Nhận thức được tầm quan trọng của quy trình chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính và nhu cầu tìm hiểu thực tế vấn đề này tại một công ty kiểm toán cụ thể, em đã quyết định chọn đề t
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
NGUYỄN HỮU KÔNG
Huế, tháng 04 năm 2018
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
LỚP: K48A KẾ TOÁN NIÊN KHÓA: 2014 - 2018
Huế, tháng 04 năm 2018
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Lời Cảm Ơn
FAC.
FAC.
thành khóa luận này.
khóa luận.
con đường sau này.
Sinh viên Nguyễn Hữu Kông
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu đề tài 4
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH CHỌN MẪU TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN 5
1.1 Cơ sở lí luận về chọn mẫu 5
1.1.1 Các khái niệm về chọn mẫu 5
1.1.2 Các phương pháp chọn mẫu 7
1.1.2.1 Chọn mẫu thống kê 7
1.1.2.2 Chọn mẫu phi thống kê 8
1.1.3 Các phương pháp lựa chọn phần từ mẫu 8
1.1.3.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên 8
1.1.3.2 Chọn mẫu phi xác suất 14
1.1.4 Yêu cầu đối với chọn mẫu kiểm toán 16
1.1.5 Kỹ thuật phân tầng (phân nhóm) trong chọn mẫu kiểm toán 16
1.2 Quy trình chọn mẫu khi thực hiện thử nghiệm cơ bản 18
1.2.1 Các khái niệm về thử nghiệm cơ bản 18
1.2.2 Quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản 18
1.3 Hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu đã thực hiện về kỹ thuật chọn mẫu và quy trình chọn mẫu 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN TẠI VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN FAC – CHI NHÁNH HUẾ 24
2.1 Tổng quan về công ty TNHH Kiểm toán FAC 24
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 24
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
2.1.2 Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động 25
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lí 26
2.1.4 Nguồn lực 28
2.1.5 Các loại hình dịch vụ chuyên ngành 29
2.2 Thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản của Văn phòng đại diện công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế đối với công ty khách hàng 32
2.2.1 Khái quát chung về quy trình kiểm toán BCTC của Văn phòng đại diện công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế 32
2.2.1.1 Lập kê hoạch kiểm toán 32
2.2.1.2 Thực hiện kiểm toán 33
2.2.1.3 Hoàn thành cuộc kiểm toán 34
2.2.2 Khái quát quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản tại văn phòng đại diện công ty TNHH kiểm toán FAC Thừa Thiên Huế 34
2.2.2.1 Lập kế hoạch chọn mẫu 34
2.2.2.2 Thực hiện chọn mẫu 35
2.2.2.3 Đánh giá kết quả mẫu 37
2.2.2 Thực tế vận dụng kĩ thuật chọn mẫu vào thử nghiệm cơ bản tại công ty khách hàng 37
2.2.2.1 Sơ lược về công ty khách hàng 37
2.2.2.2 Thực tế áp dụng kĩ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản tại công ty khách hàng ABC 38
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CHỌN MẪU TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN FAC – CHI NHÁNH HUẾ 64
3.1 Đánh giá về thực trạng vận dụng quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản tại văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC – Thừa Thiên Huế: 64
3.1.1 Ưu điểm 64
3.2.2 Nhược điểm 64
3.2 Giải pháp 65
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
VACPA : Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng số ngẫu nhiên xây dựng bởi Hiệp hội Thương mại Liên quốc gia Hoa
Kì 10
Bảng 1.2: Ví dụ về phân nhóm trong chọn mẫu kiểm toán 17
Bảng 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cỡ mẫu trong kiểm tra chi tiết 20
Bảng 2.1 Tính hình nguồn vốn và kết quả kinh doanh của công ty TNHH Kiểm toán FAC năm 2016-2017 28
Bảng 2.2 Bảng quy định về đánh giá mức độ đảm bảo R tại FAC 35
Bảng 2.3 Phân tích sơ bộ BCTC đối với Báo cáo kết quả kinh doanh 40
Bảng 2.4 Bảng đánh giá về thành phần hệ thống KSNB 42
Bảng 2.5 Ma trận rủi ro phát hiện của FAC 50
Bảng 2.6 Xác định mức trọng yếu (Kế hoạch – Thực tế) tại FAC 51
Bảng 2.7 Bảng tính cỡ mẫu các khoản mục trên BCTC 53
Bảng 2.8 Kiểm tra chi tiết cỡ mẫu nhóm 1 54
Bảng 2.9 Đối chiếu doanh thu giữa sổ cái và báo cáo thuế 55
Bảng 2.10 Kiểm tra các nghiệp vụ nhóm 2 56
Bảng 2.11 Kiểm tra cut-off doanh thu ngày khóa sổ 62
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lí của công ty TNHH Kiểm toán FAC 26
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đại diện của công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế 27
Sơ đồ 2.3 Quy trình kiểm toán mẫu do VAPCA ban hành 32
Sơ đồ 2.4 Quy trình chọn mẫu kiểm tra tại FAC 34
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập và phát triển như hiện nay, khu Châu Thái Bình Dương vẫn là khu vực kinh tế năng động nhất thế giới (Theo “U.S
Á-Economic Strategy in the Asia Pacific“, CSIS, 10/2017 được Trần Quang Biên dịch)
Môi trường kinh doanh ngày càng mở rộng và thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển ngày càng nhanh của các doanh nghiệp Cùng với
đó là nhu cầu sử dụng thông tin tài chính ngày càng tăng Do đó vấn đề trung thực và hợp lý của thông tin báo cáo tài chính càng trở nên quan trọng dẫn đến đòi hỏi về vai trò ngành kiểm toán ngày càng cao hơn bao giờ hết
Tại Việt Nam, ngành Kiểm toán chính thức ra đời vào năm 1991 chỉ với sơ khai hai công ty là Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và công ty dịch vụ kế toán Việt Nam (AASC) Theo thống kê của Bộ tài chính năm 2018, hiện nay đã có 175 công ty được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, với hơn 1000 KTV được cấp giấy chứng nhận hành nghề Với vai trò là để công khai, minh bạch thông tin tài chính, phục vụ lợi ích của doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, lợi ích của chủ sở hữu vốn, các chủ nợ cũng như lợi ích và yêu cầu của Nhà nước thì hoạt động kiểm toán đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường
Trong quá trinh kiểm toán, KTV phải kiểm tra một khối lượng chứng từ nghiệp
vụ rất lớn trong điều kiện hạn chế rất nhiều về nguồn lực (nhân lực, thời gian, chi phí kiểm toán) Do đó đòi hỏi KTV phải sử dụng kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán để giảm bớt khối lượng chứng từ cần kiểm tra nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và thời gian, chi phí kiểm toán ở mức phù hợp Tuy nhiên kiểm toán chọn mẫu như thế nào để vừa đảm bảo chất lượng kiểm toán vừa đảm bảo thời gian chi phí kiểm toán vẫn còn rất kho khăn đối với KTV Quy trình chọn mẫu kiểm toán đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính, bởi lẽ nếu xác định rủi ro - trọng yếu, thiết
kế mẫu không đúng và phương pháp chọn mẫu được đưa ra không phù hợp thì sẽ ảnh hưởng đến sự hữu hiệu và hiệu quả của cuộc kiểm toán và có thể dẫn đến việc KTV đưa ra kết luận và phát hành báo cáo kiểm toán không thích hợp về báo cáo tài chính được kiểm toán
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
FAC ra đời vào năm 2006, trong suốt mười hai năm hoạt động kinh doanh, công
ty cũng đã và đang áp dụng quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản khi kiểm toán các công ty khách hàng Tuy nhiên trong thực tế quy trình chọn mẫu còn đơn giản, KTV đánh giá rủi ro và trọng yếu còn sơ sài, phương pháp chọn mẫu đơn giản và thực hiện còn thủ công dựa trên kinh nghiệm và phán đoán của KTV là chính nên còn
có nhiều điều cần bổ sung và hoàn thiện
Nhận thức được tầm quan trọng của quy trình chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính và nhu cầu tìm hiểu thực tế vấn đề này tại một công ty kiểm toán cụ thể, em
đã quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu quy trình chọn mẫu trong trong thử nghiệm cơ bản được áp dụng trong chương trình kiểm toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế”
2 Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu tổng quát
- Tìm hiểu về quy trình chọn mẫu trong trong thử nghiệm cơ bản được áp dụng trong chương trình kiểm toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế từ đó có cái nhìn tổng quát về quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản của công ty Công ty TNHH Kiểm toán FAC từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
b) Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản
cơ bản được áp dụng trong chương trình kiểm toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Tìm hiểu về quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản được áp dụng trong chương trình kiểm toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của KTV tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế thực hiện tại công
ty khách hàng từ đó đưa ra các ưu nhược điểm của phương pháp đang sử dụng
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản tại được áp dụng trong chương trình kiểm toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy trình chọn mẫu trong trong thử nghiệm cơ bản được áp dụng trong chương trình kiểm toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế
Đề tài đi sâu tìm hiểu quy trình chọn mẫu trong trong thử nghiệm cơ bản được áp dụng trong chương trình kiểm toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại công
ty khách hàng ABC - Theo yêu cầu bảo mật thông tin của khách hàng kiểm toán
5 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp nghiên cứu và thu thập tài liệu
- Thu thập và nghiên cứu các tài liệu về chuẩn mực kiểm toán, kế toán Việt Nam cùng với chế độ kế toán hiện hành cùng với các tài liệu và giáo trình khác có liên quan quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản
- Thu thập tài liệu về hồ sơ các năm trước của khách hàng liên quan đến quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế
b) Phương pháp quan sát và phỏng vấn
- Quan sát quá trình KTV thực hiện quá trình chọn mẫu và phỏng vấn KTV về quy trình tiến hành chọn mẫu trong thực tế
- Trực tiếp tham gia quy trình kiểm toán với vai trò trợ lý kiểm toán
c) Phương pháp phân tích và mô phỏng
- Phân tích các phương pháp chọn mẫu và mô phỏng lại quy trình chọn mẫu đã tìm hiểu và quan sát
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
6 Kết cấu đề tài
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 phần:
Phần I: Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận về quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản
Chương 2: Thực trạng quy trình chọn mẫu trong trong thử nghiệm cơ bản được
áp dụng trong kiểm toán khoản mục Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản tại Công ty TNHH Kiểm toán FAC – Chi nhánh Huế
Phần III: Kết luận và kiến nghị
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH CHỌN MẪU TRONG
THỬ NGHIỆM CƠ BẢN
1.1 Cơ sở lí luận về chọn mẫu
1.1.1 Các khái niệm về chọn mẫu
a) Khái niệm chọn mẫu
Theo giáo trình "Kiểm toán (Phần 1)" của trường Đại học Công nghiệp TP.HCM,
theo đó thì "Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các khoản mục hoặc đơn
vị (gọi là mẫu) từ một tập hợp các khoản mục hoặc đơn vị lớn (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể.”
