Qua quá trình tìm hiểu, điều tra và thu thập thông tin số liệu về thực trạng tổ chức, triển khai công tác quản lý đất đai, lập hồ sơ địa chính, xét cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH, GIAI ĐOẠN 2000 – 2007
- TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2008 -
SVTH MSSV LỚP KHÓA NGÀNH
:::::
TRẦN VĂN VINH
04124095 DH04QL
2004 – 2008 Quản Lý Đất Đai
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
TRẦN VĂN VINH
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH, GIAI ĐOẠN 2000 – 2007
Giáo viên hướng dẫn: TS HÀ THÚC VIÊN
Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Ký tên
Tháng 8 năm 2008
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên con xin ghi nhớ công ơn cha mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con có ngày hôm nay, cảm ơn ông, bà, cô, chú đã động viên giúp đỡ con trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu cùng quý Thầy, Cô Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Khoa Quản lý đất đai và Bất động sản đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập, tôi
sẽ mang theo những kiến thức và kinh nghiệm này để làm hành trang trong cuộc sống và trong công việc sau này của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Hà Thúc Viên đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Sự giúp đỡ nhiệt tình của các Cô, Chú, Anh, Chị hiện đang công tác tại Phòng Tài Nguyên Và Môi Trường Huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập, thu thập số liệu và xây dựng đề tài
Các Anh, Chị và các bạn thân hữu trong và ngoài lớp đã trao đổi, hỗ trợ kiến thức với tôi trong suốt thời gian qua
Tuy nhiên do kiến thức và năng lực còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô và các bạn
Sinh viên thực hiện
Trần Văn Vinh
Trang 4TÓM TẮT
Sinh viên thực hiện: Trần Văn Vinh khoa Quản lý đất đai và Bất động sản Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh tháng 7 năm 2008
Đề tài Nghiên cứu “Đánh Giá Tình Hình Cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử
Dụng Đất Cho Hộ Gia Đình, Cá nhân Trên Địa Bàn Huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh, Giai Đoạn 2000 – 2007”
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Hà Thúc Viên khoa Quản lý đất đai và Bất động sản trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Bến Cầu là huyện nằm trong khu vực phát triển của tỉnh Tây Ninh nói chung và của vùng kinh tế trọng điểm phía nam nói riêng, có tổng diện tích tự nhiên là 23.756,83 ha, với nguồn nhân khẩu dồi dào khoảng 62.120 người Là địa phương đang trong quá trình đô thị hóa nhanh và mạnh mẽ, cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến nhanh
và rõ nét theo hướng phát triển công nghiệp, theo đó sự chuyển dịch đất đai rất sôi động và phức tạp Trong xu hướng phát triển hiện nay, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước về đất đai phải ngày một chặt chẽ hơn, trong đó công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được quan tâm, đẩy mạnh thực hiện và nhanh chóng hoàn thành
Qua quá trình tìm hiểu, điều tra và thu thập thông tin số liệu về thực trạng tổ chức, triển khai công tác quản lý đất đai, lập hồ sơ địa chính, xét cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng các loại đất nông nghiệp, đất ở trên địa bàn huyện Bến Cầu qua các năm và các văn bản Luật Đất đai được áp dụng trong quá trình thực hiện, bằng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tài liệu, từ số liệu thu thập được, đề tài đưa ra những đánh giá xác thực về tình hình thực hiện công tác này tại địa phương trong giai đoạn từ 2000 đến năm 2007, từ đó rút ra những kết quả đạt được, chưa đạt được, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Từ đó, đề tài có
những đề xuất thiết thực nhằm giải quyết những vấn đề này
Trong giai đoạn từ năm 2000- 2007, Ủy ban Nhân dân huyện Bến Cầu đã tích cực chỉ đạo công tác kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời trong giai đoạn này cũng có nhiều văn bản Luật Đất đai được ban hành tạo sự thông thoáng cho người sử dụng đất khi thực hiện đăng ký đất đai, nên tiến
độ cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện trong nhiều năm qua cũng được đẩy mạnh
Và cho đến nay, huyện đã hoàn thành khá tốt công tác cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng các loại đất nông nghiệp, đất ở nông thôn trên địa bàn huyện, với tổng số giấy cấp được 14.219 giấy cho 13.939 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích cấp được là 5.672,64 ha đất nông nghiệp và đất
ở nông thôn Cụ thể: Giai đoạn cấp theo Thông tư 346/1998/TT-TCĐC toàn huyện cấp được 1.504 giấy với diện tích 1.217,57 ha, giai đoạn cấp theo Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC toàn huyện cấp được 4.761 giấy với diện tích 1.457,33 ha, giai đoạn cấp theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP toàn huyện cấp được 7954 giấy với diện tích 2.997,74 ha
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I : TỔNG QUAN 3
I.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 3
I.1.1 Cơ sở khoa học 3
1 Sơ lược về công tác cấp GCNQSDĐ ở một số nước trên thế giới 3
2 Sơ lược lịch sử đăng ký cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam 4
I.1.2 Cơ sở pháp lý 7
1 Cơ sở pháp lý của hệ thống đăng ký QSDĐ gồm các loại văn bản 7
2 Những quy định hiện hành về đăng ký đất đai ban đầu, cấp GCNQSDĐ 7
I.1.3 Cơ sở thực tiễn 14
I.1.4 Sự cần thiết đăng ký đất đai - cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 14
I.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu 15
I.3 Nội dung – Phương pháp nghiên cứu 15
I.3.1 Nội dung nhiên cứu 15
I.3.2 Phương pháp nghiên cứu 16
I.3.3 Quy trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp 16
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
II.1 Khái quát điều kiện tự kinh tế - xã hội 17
II.1.1 Đặc điểm tự nhiên 17
1 Vị trí địa lý 17
2 Điều kiện khí hậu 18
3 Địa hình và chế độ thuỷ văn 18
4 Thổ nhưỡng 19
5 Khoán sản 19
6 Tài nguyên sinh vật 20
II.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 21
1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 21
2 Thực trạng phát triển các lĩnh vực xã hội 22
II.2 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình Quản lý Nhà nước về đất đai 24
II.2.1.Tình hình sử dụng đất 24
II.2.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai 25
1 Quản lý đất đai theo đơn vị hành chính 25
2 Tình hình đo vẽ bản đồ địa chính 25
3 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 26
4 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ
Trang 6hiện trạng sử dụng đất 26
5 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về pháp Luật Đất đai và xử lý vi phạm 26
6 Công tác thu hồi đất, cho thê đất, chuyển quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất 27
7 Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất 27
8 Về thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 28
9 Công tác cấp đổi GCNQSDĐ nông nghiệp và đất ở nông thôn đo đạc từ năm
1985 sang đo lưới tọa độ quốc gia……… 28
II.3 Tình hình cấp GCNQSDĐ nông nghiệp và đất ở nông thôn cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh, giai đoạn 2000 – 2007 28
II.3.1 Sơ lược về thực trạng công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện 28
II.3.2 Quy trình, thủ tục đăng ký, cấp GCNQSDĐ tại huyện Bến Cầu 29
II.3.3 Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua các năm trên địa bàn huyện Bến Cầu 32
a Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai 32
b Giai đoạn sau khi có Luật Đất đai 2003 39
II.4 Đánh giá kết quả đạt được trong công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện từ năm 2000 đến năm 2007 43
II.4.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai 2003 44
1 Thời kỳ cấp giấy theo Thông tư 346/1998/TT-TCĐC 45
2 Thời kỳ cấp giấy theo Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC 45
II.4.2 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai 2003 đến nay 46
II.5 Những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện, giải pháp khắc phục 47
II.5.1 Thuận lợi và khó khăn 47
II.5.2 Những vấn đề vướng mắc về cấp GCNQSDĐ khi thực hiện Luật Đất đai 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP 49
II.5.3 Giải pháp khắc phục 50
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Cơ cấu GDP của các ngành kinh tế của huyện 21
Bảng 2: Cơ cấu sử dụng đất của huyện năm 2007 24
Bảng 3: Phân bố diện tích theo đơn vị hành chính……… 25
Bảng 4: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 1999 33
Bảng 5: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2000 34
Bảng 6: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2001 35
Bảng 7: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2002 37
Bảng 8: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2003 38
Bảng 9: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2004 39
Bảng 10: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ trước khi có Luật Đất đai 2003 40
Bảng 11: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2005 41
Bảng 12: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2006 42
Bảng 13: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2007 43
Bảng 14: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ theo NĐ 181 44
