Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống kinh tế xã hội của nước ta cũng có sự thay đổi, nhu cầu tiêu dùng cũng ngày càng cao. Xuất phát từ đòi hỏi của thị trường, các doanh nghiệp thương mại được thành lập ngày càng nhiều và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp này đã có những đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Sự phát triển của các doanh nghiệp thương mại không chỉ tạo thêm việc làm và của cải cho xã hội, mà còn góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Ngày nay, việc sử dụng các hóa chất không còn là xa lạ trong cuộc sống của người dân, các hóa chất được sử dụng trong mọi lĩnh vực từ y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng, thực phẩm, công nghiệp… cũng ngày càng nhiều.. Nắm bắt được nhu cầu của thị trường, các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất đã xuất hiện ngày càng nhiều. Tuy nhiên, việc các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất xuất hiện ngày càng nhiều, thì cũng tương đồng với việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt, để đứng vững được trên thị trường trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc tế hiện nay đòi hỏi các DN nói chung và DN kinh doanh hóa chất nói riêng phải luôn năng động, sáng tạo, đổi mới trong cách quản lý sao cho phù hợp với chính sách kinh tế của nhà nước. Muốn vậy, các doanh nghiệp thương mại nói chung, và doanh nghiệp kinh doanh hóa chất nói riêng phải kiện toàn lại hệ thống quản lý cũng như kế toán của DN. Một trong các hoạt động quan trọng của DN kinh doanh hóa chất là quá trình bán hàng, làm thế nào để thúc đẩy quá trình bán hàng và đảm bảo gia tăng lợi nhuận là mục đích kinh doanh của các DN hóa chất. Để đảm bảo được mục đích kinh doanh và có thể đứng vững trên thị trường thì các DN này ngoài việc quan tâm đến các vấn đề về vốn, nhân lực, công nghệ… thì các vấn đề về thông tin sản phẩm, thị trường, thị phần, uy tín, doanh thu, lợi nhuận cũng là những vấn đề quyết định đến sự sống còn của DN. Để có được các thông tin một cách đầy đủ, kịp thời cho các nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định về chiến lược kinh doanh thì một trong những vấn đề quan trọng của DN là phải tổ chức tốt thông tin doanh nghiệp, mà nòng cốt là tổ chức hạch toán kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh. Chính những vấn đề nêu trên đã đặt ra sự cấp thiết cho việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội”
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu
2 1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
1.7 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 6
2.1 Đặc điểm kinh doanh thương mại và vai trò của tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp thương mại 6
2.1.1 Đặc điểm kinh doanh thương mại 6
2.1.2 Vai trò của tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại 10
2.1.2.1 Yêu cầu đối với công tác quản lý hoạt động bán hàng 10
2.1.2.2 Vai trò của tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại 12
2.1.2.3 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại 15
2.2 Tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp thương mại 16
2.2.1 Tổ chức chứng từ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 17
Trang 22.2.2 Tổ chức tài khoản kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 24
2.2.2.1 Vai trò và nguyên tắc tổ chức hệ thống tài khoản 24
2.2.2.2 Tổ chức tài khoản kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 25
2.2.3 Tổ chức sổ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 31
2.2.3.1 vai trò và nguyên tắc tổ chức sổ kế toán 32
2.2.3.2 Tổ chức sổ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 33
2.2.4 Tổ chức báo cáo kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 39
2.2.4.1 Vai trò và nguyên tắc tổ chức báo cáo kế toán 39
2.2.4.2 Tổ chức báo cáo kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 40 2.2.5 Tổ chức kiểm tra kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 41
2.3 Bài học kinh nghiệm quốc tế về tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 42
2.3.1 Mô hình tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh của Mỹ 43
2.3.1.1 Kế toán quá trình bán hàng 43
2.3.1.2 Kế toán xác định kết quả bán hàng 43
2.3.2 Mô hình tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh của Pháp 43
2.3.2.1 Kế toán quá trình bán hàng 44
2.3.2.2 Kế toán xác định kết quả bán hàng 45
2.3.3 Bài học kinh nghiệm 47
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH HÓA CHẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 48 3.1 Tổng quan về các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội 48
Trang 3trường kinh doanh 49
3.1.3 Đặc điểm tổ chức kinh doanh và tổ chức quản lý tại các doanh nghiệp 55
3.1.3.1 Đặc điểm tổ chức kinh doanh 55
3.1.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý tại các doanh nghiệp 56
3.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán tại các doanh nghiệp 57
3.2 Thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà Nội 60
3.2.1 Thực trạng tổ chức chứng từ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 60
3.2.1.1 Chế độ chứng từ kế toán áp dụng 60
3.2.1.2 Danh mục chứng từ áp dụng 61
3.2.1.3 Tổ chức lập và luân chuyển chứng từ 62
3.2.2 Thực trạng tổ chức tài khoản kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 63
3.2.2.1 chế độ tài khoản áp dụng 63
3.2.2.2 Danh mục hệ thống tài khoản kế toán bán hàng áp dụng 63
3.2.3Thực trạng tổ chức sổ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 65 3.2.3.1 Chế độ sổ áp dụng: 65
3.2.3.2 Hình thức sổ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 65
3.2.4 Thực trạng tổ chức báo cáo kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 67
3.2.4.1 Chế độ kế toán áp dụng 67
3.2.4.2 Hệ thống báo cáo kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 67
3.2.5 Thực trạng tổ chức kiểm tra kế toán bán hàng và kết quả kinh
Trang 43.3.1 Những kết quả đạt được 70 3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 71
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH HÓA CHẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 78 4.1 Chiến lược phát triển và sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn hà nội 78
4.1.1 Chiến lược phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất Việt Nam 78 4.1.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội 79
4.2 Nguyên tắc và yêu cầu hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn hà nội 80
4.2.1 Nguyên tắc hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 81 4.2.2 Yêu cầu hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 81
4.3 Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn hà nội 82
4.3.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán 82 4.3.2 Hoàn thiện tổ chức hệ thống chứng từ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 85 4.3.3 Hoàn thiện tổ chức hệ thống tài khoản kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 87 4.3.4 Hoàn thiện hệ thống sổ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
Trang 5quả kinh doanh 90
4.3.6 Hoàn thiện công tác kiểm tra kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh 91
4.4 Điều kiện thực hiện các giải pháp 93
4.4.1 Điều kiện vĩ mô( từ phía Nhà nước) 93
4.4.2 Điều kiện vi mô( Về phía các doanh nghiệp) 95
4.5 Đóng góp của đề tài nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn 96
1 Về mặt lý luận: 96
2 Về mặt thực tiễn: 96
4.6 Những hạn chế của đề tài nghiên cứu và một số gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai 97
Kết luận chương 4 98
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống kinh tế xã hội của nước ta cũng
có sự thay đổi, nhu cầu tiêu dùng cũng ngày càng cao Xuất phát từ đòi hỏi của thịtrường, các doanh nghiệp thương mại được thành lập ngày càng nhiều và đóng vaitrò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp này đã có những đónggóp lớn vào sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Sự phát triển củacác doanh nghiệp thương mại không chỉ tạo thêm việc làm và của cải cho xã hội,
