BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH ************ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ NAA VÀ ĐƯỜNG KÍNH CÀNH ĐẾN SỰ RA RỄ CỦA CÀNH MẬN CHIẾT VÀ THÍ NGHI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ NAA VÀ ĐƯỜNG KÍNH CÀNH ĐẾN SỰ RA RỄ CỦA CÀNH MẬN CHIẾT VÀ THÍ NGHIỆM
VẬT LIỆU BAO QUẢ MẬN HỒNG THÁI
(Syzygium samarangense (B1.) Merr & Perry)
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ NAA VÀ ĐƯỜNG KÍNH CÀNH ĐẾN SỰ
RA RỄ CỦA CÀNH MẬN CHIẾT VÀ THÍ NGHIỆM VẬT LIỆU BAO
Trang 3Tp.HCM, Tháng 9 năm 2008
LỜI CẢM ƠN
Thành kính ghi ơn công sinh thành và dưỡng dục của Cha Mẹ
Lời biết ơn sâu sắc Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông lâm Tp.HCM, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Học
Thành thật biết ơn toàn thể quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học qua
Chân thành biết ơn Thầy PGS.TS.Nguyễn Văn Kế, trưởng Bộ môn Cây Lương Thực - Rau - Hoa - Quả, khoa Nông Học và chị Trần Thị Cẩm Nhung, học viên cao học, đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài
Chân thành biết ơn ban lãnh đạo và toàn thể công nhân Trại giống cây trồng Trang Nông đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian làm đề tài
Cảm ơn bạn bè trong lớp và ngoài lớp đã động viên giúp đỡ trong suốt thời gian học tập tại trường
Chân thành cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2008
Sinh viên Trần Thị Thuỳ Linh
Trang 4TÓM TẮT
Trần Thị Thuỳ Linh, Đại học Nông Lâm Tp HCM, tháng 09/2008 Đề tài:
“ Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến sự ra rễ của cành mận chiết và thí nghiệm
vật liệu bao quả mận Hồng Thái (Syzygium samarangense (B1.)Merr & Perry.)”
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Kế
Thí nghiệm ảnh hưởng của nồng độ NAA và đường kính cành chiết đến sự ra
rễ của cành mận chiết và vật liệu bao quả mận Hồng Thái được tiến hành tại Trại giống cây trồng của công ty Trang Nông, xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nhằm tăng năng suất thương phẩm cho mận Hồng Thái đồng thời đáp ứng nhu cầu về giống để phục vụ nhu cầu sản xuất Đề tài gồm 2 thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: ảnh hưởng của nồng độ NAA và đường kính cành đến sự ra rễ cành mận chiết, thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố, 3 (yếu
tố A) x 5 (yếu tố B) x 5 (lll) x 3 cành/ lll = 225 cành
Thí nghiệm 2: thí nghiệm vật liệu bao quả mận Hồng Thái, thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố, 4 lần lặp lại, 5 nghiệm thức tương ứng với 4 vật liệu bao là giấy báo, giấy bao bì, nylon sữa, nylon trong và đối chứng
Kết quả thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: cho thấy nồng độ NAA có ảnh hưởng đến sự ra rễ của cành mận chiết, tuy nhiên không có sự khác biệt có nghĩa về số lượng rễ Ngược lại đường kính cành có ảnh hưởng rất có nghĩa đến chiều dài rễ Cành có đường kính to (3 cm) có rễ
ra dài nhất so với cành có đường kính 1 và 2 cm
Thí nghiệm 2: cho thấy bao quả là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quả nhất là làm giảm tỉ lệ hại gây ra do sâu và ruồi đục quả, nâng cao năng suất chất lượng mận thương phẩm Trong thời gian thí nghiệm, nếu không bao quả thì 100% quả bị sâu và ruồi đục quả phá hại Nghiệm thức bao bằng nylon trong là tốt nhất Các NT bao bằng giấy bao bì, nylon màu trắng sữa và nylon trong có sự khác biệt không có ý nghĩa
Trang 5Phương pháp nghiên cứu
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nguồn gốc và phân bố
Các giống trồng và công dụng cây mận
Các giống trồng
Công dụng cây mận
Đặc điểm thực vật học của cây mận
Đặc điểm sinh thái
iiiiiiivviiviiiix112223344667
Trang 6PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương tiện thí nghiệm
Thời gian và địa điểm
Điều kiện khí hậu
Điều kiện đất đai
Kỹ thuật trồng mận tại trại giống Trang Nông
Vật liệu và phương pháp
Thí nghiệm 1: Thí nghiệm chiết cành
Thí nghiệm 2: Thí nghiệm bao quả
Xử lý số liệu
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
Thí nghiệm 1: ảnh hưởng của nồng độ NAA và đường kính cành