Bảng 15: Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ nông nghiệp và đất ở nông thôn giai đoạn 2000-2007 45
Trang 8DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1: Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất lần đầu
cho hộ gia đình cá nhân tại xã, thị trấn 13 Biểu đồ 1: Cơ cấu GDP của huyện Bến Cầu 21 Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện tiến độ cấp GCNQSDĐ
nông nghiệp và đất ở nông thôn
giai đoạn 2000 –2007……… 45 Hình 1: Bản đồ hành chính Tỉnh Tây Ninh……… 17
Trang 10Đất đai có những tính chất đặc trưng riêng khiến cho nó không giống bất cứ
tư liệu sản xuất nào Đó là một tư liệu sản xuất đặc biệt, không gì thay thế được, là một nguồn tài nguyên có tính chất giới hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian
và không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con người, đặc điểm này là nguyên nhân chủ yếu tạo nên sự khác biệt về giá trị giữa các mảnh đất nằm ở các vị trí khác nhau Chính vì những đặc tính đặc biệt như vậy, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước về đất đai phải ngày một chặc chẽ hơn để quỹ đất được sử dụng hợp lý, khoa học, có hiệu quả và đúng pháp luật
Bến Cầu là huyện nằm về phía nam của tỉnh Tây Ninh, phía bắc giáp với huyện Châu Thành, phía nam giáp với huyện Trảng Bàng, Phía đông giáp với huyện
Gò Dầu, phía tây giáp với Vương quốc Campuchia, với nguồn nhân khẩu dồi dào, thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, nằm trong vành đai kinh tế của TP Hồ Chí Minh, cách TP Hồ Chí Minh 70 km về phía Tây Bắc, giao thông thuận lợi được kết nối thông suốt Có thể khẳng định Bến Cầu là huyện có tiềm năng phát triển kinh
tế - xã hội rất lớn, thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, cũng như thu hút nguồn lao động từ các địa phương khác đến
Trong xu hướng ấy, sự chuyển dịch đất đai rất sôi động và mạnh mẽ, nhu cầu
sử dụng đất ngày càng lớn, đều này gây sức ép rất lớn với nguồn tài nguyên đất đai đang ngày một khang hiếm dần và tạo ra ngày càng nhiều khó khăn, thách thức cho công tác quản lý đất đai của địa phương Để đảm bảo các giao dịch về đất đai diễn ra thuận lợi, đảm bảo tính khoa học, hiệu quả trong công tác quản lý sử dụng đất đai của địa phương thì công tác kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trở nên hết sức cấp bách và cần thiết, cần được đẩy mạnh thực hiện và từng bước hoàn thành, tiến đến 100% người sử dụng đất đều phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai của địa phương và được
sự đồng ý của Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh Giá Tình Hình Cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất Cho
Hộ Gia Đình - Cá Nhân Trên Địa Bàn Huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh,
Giai Đoạn 2000- 2007”
Mục tiêu nghiên cứu
- Các văn bản quản lý Nhà nước về đất đai liên quan đến công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện
- Tìm hiểu các quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kết quả của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp và đất ở nông thôn cho
hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Bến Cầu từ năm 2000 đến năm 2007
Trang 11- Trên cơ sở kết quả đạt được trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng kết được qua các năm, tiến hành đánh giá tình hình thực hiện công tác này tại địa phương, những kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong quá trình thực hiện
- Từ đó có những giải pháp cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại này, đồng thời phát huy những ưu điểm trong việc triển khai công tác này tại địa phương trong thời gian tới, góp phần quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả quỹ đất
Đối tượng nghiên cứu
Công tác đăng ký đất đai ban đầu, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đối tượng là hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng các loại đất nông nghiệp, đất ở trên địa bàn huyện Bến Cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Bến Cầu, thời điểm nghiên cứu bắt đầu từ năm 2000 – 2007
- Giới hạn nội dung nghiên cứu của đề tài: Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế -
xã hội, tình hình quản lý sử dụng đất và kết quả cấp GCNQSDĐ nông nghiệp và đất ở nông thôn cho hộ gia đình, cá nhân và các yếu tố tác động đến kết quả cấp GCNQSDĐ
trên địa bàn huyện
Trang 12PHẦN I TỔNG QUAN
Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2004 đã cụ thể hóa những
nội dung về Quản lý Nhà nước đối với đất đai tại chương I (Những quy định chung)
gồm có 13 nội dung Trong đó, quản lý và đăng ký quyền sử dụng đất, cấp GCNQSDĐ
là một trong 13 nội dung của quản lý đất đai (nội dung thứ 6 trong 13 nội dung quản
lý)
Cơ sở lý luận về đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ được trình bày một cách rõ
nét thông qua các điều luật và các văn bản pháp luật hiện hành
I.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
I.1.1 Cơ sở khoa học
1 Sơ lược về công tác cấp GCNQSDĐ ở một số nước trên thế giới
Tại Úc
Cơ quan đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ là một bộ phận của Tổng cục Địa
chính (sau đây gọi là TCĐC) Đăng ký cấp giấy chứng nhận theo hệ thống Torrens
(1858) Mô hình này triển khai theo từng thửa đất bao gồm thông tin không gian (hình
thể, toạ độ, vị trí địa lý…) và thông tin thuộc tính (tình trạng pháp lý, chủ sử dụng đất,
nguồn góc thửa đất…)
Mỗi thửa đất có giấy chứng nhận (sau đây gọi là GCN) một bản lưu tại cơ quan
lưu trữ và một bản cấp cho chủ sở hữu Khi có biến động cập nhật ngay trên GCN
Tại Thái Lan
Cơ quan đăng ký cấp giấy chứng nhận thuộc Cục đất đai và được phân cấp theo
đơn vị hành chính gồm 78 tỉnh, có 180 chi nhánh và 810 huyện Thái Lan cũng sử
dụng hệ thống Torrens trong công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ
Ở Thái Lan hiện nay đang tồn tại 5 loại giấy chính:
- NS4: Loại giấy chứng nhận theo chủ sử dụng đất
- NS3K: Loại giấy chứng nhận cấp dựa trên tài liệu chụp ảnh chưa nắn
- NS2: Loại giấy chứng nhận quyền chiếm dụng tạm thời
- NS3: Loại giấy chứng nhận dựa trên cơ sở đo đạc đơn giản
- SKP4-1: Loại giấy chứng nhận chiếm dụng đất lâm nghiệp bị thoái hóa
Tại Đức
Cơ quan Địa chính tại Đức quản lý đất đai theo hệ thống địa bạ (tương đương với
GCN) Cơ quan quản lý và cấp địa bạ thuộc các tiểu bang, các tiểu bang chịu ảnh
hưởng của cơ quan địa chính liên bang và các tiểu bang tư vấn Tại Đức đã áp dụng
công nghệ thông tin trong quản lý đất đai khá sớm nên hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ
cho công tác địa bạ có tính thống nhất cao giữa các cấp
Mỗi địa bạ có nhiều thửa đất, nội dung địa bạ thiên về vị trí và quan hệ sở hữu,
loại hình sử dụng đất được mô tả giới hạn (do thuế tính theo tính chất sử dụng đất)
Các thửa đất được định vị chính xác trên thực địa và đánh số theo hệ thống (code)
thống nhất Khi có sự biến động có thể cập nhật ngay trên sổ địa bạ
Tại Thụy Điển
Trang 13Lịch sử đăng ký đất đai ở Thụy Điển bắt đầu từ thế kỷ thứ 13 đến thế kỷ 16 mới cho thành lập hệ thống sổ địa chính và đến thế kỷ 19 bắt đầu thực hiện đăng ký quyền
sở hữu đất đai, đến thế kỷ 20 tiến hành đăng ký tài sản gắn liền với đất, hình thành đơn
vị bất động sản và sử dụng ổn định cho tới ngày nay Từ năm 1970 Thụy Điển áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý đất đai và đến năm 1990 hoàn thành hệ thống đăng ký
tự động trên toàn quốc
Hệ thống thông tin đất đai bao gồm 13 loại thông tin chính được lưu trữ tại ngân hàng dữ liệu đất: Hệ thống thông tin bất động sản (tên bất động sản, tên chủ sử dụng đất…), hệ thống đăng ký (tên chủ sử dụng bất động sản, địa chỉ, tình trạng thế chấp…), hệ thống dữ liệu về nhà (chủ sở hữu, diện tích xây dựng…), ngoài ra còn có
hệ thống dữ liệu quy hoạch, hệ thống dữ liệu giá đất
Nhận xét công tác đăng ký cấp giấy ở nước ngoài
Nhìn chung công tác đăng ký cấp giấy ở nước ngoài được hình thành từ khá sớm, cho đến nay thì hệ thống này tương đối hoàn chỉnh Hệ thống dữ liệu đăng ký được quản lý chặt chẽ từ Trung ương tới địa phương
Các thông tin về thửa đất được phân ra thành từng lớp dữ liệu và áp dụng công nghệ thông tin trong vấn đề quản lý, cập nhật biến động Từ đó giúp cho việc quản lý Nhà nước về đất đai và các lĩnh vực có liên quan chính xác, hiệu quả
2 Sơ lược lịch sử đăng ký cấp GCNQSDĐ ở Việt Nam
Ở Việt Nam công tác đạc điền và quản lý điền địa có từ lâu đời Tuy nhiên bộ hồ
sơ đất đai cũ nhất mà ngày nay còn lưu trữ lại được là hệ thống địa bạ thời Gia Long (1805), ở Nam Bộ chưa tìm thấy địa bạ thời Gia Long mà chỉ thấy địa bạ thời Minh
Mạng
a Giai đoạn trước năm 1975
- Địa bạ thời Gia Long: Lập cho từng xã phân biệt đất công điền, tư điền của mỗi
xã, trong đó ghi rõ đất của ai, diện tích, tứ cận, đẳng hạng để tính thuế Địa bạ được lập thành ba bản: bản “giáp” nộp tại Bộ Hộ, bản “ất” nộp tại dinh Bố Chánh, bản “ bính” để tại xã, theo quy định hằng năm phải tiến hành tiểu tu và trong vòng 05 năm tiến hành đại tu một lần Tuy nhiên hệ thống sổ này do không có bản đồ kèm theo và không dùng một đơn vị đo lường thống nhất ở các địa phương, nên việc dùng sổ rất khó khăn và không được tu chỉnh
