Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu sự chuyển hướng của nền kinh tế nước ta từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai trò của Ngân sách Nhà nước cũng thay đổi và trở nên hết sức quan trọng. Hoạt động của Ngân sách Nhà nước đã chuyển biến một cách căn bản, từ chỗ chỉ gắn với khu vực kinh tế quốc doanh và các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy Nhà nước trong cơ chế bao cấp sang một bình diện mới với phạm vi rộng lớn và bao quát hơn. Việc từ bỏ nguyên tắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát giao nộp” đã tạo điều kiện cho Ngân sách Nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội. Thực tế đó đã đòi hỏi phải thúc đẩy quá trình hoàn thiện các quy chế về Ngân sách Nhà nước cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước. Năm 1996 luật Ngân sách Nhà nước ra đời và triển khai thực hiện từ ngày 01/01/1997 đã khẳng định vị trí và vai trò của Ngân sách Nhà nước trong tình hình mới. Qua đó cũng phần nào khẳng định tính cấp thiết của quá trình quản lý Ngân sách Nhà nước nói chung và quá trình quản lý Ngân sách xã-là cơ quan cấp uỷ chính quyền cơ sở nói riêng. Sau 16 năm đổi mới tốc độ phát triển kinh tế gia tăng nhanh đã tác động sâu sắc đến công tác quản lý Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là Ngân sách xã-là nơi trực tiếp liên hệ với dân, giải quyết các công việc của dân. do dân và vì dân, cho nên chính quyền cấp xã phải sử dụng Ngân sách xã như một công cụ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Thực tế từ năm 1997 đến nay, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công tác quản lý Ngân sách xã cũng còn những tồn tại cần giải quyết. Vấn đề đặt ra là công tác quản lý Ngân sách xã phải được hoàn thiện ra sao để tập trung được đầy đủ các khoản thu bảo đảm nhu cầu chi do xã thực hiện, các khoản chi phải đúng mục đích để tạo nguồn thu mới. Việc cấp phát sử dụng các khoản chi đó như thế nào để đạt được nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý Ngân sách Nhà nước. Do vậy vấn đề hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách xã được đặt ra như là nhiệm vụ hàng đầu của công tác quản lý Ngân sách nói chung. Thấy được vấn đề mang tính thời sự đó trong thời gian 2 tháng thực tập tại Sở Tài chính-Vật giá Thái bình được chứng kiến và làm việc thực tế với sự giúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo và cán bộ trong Sở em đã lựa chọn và tập trung nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Ngân sách xã ở Thái bình trong điều kiện hiện nay” làm đề tài cho luận văn của
Trang 1lời nói đầu
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu sự chuyển hớng củanền kinh tế nớc ta từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết vĩ môcủa Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa thì vai trò của Ngân sách Nhà n-
ớc cũng thay đổi và trở nên hết sức quan trọng Hoạt động của Ngân sách Nhànớc đã chuyển biến một cách căn bản, từ chỗ chỉ gắn với khu vực kinh tế quốcdoanh và các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy Nhà nớc trong cơ chế bao cấp sangmột bình diện mới với phạm vi rộng lớn và bao quát hơn Việc từ bỏ nguyêntắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát giao nộp” đã tạo điều kiện cho Ngânsách Nhà nớc đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế xãhội
Thực tế đó đã đòi hỏi phải thúc đẩy quá trình hoàn thiện các quy chế vềNgân sách Nhà nớc cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng vàcông cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nớc Năm 1996 luật Ngân sáchNhà nớc ra đời và triển khai thực hiện từ ngày 01/01/1997 đã khẳng định vị trí
và vai trò của Ngân sách Nhà nớc trong tình hình mới Qua đó cũng phần nàokhẳng định tính cấp thiết của quá trình quản lý Ngân sách Nhà nớc nói chung
và quá trình quản lý Ngân sách xã-là cơ quan cấp uỷ chính quyền cơ sở nóiriêng
Sau 16 năm đổi mới tốc độ phát triển kinh tế gia tăng nhanh đã tác độngsâu sắc đến công tác quản lý Ngân sách Nhà nớc, đặc biệt là Ngân sách xã-lànơi trực tiếp liên hệ với dân, giải quyết các công việc của dân do dân và vìdân, cho nên chính quyền cấp xã phải sử dụng Ngân sách xã nh một công cụ
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Thực tế từ năm 1997 đến nay,bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc trong công tác quản lý Ngân sách xãcũng còn những tồn tại cần giải quyết Vấn đề đặt ra là công tác quản lý Ngânsách xã phải đợc hoàn thiện ra sao để tập trung đợc đầy đủ các khoản thu bảo
đảm nhu cầu chi do xã thực hiện, các khoản chi phải đúng mục đích để tạonguồn thu mới Việc cấp phát sử dụng các khoản chi đó nh thế nào để đạt đợcnguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý Ngân sách Nhà nớc Do vậy vấn
đề hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách xã đợc đặt ra nh là nhiệm vụ hàng
đầu của công tác quản lý Ngân sách nói chung
Thấy đợc vấn đề mang tính thời sự đó trong thời gian 2 tháng thực tập tại
Sở Tài chính-Vật giá Thái bình đợc chứng kiến và làm việc thực tế với sự giúp
đỡ tận tình của thầy, cô giáo và cán bộ trong Sở em đã lựa chọn và tập trung
1
Trang 2nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm tăng cờng công tác quản lý Ngân sách xã ở Thái bình trong điều kiện hiện nay” làm đề tài cho luận văn của
mình Với mục đích là nghiên cứu tìm hiểu tình hình thu chi và công tác quản
lý Ngân sách xã trên địa bàn tỉnh trong những năm 1999-2001, nhằm tìm ranhững giải pháp giúp cho việc củng cố, tăng cờng công tác quản lý Ngân sáchxã trong tỉnh đợc tốt hơn Nội dung chính của luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Ngân sách xã và sự cần thiết phải tăng cờng công tác quản lýNgân sách xã
Chơng 2: thực trạng công tác quản lý Ngân sách xã ở Thái bình trong thờigian qua
Chơng 3: Phơng hớng-mục tiêu-giải pháp nhằm tăng cờng công tác quản
lý Ngân sách xã ở Thái bình trong thời gian tới
Có đợc bài luận văn này em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tìnhcủa các cán bộ trong Sở tài chính Vật giá Thái bình, sự hớng dẫn tận tình củathầy, cô giáo, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Minh Thoa để bài luận văn này của
em đợc hoàn thành đúng hạn Sau đây là nội dung chính của luận văn
Trang 3Ch ơng một
Ngân sách xã và sự cần thiết phải tăng cờng
kỳ xã có tên gọi khác nhau nhng chức năng và nhiệm vụ của xã ít có sự thay
đổi, chủ yếu là quản lý pháp luật, quản lý dân và xây dựng cơ sở hạ tầng choxã Đặc biệt Ngân sách xã phục vụ cho bộ máy chính quyền Nhà nớc cấp xãthực hiện 3 nhiệm vụ chủ yêú sau:
Một là: Quản lý nhân khẩu, ruộng đất để thu tô, thu thuế, thu phen tạp
dịch và binh lính
Hai là: Giữ gìn phép nớc, trị an.
Ba là: Chăm lo lợi ích công cộng, đê điều, tới tiêu, đờng xá, cứu tế xã
hội
Công tác quản lý tài chính ngân sách xã ở thời kỳ nào cũng đợc coi trọng,
có chức năng, chức danh, nhiệm vụ và kỷ luật tài chính cụ thể nh: Xã trởngthời nhà Lê, xã quan thời nhà Trần Đến thời nhà Nguyễn, chính quyền thựcdân pháp quy định chức sắc 3 kỳ khác nhau ở Bắc kỳ là tiên chỉ; Trung kỳ làhơng bản; Nam kỳ là hơng bộ; nhng đều phụ trách công tác tài chính và cóhội đồng kỳ mục(Bắc kỳ); đại hội đồng kỳ mục (Nam kỳ); thờng trực hội
đồng kỳ mục (Trung kỳ) có nhiệm vụ lập ngân sách xã
Nh vậy, lịch sử phát triển của ngân sách xã ở mỗi thời kỳ đều đợc coitrọng, công tác quản lý mỗi thời kỳ đều có sự đổi mới hoàn thiện Điều đó
3
Trang 4khẳng định rằng ngân sách xã là một cấp ngân sách hoàn chỉnh trong hệthống ngân sách Nhà nớc.