mà còn góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội
Ngày nay, việc sử dụng các hóa chất không còn là xa lạ trong cuộc sống củangười dân, các hóa chất được sử dụng trong mọi lĩnh vực từ y tế, giáo dục, an ninhquốc phòng, thực phẩm, công nghiệp… cũng ngày càng nhiều Nắm bắt được nhucầu của thị trường, các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất đã xuất hiện ngày càngnhiều Tuy nhiên, việc các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất xuất hiện ngày càngnhiều, thì cũng tương đồng với việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càngquyết liệt, để đứng vững được trên thị trường trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc
tế hiện nay đòi hỏi các DN nói chung và DN kinh doanh hóa chất nói riêng phảiluôn năng động, sáng tạo, đổi mới trong cách quản lý sao cho phù hợp với chínhsách kinh tế của nhà nước Muốn vậy, các doanh nghiệp thương mại nói chung, vàdoanh nghiệp kinh doanh hóa chất nói riêng phải kiện toàn lại hệ thống quản lýcũng như kế toán của DN
Một trong các hoạt động quan trọng của DN kinh doanh hóa chất là quá trìnhbán hàng, làm thế nào để thúc đẩy quá trình bán hàng và đảm bảo gia tăng lợi nhuận
là mục đích kinh doanh của các DN hóa chất Để đảm bảo được mục đích kinhdoanh và có thể đứng vững trên thị trường thì các DN này ngoài việc quan tâm đếncác vấn đề về vốn, nhân lực, công nghệ… thì các vấn đề về thông tin sản phẩm, thịtrường, thị phần, uy tín, doanh thu, lợi nhuận cũng là những vấn đề quyết định đến
Trang 7sự sống còn của DN Để có được các thông tin một cách đầy đủ, kịp thời cho cácnhà quản lý trong việc đưa ra quyết định về chiến lược kinh doanh thì một trongnhững vấn đề quan trọng của DN là phải tổ chức tốt thông tin doanh nghiệp, mànòng cốt là tổ chức hạch toán kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh.
Chính những vấn đề nêu trên đã đặt ra sự cấp thiết cho việc nghiên cứu đề tài:
“Hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội”
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tổ chức kế toán đã được nhiều tác giả đềcập trong nhiều tài liệu khác nhau, tập trung chủ yếu vào nghiên cứu tổ chức hạchtoán kế toán trong các doanh nghiệp…
Đề tài nghiên cứu về tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp có
Luận văn Thạc sỹ của tác giả (…) năm 2008: “Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trong các công ty sản xuất máy tính trên địa bàn Hà nội” tác giả đã đề cập đến
cơ sở lý luận của công tác tổ chức hạch toán kế toán nói chung trong các doanhnghiệp theo trình tự cụ thể; tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của các tác giả được giớihạn tại các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp sản xuất Các mô hình doanhnghiệp này có đặc thù về hoạt động và mô hình tổ chức kế toán cũng như quy định
về áp dụng chế độ kế toán khác với các doanh nghiệp thương mại
Ngoài ra, có Luận văn Thạc sỹ của tác giả …(2008): “Tổ chức công tác kế toán bán hàng tại các siêu thị kinh doanh tổng hợp” Tác giả mới chỉ đề cập đến cơ sở lý
luận về tổ chức công tác kế toán bán hàng trên phương diện nghiên cứu tổ chức kế toándoanh thu bán hàng, và tổ chức kế toán giá vốn hàng bán theo trình tự cụ thể
Liên quan đến tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh trong doanhnghiệp thương mại, tác giả cần tập trung nghiên cứu theo trình tự cụ thể từ tổ chứcchứng từ, tổ chức tài khoản, tổ chức sổ, tổ chức báo cáo và tổ chức kiểm tra kếtoansn bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp thương mại
Trang 81.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận tổ chức kế toán bán hàng vàkết quả kinh doanh tại các DN kinh doanh thương mại nói chung
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tạicác doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội Từ đó chỉ ra những mặtcòn hạn chế về tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
- Đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán bán hàng vàkết quả kinh doanh tại các DN kinh doanh hóa chất trên địa bàn hà nội
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là phần hành kế toán bán hàng và kết quả
kinh doanh tại các DN kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Do công tác hạch toán kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
là một vấn đề khá phức tạp Vì vậy, tác giả chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản của
tổ chức hạch toán kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh về tổ chức chứng từ kếtoán, tổ chức tài khoản kế toán, tổ chức sổ kế toán, tổ chức báo cáo kế toán và tổchức kiểm tra kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp kinhdoanh hóa chất trên địa bàn hà nội
Mặt khác, trong hoạt động của các doanh nghiệp này thì ngoài hoạt động kinhdoanh trong lĩnh vực hóa chất còn có cả các hoạt động khác như hoạt động tàichính, hoạt động khác…, Tuy nhiên, luận văn không thể bao quát hết tất cả các hoạtđộng mà chỉ tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn kế toán bán hàng và kết quảhoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh hóa chất tại các doanh nghiệp đểthực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phạm vi khảo sát: Trên thực tế hiện nay, Hóa chất có vai trò quan trọng trong
sự phát triển nền kinh tế, các sản phẩm hóa chất được sử dụng rộng rãi ở hầu hết tất
cả các ngành kinh tế cũng như trong mọi lĩnh vực đời sống hàng ngày Hóa chất cónhiều loại: hóa chất cơ bản, máy móc thiết bị, hóa chất công nghiệp, phụ gia hóachất, hóa chất y tế…Đặc biệt là trong hoạt động sản xuất công nghiệp Các ngành
Trang 9nghề sản xuất công nghiệp có sử dụng hóa chất bao gồm ngành chế biến thủy sản;chế biến thực phẩm; sản xuất và phân phối nước sạch, nước uống tinh khiết, nướcđá; sản xuất phân bón; in; sơn; nhựa, dược phẩm; cơ khí; gia công và chế tác vàng;sạc bình ắcquy; chế biến vật liệu xây dựng; Hóa chất và Phụ gia hóa chất chiếmmột tỷ lệ lớn trong nguyên vật liệu sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất Chính
vì vậy mà bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất nào liên quan đến hóa chất đều sử dụng
nó Nhất là trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, sản xuất với số lượng lớn …Do đó,các doanh nghiệp cung cấp hóa chất và phụ gia hóa chất cũng phát triển và cạnhtranh mạnh mẽ trên thị trường hiện nay Hầu hết các doanh nghiệp này có rất nhiềuđặc điểm chung như quy mô hoạt động thường hoạt động trên địa bàn rộng, môhình hoạt động chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, về hình thức sở hữu vốnthường tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp ngoài quốc doanh, dưới hình thức công
ty TNHH là chủ yếu Trong điều kiện của luận văn tác giả không nghiên cứu hết cácdoanh nghiệp kinh doanh hóa chất nói chung trên địa bàn hà nội, mà chỉ tập trungnghiên cứu các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất công nghiệp và phụ gia hóa chấtphục vụ cho các ngành công nghiệp, và khảo sát tại 2 doanh nghiệp là: Cty TNHHĐầu tư và Phát triển thị trường hóa chất và Cty TNHH FSI Việt nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợpnhững nguyên lý cơ bản của khoa học kinh tế để nghiên cứu các vấn đề lý luận liênquan đến tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh Đồng thời luận văn cũngvận dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống
kê, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp so sánh, kiểm định để phân tíchthực tiễn tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại một số doanh nghiệpkinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn nghiên cứu đề tài “ Hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quảkinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn hà nội” trongkhuôn khổ bài viết đã có được những đóng góp đáng kể trên những mặt sau:
Trang 10- Luận văn khái quát hóa lý luận về tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinhdoanh trong các doanh nghiệp thương mại.
- Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và kết quảtại một số doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn hà nội
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn nêu ra những phươnghướng và giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinhdoanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội nói riêng vàViệt Nam nói chung
- Luận văn đưa ra những điều kiện cần thực hiện trên phương diện Nhà nước
và các đơn vị hạch toán cơ sở để thực hiện các kiến nghị hoàn thiện tổ chức kế toánbán hàng và kết quả kinh doanh
1.7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, lời nói đầu, kếtluận, các phụ lục thì luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận chung về tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh
doanh tại các doanh nghiệp thương mại
Chương 3: Thực trạng về tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại
các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh
doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất trên địa bàn Hà nội
Trang 11CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
2.1 Đặc điểm kinh doanh thương mại và vai trò của tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp thương mại
2.1.1 Đặc điểm kinh doanh thương mại
Để tồn tại và phát triển con người cần nhiều nhu cầu khác nhau, muốn thỏamãn những nhu cầu ấy con người phải thông qua sản xuất và trao đổi các sản phẩmhàng hóa với nhau Với sự phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất ngàycàng phát triển tất yếu dẫn đến yêu cầu trao đổi sản phẩm giữa những người sảnxuất chuyên môn hóa với nhau Như vậy phân công lao động, chuyên môn hóa sảnxuất và tính chất sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra là nguồngốc xuất hiện thương mại Thương mại chính là trung gian trao đổi giữa người sảnxuất và người tiêu dùng Thương mại ra đời đã tạo thuận tiện cho nhà sản xuất rútngắn thời gian trao đổi hàng hóa tập trung cho sản xuất, chính vì thế nên phân cônglao động xã hội càng trở nên sâu sắc
Thương mại là một phạm trù kinh tế, một lĩnh vực hoạt động của con ngườiliên quan đến các hành vi mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường
Kinh doanh thương mại là sự đầu tư tiền của, công sức của cá nhân hoặc tổchức vào việc mua bán hàng hóa đó nhằm thực hiện chức năng lưu thông, phânphối hàng hóa với mục đích tối đa hóa lợi nhuận
Thương mại và kinh doanh thương mại có mối liên hệ mật thiết với nhau.Khi nói đến thương mại là nói đến sự trao đổi hàng hóa thông qua mua bán trên thịtrường, ở đâu có nhu cầu thì ở đó có thương mại Tham gia hoạt động thương mại
có các doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại Như vậy, doanh nghiệpthương mại chính là trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Nhà sản xuất,sản xuất ra sản phẩm để bán và họ có thể bán trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc bán
Trang 12thông qua các trung gian phân phối Sự ra đời của các trung gian phân phối làm choquá trình mua bán giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trở nên thuận tiện hơn, hiệuquả xã hội cao hơn Nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng sẵn sàng cũng như chấpnhận và trả công cho sự tham gia của các trung gian phân phối đây chính là cácdoanh nghiệp thương mại Hoạt động trao đổi thông qua mua bán trong nền kinh tếtạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển ngành kinh doanh thương mại, các doanhnghiệp thương mại Nơi nào có nhu cầu trao đổi hàng hóa ở đó có hoạt động thươngmại, các doanh nghiệp thương mại Dù hoạt động kinh doanh trong bất kỳ lĩnh vựcnào thì mục đích chính của các doanh nghiệp là lợi nhuận Lợi nhuận của các doanhnghiệp thương mại chính là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua quátrình mua bán hàng hóa.