Theo điểm (a) đoạn (5) VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán, ban hành theo
Thông tư số 214/2012/TT/BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ tài chính, “Lấy
mẫu kiểm toán (gọi tắt là lấy mẫu) là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần tử đều có cơ hội để được chọn”
Lấy mẫu (chọn mẫu) sẽ giúp KTV thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các đặc trưng của các phần tử được chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết luận về tổng thể
b) Tổng thể
Theo điểm (b) đoạn (5) VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán:“Tổng thể là
toàn bộ dữ liệu mà từ đó KTV lấy mẫu nhằm rút ra kết luận về toàn bộ dữ liệu đó”
Trong kiểm toán, tổng thể là toàn bộ dữ liệu mà ở đó KTV chọn mẫu từ đó phân tích để có thể đi đến kết luận Ví dụ, tất cả các phần tử trong một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ cấu thành một tổng thể Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổng thể con và mỗi nhóm có được kiểm tra riêng
KTV phải đảm bảo tính phù hợp và đầy đủ của tổng thể:
- Phù hợp: Tổng thể phải phù hợp với mục đích của thủ tục lấy mẫu
- Đầy đủ: Tổng thể phải luôn đầy đủ
c) Đơn vị lấy mẫu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Theo điểm (f) đoạn (5) VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán “Đơn vị lấy mẫu
là các phần tử riêng biệt cấu thành nên tổng thể” Ví dụ như các các nghiệp vụ phát
sinh, hóa đơn chứng từ bán hàng, hóa đơn GTGT, các sao kê,…
d) Cỡ mẫu
Theo đoạn (A10) VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán:“Cỡ mẫu là số lượng các
phần tử trong tổng thể được lựa chọn theo tiêu thức nhất định vào mẫu để kiểm tra.”
Mức độ rủi ro lấy mẫu mà KTV có thể chấp nhận ảnh hưởng tới cỡ mẫu yêu cầu
Mức độ rủi ro mà KTV có thể chấp nhận càng thấp thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn
Cỡ mẫu có thể được xác định thông qua các tính toán thống kê hoặc dựa trên xét đoán chuyên môn của KTV
e) Rủi ro chọn mẫu
Theo điểm (c) đoạn (5) VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán “Rủi ro lấy mẫu:
Là rủi ro mà kết luận của KTV dựa trên việc kiểm tra mẫu có thể khác so với kết luận đưa ra nếu kiểm tra toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục kiểm toán”
Rủi ro lấy mẫu có thể dẫn tới hai loại kết luận sai đối với thử nghiệm cơ bản như sau:
- Kết luận rằng không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế lại có KTV quan tâm chủ yếu đến loại kết luận sai này vì nó ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểm toán và có thể dẫn đến ý kiến kiểm toán không phù hợp
- Kết luận rằng có sai sót trọng yếu trong khi thực tế lại không có Loại kết luận sai này ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì thường dẫn tới các công việc bổ sung để chứng minh rằng kết luận ban đầu là không đúng
Để giảm rủi ro chọn mẫu KTV có thể tăng kích cỡ mẫu Nếu tăng kích cỡ mẫu tới khi mẫu bằng toàn bộ tổng thể thì rủi ro chọn mẫu bằng không Tuy nhiên nếu tăng kích cỡ mẫu lên thì đồng nghĩa với việc tăng chi phí kiểm toán, do đó yếu tố cơ bản trong việc chọn mẫu kiểm toán một cách hiệu quả là cân đối giữa rủi ro chọn mẫu và chi phí do chọn mẫu có kích cỡ lớn
f) Rủi ro ngoài chọn mẫu
Theo điểm (d) đoạn (5) VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán “Rủi ro ngoài
lấy mẫu: Là rủi ro khi KTV đi đến một kết luận sai vì các nguyên nhân không liên quan đến rủi ro lấy mẫu” Nguyên nhân của rủi ro này thường là năng lực và kinh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
nghiệm của KTV Ví dụ: KTV có thể sử dụng thủ tục kiểm toán không thích hợp hay KTV hiểu sai bằng chứng kiểm toán và không nhận diện được sai sót
Các trường hợp dẫn đến rủi ro không chọn mẫu thường bao gồm:
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng: KTV có thể đánh giá sai lầm rủi to tiềm
tàng trong đối tượng kiểm soát Có thể KTV cho rằng có ít sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán nên họ có xu hướng giảm quy mô công việc cần thực hiện, do đó không phát hiện được các sai phạm
- Đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát: Khi KTV quá tin tưởng vào khả
năng của HTKSNB trong việc ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai phạm nên các KTV có xu hướng giảm khối lượng công việc cần thiết, vì vậy kết quả về việc đánh giá sai về rủi ro tiềm tàng là không phát hiện được tất cả các sai phạm trọng yếu
- Lựa chọn các thủ tục kiểm soát không thích hợp và thực hiện công việc kiểm toán không hợp lý: KTV có thể lựa chọn các thử nghiệm kiểm toán không phù hợp với
mục tiêu kiểm toán Ví dụ: gửi thư xác nhận các khoản phải thu theo sổ sách trong khi
đó mục tiêu là tìm ra các khoản phải thu chưa ghi sổ Hoặc có thể đã chọn được các thủ tục thích hợp nhưng việc triển khai các thủ tục đó lại để xảy sai sót do hạn chế về năng lực, thể lực hay về thời gian
KTV và công ty kiểm toán có thể kiểm soát được rủi ro ngoài chọn mẫu và có khả năng làm giảm rủi ro ngoài chọn mẫu tới mức có thể chấp nhận được thông qua lập kế hoạch và giám sát việc thực hiện kế hoạch một cách chu đáo, đồng thời phải thực hiện các thủ tục kiểm soát chất lượng chặt chẽ và thích hợp đối với công việc kiểm toán
1.1.2 Các phương pháp chọn mẫu
1.1.2.1 Chọn mẫu thống kê
Theo điểm (g) đoạn (5) VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán,” Lấy mẫu thống
kê: Là phương pháp lấy mẫu có các đặc điểm sau:Các phần tử được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu; Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu, bao gồm
cả việc định lượng rủi ro lấy mẫu.”