Số rễ/cành xét theo đường kính cành chiết
788899910111213131313151518182021
22 2222
Trang 7Số rễ chính xuất hiện trên cành ở tuần thứ 8
Chiều dài rễ xét theo đường kính cành chiết
Chiều dài rễ xét theo nồng độ NAA
Chiều dài rễ ở tuần thứ 8 sau chiết
Tỷ lệ cành ra rễ ở tuần thứ 8
Thí nghiệm 2: thí nghiệm vật liệu bao quả
Số quả đậu - rụng và tỷ lệ quả lúc thu hoạch
Số quả bị sâu - ruồi và tỷ lệ quả sâu -ruồi
Kích thước và trọng lượng quả mận
Độ Brix của mận Hồng Thái theo nghiệm thức
Màu sắc qủa khi áp dụng biện pháp bao
Số quả, tỷ lệ quả và trọng lượng quả thương phẩm/nghiệm thức
Trang 8Số liệu khí tượng khu vực thí nghiệm
Kết quả phân tích đất khu thí nghiệm
Số rễ chính trên cành mận chiết sau 8 tuần
Chiều dài rễ cành mận chiết sau 8 tuần
Tỷ lệ cành ra rễ sau 8 tuần
Số quả đậu - rụng và tỷ lệ quả rụng lúc thu hoạch
Số quả bị sâu - ruồi và tỷ lệ quả bị sâu - ruồi
Kích thước và trọng lượng quả mận theo nghiệm thức
Độ Brix của mận Hồng Thái theo nghiệm thức
Số quả, tỷ lệ quả và trọng lượng quả thương phẩm/nghiệm thức
13152428293032343537
Trang 9Cành mận chiết sau 4 tuần ở NT A1B3
Cành mận chiết sau 6 tuần ở NT A2B0
Chiều dài rễ xét theo đường kính cành chiết
Chiều dài rễ xét theo nồng độ NAA
Cành mận chiết sau 8 tuần ở NT A3B4
Nghiệm thức bao mận bằng vật liệu là bao nilon trong
Nghiệm thức bao mận bằng vật liệu là bao nilon sữa
Quả mận bị thối sau khi ruồi đục
Quả mận bị hại do sâu đục quả
Màu sắc quả khi áp dụng các vật liệu bao
1717222325252627273131333336
Trang 11ăn quả dẫn tới diện tích trồng tăng lên rất nhanh
Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều giống được nhập và trồng, trong đó mận Hồng Thái hay mận An Phước được nhập từ Thái Lan có quả to, độ đường cao, giàu vitamin C, ăn mát miệng và nhất là có mùi thơm đặc trưng Ngoài việc ăn tươi mận còn được sử dụng làm thuốc trong đông y để chữa trị bệnh Mận đã và đang được thâm canh trong một số vườn, trang trại với các kỹ thuật tiến bộ như chọn giống tốt, chủ động ra hoa, phòng trừ sâu bệnh, bảo quản sau thu hoạch nên đã tạo được các vườn mận có năng suất cao và ổn định Tuy nhiên, trong sản xuất hiện nay nhà vườn vẫn còn gặp nhiều khó khăn chưa giải quyết được như, hiện tượng ra hoa nhiều nhưng ít đậu quả, hoặc ra hoa không đồng loạt và quả dễ bị côn trùng gây hại do có mùi thơm
và vị ngọt Để tăng năng suất thương phẩm cho mận Hồng Thái chúng ta cần nghiên cứu các phương pháp bảo vệ tránh sâu bệnh, đồng thời đáp ứng nhu cầu về giống để phục vụ nhu cầu sản xuất.Việc chọn cành có đường kính phù hợp và sử dụng chất kích thích ra rễ để nhân giống bằng phương pháp chiết cành là cần thiết
Nhằm đáp ứng các mục tiêu này, được sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Văn Kế, được sự chấp thuận của khoa Nông Học trường Đại Học Nông Lâm TP HCM đề tài:
“Ảnh hưởng của nồng độ NAAvà đường kính cành đến sự ra rễ của cành mận chiết
Trang 12và thí nghiệm vật liệu bao quả mận Hồng Thái (Syzygium samarangense (Bl.) Merr & Perry.)” được tiến hành
Theo dõi sự hình thành và phát triển của rễ cành chiết theo thời gian ghi nhận
số rễ ra và chiều dài rễ của các nghiệm thức thí nghiệm
Xác định phẩm chất quả, tỷ lệ nhiễm sâu bệnh, kích thước, năng suất của quả mận theo vật liệu bao quả
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và phân bố
Cây mận hay cây roi là một loại cây ăn quả nhiệt đới, thuộc họ Myrtaceae Loài
mận châu Á thuộc chi Syzygium, còn chi Eugenia có nguồn gốc châu Mỹ (Tôn Thất
Trình, 2000)
Mận có hoa trắng hay đỏ, đài 4 cánh, nhụy dài, đài hoa không rụng sau khi kết quả Cây thường ra nhiều đợt hoa quả trong năm Quả mọng và nhiều nước, một số loài không hạt, một số nhiều hạt, hạt không rắn, vị ngọt hơi chua, quả có nhiều màu
như hồng, xanh, trắng, vàng, đỏ có sọc hay không sọc (http://www.en.Wikippedia.org)
Mận ở miền Nam trồng phổ biến chủ yếu thuộc loài Syzygium samarangense
(Blume) Merr Perry.(Tên tiếng Anh water apple hay wax apple) như mận Hồng Đào, mận Bắc Thảo, mận Hồng Thái, mận Da Xanh Một loài mận tương tự là mận huyết