- Sổ địa bộ thời “Triều Minh Mạng”: Năm 17 (1836) triều Minh Mạng cử một khâm sai lo việc địa bộ tại Nam Kỳ Hệ thống này được lập tới tận làng, tận xã và có nhiều tiến bộ so với địa bạ thời “Gia Long”, địa bộ được lập trên cơ sở đạc điền với sự chứng kiến của đầy đủ các chức viên làng, chánh tổng, tri huyện và điền chủ Địa bộ thời Minh Mạng cũng được tiểu tu, đại tu định kỳ như thời Gia Long nhưng có quy định chặt chẽ hơn cho việc tu chỉnh
- Dưới thời pháp thuộc do chế độ cai trị của thực dân, trên lãnh thổ Việt Nam đã tồn tại nhiều chế độ điền địa khác nhau:
+ Chế độ quản thủ địa bộ tại Nam Kỳ
+ Chế độ bảo tồn điền trạch, sau đổi thành quản thủ địa chánh Trung Kỳ + Chế độ bảo thủ để áp (còn gọi là để đương) áp dụng đối với bất động sản của người pháp và kiều dân theo luật lệ pháp thuộc
+ Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 29/3/1939 áp dụng tại Bắc Kỳ
Trang 14+ Chế độ điền theo thổ sắc lệnh 21/7/1925 áp dụng tại Nam Kỳ và các nhượng địa pháp quốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng (cùng một ngày có 3 sắc lệnh áp dụng riêng cho 3 miền: Bắc, Trung, Nam)
b Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1980
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là sau cuộc cải cách ruộng đất năm
1957, chính quyền cách mạng tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân nghèo Năm
1960, hưởng ứng phong trào hợp tác hóa sản xuất do Đảng và chính quyền phát động, đại bộ phận nông dân với nhiệt huyết cách mạng, luôn tin tưởng vào Đảng đã góp phần lớn ruộng đất canh tác vào hợp tác xã Do vậy hiện trạng ruộng đất đã có nhiều thay đổi Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn thiếu thốn, hệ thống hồ sơ các chế độ trước để lại đã không cải cách và không thể sử dụng được nữa
Đến năm 1979, do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, tổ chức ngành Địa chính các cấp thường xuyên không ổn định Đặc biệt, Nhà nước vẫn chưa có một văn bản pháp
lý nào làm cơ sở nên công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được triển khai Hoạt động chủ yếu của ngành trong giai đoạn này là tổ chức các cuộc điều tra nhanh về đất để giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ diện tích phục vụ yêu cầu xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã
và tập đoàn sản xuất Hệ thống tài liệu đất đai trong giai đoạn này chủ yếu gồm hai loại: Bản đồ giải thửa và sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất Trong đó, thông tin về tên người sử dụng đất trên sổ sách chỉ phản ánh theo hiện trạng không tra cứu đến cơ
sở pháp lý và lịch sử dụng đất
c Giai đọan từ năm 1980 đến năm 1993
Từ năm 1980, công tác đăng ký đất đai mới được Nhà nước quan tâm và tổ chức thực hiện theo Quyết định 201/CP ngày 01/11/1980 của Hội đồng Chính Phủ và Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ Thực hiện yêu cầu này, Tổng cục quản lý ruộng đất nay là Bộ Tài nguyên Môi trường lần đầu tiên ban hành văn bản quy định thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất, theo Quyết định 56 đăng ký thống kê ngày 05/11/1981
Theo quy định này, việc đăng ký đất đai có một trình tự khá chặt chẽ, việc xét duyệt đăng ký phải do Hội đồng đăng ký thống kê ruộng đất của xã thực hiện, kết cấu xét đơn của xã phải được Uỷ ban Nhân dân xã duyệt mới được đăng ký, cấp GCNQSDĐ, hệ thống hồ sơ đăng ký đất được quy định khá đầy đủ và chi tiết, đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai trong thời kỳ đó Các tài liệu bao gồm:
+ Biên bản xác định ranh giới hành chính
+ Sổ dã ngoại
+ Biên bản và các kết quả chi tiết kiểm tra đo đạc ngoài thực địa, trong phòng + Phiếu thửa
+ Đơn đăng ký quyền sử dụng đất
+ Biên bản kê khai ruộng đất cho cá nhân, tổ chức
+ Sổ mục kê
+ Biểu tổng hợp diện tích đất ở
+ Biểu tổng hợp diện tích khoanh bao trên bản đồ
+ Biểu tổng hợp diện tích ruộng đất
Trang 15+ Mẫu GCNQSDĐ
+ Bản đồ địa chính
+ Thông báo công khai hồ sơ đăng ký đất
+ Biên bản kết thúc công khai hồ sơ
+ Sổ khai báo biến động
+ Trích lục bản đồ kèm theo bản sao khai báo biến động
Do hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, còn gặp nhiều khó khăn, hơn nữa đại bộ phận ruộng đất trên phạm vi cả nước đã và đang được tập thể hóa, nên nhiều mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ đăng ký đất theo quy định tại Quyết định số 56/TCĐC đăng ký thống kê đã phải giảm bớt hoặc cắt bỏ để đảm bảo yêu cầu trước mắt, nắm nhanh diện tích phục vụ cho các kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước
Việc triển khai Chỉ thị 299/TTg kéo dài từ năm 1981 đến cuối năm 1988 mới thực hiện được 6.500 xã và kết quả các xã đạt được còn hạn chế Các khu nông thôn hầu hết còn đo bao và để dân tự kê khai không xác định được vị trí sử dụng cụ thể trên bản đồ, hồ sơ
Việc xét duyệt, xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của người kê khai đăng ký gần như không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc, các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai không được xử lý mà vẫn được vào sổ, vì vậy hệ thống sổ sách đăng
ký được thiết lập trong giai đoạn này vẫn chỉ mang tính chất điều tra, phản ánh hiện trạng sử dụng đất, tình trạng sai sót, nhằm lẫn trong thiết lập các hồ sơ, sổ sách chiếm
tỷ lệ khá cao nên việc cấp GCNQSDĐ giai đoạn này chưa được thực hiện
Sau khi có Luật Đất đai năm 1988 đến nay, đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ đã trở thành nhiệm vụ bắt buộc và hết sức cần thiết, làm cơ sở để tổ chức thi hành Luật Đất đai Xuất phát từ yêu cầu đó, để thừa kế và phát huy kết quả điều tra đo đạc và đăng ký đất đai theo Chỉ thị 299/TTg có quá nhiều tồn tại, hệ thống chính sách đất đai trong quá trình đổi mới, việc thực hiện chủ trương giao khoán ruộng đất theo Chỉ thị 100/CT-TW, tiếp đến là ổn định lâu dài theo Nghị quyết 10/NQ-TW của Bộ chính trị
đã bắt đầu đạt được một số thắng lợi, khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và được các địa phương trong cả nước hưởng ứng mạnh mẽ, tạo sự thay đổi lớn về hiện trạng đất đai Mặc dù chủ trương này đến cuối năm 1993 vẫn chưa được thể chế hóa bằng pháp luật
d Giai đoạn từ năm 1993 đến nay
Ngay sau Luật Đất đai 1993 được ban hành Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, và các bộ đã ban hành hàng loạt các văn bản Pháp luật, Pháp lệnh, Nghị định, Chỉ thị, Nghị quyết, Thông tư để triển khai công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Thành công của việc thực hiện Nghị quyết 10/NQ-TW của Bộ chính trị khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước tạo cơ sở vững chắc cho sự ra đời của Luật Đất đai 1993 với những thay đổi lớn: ruộng đất được giao ổn định lâu dài cho hộ gia đình cá nhân, đất đai có giá trị, người sử dụng đất được hưởng các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp…Với những thay đổi đó yêu cầu và nhiệm vụ hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận ngày càng trở nên cấp bách Nhận thức được điều này chính quyền các cấp bắt đầu coi trọng và tập trung chỉ đạo công tác cấp GCNQSDĐ, triển khai rộng trên phạm vi cả nước
Trang 16Luật Đất đai 2003 ra đời là một bước ngoặc trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Thể hiện quan điểm đổi mới về công tác quản lý, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính về đất đai, công tác đo đạc, công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ được quy định cụ thể bằng các điều luật
Ngày nay công tác đăng ký và cấp GCNQSDĐ rất được Đảng và Nhà nước quan tâm triển khai đến cấp cơ sở, đặc biệt đối với những nơi chưa được thực hiện hết công tác đăng ký cấp giấy trước đây
I.1.2 Cơ sở pháp lý
1 Cơ sở Pháp lý của hệ thống đăng ký QSDĐ gồm các loại văn bản
- Luật Đất đai năm 1993 ngày 14/07/1993
- Nghị định 60/CP của Chính Phủ ngày 05/07/1994 Quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở
- Văn bản số 647/CV-ĐC của Tổng cục Địa chính ngày 31/05/1995 về việc hướng dẫn một số vấn đề xử lý khi thực hiện Nghị định 60/CP của Chính Phủ ngày 05/07/1994
- Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 của Tổng Cục Địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ
- Chỉ thị 10/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/02/1998 về đẩy mạnh và hoàn thành việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp
- Thông tư số1442/1999/TTLT-TCĐC-BTC ngày 21/9/1999 của liên Bộ Tài chính và Tổng cục Địa chính hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Chỉ thị 18/1999/CT-TTg
- Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng Cục Địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ
- Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003
- Nghị định số 181/NĐ–CP, ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003
- Thông tư số 30/2004/TT - BTNMT, ngày 01 tháng 11 năm 2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dung đất
- Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về GCNQSDĐ
- Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính Phủ về thu tiền sử dụng đất
- Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/07/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về GCNQSDĐ
- Nghị định 84/2007/NĐ–CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, thủ tục bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiều nại về đất đai