Mỗi thời kỳ kỷ luật tài chính ngân sách xã đều đợc coi trọng và có chế
độ quản lý cụ thể quy định quy mô chi ngân sách xã nh thời nhà Lê quy địnhquy mô ngân sách xã đối với xã lớn 50 quan, xã vừa 30 quan, xã nhỏ 20quan Có chế độ quản lý quỹ và tiền mặt, xã chỉ đợc giữ lại 30 quan để chitiêu, số d phải gửi vào nhà giàu cất giữ
Trải qua quá trình phát triển với những thăng trầm của lịch sử, gắn vớicác triều đại thịnh, suy khác nhau, đến nay Ngân sách xã thực sự trở thànhcông cụ, phơng tiện vật chất bằng tiền có tác dụng to lớn trong sự nghiệpcách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nớc Điều lệ ngân sách xã ra
đời ngày 08/04/1972 của Hội đồng Chính phủ số 64/CP, cũng trong thời gian
đó Bộ tài chính ban hành liên tiếp Quyết định số 13/TT/TDT ngày27/07/1972 quy định chế độ kế toán ngân sách xã và thông t số 14 TC/TDTngày 04/11/1972 hớng dẫn thi hành điều lệ ngân sách xã, từ đó ngân sách xãthực sự đợc quản lý theo luật lệ thống nhất của Nhà nớc
Sự phân cấp rõ ràng trong quản lý thu chi cho xã đã tạo điều kiện chongân sách xã khẳng định vị trí, vai trò to lớn của mình trong việc huy độngnguồn lực tài chính để trang trải các khoản chi tiêu cho sự nghiệp giải phóngMiền nam thống nhất đất nớc
Sau giải phóng, thời điểm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH
ở nông thôn, ngân sách xã đóng góp một phần quan trọng trong công cuộcxây dựng nông thôn mới Tiếp đó thông qua nghị quyết 138-HĐBT ngày19/11/1983 thì vai trò ngân sách xã ngày càng đợc khẳng định Đến nay cơchế quản lý ngân sách xã đã ngày càng đợc hoàn thiện qua các văn bản mới
về quản lý tài chính ngân sách xã nhằm củng cố và khẳng định vai trò của
đơn vị hành chính cơ sở
Nh vậy, lịch sử phát triển của ngân sách xã ở mỗi thời kỳ đều đợc coitrọng, công tác quản lý mỗi thời kỳ đều có sự đổi mới, hoàn thiện Đến năm
1996 khi luật ngân sách nhà nớc đợc ban hành thì ngân sách xã chính thức
đ-ợc thừa nhận là cấp ngân sách hoàn chỉnh trong hệ thống ngân sách Nhà
n-ớc
1.1.2 Khái niệm - Đặc điểm ngân sách xã
Trang 5Trong điều kiện ngày nay việc thừa nhận sự tồn tại và hoạt động củangân sách xã đợc coi là điều tất yếu Chính vì vậy, trong cơ cấu tổ chức hệthống ngân sách nhà nớc ở hầu hết các quốc gia đều có ngân sách xã (hoặcvùng); song quan niệm về ngân sách xã lại cha có sự đồng nhất.
ở nớc ta điều lệ ngân sách xã (ban hành ngày 08/04/1972) ghi ngânsách xã là kế hoạch thu chi tài chính của chính quyền cấp xã, để đảm bảoviệc chấp hành pháp luật, giữ vững an ninh, trật tự trị an, bảo đảm tài sảncông cộng, quản lí mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội trong xã, độngviên giám sát các hợp tác xã và công dân thi hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ
đối với Nhà nớc
Theo điều 4 luật ngân sách nhà nớc và thông t 14-TC/NSNN ngày08/03/1997 của Bộ tài chính về hớng dẫn quản lý thu-chi ngân sách xã, ph-ờng, thị trấn (Sau đây gọi chung là ngân sách cấp xã) là một bộ phận củangân sách Nhà nớc do UBND xã, phờng xây dựng, quản lý và HĐND xãquyết định, giám sát thực hiện Chính vì vậy, đòi hỏi phải có một khái niệm
về ngân sách xã một cách đầy đủ, thống nhất làm cơ sở cho việc xác định cácyêu cầu, nhiệm vụ của ngân sách xã sau này
Do vậy, ngân sách xã đợc định nghĩa nh sau: Ngân sách xã là toàn bộcác quan hệ kinh tế giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình tạo lập phânphối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nớc cấp xã nhằm phục vụcho việc thực hiện các chức năng của Nhà nớc cấp cơ sở trong khuôn khổ đợcphân công quản lý
Từ định nghĩa đã đa ra về ngân sách xã ta có thể rút ra một số đặc điểm
về ngân sách xã nh sau:
Thứ nhất: Ngân sách xã là một quỹ tập trung của cơ quan chính quyền
Nhà nớc cấp cơ sở Hoạt động của quỹ này thể hiện trên hai phơng diện: Huy
động nguồn thu vào quỹ (gọi là thu ngân sách xã ) và phân phối sử dụngnguồn vốn của quỹ ( gọi là chi ngân sách xã )
Thứ hai : Các hoạt động thu chi của ngân sách xã luôn gắn với chức
năng, nhiệm vụ của chính quyền xã theo luật định, đồng thời luôn chịu sựkiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nớc ở cấp xã Chính vì vậy cácchỉ tiêu thu chi của ngân sách xã luôn mang tính pháp lý
Thứ ba: Đằng sau các hình thức thu, chi của ngân sách xã chính là các
quan hệ lợi ích giữa một bên là lợi ích chung của cộng đồng các cơ sở mà
5
Trang 6chính quyền xã là ngời đại diện với một bên là lợi ích của các chủ thể kinh tếxã hội khác (tổ chức hoặc cá nhân) Các quan hệ này phát sinh trong cả quátrình thu và chi ngân sách xã.
Thứ t: Các quan hệ thu-chi ngân sách xã rất đa dạng và biểu hiện dới
nhiều hình thức khác nhau, nhng các khoản thu- chi này chỉ đợc thừa nhậnkhi đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền phê duyệt
Thứ năm: Ngân sách xã vừa là một cấp trong hệ thống NSNN vừa là một
đơn vị dự toán Bởi vì ngân sách xã vừa thực hiện nhiệm vụ thu chi của mộtcấp ngân sách nói chung (mặc dù nguồn thu và nhiệm vụ chi là rất nhỏ)vừa là
đơn vị nhận bổ sung từ ngân sách cấp trên mà không phải cấp bổ sung chocấp ngân sách khác và sử dụng luôn nguồn vốn đó Với đặc thù là đơn vịhành chính cấp cơ sở có mối liên hệ trực tiếp với dân, do dân, vì dân, giảiquyết các mối liên hệ giữa Nhà nớc và nhân dân, cho nên đây là đơn vị hànhchính giúp Nhà nớc thực hiện chức năng nhiệm vụ trực tiếp tới mọi ngời dân
1.1.3 Nội dung nguồn thu và nhiệm vụ chi của Ngân sách Xã:
Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách xã đợc hình thành dựa trên cơ
sở khả năng và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của địa phơng kết hợp vớicác nhiệm vụ về quản lý kinh tế-xã hội mà chính quyền xã đợc phân công,phân cấp đảm nhiệm Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phân cấp quản lý
về kinh tế - xã hội với phân cấp quản lý tài chính-ngân sách Tuy nhiên, tuỳthuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội và sự phân cấp quản lý ngân sách xã màtrong từng thời kỳ cụ thể nguồn thu và nhiệm vụ chi có những thay đổi, bổsung cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia
Trong điều kiện hiện nay kể từ khi thực hiện luật ngân sách Nhà nớc,nguồn thu, nhiệm vụ chi, của ngân sách đợc quy định cụ thể tại điều 34 và 35của luật này và các văn bản pháp quy khác nhằm hớng dẫn thi hành luật này
Cụ thể theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật ngân sách Nhà nớcthông qua ngày 20/05/1998 và Thông t số 118/2000/TT-BTC ngày22/12/2000 quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác
ở xã, phờng, thị trấn quy định nh sau:
1.1.3.1 Nguồn thu của Ngân sách Xã gồm :
+ Các khoản thu mà ngân sách xã đợc hởng 100 %:
Trang 7- Thuế môn bài thu từ các cá nhân, hộ kinh doanh từ bậc 4 đến bậc 6
kể cả số thu khoán (không áp dụng đối với phờng)
- Các khoản phí, lệ phí quy định thu vào ngân sách xã
- Chênh lệch thu lớn hơn chi từ các hoạt động sự nghiệp có thu củaxã
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích 5% và hoalợi công sản khác do xã quản lý
- Các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: Các khoản đóng góptheo pháp luật quy định, các khoản đóng góp trên nguyên tắc tự nguyện để
đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã quyết định đa vàongân sách xã quản lý (không áp dụng đối với phờng khoản thu huy động
đóng góp để đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng) và các khoản đóng góp tự nguyệnkhác
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở ngoài nớc trựctiếp cho ngân sách xã
- Thu kết d ngân sách xã năm trớc
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) với ngân sách cấptrên gồm:
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp (tối thiểu để lại cho xã 20%)
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất (chỉ áp dụng cho xã, thị trấn)
- Thuế nhà đất (chỉ áp dụng cho xã, thị trấn)
- Tiền cấp quyền sử dụng đất (chỉ áp dụng đối với xã, thị trấn)
- Thuế Tài nguyên
Trang 8Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia cụ thể các nguồn thu trên đây cho ngânsách xã do Uỷ ban nhân dân Tỉnh quy định từ 3- 5 năm phù hợp với tình hìnhngân sách của địa phơng Để giảm bớt khối lợng nghiệp vụ, khuyến khíchtăng thu; có thể giao chung cho các xã cùng một tỷ lệ.
+ Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên:
- Thu bổ sung cân đối ngân sách đợc xác định trên cơ sở chênh lệchgiữa dự toán chi đợc giao và dự toán từ các nguồn thu đợc phân cấp (cáckhoản thu 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm) Số bổsung này đợc ổn định từ 3 đến 5 năm, hàng năm đợc tăng thêm một số phầntrăm trên cơ sở trợt giá, tốc độ tăng trởng kinh tế và khả năng ngân sách của
1.1.3.2- Nhiệm vụ chi của ngân sách xã.
* Chi thờng xuyên
+ Hoạt động của các cơ quan Nhà nớc xã bao gồm:
- Sinh hoạt phí theo mức quy định hiện hành
- Sinh hoạt phí đại biểu Hội đồng nhân dân
- Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nớc
- Chi về phúc lợi tập thể, y tế, vệ sinh
Trang 9+ Các khoản sinh hoạt phí và kinh phí hoạt động của các tổ chứcchính trị-xã hội của xã (Mặt trận tổ quốc Việt nam, Đoàn thanh niênCSHCM, Hội cựu chiến binh Việt nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam, Hộinông dân Việt nam) Sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thukhác (nếu có).
+ Đóng Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ xã và các đối tợngkhác theo chế độ hiện hành
+ Công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội:
- Huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự
vệ và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngânsách xã theo quy định của pháp lệnh về dân quân tự vệ;
- Đăng ký nghĩa vụ quân sự, tiễn đa thanh niên đi nghĩa vụ quân sự
- Tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự
an toàn xã hội trên địa bàn xã
9
Trang 10vụ chi quản lý, sửa chữa cải tạo vỉa hè, đờng phố nội thị, đèn chiếu sáng,công viên, cây xanh
+ Hỗ trợ các hoạt động sự nghiệp có thu của xã
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
* Chi đầu t phát triển: Chi đầu t xây dựng các dự án kết cấu hạ tầng kinh
tế xã hội theo sự phân cấp của cấp Tỉnh từ nguồn ngân sách và nguồn huy
động đóng góp trên nguyên tắc tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho từng
dự án nhất định
Qua nội dung nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách xã ta thấychúng bao trùm mọi hoạt động của xã Do đó tổ chức công tác quản lý ngânsách xã có hiệu quả là việc làm thờng xuyên liên tục và khoa học của các nhàquản lý tài chính, qua đó mà thấy đợc vai trò của cấp ngân sách xã là hết sứcquan trọng trong hệ thống ngân sách nhà nớc
1.1.4 Vị trí, vai trò của ngân sách xã trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn hiện nay.
Việc đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấpsang cơ chế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc làm thay đổi căn bảnvai trò của NSNN Cũng nh NSNN, ngân sách cấp xã là một cấp trong hệthống các cấp NSNN, cấp xã là tổ chức chính quyền cơ sở của bộ máy quản
lý Nhà nớc có chức năng, nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu của Nhà nớc cơ
sở, Nhà nớc do dân, vì dân, giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nớc với nhândân Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó chính quyền cấp xã phải có nguồn tàichính đủ mạnh để góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế- xã hội tại cơ
sở Qua hoạt động thu- chi của ngân sách xã ta thấy đợc vai trò cụ thể của nó
nh sau:
1.1.4.1 Ngân sách xã đảm bảo nguồn lực vật chất cho sự tồn tại và
hoạt động của bộ máy chính quyền Nhà n ớc cấp xã.
Trải qua quá trình phát triển của xã hội, Nhà nớc ra đời từ khi xã hội
có sự phân chia giai cấp Nhà nớc ra đời đồi hỏi phải có nguồn lực vật chấtnhất định để nuôi sống bộ máy và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội docộng đồng đối phó Nguồn lực vật chất này chỉ có thể đợc đảm bảo từ ngânsách Nhà nớc Ngân sách cấp xã là bộ phận cấu thành nên Ngân sách Nhà n-
ớc, do vậy nguồn lực vật chất để nuôi sống bộ máy chính quyền cấp cơ sởthì phần lớn phải do Ngân sách cấp cơ sở đảm nhận đó là ngân sách cấp xã
Trang 11Để đảm bảo nguồn lực vật chất này cung cấp cho toàn bộ các hoạt động kinh
tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đời sống của mọi ngời đợc đảm bảo, Ngânsách xã phải khai thác triệt để các nguồn thu tại xã theo luật định Đảm bảothu đúng, thu đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho các công việc thuộcchức năng nhiệm vụ theo quy định của luật Ngân sách Nhà nớc nh : Chi lơng,sinh hoạt phí cho các công chức, các khoản chi tiêu quản lý hành chính haymua sắm trang thiết bị cho văn phòng mới đợc thực hiện Do vậy không cócác khoản chi này của Ngân sách xã thì bộ máy chính quyền Nhà nớc cơ sởkhông thể tồn tại và phát triển đợc
1.1.4.2 Ngân sách xã là công cụ quan trọng để chính quyền xã quản
lý toàn diện các hoạt động kinh tế , văn hoá xã hội tại địa ph ơng
Với t cách là chính quyền cấp cơ sở gắn liền với đời sống nhân dân vàthực hiện quản lý trực tiếp đối với nhân dân Do vậy chức năng và nhiệm vụcủa ngân sách xã phải thực hiện là luôn đảm bảo quyền và lợi ích của nhândân trên địa bàn Trực tiếp liên hệ và giải quyết các công việc của dân trênmọi phơng diện theo chính sách chế độ của Nhà nớc đặt ra nhằm đáp ứngcác nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân Để giải quyết đợc các vấn đề trênhiệu quả chính quyền xã phải có những công cụ đặc biệt thực hiện yêu cầunày mà ngân sách xã là một trong các công cụ đó Thông qua hoạt động thungân sách xã mà các nguồn thu đợc tạo lập tập trung vào quỹ ngân sách xã,
đồng thời giúp chính quyền cơ sở thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, điềuchỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và các hoạt động khác đợcpháp luật cho phép Việc kiểm soát thông qua ngân sách xã đợc thể hiện quaviệc phân loại các ngành nghề kinh doanh, các chủng loại hàng hoá mà qua
đó chống các hoạt động kinh tế phi pháp, trốn lậu thuế và các nghĩa vụ đóng
góp khác Cụ thể: Với các hình thức thu phù hợp, với chế độ miễn giảm công
bằng, ngân sách xã một mặt tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinhdoanh ở cơ sở, mặt khác thu ngân sách xã còn góp phần thực hiện các chínhsách xã hội nh: bảo đảm công bằng giữa những ngời có nghĩa vụ đóng gópngân sách xã, có sự trợ giúp cho những đối tợng nộp khi gặp khó khăn về tàichính hoặc diện cần đợc u đãi theo chính sách của nhà nớc thông qua xétduyệt miễn giảm số thu Ngoài ra việc thực hiện đúng các phơng thức và cácmức thu phạt đối với các tổ chức và cá nhân vi phạm trật tự an toàn xã hội, đã
đợc coi nh là một biện pháp kinh tế buộc họ phải nghiêm chỉnh chấp hành tốtnghĩa vụ của mình trớc cộng đồng, có thể nói sẽ không đạt kết quả gì nếu
11
Trang 12không sử dụng hoạt động thu ngân sách xã và nếu nh trớc đây hoạt độngkiểm tra, kiểm soát của chính quyền cấp xã chủ yếu bằng công cụ kế hoạchthì nay vai trò kiểm tra kiểm soát của chính quyền cấp xã chủ yếu bằng hệthống pháp luật với hệ thống thu thuế nói chung và thu ngân sách xã nóiriêng, xã sẽ kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trêncác mặt chủ yếu nh: Thu nhập, giá cả hàng hoá, và qua đó cũng có thểkhẳng định rằng thu ngân sách xã là nguồn thu chủ yếu để đáp ứng nhu cầuchi ngày càng gia tăng ở xã.