hay điều đỏ, tên khoa học là Syzygium malacense (L.) Merr., tên tiếng Anh là Malay
apple, có hoa màu đỏ đậm, nguồn góc từ Malaysia, khác với mận của ta là có hoa màu
trắng (http://www.traditionaltree.org)
Mận chủ yếu được trồng ở các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới để lấy quả
ăn tươi, do dáng cây đẹp và mát nên còn được trồng rải rác trông vườn nhà như cây cảnh
Trang 142.2 Các giống trồng và công dụng của cây mận
2.2.1 Các giống trồng
Theo Tôn Thất Trình (2000), ở nước ta hiện có nhiều giống mận, dưới đây là các giống trồng phổ biến để ăn quả:
-Mận Hồng Đào (hay còn gọi là mận Ấn Độ) tên khoa học là Syzygium
semarangense (Bl) Merr & Perry., phổ biến khắp trong nước, hoa đẹp, cánh trắng,
nhụy trắng, giữa là vòi noãn xanh, cho trái trắng hay hồng đỏ lợt hay hồng đào, đếm được 1 đến 4 hột màu nâu
-Mận đào Huế (còn gọi là quả lí, ở miền bắc gọi là roi tàu) có tên khoa học là Syzygium jambos L., tên tiếng Anh là alston jambos, quả tròn màu vàng lợt, thơm, ngọt và giòn, hột màu xám, được trồng với diện tích nhỏ, có khắp nước
-Mận huyết hay Điều đỏ: tên khoa học là Syzygium madasense (L.) Merr., tên
tiếng anh là Malay apple, là một cây nhỏ, mùa hoa nở đỏ rực đầy cây, trái lớn, đỏ đậm, ruột trắng, hơi chua, chứa 1 hột
-Mận đường hay mận Java tên khoa học là Syzygium javanica, được trồng phổ
biến ở miền Nam hiện nay Trái hình quả lê, màu đỏ hồng hoặc trắng, vỏ mỏng
Ngoài ra, ở đồng bằng Sông Cửu Long nhất là tại Tiền Giang còn có các giống sau:
-Mận Da Xanh Đường: cho năng suất cao, trái hình nấm, vỏ xanh, thịt trái chắc, đặc ruột, ngọt đậm, da xanh, không có hột
-Mận Bắc Thảo, chưa rõ thuộc loài Syzygium jambos L hay Syzygium
semarangense, trái hình chóp cụt, da trắng xanh, ruột mềm, nhiều nước, ngọt chua,
được trồng nhiều ở Tiền Giang
-Mận Trắng Sữa: quả hình chóp dài, màu vỏ trắng sữa, có mặt cả ở vùng Tiền Giang và Bến Tre
Trang 15Hiện nay ở Miền Nam có một số giống nhập từ Thái Lan (Nguyễn Văn Kế, 2006):
-Mận Hồng Thái (hay mận An Phước), tiếng Thái gọi là “Thắp Thỉm Chăn”, tên
khoa học Syzygium semarangense (Bl) Merr & Perry, vào nước ta cuối thập niên
1990 Cho năng suất và chất lượng cao: tỷ lệ ăn được cao >90%, quả hình chuông có
eo, vị ngọt, thơm ngon, không hạt Hoa lá có mùi thơm dễ chịu
-Mận Da Xanh Thái, tiếng Thái gọi là “Thun Klao”, quả hình chuông, màu xanh nhạt, vị ngọt, đặc ruột
Ngoài loài mận phổ biến nói trên cũng nên du nhập thêm các loài mận có nguồn góc Brazil vì chịu đựng được khí hậu lạnh và đất acid hơn, nhưng phải trồng trên đất thoát thủy và không bị nhiễm mặn (Tôn Thất Trình, 2000 đã đề nghị):
-Mận trái huyền (tím đen) (tên tiếng Anh Grumichama), tên khoa học Eugenia
dombeyi Skeels Cây mọc rất đẹp mắt, lá màu đỏ khi còn non, lá vàng xanh đậm khi
trưởng thành Hoa nở trắng đầy cây mỗi mùa đâm lộc vào mùa xuân Trái nhỏ, chín 1 tháng sau khi nở hoa, vỏ mỏng, ruột ăn mùi vị ngọt Cây mận hột chỉ cần hai đến ba năm đã có trái rồi
-Mận sông Đại (tên tiếng Anh là Rio Grange cherry), tên khoa học Eugenia
aggregata Kiaersk Cây nhỏ hơn loài Syzygium châu Á, hoa trắng, ba tuần sau khi hoa
nở là trái chín, vỏ mỏng, đỏ đậm hay đỏ tím, lá đài vẫn còn khi trái chín Ruột nhiều nước, ngon và hơi có vị chua Giống này chịu đựng lạnh giỏi nhất Năm thứ ba sau khi trồng đã cho trái
-Mận trắng vàng cam (tên tiếng Anh Pitomba), tên khoa học Eugenia
luschnathiana Klotzch Cây lớn nhất loài roi châu Mỹ, có thể cao đến 10 m Lá xanh
đậm mặt trên và xanh lợt mặt dưới Trái vàng cam tươi, khi chín vẫn còn 4-5 lá đài xanh Chỉ một ngăn lỗ trong trái là có một hột hay nhiều hột
-Roi vỏ láng (tên tiếng Anh Surinam Cherry), tên khoa học Eugeni luschnathina
Klotzch Cây nhỏ độ cao 3 m nhưng đôi khi mọc cao 7-8 m
Trang 16Các loài roi châu Mỹ như đã có thể chịu đựng nhiệt độ dưới 00C và như thế có thể trồng ở các miền Bắc nước ta cũng như trên các vùng cao Cây ưa nhiều nắng và chịu đựng gió to
2.2.2 Công dụng của cây mận
Chi Syzygium là chi lớn nhất của họ sim Myrtaceae, rừng Việt Nam chứa 47 loài của chi Syzygium, trong đó có mười ba loài có công dụng làm thuốc (Tôn Thất Trình, 2000)