Trang 172 Những quy định hiện hành về đăng ký đất đai ban đầu, cấp GCNQSDĐ
a Đối tượng phải kê khai đăng ký đất đai
- Theo Điều 9 và Điều 107 Luật Đất đai 2003 người sử dụng đất phải thực hiện đăng ký đất đai gồm các đối tượng sau:
+ Các tổ chức trong nước
+ Hộ gia đình, cá nhân
+ Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất
+ Cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động
+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (điều kiện theo tổ chức kinh tế là pháp nhân Việt Nam)
- Theo quy định tại Điều 2 và khoản 1 Điều 39 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP, người chịu trách nhiệm đăng ký là:
+ Người đứng đầu tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài sử dụng đất
+ Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp xã đối với đất do UBND cấp xã sử dụng + Người đại diện cho cộng đồng dân cư sử dụng đất được UBND cấp xã chứng thực
+ Người đứng đầu cơ sở tôn giáo sử dụng đất
+ Chủ hộ gia đình sử dụng đất
+ Cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng đất
+ Người đại diện cho những người có quyền sử dụng chung thửa đất
- Trên giấy chứng nhận và hồ sơ địa chính phải ghi tên người sử dụng đất
- Người chụi trách nhiệm đăng ký được ủy quyền cho người khác trong mọi trường hợp theo quy định của pháp luật
b Điều kiện cấp GCNQSDĐ lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
Theo Điều 48 và Điều 50 Luật Đất đai 2003, người sử dụng đất thỏa mãn một trong các điều kiện sau thì được cấp GCNQSDĐ:
Có một trong sáu loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (sau đây gọi là QSDĐ) và được UBND xã nơi có đất xác nhận đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp thì được cấp GCNQDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất
* Các loại giấy tờ về QSDĐ gồm có:
- Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Nhà Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký, sổ địa chính
Trang 18- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất
- Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất trước ngày 15/10/1993 nay được Ủy ban Nhân dân Xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993
- Giấy tờ về thanh lý hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định
- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất
Có một trong các loại giấy tờ về QSDĐ nhưng ghi tên người khác thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất nếu có điều kiện:
- Có giấy tờ về chuyển nhượng có chữ ký của các bên có liên quan
- Được UBND cấp xã xác nhận đất không có tranh chấp (xác nhận trong quá trình đăng ký)
Người đang sử dụng đất tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, ở miền núi, hải đảo thì phải được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận thì được cấp GCNQDĐ
và không phải nộp tiền sử dụng đất, nếu có điều kiện:
- Có hộ khẩu thường trú tại địa phương và phải trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
- Là người sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp
Người sử dụng đất theo bản án hoặc theo quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
và đã thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định thì được cấp GCNQSDĐ và không phải nộp tiền sử dụng đất
Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến ngày 30/6/2004 nhưng chưa được cấp giấy thì nay được cấp GCNQSDĐ Trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định mới
Người sử dụng đất không có giấy tờ về QSDĐ thì được cấp GCNQSDĐ nếu được UBND cấp xã xác nhận:
- Đất không có tranh chấp
- Phù hợp với quy hoạch
- Sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 thì không phải nộp tiền sử dụng đất
- Sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì phải nộp tiền sử dụng đất
c Cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thửa đất có vườn, ao
Trường hợp đã cấp GCNQSDĐ trước ngày Nghị định 181/2004/NĐ-CP có hiệu
lực thi hành:
- Diện tích đất ở là diện tích ghi trên giấy chứng nhận đã được cấp
- Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các khoản 2,
3, 4 Điều 87 Luật Đất đai và khoản 2, 3 Điều 80 Nghị định 181/2004/NĐ-CP; phần diện tích đất ở mới được xác định thêm không phải nộp tiền sử dụng đất Cụ thể như sau:
Trang 19+ Đối với trường hợp đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18/12/1980 thì toàn bộ diện tích đất vườn, ao được xác định là đất ở
+ Đối với trường hợp thửa đất có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004; nếu trên GCNQSDĐ ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất
ở là diện tích ghi trên giấy chứng nhận (sau đây gọi là GCN); nếu trên GCNQSDĐ không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo quy định tại khoản
3, 4, 5 Điều 87 Luật Đất đai
Trong trường hợp chưa được cấp GCNQSDĐ:
- Trường hợp người sử dụng đất có giấy tờ hợp lệ về QSDĐ quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai:
+ Thửa đất có vườn, ao trong cùng một thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng trước ngày 18/12/1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về QSDĐ có ghi rõ ranh giới thửa đất ở thì toàn bộ diện tích đó xác định là đất ở; trường hợp thửa đất chưa xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các loại giấy tờ về QSDĐ thì diện tích đất ở được xác định lại không quá 05 lần hạn mức giao đất ở của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, phần diện tích còn lại xác định theo hiện trạng Người sử dụng đất khi được cấp GCN thì không phải nộp tiền sử dụng đất cho phần diện tích đất ở này
+ Trường hợp sử dụng đất từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 thì diện tích đất ở được xác định tại các khoản 3, 4, 5 Điều 87 Luật Đất đai
Nếu trên các loại giấy tờ về QSDĐ ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất vườn,
ao được xác định theo giấy tờ đó
Nếu trên các loại giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất vườn, ao được xác định: Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì diện tích được xác định bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất
- Trường hợp người sử dụng đất không có giấy tờ hợp lệ về QSDĐ theo quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai thì diện tích đất ở có vườn, ao được xác định theo hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nếu:
+ Sử dụng đất trước ngày 15/10/1993: Khi được cấp GCN người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất cho phần diện tích xác định theo hạn mức giao đất ở
+ Sử dụng đất sau ngày 15/10/1993: Khi được cấp GCN người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất cho phần diện tích xác định theo hạn mức giao đất ở
d Nội dung đăng ký quyền sử dụng đất
Nội dung đăng ký QSDĐ gồm các thông tin về thửa đất liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được xác định và thể hiện trên GCNQSDĐ, hồ sơ địa chính phục vụ cho yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai
Theo khoản 2 Điều 47 Luật Đất đai 2003, các Điều 43, 44 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, Điều 3 của Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT, nội dung đăng ký QSDĐ gồm các thông tin thể hiện trên GCNQSDĐ và hồ sơ địa chính theo những thông tin sau:
- Vị trí thửa đất
Trang 20e Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo Điều 52 Luật Đất đai 2003, thẩm quyền cấp GCNQSDĐ được quy định như sau:
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp GCNQSDĐ cho tổ chức trong nước sử dụng đất, cơ sở tôn giáo, tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam UBND tỉnh được ủy quyền cho sở TN & MT trong các trường hợp theo quy định của pháp luật
- UBND huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
f Thủ tục đăng ký đất đai ban đầu
Một số thay đổi cơ bản về thủ tục cấp GCNQSDĐ lần đầu so với trước đây
- Về việc nộp hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ:
+ Người sử dụng đất không phải nộp: Trích lục bản đồ hoặc trích đo địa chính thửa đất; biên bản xác định ranh giới thửa đất với người kế cận
+ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Văn phòng ĐKQSDĐ) chịu trách nhiệm trích lục bản đồ, trích đo thửa đất đối với trường hợp đủ điều kiện
+ Việc xác định ranh giới hộ liền kề do cơ quan Nhà nước xác định: Trường hợp có giấy tờ về QSDĐ thì do cơ quan Tài nguyên và Môi trường (TN & MT) xác định; trường hợp chưa có giấy tờ về QSDĐ thì do đơn vị đo đạc xác định khi đo đạc
- Thay đổi trách nhiệm của UBND cấp xã trong thực hiện thủ tục đăng ký:
+ Về việc tiếp nhận hồ sơ: UBND xã, thị trấn không tiếp nhận hồ sơ đăng ký của tổ chức; UBND phường không tiếp nhận hồ sơ của mọi đối tượng
+ UBND xã không thực hiện các công việc nghiệp vụ mà Văn phòng ĐKQSDĐ thực hiện, không phải chuẩn bị tài liệu, số liệu điều tra đo đạc, không chịu trách nhiệm xét đơn đăng ký đủ hay không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, không lập hồ sơ địa chính
+ UBND xã, phường, thị trấn chỉ chịu trách nhiệm xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp, sự phù hợp với quy hoạch, công khai hồ sơ đủ hay không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ
- Thay đổi trong nhiệm vụ của UBND cấp có thẩm quyền:
+ Không xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất mà do cơ quan thuế xác định