Thông qua chi ngân sách xã mà các hoạt động của Đảng bộ,chính quyền,
đoàn thể, chính trị, xã hội ở xã đợc duy trì và phát triển liên tục và ổn định.Nhờ đó mà nâng cao hiệu lực quản lý cơ sở
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trờng bên cạnhnhững mặt tích cực thì vẫn tồn tại những hạn chế, thông qua hoạt động thu-chi ngân sách xã đã đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục khuyết tật
đó bằng việc tạo ra một môi trờng kinh doanh thuận lợi, cho các chủ thnểkinh tế, thông qua đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng ngăn chặn sự độc quyềntrong kinh doanh Bên cạnh đó với phơng trâm “ Nhà nớc và nhân dân cùnglàm” của ngân sách xã đã cùng nhân dân giải quyết tốt các vấn đề “Điện, đ-ờng, trờng, trạm” Nhờ có chính sách điện khí hoá nông thôn, hiện nay hầuhết các xã đều đã có điện thắp sáng đến từng thôn xóm, góp phần quan trọngcho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Đáp ứng đợc nhu cầu
điện phục vụ cho thắp sáng và cho sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó việc chingân sách xã cho hệ thống giao thông liên thôn, liên xã đợc nâng cấp và xâydựng mới làm cho hệ thống giao thông đợc thông suốt, thúc đẩy lu chuyểnhàng hoá, qua đó khai thác tiềm năng và lợi thế của từng vùng thúc đẩy xoá
bỏ phơng thức sản xuất cũ, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, phân công lại lao
động trên địa bàn nông thôn, từng bớc thực hiện công nghiệp hoá, tạo điềukiện đa khoa học kỹ thuật vào từng làng xã giúp kinh tế nông thôn thoát khỏitình trạng độc canh, độc c, chuyển từ nền kinh tế thuần nông sang nền kinh tếtổng hợp Nông- Công- Thơng đáp ứng nhu cầu của thị trờng
Thông qua chi ngân sách xã cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp y tế
đã góp phần vào việc nâng cao dân trí, sức khoẻ ngời dân, đảm bảo nâng caotrình độ nhân dân và sức khoẻ ngời dân, các xã không ngừng nâng cấp và xâydựng mới các công trình cho giáo dục và y tế đảm bảo điều kiện thuận lợicho việc giảng dạy và khám chữa bệnh, giúp ngời dân yên tâm khi tham gia
Trang 13phát triển sản xuất tại cơ sở Từng bớc xây dựng nông thôn mới theo đúngchủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc.
Từ phân tích trên cho ta thấy ngân sách xã là công cụ tài chính quantrọng của Nhà nớc trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Đảng vàNhà nớc ở địa phơng Từng bớc cải thiện bộ mặt nông thôn và rút ngắn sựcách biệt giữa thành thị và nông thôn, khắc phục dần tình trạng bội chi xảy ra
ở hầu hết các xã của nớc ta hiện nay góp phần quan trọng thúc đẩy nền kinh
tế nớc ta phát triển
1.2 Quy trình quản lý ngân sách xã.
Căn cứ vào các điều từ 42 đến 71 của luật ngân sách Nhà nớc vàThông t số118/2000/TT-BTC ngày 22/12/2000 quy định về quản lý ngânsách xã và các hoạt động tài chính khác ở xã, phờng, thị trấn đã quy định cụthể về quy trình quản lý ngân sách xã nh sau:
1.2.1 Quản lý khâu lập dự toán ngân sách xã:
Lập dự toán ngân sách xã là quá trình phân tích đánh giá giữa khảnăng và nhu cầu các nguồn tài chính của ngân sách xã để từ đó xác lập cácchỉ tiêu thu- chi dự kiến có thể đạt đợc trong kỳ kế hoạch, xác lập các biệnpháp chủ yếu về kinh tế tài chính và hành chính để đảm bảo thực hiện thắnglợi các chỉ tiêu thu- chi Lập dự toán ngân sách xã là khâu mở đầu cho mộtchu trình ngân sách nên nó làm cơ sở, nền tảng cho các khâu tiếp theo, đặcbiệt là khâu chấp hành ngân sách cho nên khi lập dự toán phải đảm bảo cácyêu cầu sau:
- Phải tính toán đầy đủ và chính xác các khoản thu theo đúng quy địnhcủa Nhà nớc
- Bố trí hợp lý các nhu cầu chi tiêu nhằm đảm bảo thực hiện tốt chứcnăng, nhiệm vụ chính quyền cấp xã đồng thời góp phần xây dựng nông thônphát triển
- Dự toán phải lập theo đúng mục lục ngân sách và mẫu biểu quy địnhcủa Bộ tài chính
- Lập dự toán phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội tại xã
* Căn cứ lập:
- Chế độ phân cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách xã
13
Trang 14- Chế độ quy định về thu ngân sách
- Chế độ, tiêu chuẩn định mức về chi ngân sách xã
- Các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của xã
- Số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do UBND Huyện thông báo
- Tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành
* Trình tự lập dự toán ngân sách xã:
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách xã 6 tháng đầu năm
và ớc thực hiện 6 tháng cuối năm
- Các Ban hoặc tổ chức thuộc UBND xã căn cứ vào chức năng, nhiệm
vụ đợc giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi, lập dự trù nhu cầu chi
- Ban tài chính xã phối hợp với đội thuế xã (nếu có) tính toán cáckhoản thu NSNN trên địa bàn
- Ban tài chính xã tính toán, cân đối, lập dự toán thu, chi ngân sách xãtrình UBND xã báo cáo chủ tịch và Phó chủ tịch HĐND xã để xem xét gửiUBND Huyện và phòng tài chính huyện
1.2.2 Quản lý khâu chấp hành dự toán ngân sách xã.
Chấp hành dự toán ngân sách xã là khâu tiếp theo khâu lập dự toánngân sách của một chu trình ngân sách, là quá trình sử dụng tổng hợp cácbiện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu chi ghitrong kế hoạch ngân sách năm trở thành hiện thực Để làm đợc điều đó cầntiến hành quản lý các khâu sau:
* Quản lý quá trình thu:
- Ban tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế giám sát,kiểm tra các nguồn thu ngân sách Nhà nớc đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịpthời Riêng khoản thu từ quỹ đất công ích 5%, tài sản công và hoa lợi côngsản là nguồn thu thờng xuyên của ngân sách xã, vì vậy không đợc khoán thầuthu một lần cho nhiều năm Trờng hợp cần thiết có thể thu cho một số nămnhng chỉ trong nhiệm kỳ của HĐND
- Trờng hợp đối tợng phải nộp ngân sách có điều kiện nộp tiền trực tiếpvào NSNN tại Kho bạc Nhà nớc, thì căn cứ vào thông báo thu của cơ quanthu hoặc Ban tài chính xã, đối tợng nộp ngân sách lập giấy nộp tiền và trích
Trang 15tài khoản hoặc mang tiền mặt tới Kho bạc Nhà nớc để nộp trực tiếp vào Ngânsách Nhà nớc.
