kết quả tác động qua lại giữa số người sinh ra và số người chết đi Những thay đổi về mức sinh và mức tử diễn ra khác nhau theo thời gian

Từ đó rút ra 4 kiểu tái sx dân cư đặc trưng:

-Kiểu I: tỉ lệ sinh, tử đều cao(38%0 và 32%0 ) tỉ lệ dân số hầu như không tăng hoặc tăng không đáng kể(0,6% )

-Kiểu II: Tỉ lệ sinh cao(38%0), Tỉ lệ chết bắt đầu giảm(24%0 ) Tỉ lệ tăng dân số cao(1,4%)

-Kiểu III: Tỉ lệ sinh giảm chút ít(29%0), tỉ lệ tử cũng giảm dần(17%0) Tỉ lệ tăng dân số thấp(1,2%)

-Kiểu IV: Tỉ lệ sinh thấp(13%0 ), tỉ lệ tử cũng thấp(10%0 ) Tỉ lệ tăng dân số rất thấp(0,3% )

Trang 6

Trên đây là mô hình quá độ dân số kinh điển Soi mình vào mô hình này có thể thấy được sự phát triển dân số của TG hoặc mỗi nước đang ở giai đoạn nào, với những đặc trưng gì.

Lý thuyết dân số tối ưu

- Qui mô dân số hợp lý

+ Phù hợp khả năng tải của môi trường

+ Đáp ứng nhu cầu sức lao động cho pt

- Tăng trưởng kinh tế nhanh,bền vững

+ Con người được hưởng lợi của pt kt xh

+ Con người được phát triển toàn diện

- Tác động dân số với môi trường

I=C.P.E

C – Sự gia tăng tiêu thụ tài nguyên trên đơn vị đầu người

P – Sự gia tăng tuyệt đối dân số

E – Sự gia tăng tác động đến môi trường của một đơn vị tài nguyên được loài người khai thác

I – Tác động môi trường của sự gia tăng dân số và các yếu tố liên quan đến dân sốQuan niệm phát triển bền vững

+ Môi trường sau khi sử dụng , khai thác phải bằng hoặc tốt hơn khi chưa sử dụng

II.Một số đặc trưng của dân số học:

Trang 7

1.Sinh sản:

a.Các chỉ tiêu đánh giá mức sinh:

- Tỷ suất sinh thô (CBR = Crude Birth Rate)

B CBR = - x 1000‰

PTrong đó:

- B: số trẻ được sinh trong năm

- P: dân số trung bình năm

Chỉ tiêu này mang tính tổng quát và thường không chính xác khi dùng đo lường mức sinh vì nó không tính đến sự khác biệt về cơ cấu tuổi và giới tính trong dân số.Mặt khác, trong thực tế, chỉ có một bộ phận phụ nữ là sinh sản được nhung số sinh lại được so sánh với toàn dân số

Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác ảnh hưởng đến sinh suất như: tỷ lệ phụ nữ trong dân số đã lập gia đình (có chồng), tuổi lập gia đình sớm hay muộn, mức độ

áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình

Ví dụ tỷ lệ sinh các thời kì của Việt Nam:

Trang 8

Biểu đồ 1: Tỷ suất sinh thô theo điều tra năm 1999-2007

Nguồn:UNFPA,Thực trạng dân số Việt Nam 2007

- Tỷ suất sinh tổng quát (GFR = General Fertility Rate)

B GFR = - x 1000‰

W15-49

Trong đó:

- B: số trẻ được sinh trong năm

- W15-49: số phụ nữ trong tuổi khả sản

Tỷ suất này còn gọi là suất sinh sản toàn tuổi, nó chính xác hơn sinh suất nguyên vì

có chú ý đến thành phần phụ nữ ở độ tuổi có thể sinh sản được

- Tỷ suất sinh theo tuổi, lớp tuổi (ASFR = Age Specific Fertility Rate)

 Tỷ suất sinh sản của phụ nữ ở tuổi x:

Trang 9

 Tỷ suất sinh sản của phụ nữ ở lớp tuổi (x, x+4)

- Tổng tỷ suất sinh (TFR = Total Fertility Rate)

Tổng tỷ suất sinh là tổng cộng của 35 suất sinh sản theo tuổi của phụ nữ từ

15 đến 49 tuổi, cũng còn được định nghĩa là số con trung bình có thể có của mộtphụ nữ với giả thiết người phụ nữ này có mức sinh ở từng độ tuổi giống mức sinhcủa toàn bộ nhóm phụ nữ đang được nghiên cứu

Trang 10

Ví dụ thống kê TFR ở Việt Nam từ năm 2000 – 2007 :

Biều đồ 3:Tổng tỷ suất sinh theo các cuộc điều tra 1999 – 2007

Trang 11

b.Xu hướng biến động mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng:

