Phát triển kinh tế trang trại (KTTrTr) là chủ trương nhất quán và lâu dài của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Kể từ khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2-2-2000 của Chính phủ về phát triển KTTrTr. Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ đất trồng lúa kém hiệu quả, đất làm muối, đất vườn và đất hoang hoá khác (bãi bồi ven sông, bãi triều, đất cát) sang nuôi trồng thủy sản đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc. Nhiều mô hình trang trại hình thành và phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao. Phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu, xây dựng nông thôn mới. Góp phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch, tập trung nguồn quỹ đất để hình thành nuôi thủy sản tập trung tạo ra nguồn sản phẩm lớn và xuất khẩu thủy sản. Thanh Hóa có điều kiện về tự nhiên, đất đai, mặt nước, nhân lực thuận lợi cho phát triển kinh tế trang trại, tạo việc làm cho hàng trăm lao động cho nông dân. Bên cạnh những thuận lợi còn gặp không ít những khó khăn làm cản trở cho việc phát triển kinh tế trang trại như: các mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản phát triển chưa tập trung còn mang tính tự phát, chủ trang trại còn thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, thiếu vốn, lao động trang trại chưa có trình độ chuyên môn; hầu hết các chủ trang trại có nguyện vọng được vay vốn ngân hàng với số lượng lớn, thời gian dài, lãi suất ưu đãi để đầu tư vào các mô hình trang trại mới có hiệu quả kinh tế cao. Phát triển kinh tế trang trại là hướng đi đúng đắn, cần được quan tâm giúp đỡ bằng các chính sách hợp lý, góp phần khai thác một cách có hiệu quả và bền vững tiềm năng đất đai, lao động ở địa phương, lựa chọn đầu tư phát triển mô hình trang trại có hiệu quả về kinh tế và tài chính. Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Phân tích tính khả thi về mặt kinh tế và tài chính mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu về sự phát triển của các trang trại nuôi thủy sản tại Thanh hóa; cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo cũng như việc hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch, góp phần phát triển bền vững và nhân rộng các mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản ở địa phương nhằm phát triển kinh tế của tỉnh.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, do tôi tiến hànhthực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận vănđều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản,Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trìnhhọc tập và thực hiện luận văn thạc sỹ này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô TS Nguyễn Thị Mai Anh, người
đã định hướng và tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn Qua đây, tôixin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo đã giảng dạy cung cấp kiến thức cơbản trong quá trình học tập cho tôi
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôntỉnh Thanh Hóa; Uỷ ban Nhân dân huyện Nông Cống, huyện Yên Định; Phòng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nông Cống, huyện Yên Định và các chủ trangtrại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp thời gian, cung cấp thông tin choluận văn này của tôi
Với lòng biết ơn chân thành nhất, xin gửi đến gia đình và bạn bè đã luôn độngviên và giúp đỡ tôi để hoàn thành công trình nghiên cứu này./
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hương
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH KHẢ THI KINH TẾ VÀ TÀI CHÍNH MÔ HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI 4
1.1 Tổng quan tài liệu kinh tế trang trại trên thế giới và trong nước 4
1.1.1 Hiện trạng về phát triển kinh tế trang trại trên thế giới 4
1.1.2 Hiện trạng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 9
1.1.2.1 Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 9
1.1.2.2 Tình hình chung phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 11
1.1.2.3 Các loại hình kinh tế trang trại trong nuôi trồng thuỷ sản ở nước ta 16
1.1.2.4 Chính sách phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 18
1.1.2.5 Đánh giá chung tình hình và xu thế phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện nay 19
1.1.3 Tính khả thi về kinh tế và tài chính của kinh tế trang trại 19
1.1.3.1 Tính khả thi về kinh tế 19
1.1.3.2 Tính khả thi về tài chính 21
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÍNH KHẢ THI VỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÍNH MÔ HÌNH TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TỈNH THANH HÓA 24
2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản của tỉnh Thanh Hóa 24
2.1.1 Giới thiệu chung mô hình kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa 24
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa 26
Trang 42.1.2.1 Quy mô về diện tích của các trang trại trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 26
2.1.2.2 Lao động của các mô hình kinh tế trang trại 28
2.1.2.3 Về điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ phát triển trang trại 30
2.1.2.4 Tình hình sử dụng máy móc và ứng dụng KHKT của trang trại 32
2.2 Phân tích tính khả thi về kinh tế và tài chính mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa 32
2.2.1.Thu thập số liệu 32
2.2.2 Phương pháp phân tích mẫu phiếu điều tra 34
2.2.3 Phân tích tính khả thi về kinh tế 35
2.2.3.1 Hiệu quả kinh tế - xã hội 35
2.2.3.2 Hiệu quả kinh tế môi trường 37
2.2.4 Phân tích tính khả thi về tài chính 38
2.2.4.1 Ảnh hưởng trình độ học vấn đến hiệu quả kinh tế tài chính 48
2.2.4.2 Ảnh hưởng kinh nghiệm đến hiệu quả kinh tế tài chính 49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TỈNH THANH HÓA 52
3.1 Chiến lược phát triển KT trang trại nuôi trồng thủy sản ở Thanh Hóa 52
3.2 Một số giải pháp phát triển mô hình kinh tế trang trại, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội theo hướng phát triển bền vững 53
3.2.1 Giải pháp vốn sản xuất kinh doanh 53
3.2.2 Giải pháp đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ cho lao động trang trại 53
3.2.3 Giải pháp về phát triển trang trại nuôi trồng thủy sản kết hợp 54
3.3 Các kiến nghị 55
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 60
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
2 ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
14 KT TrTr Kinh tế trang trại
15 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
16 NTHS Nuôi trồng hải sản
20 TrTr NTTS Trang trại nuôi trồng thủy sản
22 SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số lượng các loại hình TrTr tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2001-2010 25
Bảng 2.2: Số lượng trang trại phân theo các vùng của tỉnh Thanh Hóa năm 2010 25
Bảng 2.3: Diện tích đất trạng trại sử dụng bình quân 1 trạng trại năm 2010 27
Bảng 2.4: Quy mô diện tích đất của trang trại NTTS 27
Bảng 2.5: Hiện trạng việc giao đất cho trang trại NTTS 28
Bảng 2.6: Lao động của trang trại NTTS của trang trại nghiên cứu năm 2010 (tính bình quân cho 1 trang trại) 29
Bảng 2.7: Khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ sản xuất cho các trang trại 31
Bảng 2.8: Chi phí đầu tư ban đầu của 2 mô hình kinh tế TrTr Nuôi trồng thủy sản nước ngọt chuyên và kết hợp tại tỉnh Thanh Hóa 38
Bảng 2.9: Chi phí đầu tư sản xuất cố định của mô hình TrTr NTTS nước ngọt chuyên và mô hình TrTr NTTS nước ngọt kết hợp tại tỉnh Thanh Hóa 39
Bảng 2.10: Chi phí đầu tư sản xuất biến đổi của mô hình TrTr NTTS nước ngọt chuyên và mô hình TrTr NTTS nước ngọt kết hợp tại tỉnh Thanh Hóa 40
Bảng 2.11: Tổng doanh thu của mô hình TrTr NTTS nước ngọt chuyên và mô hình TrTr NTTS nước ngọt kết hợp tại tỉnh Thanh Hóa 41
Bảng 2.12: Lợi nhuận mang lại của mô hình TrTr NTTS nước ngọt chuyên và mô hình TrTr NTTS nước ngọt kết hợp tại tỉnh Thanh Hóa 42
Bảng 2.13: Hiệu quả đầu tư sản xuất của mô hình TrTr NTTS nước ngọt chuyên và mô hình TrTr NTTS nước ngọt kết hợp tại tỉnh Thanh Hóa 43
Bảng 2.14: Tỷ lệ hoàn vốn của 2 mô hình kinh tế TrTr Nuôi trồng thủy sản nước ngọt chuyên và kết hợp tại tỉnh Thanh Hóa 44
Bảng 2.15: Kết quả phân tích so sánh mô hình kinh tế Trang trại NTTS chuyên và Trang trại NTTS kết hợp 45
Bảng 2.16: Kết quả phân tích so sánh mô hình kinh tế Trang trại NTTS chuyên và Trang trại NTTS kết hợp 46
Bảng 2.17 Bảng phân tích kinh tế tài chính của 2 mô hình kinh tế TrTr Nuôi trồng thủy sản nước ngọt chuyên và kết hợp tại tỉnh Thanh Hóa 47
Trang 7Bảng 2.18: Ảnh hưởng trình độ học vấn đến hiệu kinh tế TrTr NTTS chuyên 48 Bảng 2.19: Ảnh hưởng trình độ học vấn đến hiệu quả kinh tế TrTr NTTS kết hợp 49 Bảng 2.20: Ảnh hưởng của kinh nghiệm đến hiệu quả kinh tế TrTr NTTS chuyên 50 Bảng 2.21: Ảnh hưởng của kinh nghiệm đến hiệu kinh tế TrTr NTTS kết hợp 50
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu trang trại NTTS của tỉnh Thanh Hóa năm 2010 26
Biểu đồ 2.2: Chi phí đầu tư ban đầu của hai mô hình TrTr NTTS nước ngọt 39
Biểu đồ 2.3: Chi phí sản xuất cố định của hai mô hình TrTr NTTS nước ngọt 40
Biểu đồ 2.4: Chi phí sản xuất biển đổi của hai hình TrTr NTTS nước ngọt 41
Biểu đồ 2.5: Tổng doanh thu của hai hình TrTr NTTS nước ngọt 42
Biểu đồ 2.6: Lãi ròng của hai hình TrTr NTTS nước ngọt 43
Biểu đồ 2.7: Hiệu quả đầu tư sản xuất của hai mô hình TrTr NTTS nước ngọt 44
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế trang trại (KTTrTr) là chủ trương nhất quán và lâu dài củaĐảng và Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn Kể từ khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ
về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu và tiêu thụ sản phẩm nôngnghiệp; Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2-2-2000 của Chính phủ về phát triểnKTTrTr Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ đất trồng lúa kém hiệu quả, đất làm muối,đất vườn và đất hoang hoá khác (bãi bồi ven sông, bãi triều, đất cát) sang nuôi trồngthủy sản đã diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc Nhiều mô hình trang trại hình thành vàphát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao
Phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản nhằm khai thác, sử dụng có hiệuquả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, phát triển nông nghiệp bền vững;tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu, xây dựngnông thôn mới Góp phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch, tập trung nguồnquỹ đất để hình thành nuôi thủy sản tập trung tạo ra nguồn sản phẩm lớn và xuấtkhẩu thủy sản
Thanh Hóa có điều kiện về tự nhiên, đất đai, mặt nước, nhân lực thuận lợi chophát triển kinh tế trang trại, tạo việc làm cho hàng trăm lao động cho nông dân Bêncạnh những thuận lợi còn gặp không ít những khó khăn làm cản trở cho việc phát triểnkinh tế trang trại như: các mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản phát triển chưa tậptrung còn mang tính tự phát, chủ trang trại còn thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, khókhăn về tiêu thụ sản phẩm, thiếu vốn, lao động trang trại chưa có trình độ chuyên môn;hầu hết các chủ trang trại có nguyện vọng được vay vốn ngân hàng với số lượng lớn,thời gian dài, lãi suất ưu đãi để đầu tư vào các mô hình trang trại mới có hiệu quả kinh
tế cao
Phát triển kinh tế trang trại là hướng đi đúng đắn, cần được quan tâm giúp đỡbằng các chính sách hợp lý, góp phần khai thác một cách có hiệu quả và bền vững tiềmnăng đất đai, lao động ở địa phương, lựa chọn đầu tư phát triển mô hình trang trại có
Trang 10hiệu quả về kinh tế và tài chính Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Phân tích tính khả thi về
mặt kinh tế và tài chính mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa”.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu về sự phát triển củacác trang trại nuôi thủy sản tại Thanh hóa; cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theocũng như việc hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch, góp phần phát triểnbền vững và nhân rộng các mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản ở địa phương nhằmphát triển kinh tế của tỉnh
2 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế và tài chính của một số mô hìnhtrang trại nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Thanh Hóa, xây dựng các luận chứng khoahọc nhằm nâng cao tính ổn định, hiệu quả kinh tế và tài chính và khả năng nhân rộngcác mô hình trang trại ở Thanh Hoá nói riêng và vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ nóichung theo hướng phát triển bền vững
Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế và tài chính mô hình trang trại nuôi trồng thuỷsản ở tỉnh Thanh Hoá: Trang trại nuôi trồng thuỷ sản chuyên và trang trại nuôi trồngthuỷ sản kết hợp
- Xác định những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển mô hình trangtrại nuôi trồng thủy sản
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế tàichính của mô hình nuôi trồng thủy sản và khả năng nhân rộng mô hình trang trại nuôitrồng thủy sản
3 Phương pháp nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phát triển mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh ThanhHóa
- Phân tích tính khả thi về mặt kinh tế và tài chính, đánh giá hiệu quả kinh tế vàtài chính mô hình trang trại nuôi trồng thuỷ sản: Trang trại nuôi trồng thuỷ sản chuyên
và Trang trại nuôi trồng thuỷ sản kết hợp
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp trong quá trình phát triển các mô hình trang trại, gópphần nâng cao hiệu quả về kinh tế và tài chính theo hướng phát triển bền vững
Trang 11- Địa điểm nghiên cứu
Điều tra thu mẫu tại hai huyện Nông Cống và huyện Yên Định thuộc vùng đồngbằng của tỉnh Thanh Hóa Đây là 2 huyện có mô hình trang trại thủy sản phát triểnmạnh, và có số lượng trang trại thủy sản chiếm lớn nhất của vùng đồng bằng Tổng sốtrạng trại thủy sản vùng đồng bằng là 689 trạng trại, trong đó: Số trạng trại thủy sảncủa hai huyện là 185 trang trại, chiếm 65,14% tổng trang trại thủy sản trong vùng
- Đối tượng nghiên cứu
Trang trại nuôi trồng thủy sản nước ngọt vùng đồng bằng tại tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2011 đến tháng 8/2012
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tính khả thi kinh tế và tài chính mô hình kinh tế trang trại
Chương 2: Phân tích tính khả thi về kinh tế và tài chính của mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển mô hình kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH KHẢ THI KINH TẾ VÀ
TÀI CHÍNH MÔ HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI
1.1 Tổng quan tài liệu kinh tế trang trại trên thế giới và trong nước
1.1.1 Hiện trạng về phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
Trên thế giới kinh tế trang trại xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ XVII đầu thế kỷXVIII, trải qua vài thế kỷ tồn tại và phát triển kinh tế trang trại được khẳng định là môhình kinh tế phù hợp đath hiệu quả cao trong sản xuất nông ngư nghiệp ở mỗi khu vực,mỗi quốc gia đều có điều kiện tự nhiên khác nhau, phong tục tập quán khác nhau chonên có các mô hình trang trại khác nhau
Loại hình trang trại gia đình sử dụng sức lao động trong gia đình là chính, kếthợp thuê nhân công phụ theo mùa vụ, là mô hình sản xuất phổ biến trong nền nôngnghiệp thế giới
Châu Âu cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp lần I đã xuất hiện hình thức
tổ chức trang trại nông nghiệp sản xuất hàng hoá thay thế cho hình thức sản xuất tiểunông và hình thức điền trang của thế lực phong kiến quý tộc
Ở nước Anh đầu thế kỷ thư XVII sự tập trung ruộng đất đã hình thành lênnhững xí nghiệp công nghiệp tư bản tập trung trên quy mô rộng lớn cùng với việc sửdụng lao động làm thuê Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở đâygiống như mô hình hoạt động của các công xưởng công nghiệp, thực tế cho thấy,sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô và sử dụng nhiều lao động làm thuê đãkhông dễ dàng mang lại hiệu quả mong muốn Sang đầu thế kỹ XX, lao động nôngnghiệp bắt đầu giảm, nhiều nông trại đã bắt đầu giảm lao động làm thuê Khi ấy thì70-80% nông trại gia đình không thuê lao động Đây là thời kỳ thịnh vượng củanông trại gia đình, vì khi lao động nông nghiệp giảm thì sự phát triển của côngnghiệp, dịch vụ đã thu hút lao động nhanh hơn độ tăng của lao động nông nghiệp [7]
Tiếp theo nước Anh, các nước: Pháp, Ý, Hà lan, Đan mạch, Thuỵ điển sự xuấthiện và phát triển kinh tế trang trại gia đình ngày càng tạo ra nhiều nông sản hàng hoá,đáp ứng nhu cầu của công nghiệp hoá Với vùng Bắc Mỹ xa xôi mới được tìm ra sauphát kiến địa lý vĩ đại, dòng người khẩu thực từ Châu Âu vẫn tiếp tục chuyển đến Bắc
Trang 13Mỹ và chính công cuộc khẩu thực trên quy mô rộng lớn đã mở đường cho kinh tế trangtrại ở Bắc Mỹ phát triển.
Ở Châu Á, chế độ phong kiến lâu dài kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hoá rađời chậm hơn Tuy vậy, vào cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX sự xâm nhậpcủa tư bản phương tây vào các nước Châu Á, cùng việc thu nhập phương thức sản xuấtkinh doanh tư bản chủ nghĩa đã làm nẩy sinh hình thức kinh tế trang trại trong nôngnghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới đã có sựbiến động lớn về quy mô, số lượng và cơ cấu trang trại Nước Mỹ là nơi có kinh tếtrang trại rất phát triển Năm 1950 ở Mỹ có 5.648.000 trang trại và giảm dần số lượngđến năm 1960 còn 396.2000 trang trại Trong khi đó diện tích b của trang trại tăng lên,năm 1950 là 56 ha, năm 1960 là 120 ha năm 1970 là 151 ha năm 1992 là 198 ha [7]
Nước Anh năm 1950 là 543.000 trang trại, đến năm 1957 còn 254.000 trangtrại Tốc độ giảm bình quân trang trại hàng năm là 2,1% Nước Pháp năm 1955 có228.5000 trang trại, đến năm 1993 chỉ còn 801.400 trang trại Tốc độ giảm bình quânhàng năm là 2,7% Diện tích bình quân của các trang trại qua các năm có xu hướngtăng lên ở Anh năm 1950 diện tích bình quân 1 trang trại là 36 ha, năm 1987 là 71 ha
Ở pháp năm 1955 diện tích bình quân 1 trang trại là 14 ha đến năm 1993 là 35ha Cộnghoà liên bang Đức năm 1949 là 11 ha năm 1985 là 15 ha, Hà Lan năm 1960 là 7 hađến năm 1987 là 16 ha [22]
Như vậy ở các nước Tây Âu và Mỹ số lượng các trang trại đều có xu hướnggiảm còn quy mô của trang trại lại tăng ở Châu Á, kinh tế trang trại có những đặc điểmkhác với trang trại ở các nước Tây Âu và Mỹ Do đất canh tác trên đầu người thấp,bình quân 0,15 ha/người Đặc biệt là các nước vùng Đông Á như: Đài Loan 0,047 ha/người, Malaixia là 0,25 ha/người, Hàn quốc 0,053 ha/người, Nhật bản là 0,035ha/người trong khi đó ở các quốc gia và vùng lãnh thổ này dân số đông lên có ảnhhưởng đến quy mô trang trại Ở các nước Châu Á có nền kinh tế phát triển như NhậtBản, Đài Loan Hàn Quốc, sự phát triển trang trại diễn ra theo quy luật số lượng trangtrại giảm, quy mô trang trại tăng Nhật Bản: năm 1950 số trang trại là 6.176.000 đếnnăm 1993 số trang trại còn 3.691.000 Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm là
Trang 141,2%.Diện tích trang trại bình quân năm 1950 là 0,8 ha năm 1993 tăng lên là 1,38 ha,tốc độ tăng bình quân là 1,3%.