- Trờng hợp đối tợng phải nộp ngân sách không có điều kiện nộp tiềntrực tiếp vào ngân sách Nhà nớc tại KBNN, thì các khoản thu thuộc nhiệm vụthu của cơ quan nào thì cơ quan đó thu sau đó viết giấy nộp tiền mang tớiKBNN để nộp vào NSNN
- Nghiêm cấm thu không có biên lai, thu để ngoài sổ sách
- Trờng hợp phải hoàn trả khoản thu ngân sách xã, KBNN xác nhận rõ
số tiền đã thu vào ngân sách xã để ban tài chính xã làm căn cứ thoái thu cho
đối tợng đợc hoàn trả
- Chứng từ thu phải đợc luân chuyển theo đúng quy định
- Đối với số thu bổ sung của ngân sách xã, phòng tài chính huyện căn
cứ vào dự toán bổ sung đã giao cho từng xã, dự toán thu chi từng quý của xã
và khả năng cân đối ngân sách huyện, thông báo số bổ sung hàng quý cho xãchủ động điều hành ngân sách Để đảm bảo cho xã có nguồn chi, nhất là chicho bộ máy; phòng tài chính huyện cấp số bổ sung cho xã theo định kỳ hàngtháng
* Quản lý quá trình chi
- Nguyên tắc chi:
+ Việc thực hiện chi phải đảm bảo điều kiện: Đã đợc ghi trong dựtoán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định, đợc chủ tịch UBND xãhoặc ngời đợc uỷ quyền chuẩn chi
+ Cấp phát ngân sách xã chỉ dùng hình thức lệnh chi tiền Trờng hợpthanh toán bằng tiền mặt phải kèm theo giấy đề nghị rút tiền mặt, Kho bạcNhà nớc kiểm tra, nếu đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán
+ Trong trờng hợp thật cần thiết nh: Tạm ứng công tác phí, ứng tiền
tr-ớc cho khách hàng, cho nhà thầu theo hợp đồng, chuẩn bị hội nghị, tiếpkhách, mua sắm nhỏ đợc tạm ứng để chi khi có đủ chứng từ hợp lệ, Ban tàichính xã phải lập bảng kê chứng từ chi và giấy đề nghị thanh toán tạm ứnggửi Kho bạc Nhà nớc nơi giao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang thực chingân sách
15
Trang 16+ Các khoản thanh toán từ ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nớc cho các
đối tợng có tài khoản giao dịch ở Kho bạc Nhà nớc hoặc ở ngân hàng phải
đ-ợc thực hiện bằng hình thức chuyển khoản
+ Đối với các khoản chi từ các nguồn thu đợc giữ lại tại xã, Ban tài chínhxã phối hợp với Kho bạc Nhà nớc định kỳ làm thủ tục ghi thu- chi vào ngânsách xã khi làm thủ tục ghi thu- ghi chi phải kèm theo bảng kê chứng từ thu
và bảng kê chứng từ chi
- Đối với chi thờng xuyên:
+ Ưu tiên chi trả sinh hoạt phí, các khoản phụ cấp cho cán bộ xã,không để nợ sinh hoạt phí và các khoản phụ cấp
+ Các khoản chi thờng xuyên khác phải căn cứ vào dự toán năm, tìnhhình cấp bách của công việc, khả năng của ngân sách xã tại thời điểm chi đểthực hiện chi cho phù hợp
- Đối với chi đầu t phát triển:
+ Việc quản lý vốn đầu t xây dựng cơ bản của ngân sách xã thực hiệntheo quy định của nhà nớc và phân cấp của Tỉnh, việc cấp phát, thanh toánquyết toán vốn đầu t xây dựng cơ bản của ngân sách xã thực hiện theo quy
1.2.3 Quản lý khâu quyết toán Ngân sách xã (NSX).
Quyết toán ngân sách xã là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách
Đó là việc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán ngân sách năm, nhằm đánhgiá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách, từ đó rút ra những u, nh-
ợc điểm và bài học kinh nghiệm cho những chu trình ngân sách tiếp theo Dovậy quản lý khâu quyết toán NS cần làm những công việc sau:
- Ban tài chính xã lập báo cáo quyết toán thu- chi ngân sách xã hàngnăm trình UBND xã xem xét để trình HĐND xã phê chuẩn, đồng thời gửi
Trang 17Phòng tài chính huyện để tổng hợp Thời gian gửi báo cáo quyết toán nămcho Phòng tài chính huyện chậm nhất ngày 15/2 năm sau.
- Quyết toán chi ngân sách xã không đợc lớn hơn quyết toán thu ngânsách xã, kết d ngân sách xã là số chênh lệch lớn hơn giữa số thực thu và sốthực chi ngân sách xã Toàn bộ kết d năm trớc (nếu có) đợc chuyển vào thungân sách năm sau
- Sau khi Hội đồng nhân dân xã phê chuẩn, báo cáo quyết toán đợc lậpthành 5 bản để gửi cho Hội đồng nhân dân xã, UBND xã, Phòng tài chínhhuyện (nếu có bổ sung và điều chỉnh); lu Ban tài chính xã và thông báo côngkhai nơi công cộng cho nhân dân trong xã biết
- Phòng tài chính huyện có trách nhiệm kiểm tra báo cáo quyết toán chi ngân sách xã; trờng hợp có sai sót phải báo cáo UBND huyện yêu cầuHĐND xã điều chỉnh
thu-1.3 Sự cần thiết khách quan phải tăng c ờng, củng cố công tác quản lý ngân sách xã
Xuất phát từ đặc điểm nổi bật của ngân sách xã vừa là một cấp ngânsách trong hệ thống NSNN, vừa là một đơn vị dự toán Ngân sách xã vừa thựchiện nhiệm vụ thu-chi của một cấp ngân sách, vừa là đơn vị nhận bổ sung từngân sách cấp trên mà không phải cấp bổ sung cho một cấp ngân sách nàokhác Với đặc thù là đơn vị hành chính cấp cơ sở có mối quan hệ trực tiếp vớidân, giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nớc và nhân dân, cho nên ngân sách xãphải đảm bảo nguồn tài chính cho sự tồn tại, hoạt động của bộ máy chínhquyền xã, và là công cụ, phơng tiện vật chất bảo đảm thực hiện nhiệm vụquản lý nhà nớc của chính quyền cơ sở trong quản lý và điều hành phát triểnkinh tế xã hội ở địa phơng, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, giải quyếttoàn bộ các mối quan hệ giữa nhà nớc và nhân dân tại địa phơng bằng phápluật
Việc thừa nhận ngân sách cấp xã là một cấp trong hệ thống các cấpngân sách Nhà nớc từ năm 1997 đã đánh dấu sự trởng thành của ngân sáchcấp xã Việc quản lý ngân sách xã theo luật NSNN là việc làm mới mẻ đốivới các đơn vị hành chính cấp cơ sở Những Quyết định, văn bản, thông t h-ớng dẫn nhằm bổ sung, sửa đổi công việc quản lý ngân sách xã cho phù hợpvới thực tế, đa các văn bản, thông t đi vào cuộc sống hàng ngày tại địa phơng
là việc làm thờng xuyên, liên tục Đứng trớc sự phát triển ngày càng đi lên
17
Trang 18của đất nớc nhằm tiến tới sự nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá và từng
b-ớc hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thì công tác quản lý luôn tồn tạinhững hạn chế là điều khó tránh khỏi
Trong khi đó, thực trạng công tác quản lý ngân sách xã của nớc tanhững năm qua thì bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, cùng với sự đổi mới
về cơ chế chính sách tài chính nói chung, công tác quản lý ngân sách xã nóiriêng từng bớc đợc củng cố và đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng góp phần
to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển nông thôn mới Công tác quản lýngân sách xã còn tồn tại những hạn chế nhất định trong cả 3 khâu của quytrình quản lý ngân sách xã Dự toán ngân sách xã vẫn cha bao quát hết cácnguồn thu tại xã, cơ cấu chi vẫn cha hợp lý và vẫn còn tình trạng điều chỉnh
đự toán đợc duyệt khi thực hiện Thực hiện quản lý còn lỏng lẻo, chi ngânsách xã cha đợc quản lý chặt chẽ, chế độ định mức chi cha thống nhất nênquyết toán còn thiếu công khai, dân chủ, việc kiểm tra, kiểm soát, hớng dẫncủa cơ quan chức năng các cấp còn hạn chế
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn ở trên, để đảm bảo cho sựphát triển của đất nớc trong điều kiện hiện nay, quá trình quản lý thu chingân sách xã cần có những chính sách, công việc và những quy định cụ thể