Cây mận trồng chủ yếu để lấy quả ăn tươi Chất lượng quả phụ thuộc nhiều vào giống, hầu hết ruột quả xốp, nhiều nước, ít ngọt, một số giống rất chua hoặc hơi chát Cũng có những giống tốt, giá trị dinh dưỡng và thương phẩm quả không thua kém các loại quả khác Ngoài ra, cây mận lại dễ trồng, năng suất cao, đầu tư ít, dễ tiêu thụ nội địa tuy khả năng xuất khẩu có hạn chế (Nguyễn Mạnh Chinh, 2006)
Một điểm đáng lưu ý là cây mận châu Mỹ và mận Malaysia, nhất là mùa ra trái, trồng để làm cây cảnh trước nhà hay bên vệ đường phố xá rất đẹp mắt Nhụy mận Malaysia nở đỏ đầy vườn, đầy đường như phượng vĩ Hoa trắng, mận Trắng huyền và mận Vàng cam thì trổ đầy cây Cây mận vỏ láng còn có thể cắt xén thấp làm hàng rào, hàng giậu Nếu lựa giống trồng để trổ hoa vào dịp tết thì các cành hoa đỏ của mận Malaysia, hoa trắng của mận trắng huyền có thể chưng như mai vàng thay thế hoa đào, hoa mai, hoa mơ, hoa mận xứ lạnh
Muốn xuất khẩu các loại mận, nên dùng hình thức mứt, nước trái cây, thạch hay rượu mùi Hiện nay thị trường Trung Quốc có rất ít mận, chất lượng lại kém Do vậy, nếu những giống mận thơm ngon của Việt Nam được bảo quản, vận chuyển tốt, chắc
chắn có thị trường xuất khẩu quả tươi rộng lớn (http://.tiengiang.gov.vn)
2.3 Đặc điểm thực vật học của cây mận
Trang 17Thân: Mận là cây thân gỗ có kích thước trung bình, cao nhất không quá 15 m,
vỏ thân có màu nâu nhạt, nhẳn Cành nhiều phân bố tự nhiên tương đối nhiều
Lá: Lá đơn, hình bầu dục, đuôi hơi dài và nhọn, xanh và nhẵn cả hai mặt lá có
hạch tinh dầu nên khi vò nát tỏa ra mùi thơm nhẹ dễ chịu Kích thước lá dài 10 -25 cm, rộng 5-10cm
Rễ: Rễ mận ăn sâu và rộng, thích nghi trên nhiều loại đất
Hoa: Lưỡng tính, mọc thành từng chùm ở nách lá hay ở những đoạn cành đã
rụng lá, hoa có màu trắng hay màu vàng nhạt, mùi thơm dễ chịu Bầu noãn hạ nhiều tiểu nhị, hoa tự thụ phấn là chính
Quả: Quả thuộc dạng phì quả, kích thước phụ thuộc vào từng giống, trung bình
dài 4 - 8 cm, rộng 4 - 5 cm Giống mận Thắp Thỉm Chăn cho 32 mg vitamin C trong
100 g ăn được (Theo Fruits in Thailand) Tùy giống có màu xanh, trắng, vàng, đỏ, nâu
đỏ, dạng quả tử tròn dẹp, hình quả chuông tới hình chóp, quả có thể rỗng hay đặc ruột Hột màu nâu, có thể từ 0 hột (lép) đến 4 hột
Hiện nay giống mận Hồng Thái (mận An Phước) có nguồn gốc từ Thái Lan được ưa chuộng nhất Cây sinh trưởng khỏe, trồng sau hai năm có thể cho hoa quả Quả hình chuông, mầu nâu đỏ, sọc xanh mờ nhạt, đặc ruột, thịt dẽ và có màu trắng xanh, giòn, ngọt, ngon Trọng lượng trung bình 80 - 120 g/quả
2.4 Đặc điểm sinh thái:
- Mận là cây có nguồn gốc nhiệt đới nên thích hợp với điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ thích hợp rộng, khoảng 300C, lạnh dưới 150C cây ít ra hoa (Nguyễn Mạnh Chinh, 2006)
- Mận có thể trồng trên nhiều loại đất Đối với các giống mận có sản lượng và
chất lượng cao cần đất tốt Tầng đất mặt dày có nhiều dinh dưỡng, khả năng chịu hạn cũng như chịu úng tương đối khá Độ pH thích hợp 5,5 - 7,0 (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2006)
Trang 18Khuyết: Hệ số nhân giống không cao, một số giống mận thơm ngon không có hạt nên không thể nhân giống bằng cách này Rễ tuy ăn sâu nhưng dễ bị biến dạng nên ảnh hưởng đến phẩm chất của cây mẹ
Phương pháp: Hạt mận dễ nẩy mầm, chọn những quả chín có nhiều ưu điểm về kích thước và chất lượng, sau khi tách hạt ra khỏi quả gieo ngay trên luống ươm đã làm đất kĩ hay gieo trong bầu, chỉ sau 15-20 ngày hạt nẩy mầm Từ 4-6 tháng sau đã
có cây con trồng được Hạt mận đa phôi nên mỗi hạt có thể cho tới 2-3 cây, chọn cây khỏe để trồng
2.5.2 Phương pháp giâm cành
Ưu: Dễ làm, hệ số nhân giống cao
Nhược: Tỷ lệ sống thường thấp, rễ cạn, thời gian khai thác quả ngắn
Cách giâm cành: Khi tiến hành cần tiệt trùng các dụng cụ (dao, kéo), cắt đoạn cành bánh tẻ dài 15-20 cm, ít nhất có một mắt (chọn những cành ra trong vụ xuân là tốt nhất), cắt xén bớt bộ lá để giảm thoát hơi nước và kích thích ra mầm non, sau đó cắm nghiêng xuống đất ẩm nơi thoáng mát Giâm cành mận cần tiến hành nhanh mới