+ Không ký quyết định cấp trước khi ký giấy chứng nhận
Trang 21 Quy trình, thủ tục đăng ký lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng tại
- Văn bản ủy quyền xin cấp GCNQDĐ (nếu có)
* Trình tự và thời gian giải quyết (55 ngày làm việc)
- UBND xã, thị trấn nơi có đất có trách nhiệm:
+ Thẩm tra, xác nhận vào đơn xin đăng ký cấp GCNQSDĐ về các nội dung sau:
Tình trạng tranh chấp sử dụng đất (kể cả có hoặc không có giấy tờ về quyền
sử dụng đất)
Nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất
Sự phù hợp với quy hoạch đã xét duyệt (đối với trường hợp không có các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai)
Đối với đất trang trại phải rà soát hiện trạng, nguồn gốc sử dụng đất, đối chiếu với hồ sơ đất đai hiện có và quy hoạch, báo cáo UBND cấp huyện
+ Công bố, công khai danh sách đủ và không đủ điều kiện trong 15 ngày
+ Gửi toàn bộ hồ sơ đến Văn phòng ĐKQSDĐ thuộc phòng TN & MT
- Văn phòng ĐKQSDĐ có trách nhiệm:
+ Kiểm tra hồ sơ (tính đầy đủ, rõ ràng, chính xác của hồ sơ)
+ Xác định đủ hay không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ và ghi ý kiến vào đơn + Nếu đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận thì: Trích lục bản đồ hoặc trích đo địa chính, trích sao hồ sơ địa chính và gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế
+ Gửi toàn bộ trường hợp đủ và không đủ điều kiện đến phòng TN & MT
- Phòng TN & MT có trách nhiệm:
+ Kiểm tra hồ sơ, trình UBND cùng cấp ký GCNQSDĐ
+ Trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày UBND ký GCNQSDĐ phải:
Ghi vào sổ cấp giấy chứng nhận
Gửi GCNQSDĐ đã ký và hồ sơ không đủ điều kiện cho UBND cấp xã (thông qua Văn phòng ĐKQSDĐ)
Gửi bản lưu GCN kèm theo hồ sơ đủ điều kiện cho Văn phòng ĐKQSDĐ trực thuộc để lưu
Gửi thông báo về việc cấp GCNQSDĐ cho Văn phòng ĐKQSDĐ thuộc sở
TN & MT để lập và chỉnh lý hồ sơ gốc
- Trong thời gian 3 ngày làm việc:
+ Thông báo cho người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận thực hiện nghĩa
vụ tài chính
+ Trả hồ sơ cho những trường hợp không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ
+ Trao GCNQSDĐ Thu phí, lệ phí địa chính theo ủy quyền của Văn phòng ĐKQSDĐ
Trang 22
Sơ đồ 1: Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất lần đầu cho
hộ gia đình cá nhân tại xã, thị trấn
Người sử dụng đất
- Thông báo nộp tiền sử dụng đất
- Trao GCN
- Trả hồ sơ
Hồ sơ xin cấp cấp GCNQSDĐ
UBND xã, thị trấn
- Công khai hồ sơ
VĂN PHÒNG ĐKQSDĐ CẤP HUYỆN
- Kiểm tra hồ sơ
- Xác nhận điều kiện cấp GCN
Cơ quan
thuế
Số liệu địa chính
Loại, mức nghĩa vụ tài chính
- Kiểm tra hồ sơ
Trang 23I.1.3 Cơ sở thực tiễn
Trong những năm gần đây, đất đai trên địa bàn huyện có nhiều biến động lớn, cơn sốt giá đất làm cho đất đai được sử dụng không ổn định, tình hình chuyển nhượng sang tay, tích trữ, đầu cơ đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép…diễn ra khá phổ biến, trước tình hình này phải có nhiều biện pháp quản lý quỹ đất của địa phương chặt chẽ hơn, mà trước hết là phải hoàn thành công tác cấp GCNQSDĐ
Ngoài ra, kể từ khi có Luật Đất đai năm 1993 quan hệ đất đai có những thay đổi lớn, yêu cầu nhiệm vụ hoàn thành cấp GCNQSDĐ ngày càng trở nên bức bách và nhu cầu bức xúc của người dân cần phải có GCNQSDĐ để thực hiện các quyền của người
sử dụng đất
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài đi vào tìm hiểu các quy trình về đăng ký đất đai trong các văn bản pháp luật, tìm hiểu về thực trạng công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện, từ đó đưa ra những đánh giá xác thực về thực tế công tác này tại địa phương
I.1.4 Sự cần thiết đăng ký đất đai - cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Hoàn thành tốt nhiệm vụ đăng ký đất đai không chỉ tạo tiền đề vững chắc mà còn hết sức cần thiết cho việc triển khai thực hiện tốt tất cả các nội dung, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai
Đăng ký đất đai làm cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
Dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý nhằm đảm bảo sử dụng đất một cách đầy đủ hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao nhất Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Người sử dụng được hưởng quyền lợi khi sử dụng đất cũng phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo các quy định pháp luật
Đăng ký đất đai là một nội dung quan trọng có liên quan đến nhiều nội dung nhiệm vụ quản lý đất đai khác
Lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ không chỉ là mục tiêu sản phẩm trực tiếp của quá trình đăng ký đất đai mà còn là mục tiêu phấn đấu của toàn bộ 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Để thiết lập hồ sơ địa chính theo yêu cầu của quản lý đất đai đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các nội dung, nhiệm vụ, xây dựng và ban hành cùng các văn bản về lĩnh vực đất đai
Thông qua đăng ký đất đai cung cấp thông tin trên từng thửa đất một cách kịp thời phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất, qua đó hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai như: Thống kê, kiểm kê đất đai, lập hồ sơ địa chính và là căn cứ tin cậy trong công tác thanh tra, giao đất, giải quyết tranh chấp đất đai
Đăng ký đất đai là điều kiện đảm bảo để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ; đảm bảo cho đất đai sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao nhất
Đối tượng của quản lý Nhà nước về đất đai là toàn bộ diện tích các loại đất trong phạm vi hành chính, Nhà nước muốn quản lý chặt chẽ quỹ đất đai thì trước hết phải nắm chắc thông tin về thửa đất theo yêu cầu của quản lý đất đai Công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ là một thủ tục hành chính bắt buộc của người sử dụng đất giúp cho Nhà nước nắm rõ các thông tin đó
Trang 24 Đăng ký đất đai - cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất góp phần công khai hóa thị trường bất động sản
Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, thị trường bất động sản chưa có điều kiện phát triển Nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo tinh thần đổi mới nền kinh tế của Đảng, thị trường này đã dần hình thành và phát triển, từ đó xuất hiện những diễn biến phức tạp Quá trình hình thành và phát triển, bên cạnh những mặt tích cực cũng bộc lộ nhiều khuyết tật, thể hiện trên các mặt: phát triển
tự phát, giao dịch không chính thống, giá cả bất động sản tăng nhanh…gây khó khăn không nhỏ đến sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Một trong những giải pháp trước mắt để giải quyết các vấn đề trên là phải nhanh chóng hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức nhằm tạo cơ sở pháp lý cho bất động sản lưu thông trên thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, khi giải quyết được các vấn đề này sẽ góp phần bảo đảm thực hiện có kết quả yêu cầu quản lý của Nhà nước, tạo điều kiện
để cho giao dịch lành mạnh và tăng đáng kể cho ngân sách Nhà nước
Khuyến khích đầu tư nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Khi đã có GCNQSDĐ thì người sử dụng đất yên tâm đầu tư vào mảnh đất của mình; một khi họ đã có GCNQSDĐ, họ sẽ tìm cách khai thác hết mọi tìm năng đất đai
có thể có để đem lại lợi ích kinh tế cao nhất Mặt khác người sử dụng sẽ được đảm bảo các quyền lợi của mình trước pháp luật như: bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, các quyền lợi khác được quy định trong Luật Đất đai năm 2003 và khi có GCNQSDĐ giống như có “lá bùa” trong tay, họ có thể rút ra để cứu vãn tình thế bằng cách thế chấp hay chuyển nhượng một cách dễ dàng khi cần thiết
Như vậy, GCNQSDĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ riêng cho việc quản lý Nhà nước về đất đai mà góp phần ổn định, phát triển kinh tế - xã hội
I.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu
Huyện Bến Cầu có tổng diện tích tự nhiên 23.756,83 ha, cách thị xã Tây Ninh 30
km về phía Tây Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Tây Bắc Huyện bao gồm 8 xã và một thị trấn
Huyện Bến Cầu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, đất đai màu mỡ Tuy nhiên,
do huyện tiếp giáp với vùng biên giới nên gây khó khăn cho phát triển mạng lưới giao thông và canh tác nông nghiệp
Bến Cầu là một huyện giáp biên giới nên điều kiện phát triển KT-XH còn nhiều khó khăn Nền kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chưa có đều kiện phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Tỷ lệ dân số tăng cao, trên địa bàn huyện có
một số bà con đồng bào dân tộc sinh sống
I.3 Nội dung – Phương pháp nghiên cứu
I.3.1 Nội dung nhiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến công tác cấp GCNQSDĐ
+ Điều tra phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên (vị trí, khí hậu, địa hình, tài nguyên đất, tài nguyên nước…)
+ Điều tra thu thập thông tin, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội (thực trạng
Trang 25+ Điều tra thu thập thông tin về công tác quản lý Nhà nước về đất đai có liên quan đến công tác cấp giấy như: công tác quản lý đất đai theo ranh giới hành chính, đo đạc bản đồ địa chính, giao đất, cho thuê đất…
+ Điều tra xem xét cơ cấu, hiện trạng sử dụng đất ảnh hưởng tới công tác cấp giấy