về công tác quản lý NSNN nói chung và ngân sách xã nói riêng để ngân sáchxã luôn giữ vững vai trò của mình trong điều kiện hiện nay Đảm bảo ổn định
đời sống nhân dân, từng bớc thay đổi bộ mặt nông thôn mới Vì vậy đặt ramột yêu cầu cần thiết phải tăng cờng củng cố công tác quản lý ngân sách xãcho phù hợp với nhiệm vụ, tình hình mới hiện nay phù hợp với xu hớng pháttriển chung của đất nớc
Nh vậy, ngân sách xã ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử gắnvới chức năng nhiệm vụ của chính quyền cấp cơ sở Với đặc điểm nổi bật vừa
là một cấp ngân sách vừa là một đơn vị dự toán và với vai trò quan trọng củamình đòi hỏi phải có một cơ chế điều hành công tác quản lý tài chính nóichung và công tác quản lý ngân sách xã nói riêng, nhằm đảm bảo cho ngânsách xã thực sự là công cụ, phơng tiện vật chất cho chính quyền cơ sở thựchiện chức năng nhiệm vụ của mình Từ đó đòi hỏi công tác quản lý ngân sáchxã phải luôn đợc hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới
Trang 20
Ch ơng hai
Thực trạng công tác quản lý ngân sách xã ở
Thái bình trong thời gian qua
2.1- Vài nét về đặc điểm, tình hình kinh tế-xã hội ở Thái bình: 2.1.1- Đặc điểm về tự nhiên:
Thái bình là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, phía Tây Nam giáp tỉnhNam Định, phía Đông nam giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Hng Yên,phía Đông giáp Thành phố Hải Phòng Với 49,25 km bờ biển cùng hệthống giao thông thuỷ bộ đi Nam Định, Hng Yên, Hải Phòng, Hải Dơng đãtạo thành mạch máu giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao l ucủa nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho lu thông hàng hoá giữa các
đơn vị kinh tế trong tỉnh với tỉnh bạn và giao l u quốc tế trong cơ chế thị ờng
tr-Với diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 154.224 ha, diện tích đất nôngnghiệp là 96.567 ha, trong đó đất canh tác là 94.300 ha, còn lại là đất thổ
c và sử dụng cho mục đích khác Tổng dân số trong tỉnh là 1.814.500 ng ời,trong đó có 1.697.000 dân số sống ở nông thôn Toàn tỉnh có 7 huyện, 1thị xã, tổng số đơn vị hành chính sơ sở là 285, trong đó có 272 xã, 6 ph ờng
và 7 thị trấn Với lực lợng lao động dồi dào là 1.060.700 ngời và phần lớn
đều có trình độ văn hoá và có kinh nghiệm trong sản xuất, cùng sự thuậnlợi về địa lý làm phong phú thêm tiềm năng, thế mạnh cho sự phát triểnKT-XH của tỉnh nói chung và cho ngân sách xã, phờng nói riêng
Trang 21đa nông nghiệp phát triển toàn diện là việc làm cấp thiết nh : Chỉ thị 100,khoán 10, nghị quyết 990, luật đất đai Tỉnh uỷ-UBND tỉnh đã tập trungchỉ đạo triển khai nghiêm túc các chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhànớc tới ngời dân, mạnh dạn đổi mới phơng thức quản lý, áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật vào đồng ruộng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng-vật nuôi
và tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp có sự tăng tr ởng mạnh và liêntục cả về năng suất, chất lợng Với phơng châm mạnh dạn đầu t thâm canhtăng vụ và áp dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp nên năng suấtkhông ngừng tăng lên và bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi rõ dệt.Theo đó mà năng suất lúa cũng ngày một tăng, nhiều xã đạt trên 13 tấn/ha;bên cạnh đó việc đẩy mạnh đổi mới cơ cấu giống lúa theo h ớng tiến bộcũng làm tăng năng suất luá ngày một cao hơn, cụ thể:
đợc nâng cao Đàn lợn tăng nhanh từ 402.100 con năm 1996 lên 776.000con năm 2001; đàn bò tăng từ 29.160 con năm 1996 lên 40.263 con năm2001.Bên cạnh đó,do nhu cầu phát triển của thị tr ờng,nhiều nơi đã tậndụng lợi thế của vùng, cũng đã mạnh dạn đầu t vào chăn nuôi một số loạigia súc, gia cầm nh:Bò lai,Lợn hớng lạc,Gà công nghiệp,cá lồng, vịt thịt,vịt lấy trứng,ngỗng làm thu nhập của ngời dân ngày càng tăng cao
* Về công nghiệp-TTCN:
Ngành nghề công nghiệp-TTCN trong tỉnh rất đa dạng và phong phúvới tổng số 108 doanh nghiệp Nhà nớc trong đó có 16 doanh nghiệp Nhànớc và 92 doanh nghiệp địa phơng cùng nhiều ngành nghề khác nhau nằmrải rác ở các địa phơng nh: Tơ tằm, dệt vải ở Hng Hà; chạm bạc ở Kiến x-
ơng; dệt chiếu và làm cói ở Tiền Hải đã thu hút số lợng lớn lao động nôngnhàn sau thời vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập cho
21
Trang 22nhân dân Nhìn chung các ngành phát triển tơng đối đồng đều ở mọi thànhphần kinh tế, việc chuyển đổi cơ cấu, mở rộng đầu t , nâng cao chất lợngsản phẩm đã đạt kết quả khá, thị trờng đợc mở rộng, chính sách phát triểnnghề và làng nghề đợc triển khai có tác dụng khuyến khích các doanhnghiệp mạnh dạn đầu t, yên tâm sản xuất Đã hình thành các khu côngnghiệp ở Thị xã, Tiền Hải, Diêm Điền nhằm đẩy mạnh sự thu hút đầu t vàtạo đà phát triển cho những năm sau Một số dự án đầu t trong và ngoài n-
ớc đã đợc xây dựng và đi vào hoạt động Một số ngành tăng mạnh nh : Sảnxuất vật liệu xây dựng, dệt may, chế biến l ơng thực-thực phẩm xuất khẩu
đa giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 2001 đạt 1.635,7 tỷ đồng tăng14,6% so với năm 2000 Trong đó khu vực quốc doanh đạt 451 tỷ đồngtăng 16,6%, quốc doanh địa phơng tăng khá, khu vực ngoài quốc doanh
đạt 1.165 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2000; khu vực có vốn đầu t nớcngoài đạt 18,85 tỷ đồng Sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp cáchuyện, thị tăng khá nh: Thị xã, Thái Thuỵ, Vũ Th
Tuy nhiên là một tỉnh thuần nông nên công nghiệp cha đủ sức cạnhtranh trên thị trờng, đặc biệt là công nghiệp mũi nhọn cha có, việc mở rộngquy mô sản xuất tiến hành còn chậm, các nhà đầu t nớc ngoài cũng còn rất
dè dặt khi đầu t vào tỉnh
2.1.3- Đặc điểm về văn hoá-xã hội:
Là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, có nền văn minh lúa nớc lâu
đời, với điều kiện một mặt giáp biển, 3 mặt đ ợc bao bọc bởi hệ thống sôngngòi dày đặc nên nền văn hoá trong tỉnh có sự khác biệt Bên cạnh việcbảo tồn nền văn hoá lâu đời và thu nhận nền văn hoá mới, tình hình vănhoá-xã hội Thái bình có nhiều tiến bộ mới Với hệ thống giáo dục đào tạongày càng đợc hoàn thiện, đã đợc là một trong 3 tỉnh phổ cập xong giáodục trung học cơ sở, gần 100% các cháu trong độ tuổi đi học đều đ ợc đếntrờng, các trờng phổ thông đã đợc tăng cờng về cơ sở vật chất, trang thiết
bị dạy và học, không còn tình trạng học 3 ca, số học sinh tốt nghiệp cáccấp đạt 99% năm 2001, đội ngũ giáo viên đợc chú trọng trong việc học,bồi dỡng nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu của ngành và nâng cao chất l -ợng giảng dạy
Công tác y tế trong tỉnh đến năm 2001, nhìn chung có nhiều tiến bộ,những năm gần đây không có dịch bệnh xảy ra, công tác phòng chống dịchbệnh, chăm sóc sức khoẻ, tiêm chủng mở rộng đợc tiến hành thờng xuyên,
Trang 23tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi quy định đợc tiêm chủng đạt 97% Với mạng lới