-Xu hướng biến động:

Mức sinh chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, cho nên trong các thời kì khác nhau và ở các vùng khác nhau, sự biến động mức sinh khác nhau Tuy nhiên

nó vẫn diễn ra theo một xu hướng nhất định , có tính qui luật

Nhìn vào sự biến động mức sinh của các nước trên thế giới trong vòng nửa cuối thế kỉ XX này cũng chứng minh được điều đó:Mức sinh có xu hướng giảm dần.(Dựa vào số liệu thống kê hang năm – Giáo trình Dân số và phát triển _GS TS Tống Văn Đường)

Thời kỳ

Nhóm

Nước

1955

1950-1965

1960-1980

1975-1990

20,539,9

17,436,4

1531

1228

1126

-Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh:

+ Những yếu tố tự nhiên sinh vật:

Nơi nào có số phụ nữ trong tuổi có khả năng sinh sản càng cao ( đặc biệt tuổi từ 20-30) thì mức sinh cao và ngược lại

Trang 12

Điều kiện tự nhiên môi trường sống cũng ảnh hưởng đến mức sinh.Nơi nào có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển sinh sản thì nơi đó dân số tăng nhanh,

+Hôn nhân và tuổi kết hôn

Hôn nhân là một hiện tượng mang tính xã hội, là những ràng buộc về pháp lý hoặc phong tục tập quán, tôn giáo Trong nhiều trường hợp, hôn nhân là hình thức hợp pháp để có thể sinh con, hầu hết trẻ em được sinh ra là trong giá thú Do đó, tỷ suất sinh phụ thuộc vào mức độ kết hôn, hay nói khác đi, hôn nhân là yếu tố ảnh hưởng thuận đến mức sinh

Tuổi kết hôn là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến mức sinh Tuổi kết hôn là độtuổi được quyền xây dựng gia đình theo luật pháp hoặc theo tập quán Tuổi kết hônthay đổi theo thời gian và không gian Ở đa số các quốc gia, việc xác định tuổi kết hôn thường có tính đến sự trưởng thành về giới tính và tâm lý xã hội Nhìn chung, tuổi kết hôn càng sớm thì càng có nhiều khả năng có con đông

Ngoài ra, tỷ lệ người sống độc thân (cả nam và nữ), tỷ lệ ly hôn, tỷ lệ tái giá… cũng là những yếu tố có ảnh hưởng đến mức sinh của cộng đồng dân cư

+ Mức sống dân cư

Điều kiện sống, mà chủ yếu là mức sống, mức thu nhập có ảnh hưởng nhiều đến mức sinh Về mặt sinh học, người có mức sống cao, điều kiện sức khỏe tốt thì mứcsinh không khác gì với người có mức sống thấp Tuy nhiên, thực tế cho thấy,

những người nghèo, những nước đang phát triển có mức sống của đa số dân cư còn

Trang 13

thấp thì tỷ suất sinh sản tự nhiên thường cao hơn những nước có nền kinh tế phát triển.

+ Phong tục tập quán - tôn giáo

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có những quan niệm riêng về hôn nhân và gia đình Ở nhiều nước, quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ, con đàn cháu đống, tứ đại đồng đường là đại phúc” hay tâm lý “trẻ cậy cha, già cậy con” là rất phổ biến Ngoài

ra, trong xã hội nông nghiệp, con cái được xem là nguồn lao động, là chỗ dựa tinh thần và vật chất cho cha mẹ khi về già Do đó, ở các nước này, mức sinh thường rất cao

Tôn giáo, tín ngưỡng là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến mức sinh Người theo đạo Thiên Chúa hay đạo Hồi thường có mức sinh cao Đối với đạo Thiên Chúa, họ khuyến khích đông con, ủng hộ gia đình quy mô lớn và không chấp nhận các biện pháp tránh thai có hiệu quả Đối với Hồi giáo, họ không chấp nhận triệt sản và nạo phá thai khi thai đã được bốn tháng Mặt khác, phần lớn người Hồi giáo sống trong

xã hội nông nghiệp truyền thống mà ở đó trẻ em mang lại lợi ích kinh tế cho gia đình, trình độ giáo dục thường thấp, kết hôn sớm được khuyến khích, phụ nữ ít được học hành, thường chịu lệ thuộc và bị giới hạn trong các công việc nhà

+ Trình độ học vấn

Trình độ học vấn của dân cư, đặc biệt là của người phụ nữ thường có ảnh hưởng nghịch đến mức sinh, càng biết chữ và học vấn càng cao thì càng có xu hướng giảm mức sinh Điều này đúng cho cả các vùng nông thôn và đô thị Việc giáo dục phổ cập và nâng cao trình độ học vấn trong dân cư ảnh hưởng đến mức độ sinh vì

nó làm tăng tuổi kết hôn và giảm tỷ lệ những người kết hôn, cũng như trong thái độđối với số con muốn có và trong việc chấp nhận các phương pháp sinh đẻ có kế hoạch