Chọn mẫu thống kê được khuyến khích sử dụng do có một số ưu điểm sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
- Đòi hỏi có sự tiếp cận chính xác và rõ ràng đối với đối tượng kiểm toán
- Kết hợp chặt chẽ việc đánh giá mối quan hệ trực tiếp giữa kết quả của mẫu chọn với tổng thể trong cuộc kiểm toán
- KTV phải chỉ ra các đánh giá cụ thể hay mức rủi ro và mức trọng yếu
1.1.2.2 Chọn mẫu phi thống kê
Theo điểm (g) đoạn (5) VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán, “Chọn mẫu phi
thống kê là phương pháp chọn mẫu không có một số đặc điểm của phương pháp chọn mẫu thống kê" Việc lựa chọn mẫu sẽ dựa vào phán xét nghề nghiệp của KTV chứ không
dựa vào lý thuyết xác suất Phương pháp chọn mẫu phi thống kê được sử dụng khi:
- Việc kết hợp các phần tử mẫu với các số ngẫu nhiên là rất khó khăn và tốn kém
- Các kết luận không nhất thiết phải dựa trên sự chính xác toán học
- KTV có đầy đủ hiểu biết về tổng thể làm căn cứ áp dụng chọn mẫu phi thống
kê để có thể đưa ra kết luận hợp lý về tổng thể
- Việc lựa chọn mẫu đại diện là không cần thiết, chẳng hạn, mẫu phi thống kê hiệu quả vì bỏ qua một số lớn các phần tử không cần kiểm tra
Phương pháp chọn mẫu phi thống kê hiện nay cũng được sử dụng rộng rãi bởi có những ưu điểm sau:
- Cho phép tiếp cận với các vấn đề mà có thế không thích hợp với phương pháp thống kê
- Cho phép KTV rà soát lại các ước lượng suy diễn dựa trên các yếu tố bổ sung cho những bằng chứng thu thập được từ mẫu
- Cho phép KTV có thể phỏng đoán và bỏ qua một số trường hợp cá biệt đòi hỏi đánh giá bằng định lượng về mức độ rủi ro và mức trọng yếu
Do đó, các kết luận được tiếp cận với các tổng thể trên một căn cứ phán đoán nhiều hơn
1.1.3 Các phương pháp lựa chọn phần từ mẫu
1.1.3.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên
Theo Trang 115, Giáo trình “Kiểm toán căn bản” do TS Trần Đình Tuấn và ThS
Đỗ Thị Thúy Phương đồng chủ biên:”Chọn mẫu ngẫu nhiên là các chọn khách quan
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
theo đúng phương pháp xác định, đảm bảo cho mọi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội bằng nhau để được chọn vào mẫu.”
Đây là phương pháp tốt nhất để ta có thể chọn ra một mẫu có khả năng đại biểu cho tổng thể Mẫu ngẫu nhiên là mẫu mà trong đó mọi sự kết hợp có thể của các phần
tử trong tổng thể đều có cơ hội tạo thành mẫu như nhau
Theo điểm (a) Phụ lục 4 VAS 520 – Lấy mẫu kiểm toán, “Lựa chọn ngẫu nhiên là
sử dụng một số chương trình chọn số ngẫu nhiên Ví dụ: các bảng số ngẫu nhiên.”
Trong chọn mẫu ngẫu nhiên không có sự phân loại giữa các phần tử tổng thể nên chọn mẫu ngẫu nhiên được vận dụng khi các phần tử trong tổng thể được đánh giá là tương đối đồng đều (về khả năng sai phạm, về quy mô…) do đó các phần tử đều có cơ hội như nhau Tuy nhiên, mẫu được chọn ngẫu nhiên chưa hẳn là mẫu đại diện vì có khả năng mẫu chọn được không chứa đựng những đặc tính giống như đặc tính của tổng thể
Có ba phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được đề cập là: Bảng số ngẫu nhiên, chọn bằng máy vi tính và chọn có hệ thống Cả ba phương pháp đều thường được sử dụng
a) Chọn mẫu dựa trên bảng số ngẫu nhiên
Một trong số những cách chọn mẫu ngẫu nhiên trực quan nhất là chọn mẫu sử dụng bảng số ngẫu nhiên
Bảng số ngẫu nhiên là một bảng liệt kê ngẫu nhiên các chữ số độc lập, được sắp xếp dạng biểu để làm dễ dàng cho việc lựa chọn các số ngẫu nhiên nhiều chữ số Bảng này được sắp xếp thành các cột và dòng theo kiểu bàn cờ, mỗi số ngẫu nhiên gồm năm chữ số thập phân Bảng số ngẫu nhiên được xây dựng bởi Hiệp hội Thương mại Liên quốc gia Hoa Kì
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Bảng 1.1: Bảng số ngẫu nhiên xây dựng bởi Hiệp hội Thương mại Liên quốc gia
(Nguồn từ Hi'ệp hội Thương mại Liên quốc gia Hoa Kì)
Theo Trang 117, Giáo trình “Kiểm toán căn bản” do TS Trần Đình Tuấn và ThS
Đỗ Thị Thúy Phương đồng chủ biên, Quy trình chọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên gồm bốn bước sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Bước 1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất
Mục tiêu của định lượng đối tượng kiểm toán là gắn cho mỗi phần tử của tổng thể với một con số duy nhất và từ đó ta có thể có được mối quan hệ giữa các số duy nhất trong tổng thể với bảng số ngẫu nhiên
Thông thường đối tượng kiểm toán (các chứng từ, tài sản…) đã được mã hóa trước bằng con số duy nhất Chẳng hạn, có 5000 các khoản phải thu từ KH và được đánh số thứ tự từ 0001 đến 5000 Khi đó, bản thân các con số thứ tự trên là các đối tượng chọn mẫu Tuy nhiên, trong một số trường hợp KTV có thể cần thiết phải đánh số lại cho tổng thể để có thể có một hệ thống số duy nhất tương thích với bảng số ngẫu nhiên Chẳng hạn, nếu các nghiệp vụ đã được đánh số A-001, B-001… thì KTV có thể dùng các con
số để thay thế các ký tự chữ cái và khi đó có thể dãy số mới là 1-001, 2-002…
Trường hợp phải đánh số lại cho đối tượng kiểm toán thì nên tận dụng các con số
đã có một cách tối đa để đơn giản hóa việc đánh số Ví dụ, trong một quyển sổ chứa các khoản mục tài sản kiểm toán gồm 90 trang, mỗi trang gồm 30 dòng Để có con số duy nhất, có thể kết hợp số thứ tự của trang với số thứ tự của dòng trên mỗi trang để có
có 3 trường hợp xảy ra:
- Thứ nhất, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5 chữ số
như các con số ngẫu nhiên trong Bảng Khi đó quan hệ tương quan 1 – 1 giữa định lượng đối tượng kiểm toán với các số ngẫu nhiên trong Bảng tự nó đã được xác lập
Việc tìm được số ngẫu nhiên trong bảng có nghĩa phần tử nào trong tổng thể có số định lượng bằng với số ngẫu nhiên đó thì sẽ được chọn vào mẫu
- Thứ hai, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán gồm số lượng chữ số ít
hơn 5 chữ số Chẳng hạn, trong ví dụ nêu ở bước 1, KTV cần chọn ra 100 khoản phải thu trong số 5000 khoản phải thu đánh số từ 001 đến 5000 Các số này là số gồm 4 chữ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
số Do vậy, KTV có thể xây dựng mối quan hệ ngẫu nhiên trong Bảng Nếu trường hợp
số định lượng còn ít chữ số hơn nữa thì có thể lấy chữ số giữa trong số ngẫu nhiên