Thương mại buộc các nhà sản xuất phải đa dạng về loại hình, kiểu dáng,mẫu mã, chất lượng sản phẩm Điều này tác động ngược lại người tiêu dùng, làmbật dậy các nhu cầu tiềm tàng Hoạt động thương mại giúp quan hệ kinh tế đốingoại của một quốc gia không ngừng phát triển Điều đó giúp quốc gia tận dụngđược ưu thế của thời đại, phát huy được lợi thế so sánh, từng bước gia nhập thịtrường quốc tế Thương mại phát triển thị trường được mở rộng vai trò điều tiết,hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại càng được nâng cao
Nhờ các doanh nghiệp thương mại các nhà sản xuất tiêu thụ nhanh đượchàng hóa và người tiêu dùng được cung ứng những hàng hóa dịch vụ một cách đầy
đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng số lượng, chất lượng và thời gian yêu cầu Là một khâuquan trọng của quá trình tái sản xuất và lợi thế thường xuyên tiếp xúc với người tiêudùng, doanh nghiệp thương mại nắm rõ nhu cầu của khách hàng để có kế hoạch dựtrữ thích hợp đạt hiệu quả cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng Với chức nănglưu thông hàng hóa doanh nghiệp thương mại thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ khoahọc công nghệ tiên tiến vào sản xuất, thúc đẩy nhu cầu, đảm bảo cho người sản xuấtcũng như người tiêu dùng những hàng hóa tốt, văn minh, hiện đại Như vậy, thươngmại tăng trưởng nhu cầu xã hội và là gốc rễ cho sự phát triển sản xuất
Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nhu cầu mua sắm
Trang 13hàng hóa của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là rất lớn Đặc biệt, kể từ khiViệt nam ra nhập WTO thì ngành kinh doanh trong lĩnh vực thương mại của chúng
ta không chỉ ở phạm vi trong nước mà còn có sự tham gia của các doanh nghiệpthương mại, những nhà phân phối thế giới Do vậy, tất cả các doanh nghiệp thươngmại sẽ phát huy tối đa vai trò là khâu trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêudùng, thực hiện chức năng của mình là mua bán trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụphục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Từ những phân tích trên, kinh doanh thươngmại có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Đặc điểm về hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thương mại
là lưu chuyển hàng hóa Lưu chuyển hàng hóa là quá trình đưa hàng hóa từ nơi sảnxuất đến nơi tiêu dùng thông qua quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ
- Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hóa: lưu chuyển hàng hóa trong
kinh doanh thương mại có thể theo một trong hai phương thức là bán buôn và bán
lẻ Bán buôn hàng hóa là bán cho người kinh doanh trung gian chứ không bán thẳngcho người tiêu dùng Bán lẻ hàng hóa là việc bán thẳng cho người tiêu dùng, từngcái, từng ít một…Đặc trưng của lưu chuyển hàng hóa bán buôn là khi kết thúc quátrình bán buôn hàng hóa vẫn ở trong lĩnh vực lưu thông hoặc chuyển vào lĩnh vựcsản xuất để gia công chế biến rồi trở lại lĩnh vực lưu thông Còn đặc trưng của bán
lẻ hàng hóa là khi kết thúc quá trình bán lẻ hàng hóa thoát ra khỏi lĩnh vực lưuthông chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng, chấm dứt khâu lưu thông hàng hóa Hiện naytrong xu thế phát triển, với xự xuất hiện của các nhà phân phối, tập đoàn phân phốihàng hóa trong lĩnh vực thương mại theo cả hai hình thức bán buôn và bán lẻ, tùyvào đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp thương mại mà họ có thể tham giatrong lĩnh vực bán buôn hay phân phối trong lĩnh vực bán lẻ hoặc kết hợp cả hai.Hàng hóa trong kinh doanh thương mại tùy thuộc vào nguồn hàng và ngành hàng vìvậy thời gian lưu chuyển hàng hóa cũng khác nhau giữa các loại hàng
- Đặc điểm về hàng hóa: Hàng hóa trong kinh doanh thương mại gồm các loại
Trang 14vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái mà doanh nghiệp mua
về với mục đích để bán Hàng hóa trong doanh nghiệp được hình thành chủ yếu domua ngoài Ngoài ra, hàng hóa còn có thể được hình thành do nhận vốn góp, donhận thu nhập liên doanh, do thu hồi nợ… Mục đích của hàng hóa là mua về để bánchứ không phải sử dụng để chế tạo sản phẩm hay thực hiện các dịch vụ trong doanhnghiệp Hàng hóa trong doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thứckhác nhau như; phân theo ngành hàng (hàng công nghệ phẩm; hàng nông, lâm, sản,thực phẩm; hàng tư liệu sản xuất; hàng tư liệu tiêu dùng….), phân theo nguồn hìnhthành (hàng thu mua trong nước, hàng nhập khẩu; hàng nhận vốn góp,…), phântheo bộ phận kinh doanh, … Tùy theo hàng hóa kinh doanh và trình độ quản lý củamình mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn tiêu thức phân loại hàng hóa cho phù hợp Qua
đó, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán cũng như công tác quản lý, xác địnhđược một cách chính xác kết quả kinh doanh từng mặt hàng, ngành hàng cũng nhưkết quả kinh doanh của từng bộ phận kinh doanh
- Đặc điểm về tổ chức kinh doanh: Có rất nhiều hình thức tổ chức bán hàng
trong doanh nghiệp thương mại Nếu theo tính chất mặt hàng kinh doanh có thể chia
ra hai hình thức bán hàng đó là bán hàng theo hình thức chuyên doanh và hình thứckinh doanh tổng hợp Bán hàng theo hình thức chuyên doanh là hình thức kinhdoanh trong một lĩnh vực hay một ngành hàng bất kỳ như doanh nghiệp chuyênkinh doanh về đồ gỗ hoặc chuyên về đồ điện tử, điện lạnh… Hình thức kinh doanhtổng hợp là hình thức kinh doanh, phân phối hàng hóa đa dạng với các loại hàng hóathuộc nhiều ngành nghề và nhiều lĩnh vực khác nhau như công ty thương mại tổnghợp, các trung tâm thương mại, siêu thị…Trong xu thế phát triển của thế giới cáchình thức kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại hiện nay tại nước ta ngàycàng phát triển đặc biệt là các hình thức tổ chức kinh doanh, phân phối hiện đại nhưcác trung tâm thương mại, các siêu thị Đối với các doanh nghiệp thương mạichuyên doanh trong một lĩnh vực hay một ngành hàng thì họ kinh doanh chuyên sâu
về từng chủng loại, kiểu dáng, kích cỡ, tính năng sử dụng… của từng loại mặt hàng.Còn đối với doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp thì kinh doanh đa dạng mặt hàng