- Thu thập, phân tích đánh giá các số liệu về công tác cấp GCNQSDĐ nông nghiệp và đất ở nông thôn qua các thời kỳ trước khi có Luật Đất đai 2003 và sau khi
có Luật đất đai 2003 trên địa bàn huyện
- Phân tích khó khăn, vướng mắc và hướng khắc phục trong quá trình cấp giấy
- Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác cấp giấy, những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác cấp GCNQSDĐ
I.3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: Từ số liệu thu thập được tiến hành thống kê các số liệu
về kinh tế - xã hội, diện tích, số liệu về tình hình cấp giấy từ năm 2000 đến 2007
- Phương pháp so sánh: Phân tích số liệu diễn biến qua các năm để rút ra thực trạng cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích số liệu từng giai đoạn nhằm đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ từ đó rút ra những tồn tại, hạn chế trong công việc, đề ra giải pháp hoàn thiện
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của những người am hiểu sâu về nội dung nghiên cứu cũng như học tập những kinh nghiệm chuyên môn để ứng dụng vào đề tài
I.3.3 Quy trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp
- Viết đề cương nghiên cứu
- Liên hệ địa bàn thực tập
- Tham gia vào công tác thực tế tại địa phương trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Văn Phòng ĐKQSDĐ huyện Bến Cầu
- Thu thập các thông tin, tư liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu:
+ Các điều kiện liên quan đến điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Bến Cầu
+ Các nguồn tài liệu liên quan đến tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Bến Cầu
+ Tài liệu, số liệu về công tác cấp GCNQSDĐ
- Xử lý, tổng hợp kết quả nghiên cứu
+ Phân cấp tài liệu
+ Xử lý, tổng hợp
- Viết báo cáo, bổ sung báo cáo
- Hoàn chỉnh và nộp báo cáo
Trang 26PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
II.1 Khái quát điều kiện tự kinh tế - xã hội
II.1.1 Đặc điểm tự nhiên
1 Vị trí địa lý
Huyện Bến Cầu có tổng diện tích tự nhiên là 23.756,83 ha, cách thị xã Tây Ninh
30 km về phía Tây Nam, cách TP Hồ Chí Minh 70 km về phía Tây Bắc, được giới hạn bởi ranh giới hành chính như sau:
◦ Phía bắc giáp huyện Châu Thành
◦ Phía nam giáp huyện Trảng Bàng
◦ Phía đông giáp với huyện Gò Dầu bởi sông Vàm cỏ đông
◦ Phía tây giáp Vương quốc Campuchia
Hình 1: Bản đồ hành chính Tỉnh Tây Ninh
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN BẾN CẦU
CHÚ DẪN
Trang 27Với chiều dài đường biên giới 30 km đây là vị trí thuận lợi cho việc trao đổi về kinh tế, giao lưu văn hoá với nước bạn Campuchia
2 Điều kiện khí hậu
Theo số liệu quan trắc nhiều năm của trạm khí tượng Dầu Tiếng và trạm đo mưa
Gò Dầu Hạ thì huyện Bến Cầu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với những đặc trưng sau:
Nắng nhiều (bình quân 2.920 giờ/năm), nhiệt độ cao đều trong năm (trung bình 27,7oC), biên độ nhiệt độ ngày đêm chênh lệch (8o – 9o)
So với các huyện trong tỉnh, huyện Bến Cầu nằm trong khu vực có lượng mưa và
số ngày mưa tương đối thấp (lượng mưa bình quân 1650 mm và số ngày mưa 120 ngày), phân bố không đều giữa các tháng và chia ra 2 mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm, trong đó có 2 tháng mưa lớn và tập trung (tháng 9, tháng 10) đã gây tình trạng ngập úng ở các khu vực có địa hình thấp và trũng
+ Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa không đáng kể (10% tổng lượng mưa cả năm), nhiệt độ không khí và độ ẩm rất cao, lượng bốc hơi lớn gây thiếu nước cho sinh hoạt
3 Địa hình và chế độ thuỷ văn
a Địa hình
Qua khảo sát thực địa cho thấy địa hình huyện Bến Cầu khá bằng phẳng so với các huyện khác trong tỉnh Địa hình có xu hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Tây Nam
và được chia thành 3 dạng chính như :
+ Địa hình thấp trũng: Phân bố chủ yếu dọc theo sông Vàm cỏ đông thuộc các xã: An Thạnh, Lợi Thuận, một phần của xã Tiên Thuận và xã Long Chữ Phần lớn vùng đất ở các xã này thường bị ngập úng vào mùa mưa
+ Địa hình trung bình, bằng lượn sóng: Dạng địa hình này có ưu điểm là tiêu thoát nước tốt, nhưng có hạn chế là đất đai dễ dị xói mòn, rửa trôi Mặt khác do phân
bố xa sông Vàm cỏ đông nên chỉ sử dụng nước từ các kênh rạch để bơm tưới cho một
số diện tích gần kênh rạch, còn lại đều phải sử dụng nước ngầm
+ Địa hình cao, đồi gò: Phân bố xen kẽ trong các khu vực có địa hình bằng, lượn sóng Dạng địa hình này dễ bị rửa trôi và xói mòn, cần chú ý các biện pháp bảo
vệ và cải tạo đất trong quá trình sử dụng
b Chế độ thủy văn
- Thủy văn nước mặt: Nguồn nước mặt của huyện khá dồi dào với các sông rạch chính như sau: Sông Vàm cỏ đông chảy cặp theo ranh giới phía đông của huyện với chiều dài khoảng 30 km, chiều rộng bình quân 200m, độ sâu 15m, lưu lượng mùa cạn trung bình 15 m3/s có nước ngọt quanh năm có thể tưới tiêu cho huyện Bến Cầu từ
4000 – 5000 ha
+ Rạch bảo chảy từ sông Vàm cỏ đông tới biên giới Campuchia với chiều dài khoảng 10 km, chiều rộng 30 – 35m, với độ sâu 3 – 4m, đây là rạch chủ yếu cung cấp nước tưới vào sâu trong nội đồng
+ Rạch Đìa Xù với chiều dài 5 km là rạch tiêu úng cho vùng trũng phía bắc quốc lộ 22A
Trang 28Ngoài ra trong huyện còn có một số kênh rạch chủ yếu nhưng hiện nay số kênh này rất hẹp và nông cần phải được nạo vét
Nhìn chung, các kênh rạch trong huyện đã cung cấp được lượng nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và cho sinh hoạt của người dân, tuy nhiên mật độ kênh rạch còn thưa và dòng chảy chưa rõ rệt
- Thủy văn ngầm: Hiện nay huyện Bến Cầu chưa có tài liệu nghiên cứu đánh giá chi tiết về nguồn nước ngầm Qua khảo sát nhiều giếng khoan và giếng đào trong toàn huyện cho thấy tiềm năng nước ngầm của huyện khá dồi dào, chất lượng nước tốt, hiện nay được khai thác cho sản xuất và sinh hoạt với quy mô lớn đạt chất lượng và hiệu quả cao
4 Thổ nhưỡng
Theo Bản đồ đất tỷ lệ 1: 25.000 thì toàn huyện phân 3 nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất xám: Diện tích 16.212 ha, chiếm 70% diện tích toàn huyện, gấp 4 lần nhóm đất thủy phân và 6,4 lần đất phèn thủy phân, phân bố tập trung ở các xã: Long Thuận, Long Khánh, Long Giang, Lợi Thuận và một phần các xã còn lại bao gồm 4 loại sau:
+ Đất phèn thủy phân hoàn toàn (Sr)
+ Đất phèn thủy phân trên nền phèn hoạt động (Srj)
+ Đất phèn thủy phân trên nền phèn tiềm tàng (Srp)
+ Đất phèn thủy phân trên nền phèn hoạt động và tiềm tàng (Srjp)
- Nhóm đất phèn: Có diện tích 2.550, chiếm 11% diện tích tự nhiên toàn huyện, bao gồm 3 loại đất chính:
+ Đất phèn tiềm tàng (Sp)
+ Đất phèn tiềm tàng trên nền than bùn (Sp/T)
+ Đất phèn hoạt động trên nền phèn tiềm tàng (Sjp)
- Sét gạch ngói: Phân bố dọc theo sông Vàm cỏ đông, nhưng tập trung nhiều nhất
ở các xã An Thạnh, Long Thuận, Long Chữ Trữ lượng ước tính 3 – 4 triệu m3, hiện đang được khai thác làm gạch, ngói đạt chất lượng cao
Trang 296 Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật của huyện khá phong phú mang nhiều đặc điểm sinh thái đồng bằng với những chủng loại chính sau:
- Thực vật hoang dã bao gồm: Các cây thân gỗ, các cây thân thảo, cỏ tranh, cỏ năng…Thực vật trồng bao gồm các loại cây lâu năm như: dừa, xoài, nhãn…và các loại cây trồng hằng năm như: lúa, bắp, đậu phộng…
- Động vật hoang dã chủ yếu là các loài gặm nhắm như cáo, chồn, sóc, chuột, các loài cá tự nhiên Động vật nuôi bao gồm: heo, trâu, bò, gà vịt…
Nhìn chung, các loại động thực vật nuôi trồng trên địa bàn huyện Bến Cầu đều sinh trưởng và phát triển khá tốt, cho năng suất và chất lượng cao
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
Thuận lợi
- Huyện Bến Cầu nằm trên tuyến giao lưu trực tiếp giữa vùng kinh tế trọng điểm phía nam giáp với Vương Quốc Campuchia, cách thị xã Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh không xa nên rất thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế toàn diện theo hướng mở Đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tạo
sự phát triển cho kinh tế - xã hội của huyện
- Tiềm năng tự nhiên của huyện khá dồi dào với chế độ nhiệt cao đều trong năm, địa hình tương đối bằng phẳng, nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm khá dồi dào…là những điều kiện thuận lợi cho việc khai thác sử dụng đất cũng như phân bố các công trình cơ sở hạ tầng như: Giao thông, công nghiệp, xây dựng …và phân bố dân cư
Khó khăn
- Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa và số ngày mưa tương đối thấp, lại phân bố theo mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa lớn và tập trung thường gây ngập úng, vào mùa khô gây tình trạng thiếu nước cho sản xuất và cho sinh hoạt
- Nguồn nước mặt khá dồi dào nhưng do số lượng sông suối ít lại phân bố không đều gây khó khăn cho việc tổ chức tưới tiêu và thoát nước, chi phí đầu tư cho các công trình khai thác nước mặt như trạm bơm, kênh, mương khá cao
- Đất đai của huyện phần lớn là đất xám, bên cạnh những thuận lợi cũng có nhiều hạn chế như: Khả năng giữ nước kém, thành phần cơ giới nhẹ nên dễ bị rữa trôi
- Hệ sinh thái cây trồng trên đất xám tuy phong phú nhưng chủ yếu là cây ngắn ngày, việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đa dạng hóa cây trồng bằng các loại cây lâu năm sẽ có nhiều hạn chế
Trang 30BIỂU ĐỒ CƠ CẤU GDP CỦA HUYỆN BẾN CẦU
Nông - Lâm – Ngư nghiệp71,45%