- Thứ ba, các số định lượng của đối tượng kiểm toán có số các chữ số lớn hơn 5
Để thiết lập mối quan hệ giữa số định lượng và số ngẫu nhiên, cần ghép thêm số chữ
số còn thiếu vào số ngẫu nhiên cho tương ứng với số chữ số của số định lượng Khi đó, KTV phải xác định cột chính và cột phụ trong bảng, sau đó chọn lấy cột nào trong Bảng làm cột chủ và chọn thêm những hàng số ở cột phụ của Bảng Chẳng hạn, với số định lượng có 7 chữ số ta cần ghép ngẫu nhiên ở cột chính với 2 chữ số của số ngẫu nhiên ở cột phụ
Bước 3: Lập hành trình sử dụng bảng
Đây là việc xác định hướng đi của việc chọn các số ngẫu nhiên Hướng đó có thể dọc (theo cột) hoặc (theo hàng), có thể xuôi (từ trên xuống dưới) hoặc ngược (từ dưới lên trên) Việc xác định này thuộc quyền phán quyết của KTV xong cần được đặt
ra từ trước và thống nhất trong toàn bộ quá trình chọn mẫu Một vấn đề cần phải được đặc biệt quan tâm ở đây là lộ trình chọn mẫu phải được ghi chép lại trong HSKT để khi một KTV khác có kiểm tra lại việc chọn mẫu thì họ cũng chọn được mẫu tương tự
Bước 4: Chọn điểm xuất phát
Bảng số ngẫu nhiên bao gồm rất nhiều trang Để chọn điểm xuất phát, bảng số ngẫu nhiên nên được mở ra một cách ngẫu nhiên và ngẫu nhiên chọn ra một số trong bảng để làm điểm xuất phát
Khi sử dụng Bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu, có thể có những phần tử xuất hiện nhiều hơn một lần Nếu KTV không chấp nhận lần xuất hiện thứ hai trở đi thì cách chọn đó được gọi là chọn mẫu không lặp lại (chọn mẫu thay thế) Ngược lại, chọn mẫu lặp lại (chọn mẫu không thay thế) là cách chọn mà một phần tử trong tổng thể có thể được chọn vào mẫu nhiều hơn một lần
Trong hầu hết các trường hợp KTV thường loại bỏ các phần tử trùng lặp, hay nói cách khác là thường sử dụng chọn mẫu thay thế Mặc dù chọn mẫu thay thế vẫn đảm bảo tính ngẫu nhiên nhưng số lượng phần tử thực tế khảo sát sẽ giảm đi và lúc đó
độ tin cậy của mẫu chọn cũng giảm theo
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
b) Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính
Hiện nay, phần lớn các hãng kiểm toán đã thuê hay tự xây dựng các chương trình mẫu ngẫu nhiên qua máy vi tính nhằm tiết kiệm thời gian và giảm các sai sót trong việc lựa chọn các phần tử mẫu
Các chương trình chuyên dụng này rất đa dạng, tuy nhiên nói chung vẫn tôn trọng hai bước đầu tiên của chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng số ngẫu nhiên là lượng hóa đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất và xác lập mối quan hệ giữa đối tượng kiểm toán đã định lượng với các con số ngẫu nhiên Tuy nhiên, số ngẫu nhiên lại do máy vi tính tạo ra
Thông thường, ở đầu vào của chương trình cần có số nhỏ nhất và số lớn nhất trong dãy số thứ tự của đối tượng kiểm toán, quy mô mẫu cần chọn và có thể cần có một số ngẫu nhiên làm điểm xuất phát Ở đầu ra thường là bảng kê số ngẫu nhiên theo trật tự lựa chọn hoặc theo dãy số không thích hợp, tự động loại bỏ những phần tử bị trùng lặp và tự động phản ánh kết quả vào giấy tờ làm việc Song ưu điểm nổi bật nhất vẫn là làm giảm sai sót chủ quan do con người (rủi ro không do chọn mẫu) trong quá trình chọn mẫu
c) Chọn mẫu hệ thống
Theo Trang 120, Giáo trình “Kiểm toán căn bản” do TS Trần Đình Tuấn và
ThS Đỗ Thị Thúy Phương đồng chủ biên: “Chọn mẫu hệ thống là cách chọn để sao
cho chọn được các phần tử trong tổng thể có khoảng cách đều nhau( khoảng cách mẫu)” Khoảng cách mẫu (k) này được tính bằng cách lấy kích cỡ tổng thể chia cho
Đơn vị mẫu đầu tiên (m1) được chọn một cách ngẫu nhiên trong khoảng từ phần
tử đầu tiên trong tổng thể (x1) đến phần tử cách đó (k-1) vị trí
x 1 <m 1
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Các đơn vị mẫu kế tiếp được xác định theo công thức:
m i+1 = m 1 + k
Giả sử trong ví dụ trên chúng ta chọn mẫu ngẫu nhiên được điểm xuất phát m1 =
10 thì các đơn vị mẫu tiếp theo sẽ là m2 = 30, m3 = 50… cho đến khi chọn đủ 100 đơn
vị mẫu và m100 = 1990
Nguyên tắc của phương pháp này là kể từ sau một điểm xuất phát ngẫu nhiên được chọn sẽ lựa chọn các phần tử cách nhau một khoảng cách cố định Đơn vị mẫu đầu tiên được chọn ngẫu nhiên nên mỗi đơn vị tổng thể ban đầu có cơ hội được chọn ngang nhau Tuy nhiên, sau khi đơn vị mẫu đầu tiên được chọn, mỗi đơn vị về sau lại không có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu
Ưu điểm chủ yếu của chọn mẫu hệ thống là đơn giản, dễ làm, dễ sử dụng Tuy nhiên, KTV cần tránh thiên vị trong lựa chọn Để tăng tính đại diện của mẫu, KTV sắp xếp tổng thể theo một thứ tự ngẫu nhiên Dùng nhiều điểm xuất phát cũng là một cách tốt để hạn chế nhược điểm của cách chọn này Kinh nghiệm chỉ ra rằng khi ứng dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống thì cần phải sử dụng ít nhất 5 điểm xuất phát Khi sử dụng nhiều điểm xuất phát thì khoảng cách mẫu phải được điều chỉnh bằng cách lấy khoảng cách mẫu hiện tại nhân với số điểm ngẫu nhiên cần thiết Ví dụ, ở ví dụ trên khoảng cách hiện tại là 20 và với số điểm xuất phát ngẫu nhiên là 10 thì ta có khoảng cách mẫu điều chỉnh là 200 (20 x 10) Năm điểm xuất phát được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến 51 Sau đó, tất cả các khoản mục cách nhau một khoảng cách k
= 200 sẽ được chọn ra kể từ điểm xuất phát ban đầu
1.1.3.2 Chọn mẫu phi xác suất
Theo Trang 122, Giáo trình “Kiểm toán căn bản” do TS Trần Đình Tuấn và ThS
Đỗ Thị Thúy Phương đồng chủ biên: “Chọn mẫu phi xác suất là cách chọn mẫu theo
phán đoán chủ quan không dựa vào phương pháp máy móc khách quan Trong phương pháp chọn mẫu phi sác xuất các phần tử tổng thể không có cơ hội như nhau
để được lựa chọn vào mẫu.”
Chọn mẫu phi xác suất bao gồm chọn mẫu theo khối (theo lô) và chọn mẫu trực tiếp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
a) Chọn mẫu theo khối (theo lô)
Theo Trang 122, Giáo trình “Kiểm toán căn bản” do TS Trần Đình Tuấn và ThS
Đỗ Thị Thúy Phương đồng chủ biên “Chọn mẫu theo khối là việc chọn một tập hợp
các phần tử liên tục trong cùng một dãy nhất định, nếu phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì phần tử còn lại cũng được chọn tất yếu.Mẫu có thể chọn một khối hay nhiều khối.”