Trang 15đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng Tùy từng doanh nghiệp mà ápdụng hình thức kinh doanh cho phù hợp với doanh nghiệp của mình, điều quantrọng là làm sao đạt được lợi nhuận cao nhất Lợi nhuận là kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp, là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để đạt đượcdoanh thu đó Trong kinh doanh lợi nhuận là mục tiêu của các doanh nghiệp nóichung và doanh nghiệp thương mại nói riêng Để đạt được lợi nhuận cao nhất cácdoanh nghiệp thương mại phải quan tâm đến vấn đề tiêu thụ hàng hóa và muốn biếtkết quả của quá trình tiêu thụ hàng hóa doanh nghiệp phải thông qua doanh thu vàchi phí của quá trình tiêu thụ hàng hóa Doanh thu, chi phí quá trình bán hàng là hainhân tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Doanh thucao, chi phi thấp luôn là sự mong muốn của các doanh nghiệp Chính vì thế, cácdoanh nghiệp thương mại quan tâm, theo dõi thường xuyên khối lượng, chất lượnghàng hóa cung cấp cũng như giá bán và chi phí cho từng mặt hàng bán ra Lợinhuận của doanh nghiệp thương mại thông qua quá trình mua vào bán ra chính vìvậy doanh nghiệp thương mại luôn chú trọng nhu cầu của khách hàng để có thể thỏamãn tối đa các nhu cầu đó và như vậy cũng đồng nghĩa với việc tăng doanh thu củadoanh nghiệp Muốn tăng doanh thu của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự quản lý tốthoạt động bán hàng của doanh nghiệp Biết được đặc điểm hoạt động và tầm quantrọng của các doanh nghiệp thương mại chính vì thế các doanh nghiệp thương mạiphải quan tâm đến hoạt động quản lý bán hàng để từ đó thúc đẩy quá trình bán hàngcủa doanh nghiệp
2.1.2 Vai trò của tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại
2.1.2.1 Yêu cầu đối với công tác quản lý hoạt động bán hàng
Do bán hàng đóng vai trò rất quan trọng và là yếu tố căn bản tác động trực tiếpđến lợi nhuận của doanh nghiệp, nên doanh nghiệp thương mại phải quan tâm, theodõi, quản lý thường xuyên hoạt động bán hàng nói chung và đối với từng mặt hàngbán ra nói riêng Lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại được tạo ra thông qua quátrình mua vào, bán ra hàng hóa Vì vậy, các doanh nghiệp thương mại phải quản lý tốt
Trang 16quá trình bán hàng , thúc đẩy quá trình bán hàng giúp tăng cường quá trình lưu chuyểnhàng hóa Quản lý tốt quá trình bán hàng có ý nghĩa quan trọng, nó tác động trực tiếpđến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Mặc dù các doanh nghiệp thương mại cónhiều mô hình hoạt động khác nhau như doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ, nhà phân phốitrong lĩnh vực bán buôn, nhà phân phối trong lĩnh vực bán lẻ, chuyên doanh hay kinhdoanh tổng hợp… Nhưng để quản lý tốt được hoạt động bán hàng của mình, thì cácdoanh nghiệp thương mại đều phải đáp ứng các yêu cầu quản lý sau:
Nghiên cứu nhu cầu thị trường và những yêu cầu của khách hàng để tìmkiếm nguồn hàng thỏa mãn tối đa nhất các nhu cầu của khách hàng Từ đó đưa rađược kế hoạch nhập hàng hóa phục vụ cho công việc kinh doanh theo tháng, quý,năm một cách hợp lý nhất
Quản lý được quá trình nhập xuất hàng hóa từ công tác vận chuyển trong quátrình mua đến khi bán về các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và đơn giá Xác định sốlượng hàng hóa bán ra cần thiết để từ đó có kế hoạch mua và dự trữ tồn kho thíchhợp, đa dạng về mặt hàng, phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu thị trường mộtcách hợp lý và kịp thời Ngoài ra doanh nghiệp còn phải có chính sách giá thích hợp
để thúc đẩy quá trình tiêu thụ hàng hóa đảm bảo nguồn vốn sử dụng có hiệu quảnhất, không bị tồn đọng vốn hàng hóa, và không bi chiếm dụng vốn bởi khách hàng
Quản lý tốt công tác dự trữ tồn kho đối với từng mặt hàng, cần xác định cơcấu, số lượng dự trữ sao cho hợp lý để đáp ứng kịp thời quá tình lưu thông hàng hóatrên thị trường Mặt khác, phải có phương pháp bảo quản, giữ gìn hàng hóa ở các khoquầy hàng về số lượng tồn kho tránh mất mát, thất thoát nhầm lẫn… Về chất lượngphải bảo quản tránh hư hỏng, giảm chất lượng ảnh hưởng tới giá trị hàng hóa và tới quátrình tiêu thụ, đồng thời phải tuân thủ yêu cầu dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm tra Phải cóchính sách giá và chính sách bán những hàng hóa ứ đọng trong doanh nghiệp
Quản lý mở rộng kênh phân phối hàng hóa hợp lý, việc áp dụng các kênhphân phối hợp lý cho phép giảm đáng kể lượng dự trữ hàng hóa Phát triển và mởrộng những kênh phân phối gián tiếp, hình thành mạng lưới trạm liên vùng, áp dụnghình thức dịch vụ, trung tâm phân phối hàng hóa
Quản lý các phương thức bán hàng, phương thức thanh toán từng loại hàng
Trang 17bán ra, từng loại khách hàng Trong việc quyết định về tổ chức bán hàng doanhnghiệp cần có chính sách quản lý phù hợp các đối tượng là người tiêu dùng hay cáccông ty thương mại khác để có những chính sách giá phù hợp Tuy nhiên, một yêucầu quan trọng trong bán hàng là quản lý những khoản nợ phải thu sao cho nguồnvốn ít bị chiếm dụng nhất lại không ảnh hưởng đến mối quan hệ với khách hàngcũng như thu hút được khách hàng Chính vì vậy, doanh nghiệp phải quản lý tốt cáchợp đồng bán, theo dõi các hợp đồng đã ký, thời hạn thanh toán của từng kháchhàng để có phương pháp thu hồi nợ thích hợp cho từng khách hàng có số dư Nợ
Tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ trong quá trình bán hàng của doanh nghiệpbao gồm cả các hoạt động dịch vụ sau bán hàng và chăm sóc khách hàng Đặc điểmnày tạo được niềm tin đối với khách hàng từ đó có thể giúp cho công việc kinhdoanh thuận lợi hơn
Hiện nay, trong xu thế hội nhập mở cửa, nhu cầu mua sắm hàng hóa trên thếgiới cũng như ở Việt nam là rất lớn, chính vì vậy các hoạt động thương mại ngàycàng phát triển, đây là động lực để các doanh nghiệp thương mại phát triển khôngchỉ trong nước mà còn vươn ra ngoài thế giới Điều này cũng là một thách thức lớn đốivới các doanh nghiệp thương mại, sự cạnh tranh không chỉ giữa các doanh nghiệptrong nước mà giờ đây còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, nhữngnhà phân phối của thế giới Vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ quản lý tốt hoạt độngbán hàng trong nước mà còn phải có những chính sách quản lý hoạt động bán hàng rangoài biên giới để đáp ứng nhu cầu hội nhập mở cửa kinh tế quốc tế
2.1.2.2 Vai trò của tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh trongdoanh nghiệp thương mại
Vai trò quan trọng của công tác kế toán nói chung đã được khẳng định trongđiều lệ tổ chức kế toán Nhà nước: “ Đối với nhà nước, kế toán là công cụ quan trọng
để tính toán, xây dựng và kiểm tra việc chấp hành ngân sách Nhà nước, để điềuhành và quản lý nền kinh tế quốc dân Đối với tổ chức, xí nghiệp, kế toán là công cụquan trọng để điều hành, quản lý các hoạt động,tính toán kinh tế và kiểm tra việcbảo vệ, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản
Trang 18xuất kinh doanh và chủ động tài chính của tổ chức, xí nghiệp”
Thông tin kế toán có ý nghĩa to lớn không những đối với cơ quan, đơn vị cánhân bên ngoài doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ đạo, điềuhành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với một doanh nghiệpnói chung, thông tin kế toán phản ánh toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, công
nợ, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ
kế toán Thông tin kế toán được thể hiện trong các chứng từ kế toán, phản ánh trongcác sổ kế toán chi tiết, tổng hợp và trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp thương mại nói riêng, bán hàng đóng vai trò quantrọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, yêu cầuquản lý đối với hoạt động bán hàng hết sức chặt chẽ, nó là yếu tố căn bản tác độngtrực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Muốn quản lý tốt hoạt động bán hàng,trước tiên doanh nghiệp phải quản lý tốt công tác tổ chức kế toán bán hàng và kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp
Tổ chức hiểu theo nghĩa chung nhất là thành lập mối liên hệ qua lại theo mộttrật tự xác định giữa các yếu tố quyết định bản chất, chức năng và mục tiêu cần đạtđược của hệ thống kế toán
Trong điều kiện kinh tế thị trường, nhu cầu về thông tin cho quản lý cần phảinhanh chóng, kịp thời chính xác đòi hỏi hạch toán kế toán phải được tổ chức khoahọc, hợp lý, phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị Theo xu hướng đó, kế toán trởthành một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý nói chung và kế toán bán hàng vàkết quả kinh doanh cũng là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống quản lý của doanhnghiệp thương mại nói riêng Do đó, việc tổ chức tốt kế toán bán hàng và kết quảkinh doanh có một vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý của doanhnghiệp thương mại Vai trò đó được thể hiện ở những điểm sau:
Vai trò cung cấp thông tin: trong doanh nghiệp kế toán thu thập và cung cấp
thông tin về sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.Đối với kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại vai trò cung cấp thông tinthể hiện ở việc thu thập thông tin về tình hình xuất nhập và tồn kho vật tư hàng hóa,
Trang 19tình hình bán hàng của doanh nghiệp, số tiền thu được cũng như các khoản công
nợ, tình hình thu hồi các khoản nợ… Với chức năng thông tin, kế toán bán hàngcung cấp thông tin kịp thời cho nhà quản trị và những người sử dụng thông tin vềtình hình kinh doanh từng mặt hàng, từng khách hàng chi tiết từng khoản thu về dobán từng mặt hàng và các khoản nợ của từng khách hàng…Với vai trò thông tin,việc tổ chức tốt kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh đảm bảo cho việc hạch toán
kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh thực hiện việc thu nhận, xử lý, tổng hợp vàcung cấp đầy đủ chính xác thông tin kinh tế phục vụ cho công tác quản lý kinhdoanh của doanh nghiệp Chỉ trong điều kiện như vậy, thông tin kế toán bán hàngcung cấp cho các nhà quản trị mới thực sự phát huy được vai trò quan trọng của nó
Nó giúp các nhà quản trị quản lý được ngành hàng mà mình đang kinh doanh Từ sốliệu kế toán bán hàng đưa ra giúp nhà quản lý phân tích được nhu cầu thực tế của thịtrường, kiểm soát được thị phần, doanh thu mà doanh nghiệp đã và đang có được
Từ đó đưa ra các quyết định về yêu cầu quản lý đối với hoạt động bán hàng, đưa racác chính sách bán hàng phù hợp đối với từng khách hàng, và từng mặt hàng cụ thể
để đưa ra phương hướng hoạt động của doanh nghiệp, những lựa chọn hợp lý đểđịnh hướng hoạt động của đơn vị có hiệu quả hơn trong tương lai
Đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp: Việc tổ chức tốt công tác kếtoán bán hàng và kết quả kinh doanh giúp đo lường các hoạt động kinh tế tài chínhbằng cách theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế tài chính phát sinh trong quá trìnhhoạt động của đơn vị và tiến hành ghi chép các dữ liệu thu nhận được từ hoạt độngbán hàng vào các chứng từ kế toán Tiếp theo là quá trình xử lý các dữ liệu thu nhậnđược thành những thông tin hữu ích theo yêu cầu của người sử dụng thông tin Quátrình xử lý được tiến hành qua việc phân loại, sắp xếp, hệ thống hóa và tổng hợp dữliệu Quá trình trên được thực hiện trên hệ thống tài khoản và sổ kế toán Nhữngthông tin được xử lý và truyền đạt qua báo cáo kế toán đến những người cần sửdụng thông tin Như vậy, việc tổ chức hạch toán tốt kế toán bán hàng và kết quảkinh doanh còn góp phần tạo nên uy tín của doanh nghiệp Từ đó họ yên tâm đầu tư
và ra các quyết định có lợi cho doanh nghiệp.Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh
Trang 20tranh gay gắt không cho phép các nhà đầu tư có quyết định đầu tư thiếu thận trọng
và không có cơ sở, trong khi các thông tin của tổ chức hạch toán kế toán lại là cơ sở
để họ có thể phân tích và ra quyết định đầu tư
Vai trò kiểm tra: Ngoài vai trò cung cấp thông tin thì việc tổ chức kế toán
bán hàng và kết quả kinh doanh thông qua ghi chép, tính toán, phản ánh kế toán sẽnắm được một cách có hệ thống toàn bộ tình hình và kết quả hoạt động bán hàngcủa doanh nghiệp Qua đó kiểm tra việc tính toán, ghi chép, phản ánh của kế toánbán hàng về độ chính xác, tính trung thực và kịp thời Kiểm tra việc chấp hành cácchế độ kế toán, thể lệ kế toán và kết quả công tác của kế toán bán hàng Thông quakiểm tra hoạt động bán hàng có thể đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, tình hình
sử dụng và bảo quản vật tư hàng hóa, tình hình chấp hành quy định về thanh toán…Thực hiện tốt vai trò kiểm tra là cơ sở để kế toán bán hàng cung cấp thông tin đángtin cậy phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá được đầy đủ, đúng đắn tình hình vàkết quả hoạt động bán hàng của đơn vị trong từng thời kỳ nhất định để kịp thời điềuchỉnh các quyết định, phương hướng một cách phù hợp nhằm không ngừng nângcao hiệu quả hoạt động bán hàng của doanh nghiệp
Mặt khác, việc tổ chức tốt công tác kế toán bán hàng và kết quả kinh doanhcòn giúp cho Nhà nước kiểm tra được tình hình chấp hành ngân sách, các chínhsách về thuế, chế độ quản lý tài chính của Nhà nước trong các doanh nghiệp GiúpNhà nước thực hiện việc quản lý vĩ mô nền kinh tế, định hướng phát triển nền kinh
tế Đề ra được các chính sách, chế độ quản lý phù hợp với thực tế, khắc phục tìnhtrạng kinh doanh trái pháp luật, đảm bảo công bằng trong kinh doanh giữa cácdoanh nghiệp
2.1.2.3 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Quá trình bán hàng là quá trình thực hiện giá trị của hàng bán đối với ngườibán và giá trị sử dụng của hàng bán đối với người mua theo mục đích kinh doanh.Bán hàng là giai đoạn doanh nghiệp thu hồi vốn bỏ ra trong quá trình kinh doanh.Đẩy nhanh tốc độ bán hàng sẽ góp phần tăng tốc độ luân chuyển vốn nói riêng vàhiệu quả sử dụng vốn nói chung Như vậy, để thực hiện tốt chức năng của mình
Trang 21nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp đầy đủ thông tin đáp ứng nhu cầu của các đốitượng sử dụng thông tin phục vụ cho công tác quản lý, điều hành có hiệu quả quátrình bán hàng kế toán bán hàng cần thực hiện tốt các nhiệm vụ:
- Thu thập dữ liệu thu nhận từ hoạt động bán hàng vào các chứng từ kế toán Tiếptheo là quá trình xử lý thông tin, đó là việc xử lý dữ liệu thu nhận được thành nhữngthông tin có ích theo yêu cầu của người sử dụng thông tin, quá trình xử lý được tiếnhành qua việc phân loại, sắp xếp, hệ thống hóa và tổng hợp các dữ liệu, số liệu kế toáncủa hoạt động bán hàng, được thực hiện trên hệ thống tài khoản và sổ kế toán theo cácđối tượng và nội dung công việc theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Hiệnnay, kế toán hoạt động bán hàng bị chi phối bởi các chuẩn mực như chuẩn mực số 02 “hàng tồn kho”, chuẩn mực số 14 “doanh thu và thu nhập khác”…
- Phản ánh, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng về chủngloại, số lượng, giá cả, chi phí bán hàng Hạch toán đầy đủ chính xác tình hình bánhàng cùng các chi phí phát sinh trong quá trình bán hàng Xác định kịp thời kết quảtừng mặt hàng bán ra để có những thay đổi phù hợp Kiểm tra, giám sát các khoản thuchi tài chính của hoạt động bán hàng, các nghĩa vụ thu nộp thanh toán nợ, nghĩa vụnộp thuế cho ngân sách Nhà nước, kiểm tra việc quản lý vật tư, hàng hóa và nguồn vốnkinh doanh Kiểm tra, giám sát các khoản công nợ tránh thất thu cho doanh nghiệp,phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán hoạt động bán hàng từ đó đưa ra các quyếtđịnh trong công tác bán hàng như tăng giảm mặt hàng kinh doanh, thu hồi các khoản nợcũng như phương hướng hoạt động của doanh nghiệp, tham mưu đề xuất các giải phápphục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính của đơn vị kế toán
Ngoài nhiệm vụ trên kế toán bán hàng còn phải cung cấp thông tin, số liệu
kế toán cho các cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật
2.2 Tổ chức kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại các doanh
Trang 22nghiệp thương mại.
2.2.1 Tổ chức chứng từ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
2.2.1.1 Vai trò và nguyên tắc tổ chức chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là phương pháp thông tin kiểm tra về trạng thái và sự biếnđộng của đối tượng hạch toán kế toán cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cho lãnh đạonghiệp vụ và làm căn cứ phân loại tổng hợp kế toán
Tổ chức chứng từ kế toán là tổ chức việc ban hành, ghi chép, luân chuyển vàlưu trữ tất cả các loại chứng từ kế toán sử dụng trong đơn vị nhằm đảm bảo tínhchính xác của thông tin, kiểm tra thông tin đó phục vụ cho việc ghi sổ kế toán vàtổng hợp kế toán
Vai trò của chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là một phần không thể thiếu trong tất cả các đơn vị hạchtoán, không phân biệt các ngành sản xuất và các thành phần kinh tế khác nhau Việcghi chép một cách đầy đủ thông tin trên chứng từ kế toán là công việc đầu tiên củacông tác kế toán và có ý nghĩa vô cùng quan trọng điều đó được thể hiện:
- Về phương diện quản lý, mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được thể hiệntrên chứng từ Dựa vào chứng từ kế toán nhằm cung cấp nhanh thông tin cho lãnhđạo nghiệp vụ ở đơn vị để đưa ra quyết định quản lý phù hợp Do vậy, tổ chức tốtchứng từ kế toán vừa cung cấp thông tin nhanh chóng cho quản lý đồng thời rútngắn thời gian luân chuyển chứng từ tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh
- Về phương diện kế toán, chứng từ là cơ sở để phân loại, tổng hợp các nghiệp vụkinh tế cho việc ghi chép vào sổ kế toán theo dõi từng đối tượng hạch toán cụ thể
- Về mặt pháp lý, chứng từ là căn cứ xác định trách nhiệm vật chất cảu các cánhân, các đơn vị liên quan đến nghiệp vụ kinh tế, đồng thời là căn cứ để giải quyếtcác mối quan hệ kinh tế - pháp lý thuộc đối tượng hạch toán kế toán Qua đó gópphần thực hiện triệt để hạch toán kinh doanh nội bộ, gắn liền với kích thích lợi íchvật chất và trách nhiệm vật chất
Nguyên tắc tổ chức hệ thống chứng từ
Chứng từ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp phải thực hiện theo đúng nội
Trang 23dung, phương pháp lập, ký chứng từ theo quy định của Luật kế toán và Nghị định số129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ, các văn bản pháp luật khác cóliên quan đến chứng từ kế toán và các quy định trong Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanhnghiệp bao gồm các nội dung sau:
- Tổ chức chứng từ phải căn cứ vào chế độ kế toán do Nhà nước ban hành, đượcthống nhất áp dụng về hệ thống biểu mẫu chứng từ bắt buộc để tổ chức vận dụng chế
độ hợp lý, hợp pháp là căn cứ pháp lý để ghi sổ kế toán và thông tin cho quản lý
- Tổ chức chứng từ phải căn cứ vào quy mô tài sản, nguồn vốn, đặc điểm sản xuấtkinh doanh và trình độ tổ chức quản lý để xác định số lượng, chủng loại chứng từ hợp lý
- Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán phải căn cứ vào yêu cầu quản lý tài sản
và tình hình biến động của chúng để tổ chức sử dụng chứng từ thích hợp và luânchuyển chứng từ giữa các bộ phận liên quan
- Tổ chức vận dụng chứng từ phải căn cứ vào nội dung và đặc điểm của từngloại chứng từ
- Đối với những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì những chứng từ
kế toán phát sinh thường xuyên bên ngoài Việt Nam của các bên góp vốn phải đượcđăng ký mẫu trước trong hồ sơ đăng ký chế độ kế toán và phải dịch sang tiếng Việttên gọi chứng từ và những nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong việc điều hành và quản lý nền kinh
tế quốc dân, Bộ tài chính ban hành chế độ chứng từ kế toán cùng với các bộ phậncấu thành khác của hệ thống kế toán doanh nghiệp, bao gồm hệ thống chứng từ kếtoán bắt buộc và hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn Tất cả các đơn vị, cá nhânthuộc các lĩnh vực, các thành phần kinh tế đều phải áp dụng chế độ chứng từ kếtoán Trong quá trình thực hiện, đối với hệ thống chứng từ kế toán thống nhất bắtbuộc, các đơn vị không được thêm bớt, sửa đổi biểu mẫu quy định trong chế độ Khimuốn sửa đổi, bổ xung biểu mẫu để phù hợp với đặc thù ngành, đơn vị phải có sựchấp thuận của Bộ tài chính bằng văn bản
2.2.1.2 Tổ chức chứng từ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
- Lựa chọn loại chứng từ: nghiệp vụ bán hàng là hành vi giao nhận và thực
Trang 24hiện giá trị của hàng bán đối với người bán và giá trị sử dụng của háng bán đối vớingười mua Bán hàng là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa theo thỏathuận từ người bán sang người mua Quá trình thanh toán tiền hàng trên cơ sởchứng từ bán hàng theo các phương thức khác nhau được thỏa thuận Bán hàng cóthể được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau được cam kết trong chứng từmua bán Có nhiều loại chứng từ sử dụng trong quá trình bán hàng Tùy vào từngloại hình kinh doanh và đặc thù kinh doanh của mình mà doanh nghiệp lựa chọnnhững loại chứng từ phù hợp Các chứng từ đó bao gồm:
+ Chứng từ gốc thể hiện mục đích bán hàng: Hợp đồng mua bán, cam kết,phiếu đặt hàng…
+ Chứng từ bán hàng gồm :
Các loại hóa đơn ban hành theo TT153/2010/TT-BTC.