Công nghiệp - xây dựng 4,08%
Dịch vụ 24,47%
II.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Bảng 1: Cơ cấu GDP của các ngành kinh tế của huyện
STT Ngành kinh tế Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Phòng TN & MT huyện Bến Cầu năm 2008)
Biểu đồ 1: Cơ cấu GDP của huyện Bến Cầu
Qua biểu đồ trên cho thấy nền kinh tế huyện vẫn chưa hợp lý so với tình hình
phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của huyện, tỷ lệ đóng góp vào GDP của ngành
Nông - Lâm - Ngư nghiệp rất cao so với ngành Công nghiệp - xây dựng, Dịch vụ Giá
trị đóng góp của ngành nông, lâm, ngư nghiệp, chiếm 71,45% trong tổng GDP toàn
huyện, trong khi công nghiệp, chiếm 4,08% và dịch vụ, chiếm 24,47%, nguyên nhân
do cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp và dịch vụ còn nhiều khó khăn,
người dân mang nặng tính sản xuất nông nghiệp
a Ngành nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành có thế mạnh của huyện Bến Cầu, là ngành chủ đạo của
huyện Hằng năm sử dụng trên 80% lao động xã hội, đóng góp trên 90% sản lượng
toàn huyện, trong những năm vừa qua đã và đang chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi nhưng cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp chuyển dịch chậm, còn nặng
về trồng trọt
Ngành trồng trọt: Năm 2003: 32.362,2 ha
Năm 2007: 35.634,7 ha
b Ngành chăn nuôi
Trong những năm qua ngành chăn nuôi của huyện không ổn định, phương thức
chăn nuôi của huyện là nuôi phân tán ở hộ gia đình với quy mô nhỏ, chưa có cơ cấu
chăn nuôi công nghiệp
Trang 31c Nuôi trồng thủy sản
Huyện Bến Cầu có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản khá lớn nhưng chưa khai thác triệt để, phương thức nuôi chủ yếu là nuôi trồng trên sông Vàm cỏ đông và nuôi cá ao với quy mô nhỏ chưa tương xứng với tiềm năng của huyện nên chưa đem lại hiệu quả kinh tế cao
d Lâm nghiệp
Diện tích lâm nghiệp của huyện là 758,30 ha chủ yếu nằm tại xã Long Phước Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 736 ha, diện tích rừng trồng là 22,3 ha Tuy nhiên
độ che phủ còn thấp và hiệu quả kinh tế chưa cao
e Ngành Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp
Là một huyện kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nên giá trị sản xuất Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp tăng chậm, qua các năm có tăng nhưng số cơ sở và quy mô còn
ít chưa tạo ra sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện Một số thiết bị sản xuất ở các cơ
sở đã cũ nhưng chưa được thay thế, năng suất sản lượng chưa cao nên chưa có sự cạnh tranh đối với thị trường Với khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài đang dần hình thành đó là điều kiện tốt, do đó cần tranh thủ sự phát triển cửa khu kinh tế Mộc Bài để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện, trọng tâm phát triển công nghiệp chế biến nông sản, xay xát gạo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu
f Thương mại - Dịch vụ
Tiềm năng phát triển Thương mại - Dịch vụ của huyện rất lớn, trong đó đáng kể nhất là tiềm năng thương mại Quốc tế cửa khẩu Mộc bài, hiện nay đã và đang được khai thác nhưng chưa đáng kể Mạng lưới Thương mại - Dịch vụ tư nhân đã được hình thành và đảm nhận gần như toàn bộ việc lưu thông hàng hóa trong huyện Riêng tài chính ngân hàng hoàn toàn do Nhà nước thống nhất quản lý
Hiện nay chỉ có 6/8 xã có chợ trong đó có 2 chợ tại xã Long Thuận và Tiên Thuận có quy mô diện tích tương đối phù hợp, các xã còn lại đều có chợ tạm thời
2 Thực trạng phát triển các lĩnh vực xã hội
a Dân số và lao động
- Dân số
Là một huyện có tốc độ tăng dân số tự nhiên khá cao 1,38%, dân số toàn huyện
là 62.120 người Trong đó nam: 30.439 người, chiếm 49% dân số toàn huyện, nữ: 31.681 người, chiếm 51% dân số toàn huyện
Tỷ lệ dân số nữ chiếm 51% thấp hơn tỷ lệ của cả tỉnh 52%, cơ cấu giới tính của huyện đang tiến tới sự cân bằng (tỷ lệ 49% – 50%) Dân số phân bố không đồng đều tập trung đông ở các xã Lợi Thuận, An Thạnh, thị trấn Bến Cầu Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao 1,38% nhưng tỷ lệ tăng cơ học lại thấp, nhưng xu hướng sắp tới tốc độ tăng
tự nhiên giảm và tăng cơ học sẽ cao Nguyên nhân là trong những năm sắp tới huyện tập trung phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp và với khu kinh tế cửa khẩu Mộc bài đang dần dần hình thành sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư vào Bến Cầu thì một nhu cầu tất yếu là thu hút ngày càng đông lực lượng lao động nhập cư từ các địa phương khác đến
- Lao động
Trang 32Do huyện Bến Cầu nói riêng và tỉnh Tây Ninh nói chung có vị trí thuận lợi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, nguồn lao động dồi dào Trong những năm qua số lao động của huyện làm việc trong khu kinh tế ngày một tăng cao, tính đến năm
2007 toàn huyện Bến Cầu có 43,135 lao động chiếm 67,83% dân số toàn huyện
b Thực trạng phát triển đô thị
Trong những năm qua tốc độ đô thị hóa của huyện Bến Cầu không cao, ngoài khu trung tâm hành chính của huyện thì hiện trạng cơ sở hạ tầng hầu như chưa có gì, các công trình xây dựng chủ yếu là nhà cấp bốn, một số khu thị tứ đang được hình thành như: Khu kinh tế thương mại đô thị cửa khẩu Mộc Bài, khu thị tứ Long Thuận
c Cơ sở hạ tầng
- Mạng luới giao thông đường bộ của huyện khá phát triển với quốc lộ 22A nối liền huyện với các huyện khác đi đến TP Hồ Chí Minh, đường Tỉnh lộ 786 chạy dài qua các xã trong huyện, mạng lưới giao thông phân bố tương đối đồng đều, tuy nhiên cũng còn một số tuyến đường bộ bị hư hỏng, xuống cấp chưa được tư sửa
- Huyện Bến Cầu là một trong những huyện có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi
so với các huyện khác trong tỉnh Hệ thống thủy lợi đã được đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi nhất là các trạm bơm tưới, nhưng do thiếu vốn đầu tư và việc sử dụng chưa có hiệu quả
- Hiện nay 100% các hộ trong xã đều đã có điện phục vụ cho sản xuất và cho sinh hoạt
- Mạng lưới cơ sở y tế của huyện đã được xây dựng khá hoàn chỉnh từ cấp huyện đến cấp xã, hiện nay huyện có một bệnh viện huyện, các xã đều có trạm y tế Tuy nhiên, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ của các cơ sở y tế trong huyện còn thiếu
Đánh giá chung về kinh tế xã hội
Thuận lợi
- Lực lượng lao động của huyện khá dồi dào có kinh nghiệm trong khai thác và
sử dụng đất đai Bình quân đất đai trên hộ nông thôn cao hơn so với một số huyện khác trong tỉnh
- Nền kinh tế của huyện đã và đang chuyển dịch đúng hướng, tốc độ tăng trưởng khá, GDP bình quân trong những năm gần đây tăng đáng kể
- Hệ thống bệnh viện, hệ thống điện tăng lên đáng kể tạo điều kiện cho người dân được khám chữa bệnh bảo vệ sức khoẻ, sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt
Trang 33- Sức thu hút đầu tư bên ngoài còn hạn chế, các đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ
tầng còn nhỏ lẻ và hiệu quả chưa cao, chưa đủ sức giúp huyện phát huy những thế
mạnh để chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nói riêng và kinh tế nói chung theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
II.2 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình Quản lý Nhà nước về đất đai
II.2.1.Tình hình sử dụng đất
Hiện trạng sử dụng đất năm 2007: Huyện Bến Cầu có tổng diện tích tự nhiên thể
hiện qua bảng 2 cho thấy là 23.756,83ha bao gồm 8 xã và một thị trấn, cơ cấu sử dụng
đất của huyện:
Bảng 2: Cơ cấu sử dụng đất của huyện năm 2007
Loại Đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) STT
2.4 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 486,52 20,88
(Nguồn: Phòng TN & MT huyện Bến Cầu, năm 2008) Qua bảng cơ cấu sử dụng đất của huyện cho thấy quỹ đất dành cho nông nghiệp
vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sử dụng đất của địa phương chiếm tới 89,80%
diện tích đất toàn huyện, đất ở và đất chuyên dùng còn chiếm tỷ lệ thấp so với một địa
phương có tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, khả năng mở rộng
diện tích đất là rất lớn vì nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng do có nhiều nhà đầu tư
trong và ngoài nước thực hiện các dự án đầu tư vào huyện, ngày càng có nhiều công
ty, xí nghiệp được thành lập gắn liền với khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài đang dần được
hình thành và mở rộng Song song đó là nhu cầu thiết yếu xây dựng khu dân cư để đáp
ứng nhu cầu về nhà ở cho người dân địa phương và ngoài địa phương về làm việc tại
khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài
II.2.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai
Trang 34Từ năm 1993 sau khi Luật Đất đai được bổ sung mà đặc biệt là từ năm 1995 khi tổng cục Quản lý ruộng đất được đổi tên là Tổng cục Địa chính, các ban quản lý ruộng đất ở cấp tỉnh đổi thành sở Địa chính, ở cấp huyện là phòng Địa chính và tới năm 2004 đổi thành sở TN & MT, nhờ những thay đổi khá căn bản cơ cấu tổ chức và việc ban hành Luật Đất đai năm 2003 đã làm cho công tác quản lý đất đai đã có nhiều chuyển biến tích cực
1 Quản lý đất đai theo đơn vị hành chính
Ranh giới của huyện cũng như từng xã qua các thời kỳ có sự thay đổi đáng kể, nhưng từ sau Chỉ thị 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về công tác địa giới thì ranh giới của xã và huyện đã được xác định rõ Và mới đây được
sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, năm 2006 toàn huyện đã bố trí đo lưới chính quy cho thấy tổng diện tích tự nhiên của huyện là 23.756,83 ha, trong đó có 8 xã và một thị
trấn:
Bảng 3: Phân bố diện tích theo đơn vị hành chính STT Tên đơn vị hành chính Diện tích cũ (ha)
Diện tích sau khi
đo lưới chính quy
(ha)
Diện tích Tăng (+) Giảm (-)
Trước tình hình đó năm 2006 Tỉnh đã bố trí đo lưới chính quy cho 06 xã: Long Chữ, Long Giang, Long Phước, Long Thuận, Long Khánh, Tiên Thuận Đối với 3 xã
An Thạnh, Thị trấn, Lợi Thuận đã xong phần ngoại nghiệp đang lập thủ tục đăng ký đối chiếu đo đạc, tiến độ đạt khoảng 98% diện tích Đối với xã Long Chữ đã nghiệm thu xong ngoại nghiệp, đang nghiệm thu bản đồ đối với các xã: Long Khánh, Long
Trang 353 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được UBND huyện quan tâm chỉ đạo, ngay từ năm 1996 huyện đã tiến hành lập quy hoạch cho 8 xã thời kỳ 1997 -
2005 và quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện thời kỳ 1997 - 2010
Trên cơ sở này, hằng năm UBND đều phê duyệt kế hoạch sử dụng đất để làm căn cứ cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền của người sử dụng đất như: Chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi…
Khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực, thực hiện chỉ đạo của cấp trên huyện đã chỉ đạo UBND các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2006 - 2010, đến nay đã được UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2006 - 2010 cho huyện, thị trấn Bến Cầu và UBND huyện đã phê duyệt kế hoạch sử dụng đất 2006 -
2010 cho 8 xã
Tình hình quy hoạch các công trình trên địa bàn huyện đã được UBND tỉnh phê duyệt với tổng diện tích 443,52 ha gồm: Cụm công nghiệp Long Chữ 150 ha, công ty Bảo Gia 40 ha, cụm dân cư biên giới Long Thuận 10 ha, cụm dân cư biên giới Long Khánh 10 ha, khu tái định cư Đìa Xù 15,70 ha, còn lại là các công trình hạ tầng công cộng như: kênh, đường giao thông Nhìn chung, các dự án đều đang được triển khai, chưa có dự án quá thời hạn phải đề nghị thu hồi đất
4 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Công tác thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2007 huyện đã hoàn thành nộp kết quả cho sở TN & MT trong tháng 7/2007, trong quá trình kiểm kê đất đai một số địa phương đã gặp một số khó khăn: Phần mềm thống kê bị lỗi, nhiều diện tích đất đai còn chưa xác định rõ…nên gặp khó khăn cho việc áp dụng một số biểu mẫu theo Chỉ thị 28/2004/CT-TTg ngày 15/07/2004 của Thủ tướng Chính phủ để phục vụ kiểm kê Qua đợt kiểm kê này đã xác định rõ quỹ đất đang sử dụng và tình hình biến động đất đai trên địa bàn huyện so với kỳ kiểm kê trước đó, từ đó đề xuất giải pháp xử lý những cản trở trong quy hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương
5 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về pháp luật đất đai
và xử lý vi phạm
Trong điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển kéo theo những mâu thuẩn liên quan đến vấn đề đất đai ngày càng trở nên phức tạp, để nâng cao công tác quản lý hành chính Nhà nước về đất đai và bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng đất, Phòng TN
& MT tiến hành thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất của một số tổ chức được giao đất trên địa bàn huyện, kiểm tra việc sử dụng đất của các công ty đóng trên địa bàn
Huyện đề ra chủ trương trong thời gian tới ngoài thanh tra theo chuyên đề, cần
có kế hoạch thanh tra, kiểm tra theo định kỳ nhằm kịp thời phát hiện, uốn nắn, điều chỉnh và xử lý những vi phạm, nhằm tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về đất đai ngày một hiệu quả hơn
Trang 366 Công tác thu hồi đất, cho thê đất, chuyển quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất
a Thu hồi đất
Phòng TN & MT đã tham mưu cho UBND huyện ban hành 06 quyết định thu hồi 1.172,8 m2 đất các loại, đồng thời kết hợp UBND thị trấn đo lại diện tích của trường mầm non Bến Cầu đang sử dụng và tham mưu cho UBND huyện lập tờ trình thu hồi phần diện tích không sử dụng của trường
b Giao đất
Thu hồi diện tích 6.729,28 m2 để giao cho các tổ chức xây dựng trụ sở làm việc Phối hợp UBND thị trấn và UBND xã Lợi Thuận khảo sát lập sơ đồ đất diện tích 58,36
ha dự kiến làm sân Gold
Phối hợp với phòng Tài chính và phòng Kinh tế khảo sát đất và điều tra rừng trồng ở Long Phước diện tích 15 ha để cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê đất làm khu chăn nuôi khỉ
c Chuyển quyền sử dụng đất
Nhận được 2.600 vụ với diện tích 1.048,94 ha
Đã giải quyết được: 2.575 vụ gồm thẩm định kí, chuyển làm nghĩa vụ tài chính,
in GCNQSDĐ, đảm bảo được thời gian quy định
d Chuyển mục đích sử dụng đất
- Từ đất nông nghiệp chuyển sang đất thổ cư 28 trường hợp, diện tích 0,64 ha
- Chuyển sang đất cây lâu năm 03 trường hợp, diện tích 0,85 ha
- Chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản 10 trường hợp với diện tích 10,39 ha Phòng Tài nguyên và Môi trường đã kết hợp với các ngành, các xã, thị trấn giải quyết kịp thời các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
7 Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất
Do quá trình phát triển công nghiệp, đô thị hóa làm giá đất tăng cao là những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai Vấn đề giải quyết khiếu nại tố cáo và đặc biệt
là tranh chấp đất đai là nhiệm vụ khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, thực chất vấn đề tranh chấp trên địa bàn huyện là vấn đề tranh chấp rất phức tạp với nhiều nguyên nhân khác nhau, trước tình hình đó huyện đặc biệt quan tâm và coi công tác giải quyết khiếu nại là yêu cầu và là nhiệm vụ quan trọng Do đó phòng TN & MT
đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành giải quyết số đơn khiếu nại, tranh chấp cho các chủ sử dụng đất trên địa bàn huyện, nhằm góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của người SDĐ và hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Từ ngày 01/7/2004 đến ngày 30/6/2007 nhận được: 9 đơn
- Tổng số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết: 07 đơn
Trong đó:
+ UBND huyện ban hành quyết định: 01 đơn
+ Thông qua ban chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai: 4 đơn, tồn 2 đơn
Trang 37Nhìn chung, số đơn tranh chấp đất đai không tăng, huyện đã tập trung giải quyết kịp thời không để khiếu nại vượt bậc, tập trung khiếu kiện đông người, phát sinh thành điểm nóng
8 Về thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Huyện Bến Cầu có diện tích quy hoạch tương đối lớn so với các huyện khác trong tỉnh Ngoài khu kinh tế của khẩu Mộc bài có diện tích 2.083,91 ha, còn có các khu quy hoạch như: Cụm công nghiệp ở xã Long Chữ diện tích 150 ha, công ty Gia Bảo 40 ha
Với đặc điểm là huyện đồng bằng với diện tích đất đai trong dân không nhiều
Do đó, thu hồi đất theo khoản 1 Điều 30 Luật Đất đai để xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Mộc bài với diện tích là 2.083,91 ha, đã đền bù theo phương án được 689 hộ với diện tích 233,84 ha, số tiền là 36,66 tỷ đồng Ngoài ra còn đền bù theo thỏa thuận 172,50 ha
Vướng mắc hiện nay trong giải tỏ khu kinh tế cửa khẩu Mộc bài là khu tái định
cư triển khai quá chậm, đến nay chưa hoàn chỉnh, chỉ có khu nhà tạm cư ở ấp Thuận Tây, xã Lợi Thuận
Về đền bù người dân cho rằng giá bồi thường của Nhà nước thấp không mua lại được đất ở nơi khác, nhất là giá đất ven các trục quốc lộ, tỉnh lộ Mặt khác, các chủ đầu tư được giao đất triển khai dự án không đồng bộ kéo dài thời gian tạo tâm lý “quy hoạch treo” ảnh hưởng xấu đến việc giải tỏ đền bù
9 Công tác cấp đổi GCNQSDĐ nông nghiệp và đất ở nông thôn đo đạc từ năm
1985 sang đo lưới tọa độ quốc gia
- Năm 2006, huyện đã được tỉnh bố trí đo đạc lưới tọa độ địa chính chính quy cho các xã, thị trấn trên địa bàn huyện
- Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thực hiện Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT huyện bắt đầu cấp GCN theo mẫu mới do Bộ TN & MT ban hành áp dụng thống nhất trong cả nước
- Kết hợp với việc đo lưới chính quy, huyện đã tổ chức đăng ký cấp mới và cấp đổi GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trên địa bàn huyện
- Lũy kế từ trước đến cuối năm 2007 huyện đã tổ chức cấp đổi được 892 giấy chứng nhận QSDĐ cho 863 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích cấp đổi là: 988,71
ha Trong đó:
+ Đất nông nghiệp: 955,83 ha với 685 giấy
+ Đất ở nông thôn: 32,98 ha với 207 giấy
II.3 Tình hình cấp GCNQSDĐ nông nghiệp và đất ở nông thôn cho hộ gia đình,
cá nhân trên địa bàn huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh, giai đoạn 2000 – 2007
II.3.1 Sơ lược về thực trạng công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện
Trước năm 1998, công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện vẫn chưa được quan tâm, thực hiện đúng mức Bên cạnh đó thì nhận thức của người sử dụng đất về vấn đề này chưa cao Đến đầu năm 1998, với Chỉ thị 10/1998/CT-TTg ngày 20/02/1998 về đẩy mạnh hoàn thành công tác giao đất, cấp GCNQSDĐ nông nghiệp, tiếp đó là Thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 26/3/1998 hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ thì công tác tổ chức kê khai đăng ký, cấp