Như vậy, công nghiệp hoá đã tác động tích cực đến sản xuất Nông - Lâmnghiệp do đó số lượng các trang trại tăng nhanh Nhưng khi công nghiệp hoá đến mứctăng cao thì một mặt công nghiệp thu hút lao động từ nông nghiệp mặt khác nó lại tácđộng làm tăng năng lực sản xuất của các trang trại bằng việc trang bị máy móc thiết bịthay thế lao động thủ công, đồng thời trong nông nghiệp sử dụng ngày càng nhiều cácchế phẩm công nghiệp Do vậy số lượng các trang trại giảm đi nhưng quy mô diệntích, đầu động vật nuôi lại tăng lên
- Ruộng đất: Phần lớn trang trại sản xuất trên ruộng đất thuộc sở hữu của gia
đình Nhưng cũng có những trang trại phải hình thành một phần ruộng đất hoặc toàn
bộ tuỳ thuộc vào từng người, ở Pháp năm 1990: 70% trang trại gia đình có ruông đấtriêng, 30% trang trại phải lãnh canh một phần hay toàn bộ Ở Anh: 60% trang trại córuộng đất riêng, 22% lĩnh canh một phần, 18% lĩnh canh toàn bộ, ở Đài Loan năm1981: 84% trang trại có ruộng đất riêng, 9% trang trại lĩnh canh một phần và 7% lĩnhcanh toàn bộ [7]
- Vốn sản xuất: trong sản xuất và dịch vụ, ngoài nguồn vốn tự có các chủ trang
trại còn sử dụng vốn vay của ngân hàng nhà nước và tư nhân, tiền mua hàng chịu cácloại vật tư kỹ thuật của các cửa hàng và công ty dịch vụ Năm 1960 vốn vay tín dungcủa các trang trại Mỹ là 20 tỷ USD, năm 1970 là 54,5 tỷ USD bằng 3,7 lần thu nhậpthuần tuý của các trang trại và năm 1985 bằng 6 lần thu nhập của các trang trại [19]
- Máy móc và trang thiết bị phục vụ sản xuất: ở châu Âu 70% trang trại gia
đình mua máy dùng riêng Ở Mỹ 35 % số trang trại, ở Miền Bắc, 75% trang trại ởMiền tây, 52% trang trại ở miền nam có máy riêng Nhờ trang trại lớn ở Mỹ, Tây Đức,
sử dụng máy tính điện tử để tổ chức sử dụng kinh doanh trồng trọt và chăn nuôi Còn ởChâu Á như Nhật Bản, năm 1985 có 67% số trang trại có máy kéo nhỏ và 20% có máykéo lớn ở Đài Loan năm 1981 bình quân một trang trại có máy kéo 2 bánh là 0,12chiếc, máy cây 0,05 chiếc, máy liên hợp thu hoạch 0,02 chiếc, máy sấy 0,03 chiếc, vớiviệc trang bị máy móc như trên, các trang trại ở Đài Loan đã cơ giới hoá 95% côngviệc làm đất, 91% công việc cấy lúa 80% gặt đập và 50% việc sấy hạt Tại Hàn Quốc,
Trang 15đến năm 1983 trang bị máy kéo nhỏ 2 bánh, máy bơm nước, máy đập lúa đã vượt mức
đề ra đối với năm 1986 và 30% các trang trại đã có 3 máy nông nghiệp, máy kéo nhỏ,23% sử dụng chung máy kéo lớn Ở Philippin 31% trang trại sử dụng chung ôtô vận tải
ở nông thôn, 10% sử dụng chung máy bơm nước và 10% sử dụng chung máy tuốt lúa,việc sử dụng chung đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn
- Lao động: do mức độ cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp đạt mức độ cao lên số
lượng và tỷ lệ lao động làm việc trong các trang trại ở các nước phát triển và chỉ chiếm10% tổng lao động xã hội ở Mỹ các trang trại có thu nhập 100.000USD/năm khôngthuê lao động, các trang trại có thu nhập từ 100.000- 500.000USD/năm thuê từ 1 - 2năm lao động Ở Tây Âu và Bắc Mỹ, bình quân 1 trang trại có quy mô diện tích từ
25 - 30 ha chỉ sử dụng 1 - 2 lao động gia đình và 1 - 2 lao động thuê ngoài làm theothời vụ Ở Châu á như Nhật Bản: năm 1990 mỗi trang trại có khoảng 3 lao động,nhưng chỉ có 1/3 lao động làm nông nghiệp Ở Đài Loan năm 1985, mỗi trang trại
có 1,3 lao động, số lao động dư thừa đi làm việc ngoài nông nghiệp, hoặc làm nôngnghiệp một phần
- Cơ cấu trong tổng thu nhập của các trang trại cũng có sự biến đổi: trang trạichuyên môn làm nông nghiệp thì giảm xuống, còn trang trại làm một phần nôngnghiệp kết hợp với ngành nghề phi nông nghiệp lại tăng lên Ở Nhật Bản năm 1945 có53,4% trang trại chuyên làm nông nghiệp 46,5% trang trại làm một phần nông nghiệptăng lên 85% Cơ cấu thu nhập của trang trại cũng vậy, năm 1954 trong tổng thu thìthu nhập phi nông nghiệp ở Đài Loan năm 1955 có 4.015 trang trại chuyên làm nôngnghiệp chiếm 60%, đến năm 1980 trang trại chuyên nông nghiệp chiếm 9,0% còn91,0% làm một phần nông nghiệp kết hợp với ngành nghề phi nông nghiệp Như vậy
cơ cấu thu nhập của các trang trại chuyên làm nông nghiệp ngày càng giảm, còn cáctrang trại làm 1 phần nông nghiệp và phi nông nghiệp thì lại tăng lên [7]
- Quan hệ của trang trại trong cộng đồng: Sự hình thành và phát triển của trangtrại chịu tác động lớn của các đơn vị sản xuất (tư nhân, HTX, nhà nước ) và các đơn
vị dịch vụ (Ngân hàng thông tin liên lạc ) trên địa bàn Trang trại mua từ thị trườngcác hàng hoá phục vụ cho sản xuất và đời sống đồng thời bán ra thị trường nông sản
Trang 16phẩm mà mình sản xuất ra Sản xuất càng phát triển thì mối quan hệ của trang trại vớithị trường và các tổ chức trên địa bàn ngày càng chặt chẽ và không thể thay thế.