có tỷ lệ sống cao Nếu có nhà giâm và phun mù sẽ ra rễ nhanh và nhiều Nhúng cành
Trang 19giâm trong chất kích thích sẽ mau ra rễ hơn Ở miền Bắc, thời gian giâm tốt nhất tháng 7-8, là khoảng thời gian ấm áp, ẩm độ cao, lượng mưa vừa phải
2.5.3 Phương pháp chiết cành
Ưu: Hệ số nhân giống cao, dễ thực hiện, tỷ lệ sống cao Đây là phương pháp nhân giống phổ biến nhất trên cây mận hiện nay ở miền Nam VN
Nhược: Rễ cạn, thời gian khai thác quả ngắn hơn so với trồng bằng hạt
Cách chiết cành: Theo Hà Thanh Hoàng (2005) thực hiện chiết cành trên mận Hồng Thái có kích thước lớn 2 cm, kết hợp với sử dụng chất kích thích NAA nồng độ 1.500 ppm mang lại kết quả tốt, sau 6 tuần cành chiết đã đạt tiêu chuẩn và có thể vào bầu được Chiết cành trong mùa mưa tỉ lệ ra rễ cao hơn các mùa khác, có thể đạt 80-
100 %
2.5.4 Phương pháp ghép
Ưu: Phương pháp này nổi bật hơn cả, nó sử dụng được tính ưu việt của gốc ghép và khai thác mối tương quan giữa giống trồng và gốc ghép
Nhược: Khó thực hiện và tốn nhiều công
Cách ghép: Là một nghệ thuật gắn một phần của cây này vào bộ phận của cây khác để cả hai trở thành một cây mới Gốc ghép ươn từ hạt, sau khi mọc khoảng một năm là ghép được Mắt ghép cũng lấy ở cành một năm tuổi Khi lấy mắt ghép nên để lại một lá để bảo vệ mắt ghép Có thể ghép trong cả năm nhưng ghép vào mùa mưa tỉ
Trang 20Giống:
Chọn những giống cho năng suất phẩm chất cao, tiến hành nhân giống chuẩn bị cây con cho sản xuất Mận chủ yếu nhân giống vô tính theo phương pháp chiết cành để cây con có thể giữ đầy đủ các đặc tính di truyền của cây mẹ
Mật độ trồng:
Cây cách cây 4 - 4,5 m, hàng cách hàng 4 – 5 m Không nên trồng quá dày, cây
sẽ thiếu ánh sáng và phát sinh nhiều sâu bệnh ảnh hưởng đến năng suất
Đất trồng:
Vùng đất trũng: Làm mô trồng, có thể rộng 0,8 – 1 m, cao 0,4 - 0,8 m Mỗi mô
có thể bón 0,5 kg vôi bột, 0,3 kg phân lân, 5 kg phân hữu cơ hoai mục
Vùng đất cao: Đào hốc có kích thước 0,5 x 0,5 m Bón mỗi hốc 0,5 kg vôi bột, 0,5 kg phân lân, 5 kg phân hữu cơ hoai mục
Cách trồng:
Móc một hốc nhỏ ở giữa vị trí trồng Rọc đáy túi đựng bầu Đặt cây vào vị trí và rọc một đường từ trên xuống để lấy túi đựng bầu ra Lấp đất giữ chặt cây, cắm cọc cố định cây
Tỉa cành tạo tán:
Trang 21Tỉa bỏ cành vượt, cành già cỗi, sâu bệnh Khống chế chiều cao cây khoảng 3,5
m để tiện chăm sóc và thu hoạch Việc tỉa cành, tạo tán giúp cây thông thoáng quang hợp tốt cũng như hạn chế nơi trú ngụ của sâu bệnh
Bồi đất cho cây:
Hàng năm nên bồi thêm đất cho cây vào đầu mùa khô như bùn mương, đất khô dầy 2-3 cm, xung quanh tán cây kết hợp với việc bón phân hữu cơ hay phân hóa học
Bón phân:
Theo Trung Tâm tin học và thông tin khoa học công nghệ Bà Rịa- Vũng Tàu, lượng dinh dưỡng cần bón cho cây như sau (cần tham khảo thêm tài liệu và kinh nghiệm bón phân trong điều kiện canh tác thực tế):
Phân hữu cơ: Hàng năm nên bón cho cây 5-10 kg
Phân hoá học: Năm thứ nhất bón cho cây khoảng 500 gram phân NPK 16 - 16
- 8, chia ra 4 - 5 lần bón trong năm Năm thứ hai bón gấp đôi lượng phân năm thứ nhất, chia ra 3 - 4 lần bón.Thời kì cho hoa trái: Bón 1,5 - 3 kg phân NPK 20 - 20 - 15 chia ra làm nhiều lần
Thu hoạch xong có thể bón tiếp cho cây 0,5 - 1 kg phân NPK 20 - 20 - 15 cho cây nhanh chống phục hồi
2.6.3 Sâu bệnh hại mận
Sâu rầy gây hại
- Sâu hại quả:
+ Sâu đục quả, họ Tortricidae, bộ Lepidoptera (Nguyễn thị Thu Cúc): Sâu trưởng thành là loại bướm nhỏ Sâu non màu đỏ tím giống màu quả mận, khi sắp hóa nhộng có màu xanh vàng, dài 12-15 mm, rất linh hoạt, di chuyển nhanh khi bị đụng
Trang 22đến Sâu non phát sinh gây hại quả từ khi còn non cho đến khi chín Khi ăn phá sâu thải đầy phân trong quả, đùn phân ra ngoài làm giảm phẩm chất trái
Phòng trừ: Bao quả là hiệu quả nhất, có thể dùng các loại thuốc hoá học như Sherpa, Decis Trebon để phun (http://www.narg.gov.vn)
+ Dòi đục quả Bactrocera dorsalis (Hendel) (họ: Trypetidae, bộ: Diptera): Dòi