Ví dụ: Lựa chọn 30 phiếu chi của tháng 1, 2, 3
- Lựa chọn l khối: 30 hóa đơn đầu tháng 1 hoặc tháng 2, 3
- Lựa chọn theo 3 khối: đầu tháng 1,2, 3 đều lựa chọn 10 hóa đơn
- Lựa chọn theo 6 khối: 5 hóa đơn đầu tháng, 5 hóa đơn cuối tháng của tháng 1, 2, 3
Ưu điểm: Càng nhiều khối được lựa chọn thì tính đại diện của mẫu càng cao, rủi
ro càng thấp và ngược lại Phương pháp chọn mẫu theo khối đòi hỏi KTV phải ấn định chủ quan về khả năng sai sót hoặc phải biết phân vùng sai sót
Nhược điểm: Việc chọn mẫu theo khối để kiểm toán các nghiệp vụ tài sản hoặc khoản mục chi được áp dụng khi đã nắm chắc tình hình của đơn vị được kiểm toán và khi có các khối vừa đủ Do đó việc xác định các mẫu cụ thể cần đặc biệt chú ý đến các tình huống đặc biệt như: Thay đổi nhân sự, thay đổi hệ thống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời vụ của ngành kinh doanh…
b) Chọn mẫu theo xét đoán
Theo Trang 122, Giáo trình “Kiểm toán căn bản” do TS Trần Đình Tuấn và ThS
Đỗ Thị Thúy Phương đồng chủ biên:”Trong nhiều trường hợp, kiểm toán viên sẽ sử
dụng sự phán đoán nghề nghiệp của mình khi lựa chọn các phần tử của mẫu.” Điểm
cần chú ý khi lựa chọn mẫu theo phương pháp này là KTV muốn thu được một mẫu có tính đại diện phải lưu ý các vấn đề sau:
- Theo loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu: Nếu có nhiều loại nghiệp vụ cần được kiểm tra, thì cần thiết mỗi loại nghiệp vụ quan trọng trong kì phải được lựa chọn
- Theo phần việc do các nhân viên khác nhau phụ trách: Theo đó, số lượng nghiệp vụ do mỗi người thực hiện phải được kiểm toán, nếu có thay đổi nhân viên hoặc nếu các nghiệp vụ ở điểm khác nhau sẽ dễ có mẫu chọn không đại diện khi có giới hạn phạm vi chọn mẫu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
- Theo quy mô: Khi chọn mẫu các nghiệp vụ có quy mô tiền tệ khác nhau (số tiền lớn nhỏ khác nhau) thì các khoản mục nghiệp vụ, tài khoản,… có số dư lớn cần được lựa chọn để kiểm tra
Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng tại các đơn vị mà KTV đã tiến hành kiểm toán các niên độ trước và phai do các KTV lâu năm có kinh nghiệm thực hiện
Trên đây là các phương pháp lựa chọn phần tử mẫu được trình bày rất đa dạng và được sử dụng phố biến Tuy nhiên, trong thực tế KTV cần phải lựa chọn được phương pháp phù hợp, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, hợp lý để đem lại hiệu quả cao nhất, và để đảm bảo thu thập được bằng chứng kiểm toán đầy đủ và hợp lý giúp cho KTV đưa ra kết luận đúng về đối tượng kiếm toán
1.1.4 Yêu cầu đối với chọn mẫu kiểm toán
Chọn mẫu kiểm toán trên cơ sở sử dụng các đặc trưng mẫu để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể Như vậy, yêu cầu cơ bản của chọn mẫu là phải chọn được mẫu đại diện
Một mẫu đại diện là mẫu mà các đặc điểm của mẫu cũng giống như những đặc điểm của tổng thể
Trên thực tế, KTV không biết mẫu có tính đại diện hay không dù sau đó tất cả các thử nghiệm đều được thực hiện Tuy nhiên, KTV có thể tăng khả năng đại diện của mẫu bằng cách thận trọng khi thiết kế, lựa chọn và đánh giá mẫu
1.1.5 Kỹ thuật phân tầng (phân nhóm) trong chọn mẫu kiểm toán
Theo đoạn (1) Phụ lục 01, VAS số 530 – Lấy mẫu mẫu kiểm toán:” Hiệu quả của
cuộc kiểm toán có thể tăng lên nếu kiểm toán viên phân nhóm một tổng thể bằng cách chia tổng thể thành các nhóm riêng biệt có cùng tính chất Mục tiêu của việc phân nhóm là làm giảm tính biến động của các phần tử trong mỗi nhóm và do đó cho phép giảm cỡ mẫu mà không làm tăng rủi ro lấy mẫu.”
Khi tiến hành kiểm tra chi tiết, tổng thể thường được phân nhóm theo giá trị Điều này giúp kiểm toán viên tập trung hơn vào các phần tử có giá trị lớn vì những phần tử này có khả năng sai sót nhiều nhất do giá trị ghi sổ kế toán bị phản ánh cao hơn giá trị thực tế Tương tự, một tổng thể có thể được phân nhóm theo một tính chất cụ thể cho
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
thấy mức độ rủi ro có sai sót cao hơn, ví dụ khi kiểm tra dự phòng nợ phải thu khó đòi trong quá trình đánh giá các khoản phải thu, kiểm toán viên có thể phân nhóm các số dư theo tuổi nợ
Kết quả của các thủ tục kiểm toán áp dụng cho một mẫu chứa các phần tử trong một nhóm chỉ có thể được dự tính cho các phần tử tạo nên nhóm đó Để đưa ra kết luận
về toàn bộ tổng thể, kiểm toán viên cần xem xét rủi ro có sai sót trọng yếu của các nhóm khác tạo nên tổng thể Ví dụ 20% số phần tử trong một tổng thể có thể chiếm 90% giá trị của một số dư tài khoản Kiểm toán viên có thể quyết định kiểm tra một mẫu các phần
tử này Kiểm toán viên đánh giá kết quả của mẫu này và đi đến kết luận về 90% giá trị độc lập với 10% còn lại (có thể lấy thêm một mẫu trên 10% còn lại này hoặc sử dụng các phương pháp khác để thu thập bằng chứng kiểm toán, hoặc có thể coi 10% còn lại này là không trọng yếu)
Nếu một nhóm giao dịch hoặc số dư tài khoản được chia thành các nhóm, sai sót sẽ được dự tính riêng cho từng nhóm Khi xem xét ảnh hưởng có thể có của các sai sót đối với toàn bộ nhóm giao dịch hoặc số dư tài khoản, kiểm toán viên cần tổng hợp lại các sai sót dự tính cho mỗi nhóm
Ví dụ: Khi chọn ra các khoản phải thu để gửi thư xác nhận KTV có thể phân tầng đối với tổng thể và hướng kiểm tra như sau:
Bảng 1.2: Ví dụ về phân nhóm trong chọn mẫu kiểm toán
(Nguồn: Quantri.vn – Kỹ thuật phân tầng trong chọn mẫu kiểm toán )
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
1.2 Quy trình chọn mẫu khi thực hiện thử nghiệm cơ bản
1.2.1 Các khái niệm về thử nghiệm cơ bản
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 530 “Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác” thì thử nghiệm cơ bản bao gồm hai loại là thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư
Thử nghiệm cơ bản chỉ liên quan đến giá trị các khoản mục Mục đích của thử nghiệm cơ bản là thu thập bằng chứng để phát hiện các sai sót trọng yếu làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính
Trong thử nghiệm cơ bản, kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư chính là sự kết hợp giữa thử nghiệm độ tin cậy của thông tin trong thử nghiệm công việc và thử nghiệm trực tiếp số dư Còn thử nghiệm phân tích là thử nghiệm liên quan đến trị số (bằng tiền) của các chỉ tiêu hoặc của các bộ phận cấu thành chỉ tiêu Thử nghiệm này
sử dụng các tỷ lệ, các mối quan hệ tài chính để xác định những tính chất hay những sai lệch không bình thường trên BCTC Các thủ tục phân tích được KTV sử dụng gồm:Kiểm tra tính hợp lý, Phân tích xu hướng, Phân tích dọc
KTV nên xét đoán hiệu quả của từng thủ tục kiểm toán để sử dụng các thủ tục thích hợp cho mỗi mục đích kiểm toán cụ thể
1.2.2 Quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản
Trong thử nghiệm cơ bản, KTV thường đánh giá sơ bộ số tiền sai sót trong tổng thể Các đánh giá sơ bộ sẽ có ích trong việc thiết kế mẫu và xác định độ lớn của mẫu
Nếu số tiền ước tính cao hơn mức có thể chấp nhận thì KTV có thể kiểm tra toàn bộ hoặc sử dụng cỡ mẫu lớn hơn Các thử nghiệm cơ bản được thiết kế để phát hiện các gian lận và sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính Do đó, kỹ thuật lấy mẫu cho thử nghiệm cơ bản được thiết kế để ước lượng số tiền sai sót ở một số dư tài khoản
Chọn mẫu kiểm toán cho các thử nghiệm cơ bản thường được tiến hành theo trình tự các bước công việc qua các giai đoạn như sau: Lập kế hoạch, Thực hiện chọn mẫu và đánh giá kết quả mẫu chọn
a) Lập kế hoạch
Bước 1: Xác định mục tiêu của thử nghiệm cơ bản Mục tiêu của thử nghiệm cơ bản là thu thập các bằng chứng để phát hiện các sai sót ảnh hưởng đến BCTC, trong thực tế kiểm toán toán viên thực hiện kiểm tra chi tiết