- Ở Nhật bản hiện nay 99,20% số trang trại gia đình tham gia các hoạt động củatrên 4.000 HTX nông nghiệp ở các cơ sở làng, xã, có hệ thống dọc trên huyện, tỉnh và
cả nước Các HTX này thực hiện việc cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản phẩm của cáctrang trại
- Ở Đài Loan hình thành một hệ thống đưa tiến bộ KHKT về sản xuất tới từnglàng xã Năm 1990 có 1785 NRC phục vụ toàn bộ diện tích cấy lúa 2 vụ của Đài Loan.Ngoài ra còn tổ chức nhiều hình thức kết hợp như: Hiệp hội những chủ trang trại, hiệphội sử dụng nước, hiệp lhội những người đánh cá những HTX tiêu thụ quả [7] Ở Mỹcác hoạt động luôn có quan hệ với hệ thống - tổ hợp công nông nghiệp bao gồm cácngành: sản xuất, chế biến ,dịch vụ kỹ thuật và tiêu thụ nông sản Ngoài ra các trang trạicòn có mối quan hệ với HTX tín dụng, HTX cung ứng vật tư kỹ thuật HTX tiêu thụ các HTX này đã cung cấp cho các trang trại 30 % lượng phân bón, 27% thức ăn giasúc và đảm bảo tiêu thị trên 30% sản lượng nông sản do trang trại sản xuất Ngoài ra sựphát triển của các trang trại còn có sự tác động lớn của các chính sách và pháp luật củachính phủ ban hành Ở Pháp cuộc cách mạng năm 1789, ruộng đất của các địa chủ lớn
đã chuyển cho nông dân và nhà tư bản Ở Nhật Bản nhà nước cho các trang trại vayvốn tín dụng lãi suất thấp từ 3,5-7,5% /năm để tái tạo đồng ruộng, mua sắm máy móc.Nhà nước trợ cấp cho các nông trại 1/2 đến 1/3 giá bán các loại máy móc nông nghiệp
mà nhà nước cần khuyến khích Bến cạnh đó còn có các chính sách ổn định và giảm tô
để khuyến khích sản xuất nông nghiệp, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tiệnlợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu văn hoá
- Từ quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới ta có thểđưa ra những kết luận: Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hình thức trang trại là hìnhthức thích hợp và đạt hiệu quả kinh tế Quy mô trang trại ở mỗi nước khác nhau nhưng
xu hướng chung là tăng lên Trước tiên là tăng về quy mô diện tích, đầu động vật nuôi,tăng thân máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến từ đó giá trị sản phẩm hàng hoácũng tăng Việc mở rộng quy mô sản xuất và gắn liền với quy trình công nghiệp hoá
Trang 171.1.2 Hiện trạng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
1.1.2.1 Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sự ra đời của hình thức kinh tế trang trại gia đình được bắt nguồn
từ các chính sách đổi mới kinh tế nói chung và chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nôngthôn nói riêng trong từng năm gần đây Chỉ thị 1.400 của Ban Bí thư (31/10/1981) vềkhoán sản phẩm đến nhóm và người lao động cho phép gia đình chủ động sử dụngmột phần lao động và thu nhập song chưa thay đổi gì về quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất, vẫn giữ chế độ phân phối theo ngày công Tiếp đến là nghị quyết 10 của Bộchính trị (5/4/1988) đã nâng cao mức tự chủ kinh doanh của hội xã viên trên cả 3 mặt
Tư liệu sản xuất, được giao khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên, không bị hạn chế việcmua sắm tư liệu khác, trâu, bò và nhiều công cụ lao động thuộc tài sản tập thể đượcchuyển thành sở hữu của xã viên, tổ chức lao động, tự đảm nhận phần lớn các khâutrong quy trình sản xuất và phân phối (ngoài phần đóng góp và trao đổi thoả thuận vớicác hợp tác xã, xã viên hưởng toàn bộ phần thu nhập còn lại xoá bỏ chế độ hợp tácphân phối theo ngày công) Từ chỗ chỉ được làm chủ phần kinh tế gia đình với tínhcách là sản phẩm phụ, qua khoán 100 đến 10 hộ xã viên đã trở thành chủ thể chínhtrong sản xuất nông nghiệp, đồng thời với việc thừa nhận hộ gia đình nông dân là mộtđơn vị kinh tế tự chủ, đảng và nhà nước từng bước tạo dựng môi trường thể chế thuậnlợi cho kinh tế hộ gia đình tự do phát triển sản xuất và dịch vụ, bình đẳng trong cácquan hệ kinh tế Xác định nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần kinh tế cùngtham gia sản xuất phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Luậtđất đai được Quốc Hội thông qua ngày 14/7/1993 thực hiện việc giao đất lâu dàitrong hộ nông dân, thừa nhận nông dân có 5 quyền sử dụng đất Sau khi luật đất đai rađời năm 1993, thì kinh tế trang trại mới có bước phát triển khá nhanh và đa dạng Việcphát triển kinh tế trang trại đã đem lại lợi ích to lớn về nhiều mặt, làm thay đổi đáng kể
bộ mặt kinh tế - xã hội của các vùng nông thôn [8]
Đến nay kinh tế trang trại đã được hình thành và phát triển trên khắp các vùngcủa cả nước, đặc biệt phát triển mạnh ở miền nam, trung du và miền núi, ven biển Đãxuất hiện mô hình trang trại như: trang trại thuần nông, trang trại thuần lâm nghiệp,trang trại chuyên chăn nuôi, trang trại chuyên nuôi trồng thuỷ sản, trang trại phát triển
Trang 18tổng hợp nông lâm nghiệp, nông ngư nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, kết hợp với côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp hoặc dịch vụ
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triền nông thôn, đến năm 2006 cảnước có khoảng 150.000 trang trại với diện tích đất sử dụng khoảng 900.000 ha Kinh
tế trang trại phát triền nhanh cả về số lượng và chất lượng đã góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Các trang trại chuyên trồng cây nông nghiệp chiếm55,3%, chăn nuôi gia súc, gia cầm chiếm 10,3%, lâm nghiệp chiếm 2,2%, nuôi trồngthuỷ sản chiếm 27,3% và sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm 4,9%
a Về quy mô đất canh tác của mỗi trang trại
- Với các tỉnh phía bắc, bình quân đất sản xuất của mỗi trang trại trên 4ha, 2 hachiếm 56%, 10 ha chiếm 38.3%, 10 - 30 ha chiếm 0,6 %, chưa có trang trại nào đếnvài trăm ha
- Với các tỉnh phía nam, đất sản xuất bình quân của một trang trại ở Gia Lai là4,29 ha, Đắc Lắc 6,3 ha, Bình Dương 10ha, Bình Định 8 ha, Quảng Nam 2 ha, Bìnhthuận 7 - 8 ha, ước tính đất bình quân của một trang trại Việt Nam là 8 - 10 ha Nhưvậy đất canh tác sản xuất nông lâm nghiệp của các tỉnh miền bắc là thấp hơn các tỉnhphía nam Nói chung thì theo điều tra kinh tế trang trại đang phát triển mạnh ở cácvùng trung du, miền núi, ven biển đó là những nơi có tiềm năng đất đai lớn [15]
b Về lao động của mỗi trang trại
- Với các tỉnh phía bắc, với trang trại trồng cây lâu năm như cây ăn quả, diệntích 2 ha đất canh tác thì ngoài 2 - 3 lao động gia đình cũng chỉ cần thuê mướn 1 laođộng thường xuyên, từ 2 - 5 ha thuê 2 - 3 lao động từ 5 - 10 ha thuê 3 - 5 lao động từ
10 - 20 ha thuê 6 - 10 lao động như vậy lao động thuê bình quân trang trại phía bắcchỉ 2 - 40 lao động thời vụ 3 - 40 lao động với mức lương khoảng 250.000 – 300.000đồng/tháng [7]
- Các tỉnh phía nam sở Lao động cần cho hoạt động sản xuất của mỗi trang trạithường lớn hơn các tỉnh phía bắc, do quy mô đất canh tác, tính chất tập trung hàng hoácao hơn Tính bình quân một trang trại phía nam thuê lao động thường xuyên tronhnăm là 8 - 10 lao động tiền lương được trả 500.000 hoặc 600.000 đồng/tháng [7]
c Vốn đầu tư của trang trại
Trang 19Theo các tài liệu nghiên cứu điều tra, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triểnnông thôn viện kinh tế nông nghiệp của các Sở nông nghiệp và phát triển nông thôncác tỉnh, thì vốn đầu tư cho trang trại của các tỉnh phía bắc là khoảng từ 50-80 triệuđồng Ở các tỉnh phía nam vốn đầu tư lớn hơn ít nhất khoảng 50 triệu đồng cao nhất là
4 tỷ đồng Bình Dương bình quân một trang trại là 250 triệu đồng Đáng chú ý lànguồn vốn tự có trên 81%, vốn vay ngân hàng từ 3-5% vốn vay của chương trình, cònlại vay các nguồn khác
1.1.2.2 Tình hình chung phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Nếu theo quy định của tổng cục thống kê về tiêu chuẩn trang trại (Quyết định số359/1998/QĐ-TCTK ngày 01/07/1998 ) thì cả nước có 45.372 trang trại Trong đóchia theo hướng sản xuất có 37.949 trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm và câyhàng năm, chiếm 83,6%; 1.306 trang trại nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 3,8%; 2.559 trangtrại kinh doanh tổng hợp, chiếm 5,6%
Chia theo vùng kinh tế: Vùng Đông Bắc có 3.491 trang trại, chiếm 7,7%;VùngTây Bắc có 238 trang trại chiếm 0,5%; Vùng Đồng Bằng Sông Hồng có 1394 trangtrại chiếm 9,2%; Vùng Duyên Hải Miền Trung có 2.706 trang trại, chiếm 4,6%; VùngTây Nguyên có 6.333 trang trại, chiếm 4,6%; Vùng Tây Nguyên có 6.333 trang trại,chiếm 13,6%; Vùng Đông Nam Bộ có 8402 trang trại, chiếm 18,5%; Vùng Đồng BằngSông Cửu Long có 19259 trang trại, chiếm 42,4% [8]
Số LĐ bình quân/trang trại là 2,8 người, lao động thuê ngoài theo thời vụ 11,5người Bình quân 1 trang trại trồng trọt có 5,3 ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp có26,8ha nuôi trồng thuỷ sản có 10,7ha Chăn nuôi có 528 con trâu, bò; 530 con gia cầm.Vốn sản xuất bình quân của 1 trang trại là 60,2 triệu đồng; thu nhập bình quân 1 trangtrại là 22,6 triệu đồng Về quy mô diện tích của mỗi trang trại ở nước ta theo điều tracủa cục thống kê cho thấy: trang trại <1ha chiếm 15%; từ 1-5 ha chiếm 28%; từ 5-10
ha chiếm 34%; từ 10- 20 ha chiếm 16%; từ 20 - 50 ha chiếm 4% và trên 50ha chiếm3,0% [15]
Việc phát triển kinh tế trang trại ngoài việc góp phần làm giàu cho các chủ trangtrại, trong những năm qua kinh tế trang trại đã giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn50.000 lao động làm thuê thường xuyên và 520.000 lao động làm thuê theo thời vụ