đục quả trên mận là ấu trùng của loài ruồi vàng, lúc mới đẻ trứng có màu trắng sữa, khi phát sinh đầy đủ dài 6-8 mm, màu vàng nhạt Dòi phá hoại từ khi quả già đến khi quả chín là đối tượng gây hại phổ biến và nặng nề nhất đối với cây mận
Phòng trừ: Biện pháp bao trái là hiệu quả cao nhất, vệ sinh vườn cây, dùng biện pháp sinh học, phổ biến hiện nay vẫn còn dùng các loại thuốc hóa học: Vibasa 50ND, Karate 2,5 EC, Admire 050 EC, Netoxin, Cypermethrin (http://www.Skhcn Vinhlong.gov.vn), Sofri protein
- Sâu hại lá: Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) trên cây mận xuất hiện một số
côn trùng côn trùng gây hại chính sau:
+ Sâu xếp lá Aetholix sp (họ: Pyralidae, bộ: Lepidoptera): Sâu trưởng thành là
một loài bướm nhỏ, đẻ trứng rải rác trên lá Sâu non cơ thể trong suốt màu vàng nhạt, đẩy sức dài 18 – 20 mm Sâu nhả tơ gấp lá, nằm trong đó ăn lá Sâu non nhỏ tuổi ăn cạp biểu bì, sâu lớn tuổi ăn khuyết, vòng đời 20 – 30 ngày
Phòng trừ: (Theo Nguyễn Mạnh Chinh, năm 2006 ), dùng tay giết sâu trong lá xếp Khi mật độ sâu cao phun thuốc Pyrinex, Sago super, Vibasu, Supracid
+ Rệp sáp Pseudococcus sp Bên ngoài cơ thể rệp có nhiều sợi tơ trắng và phủ
đầy lớp bột sáp trắng như phấn Tấn công chồi non, cuốn lá, cuốn trái làm cành lá quăn queo, thu hút nấm muội đen là đen trái giảm năng suất
Phòng trừ: Cắt bỏ những chồi, lá và quả non nhiều rệp Phun trừ bằng thuốc Sago super, Pyrinex, Bi – 58, Supracid
Ngoài ra, Mận còn bị các loại côn trùng ăn lá khác gồm sâu bao, cào cào, câu
cấu xanh (Hypomeces squamosus), sâu đục thân, đục cành (Nguyễn Văn Kế, 2006)
Trang 232.6.4 Bệnh hại mận
Trên mận bệnh gây hại không quan trọng lắm Trong canh tác chỉ lưu ý phòng bệnh vào giai đoạn sau khi đậu trái thường bị thối đầu quả (tác nhân: nấm
Phytophthora sp.)
Phòng trừ: vệ sinh vườn cây thông thoáng, thu tiêu hủy các quả bệnh Khi quả
đã lớn phun phòng bệnh bằng thuốc hóa học: Carbenzim 500 FL, Mexyl-MZ,
Dithan-M, Viben-C (Nguyễn Mạnh Chinh, 2006)
Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương tiện thí nghiệm
3.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: Từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2008
Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại trại giống công ty Trang Nông thuộc
xã Tân Hiệp, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương
3.1.2 Điều kiện khí hậu
Bảng 3.1: Số liệu khí tượng khu vực thí nghiệm
Tháng Nhiệt độ ( 0C ) Ẩm độ (%) Lượng mưa Số giờ nắng
Trang 24Tối cao Tối thấp Trung bình trung bình (mm)
(Nguồn:Viện khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ, trạm Đồng Phú 2008)
Ghi chú:địa điểm thực hiện đề tài gần với trạm thủy văn Đồng Phú tỉnh Bình Phước nên để chính xác trong điều kiện sinh trưởng của cây các số liệu khí tượng được lấy từ trạm Đồng Phú
Điều kiện khí hậu hàng năm đóng vai trò rất quan trọng đến sinh trưởng và phát triển của cây Qúa trình sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất của quả mận tại trại thí nghiệm chịu ảnh hưởng của nhiệt độ và lượng mưa hàng năm
Bảng 3.1 trình bày diễn tiến của các yếu tố khí hậu ở các tháng trong thời gian thí nghiệm Nhìn chung, nhiệt độ trung bình trong thời gian thí nghiệm không có sự thay đổi đáng kể qua các tháng Tuy nhiên, nhiệt độ trung bình cao nhất rơi vào tháng
4 (28,30C), với nhiệt độ tối cao (36,70C), lúc này mận vào mùa quả nên sẽ ảnh hưởng
ít nhiều đến tỷ lệ đậu (rụng) của mận, nhất là khi áp dụng biện pháp bao quả
Lượng mưa: Trong thời gian thí nghiệm, mưa lớn kéo dài từ tháng 4 đến 7 Tổng lượng mưa giữa các tháng có sự biến động rất lớn, lượng mưa tập trung chủ yếu
từ tháng 4 đến 7, cao nhất vào tháng 5 (342 mm) Lượng mưa lớn làm cho năng suất
và phẩm chất quả mận bị ảnh hưởng rất nhiều, đặc biệt mùa vụ 2008 thời gian thu hoạch mận là trung tuần tháng 5, gặp mưa lớn nên thiệt hại nhiều Mưa tạo ra ẩm độ cao (84-85%) nên sâu đục quả và ruồi đục quả phát triển nhanh
Trang 25Ngoài nhiệt độ và lượng mưa thì ẩm độ và số giờ chiếu sáng cũng ảnh hưởng
nhiều đến năng suất mận, nắng nhiều sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành
hoa và đậu quả
3.1.3 Điều kiện đất đai