y tế đợc tổ chức từ cơ sở xã giúp nhân dân yên tâm sản xuất Tuy nhiên,công tác tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về phòng và chống một sốbệnh nguy hiểm thờng xuyên nhng hiệu quả cha cao Công tác hoạt độngvăn hoá- thể dục thể thao mang tính quần chúng rộng rãi đ ợc giữ vững vàphát huy đợc bản sắc dân tộc Công tác đoàn thể ở địa ph ơng hoạt động sôinổi, công tác đoàn, đội, hội ở các xã thờng xuyên đợc quan tâm và giữvững đợc vai trò của mình Phong trào xây dựng nếp sống văn hoá từ cácgia đình đến làng xã tiếp tục đợc nhân rộng Phong trào dân số-kế hoạchhoá gia đình, nếp sống văn minh, gia đình văn hoá cùng với việc đấu tranhphòng chống các tệ nạn xã hội đã góp phần giữ vững an ninh, ổn địnhkinh tế-chính trị trên địa bàn Đến năm 2001, các xã trong tỉnh đều có độivăn nghệ, các di tích lịch sử văn hoá đợc bảo tồn tôn tạo, các hoạt độngsinh hoạt truyền thống, lễ hội phát huy đợc nền văn hoá tốt đẹp của địa ph-
ơng Nhìn chung công tác xoá đói giảm nghèo, công tác dân số kế hoạchhoá gia đình; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đợc giữ vững Tìnhhình nông thôn đang đi vào ổn định vững chắc, đời sống của nhân dân tiếptục đợc cải thiện
Song trong công cuộc đổi mới hiện nay, ngời dân có trình độ, tín ỡng khác nhau đòi hỏi nội dung công tác văn hoá xã hội phải có nhữngyêu cầu khác nhau cho phù hợp với từng đối tợng
ng-2.1.4- Khái quát cơ cấu tổ chức của Sở Tài chính-Vật giá Thái bình:
Sở Tài chính-Vật giá Thái bình là đơn vị hành chính của tỉnh, đ ợc
đặt tại trung tâm của Thị xã Thái bình Với nhiệm vụ quản lý tài chínhngân sách của tỉnh, đồng thời tham mu cho Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnhtriển khai thực hiện pháp luật, chính sách chế độ của Nhà nớc về tài chínhtrên địa bàn tỉnh Phối hợp với các ngành, các cơ quan tài chính Nhà n ớc ở
địa phơng thực hiện các nhiệm vụ đợc giao Phối hợp với các cơ quan chứcnăng thực hiện quản lý tài chính- ngân sách Nhà nớc trên địa bàn tỉnh;thực hiện sự chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ trong ngành tài chính Vớinhững nhiệm vụ khái quát trên, Sở Tài chính-Vật giá Thái bình tổ chức bộmáy gồm 8 phòng, 1 ban và 1 đơn vị trực thuộc Với tổng số cán bộ côngchức của Sở là 82 ngời; trong đó: 78 ngời trình độ đại học, 1 trình độ trunghọc và 3 kỹ thuật đợc bố trí ở các phòng, ban phù hợp với năng lực của
23
Trang 24mình Ban lãnh đạo Sở gồm 3 ngời, trong đó 1 giám đốc Sở, 2 phó giám
đốc Sở giúp việc cho giám đốc Riêng phòng quản lý ngân sách huyện- xã
đợc bố trí 8 cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhiều năm làmcông tác quản lý ngân sách nói chung và ngân sách xã nói riêng
Nhìn chung tình hình hoạt động của Sở Tài chính-Vật giá Thái bình
và của các phòng, ban nói riêng trong những năm gần đây đạt hiệu quả,
đáp ứng đợc yêu cầu trong ngành quản lý tài chính Có những phòng đãnhận đợc bằng khen của Bộ tài chính và UBND tỉnh, nh phòng Quản lýngân sách tỉnh, phòng quản lý ngân sách huyện-xã Điều đó chứng tỏcông tác quản lý tài chính của Sở đã đáp ứng đợc yêu cầu trong tình hìnhmới và ngày càng giữ vững vai trò chủ đạo của mình trong ngành tài chínhnói chung cũng nh trong quản lý ngân sách Nhà nớc-ngân sách xã nóiriêng trên địa bàn tỉnh Thái bình
2.2- Tình hình quản lý thu- chi ngân sách xã qua các năm 2001:
1999-Sau 5 năm triển khai thi hành Luật ngân sách Nhà nớc và 4 năm thựchiện củng cố, tăng cờng công tác quản lý tài chính ngân sách xã, theo tinhthần nghị quyết số 06 của Tỉnh uỷ Thái bình; tuy gặp nhiều khó khăn nh ngtình hình quản lý ngân sách xã ở Thái bình đã đạt đợc những thành tựunhất định Nhờ cơ chế phân cấp ổn định nhiệm vụ thu-chi ngân sách các xã
đã chủ động khai thác phát huy thế mạnh trong công tác quản lý, hạn chếtình trạng trông chờ ỷ lại cấp trên Ngân sách xã phối hợp cùng ngân sáchcác cấp về cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội,góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn trong tỉnh
Để thấy đợc những thành tựu đã đạt đợc và những hạn chế trong quản lýthu-chi ngân sách xã ở Thái bình trong những năm gần đây, ta cùng phântích tình hình quản lý ngân sách xã trong tỉnh; qua đó tìm ra những nguyênnhân tác động đến tình hình đó nhằm đa ra những giải pháp tăng cờngcông tác quản lý ngân sách xã trong điều kiện tỉnh Thái bình hiện nay
Trang 25sách đợc giao, tuy nhiên tình hình thực hiện lại đạt cao hơn dự toán duyệt nhnăm 1999 thu ngân sách xã đạt 118.845.150 ngàn động, đạt 159%so với dựtoán ; năm 2000 thu ngân sách xã đạt 133.447.380 ngàn đồng, đạt 155% sovới dự toán; năm 2001 thu ngân sách xã đạt 186,4% so với dự toán duyệt.
Điều đó chứng tỏ mặc dù khâu lập hầu hết các xã đã dựa vào tình hìnhphát triển kinh tế-xã hội của địa phơng và các văn cứ luật cho phép để xâydựng, công tác lập đã đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công bằng, đúng trình
tự quy định Nhng chất lợng của dự toán cha cao, điều đó có thể do dựtoán cha bao quát hết nguồn thu, cha sát thực tế Vẫn còn một số xã khilập dự toán cha bám sát mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của
địa phơng Trong khi đó một số khoản thu còn không có trong dự toán đợcduyệt hoặc dự toán phản ánh quá thấp so với thực tế đạt đợc nh thu kết dngân sách năm trớc và đặc biệt là thu đong góp của nhân dân chiếm tỷtrọng tơng đối cao trong tổng thu ngân sách
Mặc dù ở khâu lập dự toán còn nhiều bất cập, song việc thực hiệnthu ngân sách những năm qua liên tục gia tăng là điều không thể phủ nhận.Năm 1999 tổng thu ngân sách xã là 118.845.150 ngàn đồng, năm 2000tổng thu ngân sách xã đạt 133.447.380 ngàn đồng tăng 12,2% so với năm1999; năm 2001 tổng thu ngân sách xã đạt 201.208.000 ngàn đồng, v ợt dựtoán đề ra là 93.288.000 ngàn đồng tơng ứng với 86,4% Đồng thời thungân sách năm 2001 tăng 50,7% so với năm 2000 t ơng ứng với 67.760.620ngàn đồng Tổng thu ngân sách xã tăng lên nh vậy là do nhiều khoản thutại xã đã tăng lên, điều đó đợc thể hiện qua những khoản thu sau:
Qua số liệu ở biểu số 1 ta thấy số thu của ngân sách xã tăng lên chủyếu là do nguồn thu tại xã tăng Có đợc kết quả đó là do các xã đã chủ
động khai thác các nguồn thu mới phát sinh trên địa bàn và các khoản thukhác không đợc bao quát trong dự toán thu ngân sách xã Các khoản thu
nh phí, lệ phí, quỹ đất 5% và hoa lợi công sản đều vợt dự toán đề ra ở mứctơng đối cao Trong khi đó các khoản thu từ đóng góp của nhân dân và thukết d ngân sách xã năm trớc không có trong dự toán lại cũng tăng lên sovới các năm trớc Ngoài các khoản thu trên, còn lại đợc đa vào khoản thukhác của ngân sách xã, khoản thu này mặc dù có đợc phản ánh trong dựtoán nhng khi thực hiện lại đạt ở mức rất cao và không ngừng tăng lên quacác năm nh năm 1999 tăng 198% so với dự toán, năm 2000 tăng 53%, năm