Trang 20tạm thời ở nông thôn Tổng số vốn huy động đâu tư phát triển kinh tế trang trại ướctính là 2.730,8 tỷ đồng, thu nhập hàng năm từ các hoạt động kinh tế của trang trại là1.023,6tỷ đồng Ngoài ra các trang trại còn đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ môitrường sinh thái, nâng cao độ che phủ của rừng từ 22% lên 28% kinh tế trang trại đã
tự khẳng định vai trò của mình trên hầu khắp các vùng kinh tế: đồi núi, đồng bằng,ven biển
- Khái niệm và bản chất của kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại là một khái niệm không còn mới với các nước kinh tếphát triển và đang phát triển Song đối với nước ta đang còn là một vấn đề mới, donước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên việc nhận thức chưa đầy đủ vềkinh tế trang trại là điều không thể tránh khỏi Thời gian qua các lý luận về kinh tếtrang trại đã được các nhà khoa học trao đổi trên các diễn đàn và các phương tiệnthông tin đại chúng Song cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau các nhàkhoa học lại đưa ra các khái niệm khác nhau về kinh tế trang trại
Theo một số nhà khoa học trên thế giới thì khái niệm về kinh tế trang trạinhư sau:
Lênin đã phân biệt kinh tế trang trại “Người chủ trang trại bán ra thị trườnghầu hết các sản phẩm làm ra, còn người tiểu nông thì dùng đại bộ phận sảnphẩm sản xuất được, mua bán càng ít càng tốt”
Quan điểm của Mác đã khẳng định, điểm cơ bản của trang trại gia đình làsản xuất hàng hoá, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc, nhưng cóđiểm giống nhau là lấy gia đình làm cơ sở làm nòng cốt
Ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh và một số vùng lãnh thổ ở Châu Á:như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nơi khác trong khu vực Họquan niệm: “Trang trại là loại hình sản xuất Nông- Lâm- Ngư nghiệp của hộgia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của
hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nhiều nông sản, hàng hoá, tiếp cận với thịtrường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh”.Quan điểm trên đã nêuđược bản chất của kinh tế trang trại là hộ nông dân, nhưng chưa đề cập đến vịtrí của chủ trang trại trong toàn bộ quá trình tái sản xuất sản phẩm của trang trại
Trang 21Trên đây là một số quan điểm của các nhà khoa học trên thế giới, còn cácnhà khoa học trong nước nhận xét về kinh tế trang trại như thế nào? Sau đây emxin được đề cập đến một số nhà khoa học trong nước đã đưa ra như sau:
Quan điểm 1: “Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại, )
là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợptác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất địnhđược chủ trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sảnxuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ”.Quan điểm trên đã khẳng định kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hànghoá, cơ sở cho nền kinh tế thị trường và vai trò của người chủ trang trại trongquá trình sản xuất kinh doanh nhưng chưa thấy được vai trò của hộ gia đìnhtrong các hoạt động kinh tế và sự phân biệt giữa người chủ với người lao độngkhác
Quan điểm 2: “Kinh tế trang trại là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá
Quan điểm trên đã khẳng định kinh tế thị trường (nền kinh tế hàng hoá đãphát triển cao) là tiền đề chủ yếu cho việc hình thành và phát triển kinh tế trangtrại Đồng thời khẳng định vai trò vị trí của chủ trang trại trong quá trình quản
lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại
Trang 22Từ các quan điểm trên đây ta có thể rút ra khái niệm chung về kinh tế trangtrại: “ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong Nông- Lâm- Ngưnghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền
sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hànhtrên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cáchthức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôngắn với thị trường
- Bản chất của kinh tế trang trại
Từ sau nghị quyết X của Bộ Chính Trị (Tháng 4/1998) về đổi mới kinh tếnông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nước ta được điều chỉnh mộtbước Song phải đến nghị quyết VI của Ban chấp hành trung ương(khoá VI –3/1989) hộ gia đình xã viên mới được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ cùngvới một loại các chính sách kinh tế được ban hành Kinh tế hộ nông dân nước ta
đã có bước phát triển đáng kể Một bộ phận nông dân có vốn, kiến thức, kinhnghiệm sản xuất và quản lý, có ý chí làm ăn đã đầu tư và phát triển Nông - Lâm
- Thuỷ sản, họ trở lên khá giả Trong đó một số hộ chuyển sang sản xuất hànghoá Song đại bộ phận các hộ nông dân sản xuất với mục tiêu chủ yếu là để tiêudùng, số sản phẩm đưa ra bán trên thị trường là sản phẩm dư thừa Sau khi đãdành cho tiêu dùng Số sản phẩm hàng hoá một mặt chưa ổn định, còn phụ thuộcvào kết quả sản xuất từng năm và mức tiêu dùng của từng gia đình và mặt khác”
Họ chỉ bán cái mà mình có chứ chưa bán cái mà thị trường cần”
Như vậy muốn phân biệt kinh tế trang trại với kinh tế hộ nông dân là căn
cứ và mục tiêu sản xuất Đối với hộ nông dân mục tiêu sản xuất của họ là để tiêudùng, sản xuất nhắm đáp ứng nhu cầu đa dạng về lương thực, thực phẩm và cácnhu cầu khác của họ Ngược lại, mục tiêu sản xuất của kinh tế trang trại là sảnxuất hàng hoá lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường về các loại Nông –Lâm -Thuỷ sản, sản phẩm sản xuất ra là để bán C Mác đã nhấn mạnh “Kinh tếtrang trại bán đại bộ phận nông sản được sản xuất ra thị trường, cán hộ nôngdân thì bán ra mua càng ít bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Như vậy trình độ pháttriển của kinh tế hộ nông dân chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hoá phải tự cung tự
Trang 23cấp Để có nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn phải chuyển kinh tế hộ nông dânsang phát triển kinh tế trang trại.Chính phủ đã có nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày02/02/2000 về kinh tế trang trại Thi hành Nghị quyết của Chính phủ, Liên Bộ Nôngnghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê qui định hướng dẫn tiêu chí về KTTrTr nhưsau:
Các đối tượng và ngành sản xuất được xem xét để xác định là kinh tế trang trại
Hộ nông dân, hộ công nhân viên Nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu,các loại hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp,nuôi trồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêm các hoạt động dịch
vụ phi nông nghiệp ở nông thôn
Các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại:
- 1 Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá vớiqui mô lớn
- 2 Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuấtcao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở qui mô sản xuất như:đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá
- 3 Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết
áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sảnxuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, cóthu nhập vượt trội so với kinh tế hộ
Tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định làtrang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng sau đây:
(1)- Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:
- Ðối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Ðối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
(2)- Qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
a Ðối với trang trại trồng trọt:
- Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và
Trang 24Duyên hải miền Trung Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên.
- Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc vàDuyên hải miền Trung Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên.Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên
- Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b Ðối với trang trại chăn nuôi:
- Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, vv
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
- Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, vv
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê,cừu từ 100 con trở lên
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa) dêthịt từ 200 con trở lên
- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản:
- Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôitôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d Ðối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất
đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và thuỷ đặcsản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)
1.1.2.3 Các loại hình kinh tế trang trại trong nuôi trồng thuỷ sản ở nước ta
Do sự đa dạng trong các hoạt động sản xuất dựa trên tài nguyên đất đai và trình
độ thâm canh, do sự đa dạng trong các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản và các dạng hình
tổ chức một đơn vị sản xuất cho nên các trang trại trong nuôi trồng thuỷ sản cũng rấtkhác nhau Ta có thể chia các loại hình trang trại theo các dấu hiệu sau: Theo tính chấtchuyên môn hoá: Trang trại chuyên hoá một đối tượng nuôi thí dụ các trang trại nuôitôm sú, các trang trại nuôi cá biển, các trang trại nuôi cá lồng ở An Giang hoặc cáctrang trại nuôi cá lồng trên các hồ chứa Các trang trại ương tôm cá giống Đây lànhững trang trại có hiệu quả cao nhất trong nuôi trồng thuỷ sản hiện nay Mỗi trang
Trang 25trại có thu nhập từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng/năm.