Bảng 3.2 Kết quả phân tích đất khu thí nghiệm
(Mẫu đất được phân tích tại Phòng phân tích bộ môn Thủy Nông , Trường Đại Học
Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh)
Bảng 3.2 trình bày kết quả phân tích đất khu thí nghiệm Đất tại khu thí nghiệm
thuộc loại đất xám bạc màu, thành phần cơ giới nhẹ cát chiếm 55,4% ở tầng đất mặt và
44,7% ở tầng đất sâu, tỉ lệ thịt và sét ít Do đó khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng
của đất kém Hàm lượng Mg, Ca và các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali tổng số
thấp Dựa vào đặc tính của đất đai, trong canh tác cần thường xuyên cung cấp chất
Trang 26dinh dưỡng bằng các loại phân đa lượng kết hợp với các loại phân bón lá cung cấp vi lượng cho cây Cần bón phân hữu cơ cải tạo đặc tính lý hóa của đất, tăng khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng cho đất
Đất đai tại trại thí nghiệm thuộc loại đất cao có mức thủy cấp trong mùa mưa cách mặt đất từ 1 - 2 m, mùa nắng 2 - 4 m Do đó trong canh tác không cần phải lên liếp
3.1.4 Kỹ thuật trồng mận tại trại giống Trang Nông
a Chuẩn bị đất trồng: Đào hố rộng khoảng 60 cm, bón lót 0,5 kg super lân, 5 -
10 kg phân chuồng hoai
b Khoảng cách trồng: 6 x 6 m Lúc đầu trồng dày để khai thác quả trong vài năm đầu, sau tỉa thoáng bớt hàng giữa
c Đặt cây: Trồng vào đầu mùa mưa Khi xuống giống nên tỉa bớt lá, cắm cọc, cột dây để gió khỏi làm lung lay, nén đất thật chặt, hễ trời nắng hạn cần tủ gốc và tưới dặm
d Bón phân: Cách bón phân cho mận Hồng Thái như sau:
- Thời kỳ cây còn nhỏ ( kiến thiết cơ bản): thời kỳ này chỉ kéo dài 2 năm Lượng phân bón thúc trung bình như sau:
+ Năm 1: 0,5 kg NPK (16 - 16 - 8) chia làm 2 lần bón, bón quanh tán
+ Năm thứ 2: tăng lượng phân vì cây to 1 - 2 kg NPK (16 - 16 - 8), chia làm 2 -
3 lần, cuốc hốc bón quanh tán rồi lấp lại
- Thời kỳ kinh doanh (cho trái) : từ năm thứ 3 cây đã có trái nhiều, mỗi năm thường có 2 vụ Lượng phân bón tăng theo độ lớn của cây và theo sản lượng quả thu hoạch: 2 kg NPK (20 - 20 - 15) chia làm 4 lần: lần 1 cuối mùa mưa, sau thu hoạch vụ 2; lần 2 thời kỳ nuôi quả trong mùa nắng ( vụ chính) tức khoảng tháng 2 - 4 Dương Lịch Lần 3 sau thu hoạch vụ chính và sau tỉa thoáng ( tức vào đầu mùa mưa ), lần 4
Trang 27cây nuôi quả vụ hai (tức khoảng tháng 10 - 11 Dương Lịch ) Từ 5 tuổi trở đi lượng phân từ 3 - 5 kg NPK (20 - 20 - 15)
Bổ sung phân hữu cơ (10 - 20 kg/gốc/năm )
e Xử lý ra hoa: đổ thuốc paclobutrazol vào gốc cây (liều lượng 1g a.i./1m đường kính tán ) kết hợp phun thiourea độ 60 ngày sau đó
d Tỉa cành, tỉa quả:
Mỗi năm sau vụ thu hoạch tỉa bớt cành nhánh sâu bệnh, cành mọc sà, cành mọc vống, cành mọc chồng chất lên nhau Mận ra hoa ngay cả ở các chỗ có lá rụng trên cành nên tỉa bớt quả non để những quả còn lại được to
Hình 3.1 Vườn thí nghiệm mận Hồng thái
Trang 29- Quy mô thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn tòan ngẫu nhiên hai yếu tố, gồm:
3 (yếu tố A) x 5 (yếu tố B) x 5 (lll) x 3 cành/ lll = 225 cành
+ Yếu tố A: Đường kính cành gồm 3 mức độ
A1: Đường kính cành chiết 1cm (biến động từ 0,8 đến 1,2cm)
A2: Đường kính cành chiết 2cm (biến động từ 1,8 đến 2,2cm)
A3: Đường kính cành chiết 3cm (biến động từ 2,8 đến 3,2cm)
Chiều dài cành chiết tính từ ngọn đến chỗ chiết khoảng 60 cm
Trang 30Chọn những cành có kích thước như trên, thông thường chọn cành bánh tẻ không nên chọn cành non quá hay già quá, chọn những cành ngoài tán, cành không mang hoa, quả, loại trừ những cành có sâu bệnh
Dùng dao khoanh vỏ, chiều dài khoanh vỏ bằng 3 cm, bóc vỏ bỏ đi
Dùng dao cạo nhẹ lớp tượng tầng (lớp tế bào nhớt giữa gỗ và vỏ) để không cho tạo lại vỏ ở chỗ khoanh
Xử lý thuốc: dùng chất kích thích NAA với các mức nồng độ như trên quét lên chỗ khoanh vỏ
Dùng mụn xơ dừa đã được xử lý hết chất chát làm giá thể sau đó bó bầu bằng nylon trong để giữ ẩm, giữ giá thể, rễ mọc ra dễ quan sát
e) Các chỉ tiêu theo dõi
Sau khi chiết 30 ngày tiến hành lấy ở mỗi nghiệm thức 1 cành để đo các chỉ tiêu về số rễ, chiều dài rễ, sau đó tiếp tục cứ 2 tuần lấy một lần theo nghiệm thức Lấy tổng số 3 lần