Ngoài ra, tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của phụ nữ, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị, chính sách và luật pháp của nhà nước về vấn đề dân số và hôn nhân cũng là những yếu tố có ảnh hưởng đến mức sinh

2.Tử vong

a.Khái niệm:các chỉ tiêu đánh giá mức tử vong

Trang 14

- Tỷ suất chết thô (CDR = Crude Death Rate)

D CDR = - x 1000‰

PTrong đó:

- D: số người chết trong năm

- P: dân số trung bình năm

CDR là chỉ tiêu đo lường mức độ tử vong trung bình trong năm của toàn bộ dân số,

nó đơn giản và dễ tính toán

Ví dụ: CDR của Pháp 9 (o/oo), Việt Nam 8 (o/oo), Trung Quốc 7 (o/oo), Campuchia 13(o/oo)

Tuy nhiên, nếu dùng CDR làm chỉ tiêu để so sánh mức tử vong của các nhóm dân

số khác nhau sẽ không chính xác vì:

- Mức tử vong thường có sự khác biệt theo giới tính và độ tuổi

- Cấu trúc tuổi của các nhóm dân số thường không giống nhau

- CDR không có sự phân biệt theo độ tuổi hay giới tính

Ví dụ:Tỷ suất chết thô năm 1999-2006 ở Việt Nam theo số liệu tổng cục thống kê

TĐTDS 1999

TĐTDS 2003

TĐTDS 2004

TĐTDS 2005

TĐTDS 2006

Trang 15

Biểu đồ 2: Tỷ lệ chết thô theo điều tra 1999-2007

Nguồn:UNFPA,Thực trạng dân số Việt Nam 2007

- Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDR = Age Specific Death Rate)

Dx

ASDRx = - x 1000‰

Px

Trong đó:

- Dx: số người chết trong năm ở tuổi x

- Px: dân số trung bình năm ở tuổi x

Người ta thường tính các tỷ suất tử vong theo các lớp tuổi sau:

0 tuổi tròn năm (khoảng cách 1 năm)

1-4 tuổi tròn năm (khoảng cách 4 năm)

5-9 tuổi tròn năm (khoảng cách 5 năm)

10-14 tuổi tròn năm (khoảng cách 5 năm)…

Đối với từng tuổi hay nhóm tuổi, mức tử vong lại khác nhau giữa nam và nữ, do đóphải tính riêng cho từng giới

Trang 16

- Tỷ suất chết của trẻ sơ sinh (IMR = Infant Mortality Rate)

D0

IMR = - x 1000‰

BTrong đó:

- D0: số trẻ chết trong năm ở 0 tuổi

- B: tổng số trẻ sinh ra trong năm

IMR là chỉ tiêu đo lường mức độ chết của trẻ sơ sinh, không phụ thuộc vào cấu trúc tuổi, chỉ phụ thuộc vào kinh tế xã hội IMR là chỉ tiêu đơn giản, dễ tính toán,

có thể dùng để so sánh

Tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh là tiêu chuẩn đánh giá trình độ nuôi dưỡng và tình hình sức khỏe chung của trẻ em ở một lãnh thổ (tình trạng vệ sinh, y tế, dinh dưỡng )

Chöông 2 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức tử vong của trẻ sơ sinh

- Yếu tố thuộc về người mẹ: tuổi, số lần sinh, khoảng cách giữa các lần sinh, trình

độ văn hóa

- Sự ô nhiễm môi trường: nước, không khí, thức ăn, côn trùng làm lây lan bệnh dịch

- Điều kiện dinh dưỡng: thiếu dinh dưỡng, protein, vitamin và chất khoáng

Ngoài ra còn các yếu tố: thương tật, việc kiểm soát bệnh tật như phương pháp phòng tránh, điều trị bệnh

Sự gia tăng hay giảm dân số tự nhiên là phụ thuộc vào các yếu tố tỷ lệ sinh, tỷ lệ

tử như đã trình bày ở trên, bên cạnh đó sự tăng hay giảm dân số còn phụ thuộc vào sự xuất cư hay nhập cư ( gia tăng cơ học )

-Tỷ suất chết nhi đồng (U5MR)

Là số trẻ nhỏ hơn 5 tuổi chết trong năm so với 1000 trường hợp sinh sống trong năm đó

U5MR là tiêu chuẩn đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường, tình trạng dinh dưỡngcộng đồng, hiệu quả mạng lưới y tế và hiệu quả chính sách xã hội

Ngày đăng: 15/07/2018, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w