2001 tăng 269% so với dự toán Điều này xảy ra là do việc lập dự toán củacác xã cha bao quát hết đợc các khoản thu, còn có tình trạng coi thờngnhững khoản thu nhỏ nên không phản ánh chúng vào trong dự toán Bêncạnh đó còn có những khoản thu khác nh thu vay để trả nợ từ nguồn của
25
Trang 26chính phủ và thu hồi sau kết luận thanh tra tại các xã Những khoản thu có
tỷ trọng lớn nh quỹ đất công ích và thu từ hoa lợi công sản vẫn đ ợc quản lý
và khai thác tốt Tuy nhiên những khoản thu này cũng có xu hớng giảmdần qua các năm Năm 2000 thu từ quỹ đất 5% và hoa lợi công sản đạt22.200.178 ngàn đồng bằng 97,5% so với năm 1999 và năm 2001 đạt21.774.812 ngàn đồng bằng 98% so với năm 2000 Có điều này là do giáthóc tính thu trong năm giảm và do thay đổi cơ chế quản lý đất đai làm sốlợng đất công ích giảm xuống nên giảm thu từ quỹ đất công ích Ngoài racác khoản thu nh phí, lệ phí, thuế môn bài vẫn là những khoản thu ổn
định qua các năm
* Đối với các khoản thu điều tiết đợc phân chia theo tỷ lệ phần trăm
(%): Đây là những khoản thu mà Nhà nớc phân chia một phần cho xã để
đảm bảo nhu cầu chi tiêu thờng xuyên của xã Những khoản thu này đợcNhà nớc phân chia tỷ lệ phần trăm ổn định từ 3 đến 5 năm nhằm giúp ngânsách xã chủ động trong điều hành thu-chi Nhìn chung các khoản thu nàytrong những năm qua có xu hớng giảm cả tỷ trọng và số lợng Năm 1999các khoản thu này đạt 15.093.334 ngàn đồng đạt 98,8% so với dự toán.Năm 2000 các khoản thu này đạt 13.738.166 ngàn đồng đạt 91% so vớinăm 1999 và bằng 93,49%so với dự toán đợc duyệt; năm 2001 các khoảnthu này chỉ đạt 7.755.855 ngàn đồng bằng 56,9% so với dự toán năm vàchỉ bằng 56,4% so với năm 2000 Nguyên nhân dẫn đến điều này là donăm 2001 tỉnh Thái bình thực hiện Nghị quyết số 05/2001/NQ-CP ngày24/5/2001 của Chính phủ về việc bổ xung một số giải pháp điều hành kếhoạch kinh tế năm 2001 và thông t số 41/2001/TT-BTC ngày 12/6/2001của Bộ Tài chính về hớng dẫn bổ xung việc miễn giảm thuế sử dụng đấtnông nghiệp năm 2001 Việc giảm 50% thuế sử dụng đất nông nghiệp chotất cả các hộ sử dụng đất nông nghiệp và miễn toàn bộ cho những hộ đ ợccoi là nghèo đã làm cho khoản thu phân chia giảm đi và thuế sử dụng đấtnông nghiệp năm 2001 chỉ đạt 4.540.959 ngàn đồng bằng 43,7% so với dựtoán năm và bằng 43,4% so với năm trớc Đây là khoản thu có tỷ trọng lớnnhất trong tổng số các khoản thu điều tiết năm 2000 chiếm 76%, năm
2001 chiếm 58,5% Bên cạnh đó thuế nhà đất cũng giảm dần qua các năm,hàng năm chỉ đạt khoảng 86% so với năm trớc Một nguyên nhân nữa cũngdẫn đến tình trạng này là do giá thóc tính thuế sử dụng đất nông nghiệptrong năm giảm 150 đồng/kg so với giá giao dự toán đầu năm Mặc dù
Trang 27và 351,7% so với dự toán năm 2001 nhng khoản thu này chiếm tỷ trọngquá nhỏ trong tổng số các khoản thu điều tiết Trong năm tới các khoảnthu này vẫn tiếp tục giảm do Nghị quyết 05 của Chính phủ vẫn đ ợc thựcthi trong tỉnh ta và trong tơng lai khoản thu này có thể sẽ đợc tăng lên doviệc sửa đổi một số điều luật của ngân sách Nhà n ớc nhằm điều chỉnh tỷ lệ
điều tiết cho ngân sách cấp xã mà đã đợc Quốc hội thông qua tại kỳ họpthứ XI- Quốc hội khoá X
* Về khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên:
Từ khi luật ngân sách Nhà nớc đợc triển khai thực hiện, tổng số thu
bổ xung từ ngân sách cấp trên của ngân sách xã ngày càng tăng lên và giữvai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách xã Nếu tr ớc khi thực hiện luậtngân sách Nhà nớc có 231/285 xã còn phải nhận trợ cấp chi thờng xuyênthì đến nay cả tỉnh chỉ có thị trấn Hng Hà là tự cân đối đợc thu-chi ngânsách, còn lại các xã thì nguồn thu tại xã chỉ đáp ứng đ ợc một phần nhiệm
vụ chi thờng xuyên Năm 1999 tổng thu bổ sung từ ngân sách cấp trên là29.732.469 ngàn đồng bằng 118,9% so với dự toán, năm 2000, tổng số bổsung từ ngân sách cấp trên là 41.003.487 ngàn đồng bằng 151,7% so với
dự toán và tăng 37,9% so với năm 1999 Năm 2001, tổng số thu bổ sung từngân sách cấp trên là 56.746.203 ngàn đồng đạt 113,5% so với dự toán vàtăng 38,4% so với năm 2000 Nhìn chung khoản thu này hàng năm đềutăng với tốc độ ổn định và tơng đối cao Số thu trợ cấp thiếu chi thờngxuyên tăng lên trong những năm qua là do những năm qua Đảng và Nhà n -
ớc đã tập trung cho củng cố và nâng cao chất lợng hoạt động của bộ máychính quyền cơ sở, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững chắc từ cơ
sở Chính vì lẽ đó chính phủ đã ban hành các nghị định về chế độ đãi ngộcho cán bộ xã tăng cả chế độ đợc hởng và số cán bộ xã, mức đợc hởng
Đồng thời thực hiện chủ trơng trên UBND tỉnh đã ban hành một số vănbản quy định hớng dẫn bổ sung thêm một số chế độ cho cán bộ xã nh : cho
bí th, xóm trởng, bí th, tổ trởng tổ dân phố, cán bộ y tế cơ sở, bu tá xã.Nhằm bảo đảm nhiệm vụ chi của ngân sách xã nhất là nhu cầu chi cho cán
bộ xã UBND tỉnh đã tăng trợ cấp bảo đảm cân đối cho các xã để các xã có
điều kiện thực hiện các nhiệm vụ chính trị kinh tế xã hội của địa ph ơng
Do thời gian thực tập và thâm nhập thực tế còn hạn chế nên khôngthể phân tích hết toàn bộ mọi khoản thu của ngân sách xã Vì vậy để thấy
rõ về công tác quản lý thu ngân sách xã của Thái bình trong thời gian qua
27
Trang 28Sau đây sẽ phân tích sâu hơn về một số khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trongtổng số thu ngân sách xã nh: thu từ phí, lệ phí; thu từ quỹ đất 5% và hoalợi công sản và thu từ đóng góp của nhân dân
đặc biệt với điều kiện Thái bình là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, dân
số đông, mật độ dân số ở mức cao so với các tỉnh khác nên việc họp chợ để
lu thông hàng hoá diễn ra ở hầu hết các xã trong tỉnh, một số xã đã tậndụng lợi thế của mình để mở chợ họp tất cả các ngày với quy mô lớn nên
đã thu đợc phí chợ ở mức cao Bên cạnh đó với đặc điểm Thái bình cónhiều con sông lớn, bé chằng chịt, cha có điều kiện để xây dựng cầu nên
đã hình thành những bến đò, phà nhằm giao l u buôn bán hàng hoá giữa cácxã ven sông và với ngoại tỉnh, tạo điều kiện cho các xã ven sông có số thu
từ hoạt động này Năm 2001 có một số địa phơng thực hiện tốt nguồn thunày nh: Quỳnh Phụ: 1.400.970 ngàn đồng; Thái Thuỵ: 1.029.912 ngàn
đồng; Vũ Th: 800.618 ngàn đồng Có đợc điều này là do bên cạnh những
Trang 29yếu tố thuận lợi về mặt địa lý và cơ sở hạ tầng tốt thì cũng không thểkhông kể đến công tác quản lý thu tốt ở các địa phơng; nh việc lập kếhoạch cho khoản thu này cũng đợc các cán bộ tài chính xã phối hợp cũngBan thuế và UBND xã đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế về mọi mặt nên
đã đa ra dự toán sát với thực tế Quá trình thực hiện cũng đợc kiểm tra, đôn
đốc thu nộp kịp thời, đạt hiệu quả cao Tuy nhiên cũng còn một số địa ph
-ơng cha coi trọng công tác quản lý, thiếu sự đôn đốc kiểm tra, mức đấuthầu cha phù hợp, cha sát với thực tế, làm giảm thu cho ngân sách xã
Những điều trên đòi hỏi các xã phải làm tốt hơn nữa công tác quản
lý thu, từng bớc nâng cao số thu cũng nh tỷ trọng trong thu phí, lệ phí, qua
đó mà nguồn thu tại xã đợc bảo đảm
* Thu quỹ đất 5% và hoa lợi công sản:
29