Các trang trại kinh doanh tổng hợp: Nuôi thuỷ sản trồng trọt trồng rừng chăn nuôi Những mô hình trang trại canh tác nông-lâm-ngư nghiệp trổng hợp trong đóthu nhập từ nguồn nuôi trồng thuỷ sản là chủ yếu đang rất phổ biến ở nông thôn ViệtNam Xét theo tính chất sở hữu và qui mô sở hữu ta có thể có:
Các trang trại hộ gia đình Đây là loại hình phổ biến nhất Đặc trưng của loạitrang trại này là chủ yếu dựa vào một cá nhân hoặc một gia đình điều hành Thôngthường các trang trại này hoạt động dưới sự giám sát và quản lý của một người Nguờinày vừa là lao động chính vừa là chủ Qui mô của loại trang trại này đối với nuôi trồngthuỷ sản nước ngọt thường là nhỏ nhưng không phải đúng như vậy với những trangtrại nuôi tôm, baba, cá basa trên bè, trại sản xuất giống tôm
- Các trang trại loại doanh nghiệp kinh doanh Những trang trại này có mụcđích rõ ràng, tổ chức sản xuất kinh doanh các mặt hàng đặc biệt là giống hay là nguyênliệu thuỷ sản
Trang trại gia đình: Đây là loại hình trang trại mà người chủ sở hữu đứng ra
quản lý trực tiếp cả đầu vào và đầu ra Nguồn nhân lực chủ yếu của trang trại là hônnhân và huyết thống Cũng có thuê lao động nhưng không nhiều Trang trại hộ giađình kết hợp nhuần nhuyễn kinh tế hộ gia đình với kinh tế thị trường và nó luôn chiếm
vị thế to lớn trong nền kinh tế hàng hoá ở nông thôn Nú là sự lựa chọn khởi nghiệpthích hợp cho nông dân để họ vươn lên trong nền kinh tế thị trường để tiến tới một nềnkinh tế quy mô lớn và hiện đại, làm hạt nhân cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá nông thôn Làm kinh tế trang trại bắt đầu từ quy mô gia đình dẫn dắt người nôngdân tự tin hơn trong quá trình nâng cao trình độ quản lý và và điều hành kinh doanh,nâng cao trình độ khoa học công nghệ và giúp họ có phản ứng ngày càng nhanh nhạyvới thị trường
Trang trại liên doanh: do 2-3 trang trại gia đình liên kết với nhau thành trang trại
lớn Trên cơ sở độc lập về kinh tế họ chỉ liên kết với nhau trong một số khâu nhất địnhnhư dùng chung một phần cơ sở kỹ thuật, chế biến và liên kết về tiêu thụ sản phẩm
Trang trại hợp doanh: là loại hình liên kết nhiều trang trại, có thể thể tổ chức
theo các nguyên tắc của công ty cổ phần, gắn kết trong các cơ sở vật chất lớn và kinh
Trang 26doanh đa dạng
Trang trại uỷ thác: là loại trang trại mà người chủ sở hữu không trực tiếp kinh
doanh mà thuê người quản lý (cho một số khâu hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất akinhdoanh)
1.1.2.4 Chính sách phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Các chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước quyết định sự hìnhthành và phát triển của KTTrTr Qua các kỳ Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, Đảng
ta thừa nhận sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, khẳng định các chính sáchkhuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó có kinh tế hộ gia đình, kinh
tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, tạo nên bối cảnh ra đời KTTrTr ở nước ta.Sau khi có Nghị quyết 10 ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng
đã ban hành Nghị quyết 170/HĐBT ngày 14/11/1988 cụ thể hóa các chính sáchkhuyến khích các hộ cá thể, tư nhân phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, thìKTTrTr nước ta mới bắt đầu khởi động trở lại Các dự án cho vay vốn nhằm sử dụngđật trồng đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước theo Quyết định 327/CTngày 15/9/1992 của Chủ tịch HĐBT đã tạo điều kiện vật chất cho sự ra đời nhiều trangtrại lâm nghiệp, trang trại trồng cây dài ngày và trang trại nuôi trồng thủy sản ở nhữngvùng còn đất hoang hóa Nhưng phải sau khi Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VII),Luật Đất đai 1993 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai ra đời, mới thực
sự tạo cơ sở pháp lý toàn diện cho KTTrTr phát triển
Ngày 02/02/2000, Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về KTTrTr.Đây là nghị quyết quan trọng nhất đối với KTTrTr, trong đó nêu đầy đủ quan điểm,chủ trương chính sách toàn diện về khuyến khích phát triển KTTrTr
Sau khi Nghị quyết 03/2000/NQ-CP được ban hành, tháng 4/2000 Bộ NN-PTNT
đã chủ trì Hội nghị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để quán triệt nội dung vàthống nhất kế hoạch triển khai phát triển trong cả nước Bộ NN- PTNT ban hànhThông tư Hướng dẫn lập quy hoạch phát triển KTTrTr và cùng với Tổng cục Thống kêban hành Thông tư Liên bộ Hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTrTr Thống đốc ngânhàng nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Lao động TB&XH đều ban hành các Quyết định,Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 03/2000/NQ-CP và ban hành văn bản
Trang 27hướng dẫn cấp Giấy chứng nhận KTTrTr.
Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chính sách mới, như: Luật Đất đai 2003 và cácNghị quyết hướng dẫn thi hành Luật, trong đó có những điều quy định rõ về chínhsách đất đai và cấp giấy CNDSHDĐ cho KTTrTr Nghị định 51/1999NĐ-CP vềvhinhs sách tín dụng khuyến khích đầu tư trong nước, Quyết định 67/1999/QĐ-TTg
về chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn và nhiều chính sách khác tăngthêm hỗ trợ, khuyến khích KTTrTr phát triển
1.1.2.5 Đánh giá chung tình hình và xu thế phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam hiện nay
- Mô hình kinh tế trang trại ngày nay phát triển rộng khắp trên mọi vùng kinh tếcủa đất nước và ngày càng chứng tỏ là loại hình sản xuất kinh doanh mới có hiệu quảtrong nông nghiệp, nông thôn
- Kinh tế trang trại khá đa dạng về quy mô, loại hình sản xuất, cơ cấu nghànhnghề, thành phần của chủ thể Nhưng đều đem lại hiệu quả kinh tế xã hội, môitrường sinh thái rõ rệt nhờ phát huy tốt nội lực, khai thác mọi nguồn tiềm năn, cơ hộicủa mình
- Kết quả và hiệu quả kinh tế xã hội - môi trường lớn nhất là kinh tế trang trại
đã góp phần biến những vùng đất hoang hoá, khô cằn hoặc ngập nước quanh nămthành những vùng kinh tế trù phú, toạ thêm việc làm, tăng của cải vật chất cho cộngđồng và xã hội
Bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tế phát triển kinh tế trang trại ở ViệtNam trong những năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi Nhà nước, các cấp, cácnghành và trước hết là các chủ trang trại quan tâm nhằm: Một mặt phát huy tốt nội lựccủa trang trại, mặt khác hạn chế những tồn tại của quá trình phát triển kinh tế trang trạigây ra như vấn đề công ăn việc làm ở nông thôn do tích tụ ruộng đất, tranh chấp đấtđai, phá rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn , làm ảnh hưởng tới lợi ích của người nôngdân, của cộng đồng, của xã hội trước mắt cũng như trong tương lai
1.1.3 Tính khả thi về kinh tế và tài chính của kinh tế trang trại
1.1.3.1 Tính khả thi về kinh tế
a) Kinh tế - xã hội
Trang 28Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong Lâm - Ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác ở nông thôn, có sức đầu tưlớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, cóphương pháp tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra,
Nông-có trình độ đưa thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo
ra sức cạnh tranh cao trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, cómục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữuhoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trênquy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổchức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn vớithị trường
- Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, pháttriển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tìnhtrạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao mặt khác qua thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp,đặc biệt công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế chothấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng điliền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các loại nguồnlực trong nông nghiệp nông thôn so với kinh tế nông hộ
Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy sựtăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
- Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làmtăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho laođộng Điều này rất có ý nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, mộttrong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Mặtkhác phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạtầng trong nông thôn và tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức vàquản lý sản xuất kinh doanh do đó phát triển kinh tế trang trại góp phần tíchcực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt xã hội nông thônnước ta
Trang 29b) Kinh tế môi trường
Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực và lâu dài của mình
mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu
tố môi trường, trước hết là trong phạm không gian sinh thái trang trại và sau nữa
là trong phạm vi từng vùng
Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồngrừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trồng đồi núi trọc và sử dụng hiệu quả tàinguyên đất đai - những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môitrường sinh thaí trên các vùng đất nước
Kinh tế trang trại khá đa dạng về quy mô, loại hình sản xuất, cơ cấunghành nghề, thành phần của chủ thể Nhưng đều đem lại hiệu quả kinh tế xãhội, môi trường sinh thái rõ rệt nhờ phát huy tốt nội lực, khai thác mọi nguồntiềm năn, cơ hội của mình
Kết quả và hiệu quả kinh tế xã hội - môi trường lớn nhất là kinh tế trangtrại đã góp phần biến những vùng đất hoang hoá, khô cằn hoặc ngập nước quanhnăm thành những vùng kinh tế trù phú, toạ thêm việc làm, tăng của cải vật chấtcho cộng đồng và xã hội
c) Lợi ích kinh tế khác
Bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tế phát triển kinh tế trang trại ở ViệtNam trong những năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi Nhà nước, các cấp, cácnghành và trước hết là các chủ trang trại quan tâm nhằm: Một mặt phát huy tốt nội lựccủa trang trại, mặt khác hạn chế những tồn tại của quá trình phát triển kinh tế trang trạigây ra như vấn đề công ăn việc làm ở nông thôn do tích tụ ruộng đất, tranh chấp đấtđai, phá rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn , làm ảnh hưởng tới lợi ích của người nôngdân, của cộng đồng, của xã hội trước mắt cũng như trong tương lai
Kinh tế trang trại đã tạo thêm việc làm và thu nhập tương đối ổn định cho một
bộ phận lao động ở khu vực nông thôn, tận dụng được lao động của địa phương
1.1.3.2 Tính khả thi về tài chính
Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của kinh tế trang trại ở t r o n g n ư ớ c , xácđịnh được hệ thống chỉ tiêu sau để phản ánh và đánh giá thực trạng về tài chính
Trang 30kinh tế trang trại trong quá trình nghiên cứu.