Số rễ TB = Tổng số rễ của cành chiết đếm được / Số cành chiết
Chiều dài rễ TB = Tổng chiều dài số rễ đo được / Số rễ đo được
3.2.2 Thí nghiệm 2: Thí nghiệm bao quả
a) Vật liệu
- Túi bao quả bằng giấy báo mỏng ( 50 g/m2 )
- Túi bao quả làm từ giấy bao bì ( 90 g/m2 )
- Túi nhựa màu trắng trong ( 55 g/m2 )
- Túi nhựa màu trắng sữa ( 55 g/m2 )
b) Giống
Trang 31Mận Hồng Thái nhập từ Thái Lan bởi công ty Trang Nông trồng năm 2001
c) Dụng cụ trang thiết bị
- Thước đo chiều cao cây
- Thước do đường kính cây
- Thước đo kích thước quả, lá
- Sổ ghi chép
- Bảng đánh dấu ô thí nghiệm
- Bình phun
d) Phương pháp
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên gồm
5 nghiệm thức tương ứng với 4 loại vật liệu bao trái và 1 đối chứng (không bao)
5 NT x 4 LLL x 50 chùm/ NT = 1000 chùm( mỗi chùm 2 quả)
NT 1 (A): Túi bao làm bằng giấy báo mỏng
NT 2 (B): Túi bao làm bằng giấy bao bì ( kích thước 22 x 30 cm), đục 3 lỗ (đường kính = 3mm) cách đều ở sát đáy
NT 3 (C): Túi nhựa màu trắng sữa (kích thước 20 x 32 cm), đục lỗ tròn xung quanh với đường kính 3 mm, cắt rỗng ở mỗi góc của đáy tạo thành tam giác có cạnh ở đáy 3 cm x cạnh bên 2 cm
NT 4 (D): Túi nhựa màu trắng trong (kích thước 20 x 32 cm), đục lỗ tròn xung quanh với đường kính 3 mm, cắt rỗng ở mỗi góc của đáy tạo thành tam giác có cạnh ở đáy 3 cm x cạnh bên 2 cm
NT 5( E): đối chứng để tự nhiên
Trang 32e) Các chỉ tiêu theo dõi
Chỉ tiêu theo dõi của các thí nghiệm như sau:
- Tỷ lệ quả bị sâu-ruồi = Số quả bị sâu-ruồi / Số quả theo dõi x 100
- Tỷ lệ quả rụng = Số quả bị rụng / Số quả theo dõi x 100
- Kích thước quả: đo chiều cao, chiều rộng quả
- Trọng lượng quả: cân trọng lượng quả
- Màu sắc: nhận biết bằng mắt thường
- Brix: dùng máy đo độ Brix
- Năng suất quả thương phẩm = Trọng lượng x Số quả thương phẩm
3.3 Xử lý số liệu:
Số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm MSTATC các hình được vẽ bằng chương trình Excel
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trang 334.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của nồng độ NAA và đường kính cành chiết
4.1.1 Số rễ/ cành xét theo đường kính cành chiết
Chỉ tiêu số rễ phản ánh khả năng sinh trưởng và phát triển của cành chiết sau khi cắt khỏi cây mẹ được giâm vào đất cũng như khi tròng trong sản xuất Cây càng có nhiều rễ thì khả năng hút nước và dinh dưỡng cung cấp cho cây càng mạnh, khả năng sống của cây con càng cao Số rễ này là nền tảng của các rễ chính về sau, cây chiết cành không có rễ cọc mà chỉ có rễ chùm, do đó rễ nhiều sẽ giúp cho cây đứng vững tránh hiện tượng đổ ngả Vì vậy các biện pháp kỹ thuật tác động đễ làm gia tăng số rễ trên cành chiết là rất cần thiết để tạo ra cây con khoẻ mạnh, tỉ lệ sống cao, mau cho thu hoạch và kéo dài được tuổi thọ của cây
0 1 2 3 4 5 6
rễ nhiều hơn, điều này cho ta thấy cành mận chiết có đường kính càng lớn chất dinh dưỡng dữ trữ trong cành nhiều thì số rễ ra càng nhiều
Trang 344.1.2 Số rễ/cành xét theo nồng độ NAA
Hình 4.2 số rễ/cành xét theo nồng độ NAA
0 1 2 3 4 5 6 7
Như vậy nồng độ NAA tỏ ra có một ít hiệu quả trong việc tác động ra rễ Muốn chính xác cần xử lý thống kê
4.1.3 Số rễ chính xuất hiện trên cành ở tuần thứ 8
B ảng 4.1 Số rễ chính trên cành mận chiết sau 8 tuần
Yếu tố B: Nồng độ NAA( ppm) Yếu tố A
(Đường
TB (Đường kính)
Trang 35Ghi chú:Số liệu được chuyển đổi qua logarit (x +1) trước khi phân tích Anova
Qua bảng 4.1 cho thấy cả hai yếu tố đường kính cành chiết và nồng độ NAA không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nghiệm thức và không có tương tác giữa yếu tố nồng độ hoá chất và đường kính cành chiết
So với các thí nghiệm chiết cành mận của Hà Thanh Hoàng (2005) thì số rễ ở đây ít hơn là do: mùa chiết cành và thời gian làm đề tài ở cuối vụ thu hoạch nên chất dinh dưỡng trong cành vừa nuôi quả, cây chưa kịp phục hồi lại nên ra rễ yếu
Về đường kính: Cho thấy số rễ của đường kính cành cao nhất là 3cm, thấp nhất
là đường kính 1cm
Về nồng độ NAA:Cho thấy sử dụng ở mức 500 ppm cho số rễ cao nhất và thấp nhất ở mức 750 ppm