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
từng khoản mục cấu thành nên BCTC Khi kiểm tra chi tiết, KTV có thể kiểm tra chi tiết số dư hay thực hiện thủ tục phân tích kiểm tra một hay nhiều cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính chẳng hạn như: sự hiện hữu của các khoản phải thu; các khoản mục trên BCTC được trình bày đúng đắn và đầy đủ; quyền sở và nghĩa vụ của doanh nghiệp đến tài sản, khoản phải thu và nợ phải trả; các nghiệp vụ liên quan từng khoản mục phải được ghi chép đầy đủ;…
Bước 2: Xác định tổng thể KTV cần xác định rằng tổng thể mà mẫu được chọn ra phải phù hợp với mục tiêu kiểm toán cụ thể
Trong thử nghiệm cơ bản thì tổng thể thường là tổng giá trị của của cả một khoản mục được chọn để kiểm toán
Bước 3: Xác định đơn vị mẫu Đơn vị mẫu trong thử nghiệm cơ bản tương ứng với một nghiệp vụ cấu thành nên tổng thể của một khoản mục Chẳng hạn như một nghiệp vụ bán hàng tương ứng với một đơn vị mẫu trong kiểm toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ kèm theo đó
là các chứng từ tương ứng với nghiệp vụ đó
Bước 4: Xác định phương pháp chọn mẫu KTV xác định phương pháp lựa chọn mẫu Trong thử nghiệm cơ bản KTV có thể
sử dụng các phương pháp chọn mẫu thống kê, chọn mẫu phi thống kê hay chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ
Bước 5: Xác định cỡ mẫu KTV căn cứ vào giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa trên các đánh giá về rủi
ro và các mức trọng yếu Từ đó KTV sử dụng kĩ thuật phân nhóm để xác định cỡ mẫu
và đưa ra các phương pháp lựa chọn phần tử mẫu
KTV có thể phân nhóm tổng thể thành các nhóm: Các phần tử lớn hơn khoảng cách mẫu, các phần tử đặc biệt và các phần tử bé hơn khoảng cách mẫu Trong đó KTV thường thực hiện kiểm tra 100% với các phần tử lớn hơn khoảng cách mẫu và các phần tử đặc biệt Nhóm các phần tử còn lại KTV thực hiện chọn mẫu để kiểm tra
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Bảng 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cỡ mẫu trong kiểm tra chi tiết
YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CỠ MẪU
DIỄN GIẢI/GIẢI THÍCH
1 Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro
có sai sót trọng yếu tăng lên
Tăng Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro có sai sót
trọng yếu càng cao thì cỡ mẫu cần thiết càng lớn
Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro có sai sót trọng yếu chịu ảnh hưởng của rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Ví dụ, nếu không thực hiện thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên không thể giảm việc đánh giá rủi ro đối với tính hữu hiệu của các kiểm soát nội bộ liên quan đến cơ sở dẫn liệu cụ thể Do đó, để giảm rủi ro kiểm toán xuống một mức thấp có thể chấp nhận được, kiểm toán viên cần một mức rủi ro phát hiện thấp và sẽ dựa nhiều hơn vào các thử nghiệm cơ bản Kiểm toán viên càng thu thập được nhiều bằng chứng kiểm toán từ kiểm tra chi tiết (nghĩa là rủi ro phát hiện càng thấp) thì cỡ mẫu cần thiết càng lớn
2 Việc sử dụng các thử nghiệm cơ bản khác cho cùng một cơ sở dẫn liệu tăng lên
Giảm Kiểm toán viên càng dựa nhiều hơn vào các thử
nghiệm cơ bản khác (kiểm tra chi tiết hoặc các thủ tục phân tích cơ bản) để giảm rủi ro phát hiện liên quan đến một tổng thể cụ thể xuống một mức thấp
có thể chấp nhận được thì mức độ đảm bảo mà kiểm toán viên đặt ra đối với việc lấy mẫu càng thấp và do đó cỡ mẫu có thể càng nhỏ
3 Sai sót
có thể bỏ qua tăng lên
Giảm Sai sót có thể bỏ qua càng thấp thì cỡ mẫu cần
thiết càng lớn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CỠ MẪU
DIỄN GIẢI/GIẢI THÍCH
4 Số liệu sai sót mà kiểm toán viên dự kiến sẽ phát hiện trong tổng thể tăng lên
Tăng Số liệu sai sót mà kiểm toán viên dự kiến sẽ phát
hiện trong tổng thể càng lớn thì cỡ mẫu cần thiết càng lớn để có thể đưa ra một ước tính hợp lý về
số liệu sai sót thực tế của tổng thể Các yếu tố liên quan đến việc xem xét của kiểm toán viên về số liệu sai sót dự kiến bao gồm: mức độ chủ quan trong việc xác định các giá trị, kết quả của các thủ tục đánh giá rủi ro, kết quả của thử nghiệm kiểm soát, kết quả của các thủ tục kiểm toán đã áp dụng trong các kỳ trước, và kết quả của các thử nghiệm
cơ bản khác
5 Phân nhóm tổng thể khi thích hợp
Giảm Việc phân nhóm tổng thể có thể hữu ích khi có
khác biệt lớn về giá trị các phần tử trong tổng thể
Khi một tổng thể có thể được phân nhóm thích hợp thì tổng cỡ mẫu của các nhóm sẽ thường nhỏ hơn cỡ mẫu cần thiết để đạt được một mức độ rủi
ro lấy mẫu nhất định, nếu so với trường hợp lấy mẫu từ toàn bộ tổng thể
6 Số lượng đơn vị lấy mẫu trong tổng thể
Ảnh hưởng không đáng kể
Đối với các tổng thể lớn, số lượng phần tử thực tế của tổng thể không có ảnh hưởng đáng kể đến cỡ mẫu Vì thế, đối với các tổng thể nhỏ, lấy mẫu kiểm toán thường không hiệu quả bằng các phương pháp thay thế khác để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp (Tuy nhiên, khi lấy mẫu theo đơn vị tiền tệ, nếu giá trị của tổng thể tăng thì cỡ mẫu sẽ tăng, trừ khi việc này được bù
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CỠ MẪU
DIỄN GIẢI/GIẢI THÍCH
trừ bằng một sự tăng lên tương ứng của mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính (và, nếu phù hợp, mức hoặc các mức trọng yếu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh cụ thể)
(Nguồn: Theo Phụ lục 03, VAS 520 – Lấy mẫu kiểm toán) b) Thực hiện chọn mẫu
Sau khi xác định cỡ mẫu và phương pháp lấy mẫu, KTV thực hiện lựa chọn các phần tử mẫu Khi đã chọn được mẫu KTV sẽ tiến hành các thủ tục kiểm toán có liên quan để tìm ra các sai phạm của mẫu
c) Đánh giá kết quả mẫu
Sau khi kiểm tra các khoản mục mẫu cũng như tóm tắt các sai lệch so với thiết
kế, KTV phải đánh giá kết quả mẫu Trong khi đánh giá kết quả mẫu KTV không chỉ xem số sai lệch thực tế quan sát được mà còn phải đánh giá cả bản chất của các sai lệch đó
Việc đánh giá của KTV bao gồm các bước sau:
- Xác định tỷ lệ sai lệch: tính ra tỉ lệ sai lệch trong mẫu bằng cách lấy số sai lệch thực tế quan sát chia cho kích cỡ mẫu
- Xem xét bản chất của sai lệch: Bên cạnh việc cân nhắc tỉ lệ sai lệch trong mẫu thì KTV sẽ phải xem xét cả bản chất của các sai lệch và từ đó có điều chỉnh gỡ cần thiết phải thực hiện cho các giai đoạn kiểm toán khác không Sự sai lệch mà do những hành động cố ý gian lận cần được chú nhiều hơn so với những sai lệch do hiểu sai hướng dẫn hoặc thiếu thận trọng
- Đưa ra kết luận chung: KTV sẽ kết hợp giữa những bằng chứng từ mẫu với kết quả của các thử nghiệm kiểm soát liên quan khác để xác định liệu kết quả tổng hợp này có khẳng định mức rủi ro kiểm soát được đánh giá theo kế hoạch không Nếu không, KTV sẽ phải tăng mức rủi ro kiểm soát được đánh giá và do đó cần phải tăng qui mô các thử nghiệm cơ bản
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Bước 8: Dẫn chứng bằng tài liệu trình tự lấy mẫu
Kết thúc KTV sẽ dẫn chứng tất cả các khía cạnh quan trọng của các bước trước
đó trong hồ sơ kiểm toán
1.3 Hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu đã thực hiện về kỹ thuật chọn mẫu
và quy trình chọn mẫu
Tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC - Thừa Thiên Huế, thì
đã có đề tài liên quan đến quy trình chọn mẫu và kỹ thuật chọn mẫu Cụ thể là
đề tài:
- Đề tài:”Tìm hiểu việc áp dụng mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu trong kiểm
toán khoản mục Doanh Thu bán hàng và Cung cấp dịch vụ tại Văn phòng đại diện Công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế” – Lê Thị Thảo Vy, 2016