Tổng doanh thu của trang trại tính bằng tiền của các loại sản phẩm được sảnxuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trị để lại tiêu dùng (tiêu dùng cho sinh hoạt vàcho tái sản xuất) và giá trị sản phẩm bán ra trên thị trường Các chủ trang trại ngàycàng có nhiều kinh nghiệm sử dụng hợp lý lao động của gia đình để giảm chi phí sảnxuất, nên lực lượng lao động này tăng lên so với các năm trước đây và cao hơn mứcbình quân chung của cả nước và các tỉnh vùng Bắc Trung bộ
Thu nhập của lao động tăng lên, kinh tế tương đối ổn định và khá cáo so với các
hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản bình thường: bình quân một lao động làm thuê thườngxuyên cao gấp 2 lần so với lao động nông lâm, thủy sản khu vực nông thôn
Lợi nhuận thực tế phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam mang lại nhữnggiá trị vật chất và dịch vụ do các nghành sản xuất tạo ra trong một năm hay mộtchu kỳ sản xuất kinh doanh trang trại thu Việc phát triển kinh tế trang trại đãđem lại lợi nhuận to lớn, làm thay đổi đáng kể bộ mặt kinh tế - xã hội của cácvùng nông thôn Đến nay kinh tế trang trại đã được hình thành và phát triển trênkhắp các vùng của cả nước và đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại như: Trangtrại thuần nông, trang trại thuần lâm nghiệp, trang trại chuyên chăn nuôi, trangtrại chuyên nuôi trồng thủy sản, trang trại phát triển tổng hợp nông lâm nghiệpkết hợp với công nghiệp
Việc phát triển kinh tế trang trại ngoài việc góp phần làm giàu cho các chủ trangtrại, trong những năm qua kinh tế trang trại đã giải quyết việc làm tại chỗ lao động làmthuê thường xuyên và lao động làm thuê theo thời vụ tạm thời ở nông thôn Thu nhậphàng năm từ các hoạt động kinh tế của trang trại đóng góp đáng kể vào việc bảo vệmôi trường sinh thái, kinh tế trang trại đã tự khẳng định vai trò của mình trên hầu khắpcác vùng kinh tế: đồi núi, đồng bằng, ven biển
Để đánh giá tính khả thi về kinh tê tài chính thì những tiêu chí thường dùng đểđánh giá là:
+ Phương pháp phân tích kinh tế: Thu nhập, Lợi nhuận, Doanh thu/Tổng chi phí
sản xuất, Doanh thu/Diện tích; Doanh thu/Lao động
Tổng chi phí sản xuất: gồm chi phí SX cố định và chi phí SX biến đổi
Trang 31Tổng doanh thu của trang trại: là tổng giá trị tính bằng tiền của các loại sản phẩmsản xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trị để lại tiêu dùng (bao gồm tiêu dùng chosinh hoạt và tiêu dùng cho tái sản xuất) + (sản phẩm bán ra trên thị trường)
Lãi ròng: Dùng cho phân tích kinh tế để xác định lợi nhuận của các hoạt động sảnxuất, được tính theo công thức:
- Lãi ròng=∑Tổng doanh thu – ∑Chi phí sản xuất
- Hiệu quả đầu tư = Tổng doanh thu/Tổng chi phí sản xuất
- Tỉ lệ hoàn vốn (ROI)= Lợi nhuận/Chi phí đầu tư ban đầu x 100%
Trang 32CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÍNH KHẢ THI VỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÍNH MÔ HÌNH TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TỈNH THANH HÓA
2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản của tỉnh Thanh Hóa
2.1.1 Giới thiệu chung mô hình kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ có diện tích tựnhiên 11.120 km2 bằng 3,37% diện tích cả nước; gồm 27 huyện, thị xã và thànhphố Địa hình Thanh Hóa chia thành 3 vùng rõ rệt: Miền núi, đông bằng và venbiển Vùng đồng và ven biển có diện tích 313.200 ha chiếm 27,5% diện tích toàntỉnh, vung này có nhiều điều kiện phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản;vùng miền núi có điều kiện đất đai, lại nằm trong vùng quy hoạch các vùngnguyên liệu tập trung (mía đường, sắn, cao su, luồng) gắn với các nhà máy chếbiến- tiêu thụ sản phẩm, nên có điều kiện phát triển kinh tế trang trại cây hàngnăm, cây lâu năm và lâm nghiệp
Trong nhưng năm qua, tỉnh Thanh Hóa là một trong những địa phương cókinh tế trang trại phát triển nhanh nhất so với cả nước Năm 1998, Cục Thống
kê Thanh Hóa khảo sát kinh tế trang trại và cho biêt có 1.687 trang trại đạt tiêuchí, nhưng đến nay kinh tế trang trại tỉnh Thanh Hóa đã có sự phát triển vượt bậc
về số lượng và giá trị sản lượng hàng hóa rất lớn Theo số liệu trong báo cáo của
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Thủy sản (trước đây) tỉnh ThanhHóa, số trang trại năm 2001 tỉnh Thanh Hóa có 2.062 trang trại; năm 2006 có3.384 trang trại; đến năm 2010 tăng lên 4.556 trang trại, đạt tốc độ tăng trưởngbình quân là 9,2%/năm [10]
Trang 33Bảng 2.1: Số lượng các loại hình TrTr tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2001-2010
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa)
Kinh tế trang trại của tỉnh Thanh Hóa phát triển trên cả ba vùng: Đồng bằng,miền biển và miến núi Cơ cấu trang trại năm 2010 phân theo các vùng như sau: vùngđồng bằng có 2.320 trang trại chiếm 50,92%, vùng miền biển có 811 trang trại chiếm17,8%, vùng miền núi có 1.425 trang trại chiếm 31,28% tổng số trang trại tỉnh ThanhHóa [13] Số lượng trang trại phân theo các loại hình và theo vùng năm 2010 như sau:
Bảng 2.2: Số lượng trang trại phân theo các vùng của tỉnh Thanh Hóa năm 2010
Các chỉ tiêu Tổng
số
Cây hàng năm
Cây lâu năm
Lâm nghiệp
Chăn nuôi
Thủy sản
Tổng hợp
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa)
Số lượng và cơ cấu trang trại nuôi trồng thủy sản
Năm 2010, tổng số Trang trại NTTS của tỉnh Thanh Hóa có 689 trang trại, trongđó: số TrTr NTTS vùng biển là 364 trang trại chiểm 52,8%, vùng đồng bằng có 284trạng trại chiếm 41,2%, còn vùng miền núi chỉ có 41 trang trại chiếm 6,0% số Trangtrại NTTS của tỉnh Thanh Hóa
Trang 3441,2%
52,8%
Đồng bằng Miền Biển Miền núi
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu trang trại NTTS của tỉnh Thanh Hóa năm 2010
Năm 2010, tổng số trang trại NTTS nước ngọt của tỉnh Thanh Hóa là 507 trangtrại, trong đó trang trại NTTS nước ngọt kết hợp có 358 trang trại, chiếm 70,6% tổng
số trang trại NTTS nước ngọt; số trang trại NTTS chuyên có 149 trang trại, chiếm29,4% tổng số trang trại NTTS nước ngọt
Hiện nay các trang trại NTTS nước ngọt chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng.Năm 2010, vùng đồng bằng có 284 trang trại NTTS nước ngọt, trong đó: huyện NôngCống có 96 trang trại chiếm 33,80%, huyện Yên Định có 89 trang trại chiếm 31,34%tổng số trang trại NTTS nước ngọt vùng đồng bằng tỉnh Thanh Hóa
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa
2.1.2.1 Quy mô về diện tích của các trang trại trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Tổng diện tích đất các trang trại sản xuất: Nông, Lâm nghiệp, thủy sản và chănnuôi hiện đang sử dụng là 23.963 ha, trong đó diện tích được giao ổn định lâu dài theoNghị định 02/NĐ-CP và 64/NĐ-CP là 14.212 ha, chiếm 59,3% tổng số đất sản xuấttrang trại; đất chưa được giao ổn định là 9.751 ha chiếm 40,7%; đất mặt nước kinh tếtrang trại được giao ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển sảnxuất kinh doanh [10]
Nguồn đất của các trạng trại được hình thành từ: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệpđược giao ổn định lâu dài; đất nhận khoán của nông lâm trường; đất thuê của nhà nướchoặc các hộ; đất được nhận từ chuyển nhượng…
Năm 2010, diện tích đất trang trại sử dụng bình quân cho 1 trang trại bình quân là5,6ha/TrTr, trong đó: Diện tích đất bình quân của trang trại cây hàng năm là 5,1
Trang 35ha/TrTr, cây lâu năm là 7,1 ha/TrTr; trang trại lâm nghiệp là 9,9ha/TrTr; trang trạinuôi trồng thủy sản 3,5ha/TrTr; trang trại tổng hợp là 5,5ha/TrTr; trang trại chăn nuôi
Lâm nghiệp Chăn nuôi Thủy sản Tổng hợp
(Nguồn: Niên giám thống kê, Thanh Hóa năm 2010)
Về hiện trạng sử dụng đất và việc giao đất cho các trang trại NTTS:
Qua kết quả điều tra 120 trang trại NTTS, trong dó có 60 trang trại NTTS nước ngọtchuyên và 60 trang trại NTTS nước ngọt kết hợp cho thấy: Diện tích trung bình trang trạiNTTS nước ngọt chuyên sử dụng là 3,5ha/TrTr, thấp nhất là 2,2ha/TrTr và cao nhất là6,3ha/TrTr Diện tích trung bình trang trại NTTS nước ngọt kết hợp sử dụng là3,9ha/TrTr, thấp nhất là 2,5ha/TrTr và cao nhất là 7,5ha/TrTr
Bảng 2.4: Quy mô diện tích đất của trang trại NTTS
TT Các mô hình trang trại NTTS Mẫu
quan sát
1 TrTr Nuôi trồng thủy sản chuyên ha/TrTr 3,2 2,2 6,3
2 TrTr Nuôi trồng thủy sản kết hợp ha/TrTr 3,9 2,5 7,5