Tuy nhiên đề tài chỉ dừng lại ở việc áp dụng mức trọng yếu để xác định cỡ mẫu chứ chưa nghiên cứu đến việc áp dụng cỡ mẫu đó kết hợp với phương pháp chọn mẫu như thế nào
Bên cạnh đó các đề tài về chọn mẫu được nghiên cứu ở công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC cũng là nguồn tham khảo để hoàn thiện đề tài cụ thể như:
- Đề tài:”Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong báo cáo tài
chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” – Lê Nguyễn Ngọc Anh, 2011
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG THỬ NGHIỆM CƠ BẢN TẠI VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN CÔNG
TY TNHH KIỂM TOÁN FAC – CHI NHÁNH HUẾ
2.1 Tổng quan về công ty TNHH Kiểm toán FAC
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm Toán FAC Văn phòng giao dịch : 2/23 Quách Văn Tuấn, P 12, Quận Tân Bình, TP.HCM Trụ sở chính : 400/34 Hồng Bàng, Phường 16, Quận 11, TP.HCM
Điện thoại: 08 3948 3100 – 08 3948 3101 E-mail : kiemtoandenhat@gmail.com Công ty TNHH Kiểm toán FAC (“FAC”) tiền thân là Công ty Hợp danh Kiểm toán và Tư vấn Đệ Nhất (Công ty Hợp danh), được thành lập và hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4105000008 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố
Hồ Chính Minh cấp lần đầu vào ngày 07/4/2006 Đến năm 2008 Hội đồng thành viên
của Công ty Hợp danh thống nhất chuyển đổi loại hình của công ty từ công ty Hợp danh sang công ty TNHH Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp không cho phép chuyển đổi
từ công ty Hợp danh sang công ty TNHH, nên Hội đồng thành viên Công ty Hợp danh quyết định ngừng hoạt động và tiến tới giải thể công ty Hợp danh đồng thời thành lập Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Đệ Nhất theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4102064826 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chính Minh cấp lần
đầu vào ngày 06/09/2008 và các Giấy chứng nhận đăng kinh kinh doanh (Giấy đăng
ký doanh nghiệp) đăng ký thay đổi sau đó
Kể từ khi thành lập, Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Đệ Nhất kế thừa từ Công ty Hợp danh Kiểm toán và Tư vấn Đệ Nhất toàn bộ các quy trình quản lý, mạng
lưới khách hàng và toàn bộ nhân sự, trong đó đội ngũ những KTV hành nghề của Công ty phần lớn là những KTV hành nghề giàu kinh nghiệm, đã từng có nhiều năm làm việc tại các Công ty kiểm toán là thành viên của các Công ty kiểm toán quốc tế hoạt động tại Việt Nam
Ngày 23/09/2010, Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Đệ Nhất nhận sáp nhập Công ty TNHH Tư vấn Tài chính và Kiểm toán Đông Phương và đổi tên thành Công ty
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
TNHH Kiểm toán FAC theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0305992447 do
Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp, đăng ký thay đổi lần thứ 3
Công ty TNHH Kiểm toán FAC hiện đang hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp công ty TNHH hai thành viên trở lên số 0305992447 do Sở Kế hoạch
và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đăng ký thay đổi lần thứ 7 vào ngày 10 tháng
10 năm 2013
Vốn điều lệ của Công ty hiện nay theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là
06 tỷ đồng
Từ quá trình thành lập đến nay, công ty có 3 chi nhánh trên toàn cả nước gồm:
Chi nhánh Đệ Nhất (Vũng Tàu), Chi nhánh Miền Trung (Quảng Nam), chi nhánh Nha Trang (Khánh Hòa) với 9 văn phòng đại diện tại: Đồng Nai, Cần Thơ, Bình Định, Huế, Kiên Giang, Kon Tum, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Hà Nội
Thông tin cơ bản về Văn phòng đại diện công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế:
Ngày thành lập : 10/10/2012 Địa chỉ : 06 Nguyễn Lương Bằng, phường Phú Hội, TP Huế
Điện Thoại: 0543.89.89.67 Fax: 0543.89.89.67
Email: kiemtoan.hue@gmail.com
Mã số văn phòng đại diện: 3 1 2 2 0 0 0 0 4 6
2.1.2 Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động
a) Mục tiêu hoạt động Với phương châm “Tạo dựng uy tín & niềm tin”, công ty TNHH kiểm toán FAC đặt mục tiêu trở thành người bạn đồng hành đáng tin cậy của khách hàng Đồng nghĩa với việc đội ngũ nhân lực của FAC luôn luôn nỗ lực mang đến chất lượng dịch vụ tốt nhất với giá thành phù hợp và dần dần khẳng định vị thế của mình trong thị trường Kiểm toán – Kế toán trong và ngoài nước
b) Nguyên tắc hoạt động FAC hoạt động theo nguyên tắc độc lập, khách quan, chính trực, bảo vệ quyền lợi và bí mật kinh doanh của khách hàng như quyền lợi của chính mình trên cơ sở tuân thủ luật pháp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Không ngừng đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, tích cực ứng dụng công nghệ tiên tiến để phục vụ khách hàng trong tiến trình phát triển và hội nhập toàn cầu;
Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ với chất lượng cao theo phong cách chuyên nghiệp;
Xây dựng và phát triển mối quan hệ với khách hàng trong môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện và chuẩn mực;
Hỗ trợ tối đa để khách hàng gặt hái thành công trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam;
Không ngừng đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàng, nhân viên, nhà đầu tư và toàn xã hội
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lí
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lí của công ty TNHH Kiểm toán FAC
Cơ cấu tổ chức của công ty được tổ chức theo sơ đồ hình khối với ban giám đốc
ở vị trí lãnh đạo cao nhất, bao gồm 1 Tổng giám đốc và 5 phó tổng giám đốc: Phó tổng giám đốc phụ trách kiểm toán XDCB, Phó tổng giám đốc phụ trách kinh doanh, Phó tổng giám đốc phụ trách kiểm toán BCTC và 2 Phó tổng giám đốc kiêm giám đốc hai chi nhánh Đệ Nhất và Nha Trang
Bên dưới quyền quản lí của ban giám đốc là 3 chi nhánh cộng với các văn phòng đại diện trên các tỉnh thành Mỗi chi nhánh và các phòng ban có các bộ phận riêng với các chức năng riêng biệt để cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Cơ cấu tổ chức của Văn phong đại diện công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đại diện của công ty TNHH Kiểm toán
FAC tại Thừa Thiên Huế
Tại văn phòng đại diên thì Trường đại diện chịu trách nhiệm cao nhất về quá trình kinh doanh và cung cấp dịch vụ và giao dịch với khách hàng Trưởng văn phòng đại diện sẽ tuân theo sự chỉ đạo của ban giám đốc công ty
Các bộ phận được thiết kế để thực hiện các nhiệm vụ của mình trong quá trình kinh doanh
Bộ phận tư vấn chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng
Ngoài ra, bộ phận còn tư vấn và cung cấp phần mềm kế toán và quản lí
Kế toán thực hiện các công việc kế toán nội bộ và cung cấp dịch vụ kế toán cho khách hàng
Thủ quỹ chịu trách nhiệm theo dõi thu, chi tiền mặt tại Văn phòng
Bộ phận kiểm toán gồm 2 Tổ, có chức năng trực tiếp thực hiện các cuộc kiểm toán
Tổ kiểm toán BCTC: chịu trách nhiệm thực hiện các cuộc kiểm toán BCTC
Tổ kiểm toán quyết toán XDCB: chịu trách nhiệm kiểm toán các báo cáo liên quan đến XDCB
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
2.1.4 Nguồn lực
a) Nhân lực Công ty kiểm toán FAC coi trình độ và năng lực Nhân viên là yếu tố hàng đầu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
Tại FAC có đội ngũ hơn 100 nhân viên chuyên nghiệp được đào tạo ở nhiều trường đại học của Việt Nam; với 13 Chứng chỉ KTV cấp Nhà nước (CPA) và Thẩm định viên về giá; 90% có bằng Kỹ sư, Cử nhân: kinh tế, luật
Chất lượng dịch vụ, đạo đức nghề nghiệp và uy tín Công ty là những tiêu chuẩn hàng đầu mà mọi nhân viên của FAC luôn luôn tuân thủ
FAC hiểu biết thấu đáo về đất nước, con người và Luật pháp Việt Nam và có khả năng phối hợp với các cơ quan quản lý của Việt Nam để giải quyết hiệu quả nhu cầu
về dịch vụ của khách hàng
b) Nguồn vốn
Bảng 2.1 Tính hình nguồn vốn và kết quả kinh doanh của công ty TNHH Kiểm
toán FAC năm 2016-2017
Kết quả kinh doanh sau thuế 2,008 1,244 764 61.41
(Nguồn từ BCTC đã kiểm toán năm 2017 của công ty)
Qua bảng trên ta có thể thấy rõ rằng vốn điều lệ của công ty là 6 tỷ đồng và giữ nguyên trong năm 2017 Trong năm 2017, tình hình kinh doanh của công ty tăng trường rất khả quan, công ty lãi hơn 2 tỷ đồng trong năm 2017 tăng 764 triệu đồng so với năm 2016 ứng với mức tăng 61,41% Điều này cho thấy rằng trong năm vừa qua công ty đã kinh doanh rất có hiệu quả Đây cũng là nguyên nhân mà tổng số vốn kinh doanh thực tế tăng 764 triệu đồng ứng với mức tăng 10,55% so với năm 2016
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
Hai chỉ tiêu tủ suất lợi nhuận trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên vốn của công ty đều có xu hướng tăng Trong đó mức tăng của tỷ suất lợi nhuận trên vốn tăng mạnh hơn so với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trong năm 2017 ( tương ứng với mức tăng lần lượt là 7,9% và 0.86% ) Điều này xảy ra do tốc độ tăng của lợi nhuận không lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu Tuy nhiên, nhìn chung tỷ suất lợi nhuận trên vốn và trên doanh thu có xu hướng tăng cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty đang rất thuận lợi
Như vậy có thể thấy rằng, trong năm 2017 tình hình kinh doanh của công ty rất khả quan, tăng trưởng đều đặn Cho thấy sự nỗ lực không ngừng
2.1.5 Các loại hình dịch vụ chuyên ngành
Các dịch vụ Công ty FAC cung cấp rất đa dạng gồm:
Dịch vụ kiểm toán BCTC
- Kiểm toán Báo cáo tài chính là hoạt động chủ yếu của Công ty FAC
- Với hơn 250 khách hàng thuộc mọi loại hình doanh nghiệp ở các ngành nghề khác nhau, Công ty đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế quý báu, luôn sẵn sàng phục vụ các Doanh nghiệp với chất lượng dịch vụ tốt nhất
- Việc Kiểm toán hàng năm sẽ được tiến hành bằng các đợt Kiểm toán sơ bộ và Kiểm toán kết thúc theo lịch trình thỏa thuận với khách hàng
- Phù hợp với thực tiễn kinh doanh và môi trường pháp luật Việt Nam
- Ngoài ra, theo yêu cầu của nhiều Doanh nghiệp, FAC còn thực hiện các dịch vụ: Kiểm toán hoạt động, Kiểm toán tuân thủ, Kiểm toán nội bộ và Kiểm toán thông tin tài chính
Dịch vụ thẩm định, kiểm toán đầu tư và xây dựng cơ bản
- Hoạt động Thẩm định, Kiểm toán quyết toán vốn đầu tư và quyết toán các công trình xây dựng cơ bản là một trong những hoạt động nổi trội của FAC
- Các dịch vụ mà FAC đã, đang và sẵn sàng cung cấp cho các khách hàng thuộc mọi lĩnh vực trên toàn quốc bao gồm:
- Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án, Kiểm toán báo cáo quyết toán công trình;
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
- Kiểm toán tuân thủ trong hoạt động đầu tư;
- Thẩm tra dự án, lập và thẩm tra dự toán công trình;
- Tư vấn xây dựng (trừ thiết kế, giám sát, khảo sát xây dựng);
- Tư vấn hoạt động doanh nghiệp, Tư vấn cổ phần hóa, Tư vấn chuyển đổi doanh nghiệp;
- Xác định giá trị doanh nghiệp, vốn góp, vốn chuyển nhượng;
- Định giá tài sản (hàng hóa, nhà cửa, đất đai, máy móc …);
Dịch vụ tư vấn Các dịch vụ mà FAC cung cấp rất đa dạng, bao gồm:
- Tư vấn về Thuế: Tư vấn cho các Doanh nghiệp về Luật thuế; thực hiện các dịch
vụ về đăng ký thuế, đăng ký hóa đơn tự in, hoàn thuế, hỗ trợ quyết toán thuế, lập hồ sơ xét ưu đãi thuế … đảm bảo quyền lợi của các Doanh nghiệp trong lĩnh vực thuế và tôn trọng pháp luật Nhà nước đã ban hành
- Tư vấn các vấn đề liên quan đến Kế toán: Tư vấn tổ chức công tác kế toán, bộ máy kế toán và hoàn thiện các phần hành kế toán
- Tư vấn về dịch vụ Pháp lý: Soạn thảo hồ sơ và thực hiện các thủ tục: đăng ký Chế độ kế toán, thành lập Doanh nghiệp, điều chỉnh Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thực hiện các thủ tục chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể Doanh nghiệp
- Tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin: cung cấp các chương trình phần mềm Kế toán, Tài chính, Hành chính sự nghiệp, …
- Các hoạt động tư vấn khác: Theo yêu cầu của khách hàng trên các phương diện
có liên quan đến Pháp luật, Đầu tư, Tài chính, …
Dịch vụ kế toán Các dịch vụ kế toán mà FAC cung cấp bao gồm:
- Ghi sổ kế toán, lập Báo cáo tài chính, các báo cáo khác theo yêu cầu của khách hàng
- Tổng hợp và lập các Báo cáo tài chính hoặc báo cáo quản trị
- Soát xét báo cáo tài chính
- Thiết kế, triển khai và hỗ trợ vận hành hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
- Trợ giúp chuyển đổi báo cáo tài chính lập theo Chế độ kế toán Việt Nam sang hình thức phù hợp với thông lệ kế toán được chấp nhận rộng rãi
- Cung cấp nhân viên kế toán và kế toán trưởng
Quản lí dự án Với lực lượng kỹ sư và thẩm định viên về giá chuyên nghiệp, Công ty FAC luôn luôn đáp ứng hiệu quả những yêu cầu của khách hàng trong công tác quản lý dự án, bao gồm:
- Tổ chức công tác đấu thầu
- Tổ chức công tác giám sát (theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, nghiệm thu đơn vị được thuê giám sát)
- Tổ chức công tác kiểm định chất lượng công trình
- Tổ chức công tác nghiệm thu
- Tổ chức công tác thanh toán, thủ tục xây dựng trong quá trình đầu tư
- Tổ chức công tác hoàn công, quyết toán và quy đổi vốn đầu tư công trình
- Thực hiện các công việc khác hoàn tất đầu tư dự án
Đào tạo Hoạt động đào tạo của FAC bao gồm:
- Đào tạo các lớp Kế toán trưởng: FAC tổ chức các lớp bồi dưỡng Kế toán trưởng, nhằm tạo điều kiện cho các khách hàng có cơ sở bổ nhiệm kế toán trưởng theo quy định của Nhà nước
- Đào tạo các chuyên đề về kế toán tài chính, kế toán quản trị, kiểm toán và kiểm toán nội bộ, giám đốc tài chính, kinh doanh chứng khoán … được tổ chức theo yêu cầu của khách hàng đã cung cấp cho học viên nội dung các chuẩn mực kế toán, kiểm toán của Quốc tế và Việt Nam, các chính sách, chế độ tài chính hiện hành và kiến thức tài chính, chứng khoán và kinh doanh Quốc tế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Trà Ngân
2.2 Thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản của Văn phòng đại diện công ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế đối với công
ty khách hàng
2.2.1 Khái quát chung về quy trình kiểm toán BCTC của Văn phòng đại diện công
ty TNHH Kiểm toán FAC tại Thừa Thiên Huế
Hiện nay, như đa số các công ty kiểm toán khác thì FAC đang áp dụng chương trình kiểm toán mẫu do Hội KTV hành nghề Việt Nam VACPA ban hành
Kế hoạch kiểm toán
Xem xét chấp nhận khách hàng và đánh giá rủi ro hợp
đồng [A100]
Tổng hợp kết quả
kiểm toán [B410]
Lập hợp đồng kiểm toán và lựa chọn nhóm kiểm toán
[A200]
Kiểm tra cơ bản tài
sản [D100-D800]
Phân tích tổng thể báo cáo tài chính lần
QUẢN LÝ CUỘC KIỂM TOÁN
Thư quản lý và các tư vấn
khách hàng khác [B200]
XÁC ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ RỦI RO
Soát xét, phê duyệt và phát
hành báo cáo [B110]
Đánh giá lại mức trọng yếu
và phạm vi kiểm toán [A700] -
Sơ đồ 2.3 Quy trình kiểm toán mẫu do VAPCA ban hành
Theo quy trình trên tại FAC, thì quy trình kiểm toán bao gồm 3 giai đoạn là: Lập
kế hoạch kiểm toán, Thực hiện kiểm toán và Kết thúc kiểm toán
2.2.1.1 Lập kê hoạch kiểm toán
Theo VSA 300, lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV cần phải thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lí cũng như các điều kiện cần thiết khác cho quá trình kiểm toán Trong giai đoạn này, KTV sẽ thu
Trường Đại học Kinh tế Huế