Bảng 2.5: Hiện trạng việc giao đất cho trang trại NTTS
TT Các mô hình trang trại NTTS Đơn vị Tỷ lệ đất Tỷ lệ đất
Trang 36được giao
chưa được giao
Diện tích mặt đất, mặt nước nuôi trồng thủy sản được giao ổn định lâu dàicòn ít nên đã ảnh hưởng tâm lý đầu tư của các chủ trang trại và ảnh hưởng đến hiệuquả sản xuất Do đó cần phải có sự quan tâm của nhà nước nghiên cứu triển khaiviệc giao diện tích mặt đất, mặt nước ổn định lâu dài cho người dân, để người dânchủ đông sản xuất và yên tâm đầu tư để khai thác và sử dụng hiệu quả hơn tàinguyên mặt đất mặt nước
2.1.2.2 Lao động của các mô hình kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại phát triển tạo thêm việc làm và thu nhập tương đối ổn định chomột bộ phận lao động ở khu vực nông thôn Tính đến năm 2010, các trạng trại sử dụng45.328 lao động, lao động chủ yếu là lao động trong gia đình Do tính chất thời vụ củasản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản nên lao động thuê ngoài chủ yếu là lao độngthời vụ Lao động theo mùa vụ chiếm 86,1% tổng số lao đông thuê; lao động thuêthường xuyên chiếm 13,9% tổng số lao động thuê
Chỉ số bình quân về sử dụng lao động của các loại hình trang trại như sau: Trangtrại cây hàng năm 2,5 lao động/TrTr; trang trại cây lâu năm là 2,7 LĐ/TrTr; trang trạicây lâm nghiệp là 4,5 LĐ/TrTr; loại hình trang trại chăn nuôi là 3,8 LĐ/TrTr; loại hìnhtrang trại thủy sản là 3,8 LĐ/TrTr, trang trại tổng hợp là 4,3 LĐ/TrTr
Về số lượng và chất lượng lao động trong trang trại NTTS
Qua kết quả điều tra khảo sát và phân tích 120 trang trại nuôi trồng thủy sản nướcngọt, cho thấy số lượng, trình độ và cơ cấu lao động theo nhóm tuổi của các trang trạinghiên cứu như sau:
Bảng 2.6: Lao động của trang trại NTTS của trang trại nghiên cứu năm 2010
(tính bình quân cho 1 trang trại)
Các chỉ tiêu
Nuôi chuyên Nuôi kết hợp
Trang 371.3 Kinh nghiệm sản xuất
2 Cơ cấu tuổi của chủ TrTr
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa)
Lao động là nhân tố quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh củatrang trại, ngoài lao động gia đình thì các trang trại cần sử dụng thêm lao động thuêbên ngoài Quy mô của lao động cũng phản ánh quy mô sản xuất của trang trại Quabảng 6 cho thấy:
- Về lao động: Các trang trại chủ yếu là sử dụng lao động gia đình, theo kết quả
điều tra lao động của gia đình chiếm 87,6% tổng số lao động trang trại Số lao độnglàm thuê chiếm 12,3% số lao động trang trại Do tính chất thời vụ của sản xuất nông,lâm nghiệp và thuỷ sản nên lao động thuê ngoài chủ yếu là lao động thời vụ, trungbình thuê 340 công/1năm/TrTr Như vậy, qua thực trạng lao động và sử dụng laođộng của các trang trại cho thấy các trang trại mới sản xuất ở quy mô nhỏ, sản xuất
Trang 38với trình độ thấp Xét riêng chủ trang trại, đây là đối tượng có vai trò quan trọng,chủ trang trại ảnh hưởng tới mọi quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cả về kếtquả và hiệu quả sản xuất của trang trại.
- Trình độ kỹ thuật của chủ trang trại: 100% số lao động không có bằng cấp, tuy
nhiên hầu hết số lao động này đã được tập huấn về kỹ thuật NTTS và có kinh nghiệmlàm trang trại NTTS Số lao động trong trang trại NTTS được tập huấn về kỹ thuậttrung bình chiếm 84,2% và số chủ trang trại cú kinh nghiệm trên 3 năm chiếm 74,17%
- Về trình văn hóa: Nhìn chung, các chủ trang trại có trình độ văn hóa thấp: số chủ
trang trại có rình độ văn hoá cấp 1 trung bình chiếm 70,00%, trình độ cấp 2 chiếm23,33%, có trình độ cấp 3 chiếm 6,67%, nên việc nhận thức khoa học kỹ thuật củangười dân còn thấp, chưa tuân thủ chặt chẽ các quy trình kỹ thuật nuôi, khả năng tiếpthu và ứng dụng những tiến bộ KHCN vào trong sản xuất còn hạn chế đã ảnh hưởngmột phần đến hiệu quả sản xuất
- Cơ cấu tuổi của chủ trang trại: Về độ tuổi, phần lớn chủ trang trại nằm trong độ
tuổi từ 35 đến 55 tuổi (48,33%), chủ trang trại nằm trong độ tuổi trên 55 chiếm27,5%, chủ trang trại nằm trong độ tuổi từ 25 đến 35 chiếm 24,17%, không có trangtrại nào có tuổi chụ hộ dưới 25 tuổi
Qua kết quả về số lượng và chất lượng lao động của TrTr NTTS trên địa bànhuyện Nông Cống và Yên Định tỉnh Thanh Hóa cho thấy: Số lượng lao động còn hạnchế, chất lượng thấp, chủ yếu là chưa qua đào tạo Do vậy, tỉnh Thanh Hóa cần cóchính sách về phát triển trang trại, trong đó có chiến lược dài hạn nhằm nâng cao trình
độ cho lao động, cho chủ trang trại, đẻ có khả năng nhận thức và áp dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất
2.1.2.3 Về điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ phát triển trang trại
Dịch vụ hỗ trợ phát triển trang trại
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy đa số các trang trại NTTS hiện nay không gặpkhó khăn trong quá trình mua các yếu tố đầu vào cho sản xuất Kết quả phỏng vấn ýkiến đánh giá chung của các chủ trang trại cho thấy khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợsản xuất như bảng sau:
Bảng 2.7: Khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ sản xuất cho các trang trại
Trang 39Đơn vị tính: % trang trại
Dễ dàng Vừa phải Khó khăn
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa)
Chất lượng giống cây trồng vật nuôi hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu, vềchất lượng về giống còn gặp khó khăn: Với giống hiện có cho năng suất không cao, cótới 75/120 trang trại (chiếm 62,5%) cho rằng cần phải thay giống hiện có
Giá đầu vào của sản xuất nông nghiệp không ổn định Theo kết quả phỏng vấncác chủ trang trại cho thấy có 100% cá trang trại cho rằng, giá đầu vào biến động bấtlợi cho các hộ nông dân, giá các sản phẩm đầu vao tăng liên tục Bên cạnh đó các chủtrang trại thiếu những nhà cung cấp tin cậy, và thiếu thông tin về các nhà cung cấp nênkhông có cơ hội lựa chọn phương án tối ưu
Về điều kiện cơ sở hạ tầng
Cơ sở hà tầng tuy đã được đầu tư nhưng do đầu tư không đồng bộ nên chưa tạođược điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển Hệ thống kết cấu hạ tầng cơ
sở ở những vùng kinh tế trang trại phát triển tự phát, còn yếu kém, nhất là mạnglưới giao thông, thuỷ lợi, điện, đã làm hạn chế rất lớn đến điều kiện sản xuất cũngnhư đời sống sinh hoạt của các trang trại, gây trở ngại cho việc lưu thông và vậnchuyển hàng hóa, vật tư, làm tăng chi phí sản xuất, làm tăng gánh nặng cho cáctrang trại Do đó sản phẩm làm ra đang đang gặp kho khăn trong vận chuyển, nên phảitiêu thụ sản phẩm ngay tại trang trại với giá rẻ cho thương lái và bán buôn, hiệu quảkhông cao
Theo kết quả điều tra nghiên cứu cho thấy: Có 15/120 trang trại (chiếm 12,5%)
Trang 40có hệ thống giao thông không thuận lợi, đường vào trang trại nhỏ nên ô tô không vàođược đến nơi, vi vậy việc vận chuyển nguyên liêu phục vụ cho sản xuất và đem sảnphẩm đi tiêu thụ gặp khó khăn Có 11/120 trang trại (chiếm 9,2%) thấy khó khăn vềđiện sản xuất, điệm sản xuất thiếu ổn định, thường xuyên bị mất, chưa có hệ thốngđiện lưới kéo đến vùng trang trại Có 29/120 trang trại (chiếm 24,2%) thấy khó khăn
về hệ thống thủy lợi, hệ thống cấp nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và chưa cókênh thoát nước
2.1.2.4 Tình hình sử dụng máy móc và ứng dụng KHKT của trang trại
Trong thời gian qua, các trang trại luôn tự vận động, tìm tòi học hỏi kỹ thuật đểứng dụng vào sản xuất Việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý,nghiệp vụ quản trị kinh doanh và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mới cho cáctrang trại tuy có nhưng vẫn còn rất ít và chưa có bề sau; một số địa phương đã tổ chứccho cán bộ đi thăm những mô hình tiến tiến, tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn,chuyển giao công nghệ cho các trang trại
Tình hình ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật – công nghệ: Mãy móc phục vụ cho sảnxuất kinh doanh của các trang trại gồm có các loại: máy kéo, máy nghiền thức ăn, máyphát điện, máy bơm,
2.2 Phân tích tính khả thi về kinh tế và tài chính mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa
2.2.1.Thu thập số liệu
Để tiến hành đánh giá tính khả thi về kinh tế và tài chính của trang trại NTTS tỉnhThanh Hóa, bên cạnh những dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo của các tổchức khác nhau, còn tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp trực tiếp từ các hộ gia đình