1- Hoá đơn giá trị gia tăng
2- Hoá đơn bán hàng
3- Hoá đơn xuất khẩu
4- Hóa đơn bán hàng (dành cho tổ chức, cá nhân trong khu
phi thuế quan)
5- Các chứng từ được quản lý như hóa đơn gồm:
+ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển hàng hóa nội bộ;
+ Phiếu xuất kho gửi bán hàng đại lý
01GTKT02GTTT06HDXK07KPTQ
03XKNB04HGDL
Báo cáo bán hàng; bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ; Bảng thanh toán hàngđại lý (ký gửi)
Thẻ quầy hàng; Giấy nộp tiền; Bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày;
Hóa đơn bán lẻ;
Các chứng từ khác có liên quan ( chứng từ đặc thù như tem, vé, thẻ in sẵnmệnh giá…)
Trang 25Phiếu đề nghị xuất hàng, phiếu giao hàng hoặc phiếu xuất kho…
Chứng từ bán hàng do người bán hàng lập tối thiểu 02 liên trở lên và tối đakhông quá 09 liên, phản ánh nghiệp vụ bán buôn hoặc bán lẻ sản phẩm, hàng hóa,trong đó:
Liên 1: Lưu
Liên 2: Giao cho người mua
Các liên từ liên thứ 3 trở đi được đặt tên theo công dụng cụ thể mà người tạohoá đơn quy định Riêng hoá đơn do cơ quan thuế cấp lẻ phải có 3 liên, trong đóliên 3 là liên lưu tại cơ quan thuế
- Tổ chức quá trình lập chứng từ : Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính
phát sinh liên quan đến quá trình bán hàng của doanh nghiệp đều phải lập chứng từ.Chứng từ chỉ được lập một lần cho mỗi nghiệp vụ bán hàng, đối với chứng từ điện
tử phải in ra giấy và lưu trữ như các chứng từ kế toán khác
Theo quy định tại Thông tư 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ tài chính
Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả cáctrường hợp hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hoá,dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêudùng nội bộ (trừ hàng hoá luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuấthàng hoá dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hoá
Nội dung trên hóa đơn phải đúng nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh;không được tẩy xóa, sửa chữa; phải dùng cùng màu mực, loại mực không phai,không sử dụng mực đỏ; chữ số và chữ viết phải liên tục, không ngắt quãng, khôngviết hoặc in đè lên chữ in sẵn và gạch chéo phần còn trống (nếu có)
Hoá đơn được lập một lần thành nhiều liên Nội dung lập trên hóa đơn phảiđược thống nhất trên các liên hóa đơn có cùng một số
Hoá đơn được lập theo thứ tự liên tục từ số nhỏ đến số lớn
- Tổ chức quá trình kiểm tra chứng từ:
Kế toán nhận bất cứ một chứng từ nào liên quan đến nghiệp vụ bán hàng đềuphải kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp và hợp lý của chứng từ: các yếu tồ của chứng từ,
Trang 26chữ ký của người có liên quan, con dấu, tính chính xác của số liệu trên chứng từ.Chỉ sau khi chứng từ đã được kiểm tra và đảm bảo hợp lý, hợp lệ thì kế toán bánhàng mới được dùng làm căn cứ để ghi sổ kế toán
- Tổ chức quá trình bảo quản và lưu trữ chứng từ:
Các chứng từ kế toán nói chung, cũng như chứng từ liên quan đến nghiệp vụbán hàng là căn cứ pháp lý để ghi sổ đồng thời là tài liệu lịch sử của doanh nghiệp
Vì vậy, khi kết thúc kỳ hạch toán, chứng từ được chuyển sang lưu trữ nhằm đảmbảo an toàn, tránh mất mát, khi cần có thể tìm được nhanh chóng Khi hết thời hạnlưu trữ, chứng từ được hủy theo quy định
- Tổ chức luân chuyển chứng từ bán hàng
Việc luân chuyển chứng từ bán hàng là thiết lập đường đi cho mỗi loại chứng
từ, từ khâu lập, thu nhận, kiểm tra, hoàn chỉnh, sử dụng và bảo quản lưu trữ chứng
từ nhằm giúp việc ghi sổ kế toán, thông tin bán hàng nội bộ được khoa học, nhanhchóng, bảo quản chặt chẽ
Quy trình luân chuyển chứng từ bán hàng như sau:
Đối với phương thức bán buôn hàng hóa
1 Người mua hàng đề nghị được mua thông qua hợp đồng hoặc đơn đặt hàng
đã ký kết
2 Phòng cung ứng hoặc phòng kinh doanh duyệt lệnh xuất
3 Bộ phận kinh doanh lập hóa đơn GTGT
4 Kế toán thanh toán lập phiếu thu ( nếu khách hàng thanh toán ngay) vàchuyển phiếu thu cho thủ quỹ
5 Thủ quỹ thu tiền và ký vào phiếu sau đó chuyển đến cho kế toán bán hàng
6 Thủ kho căn cứ vào hóa đơn xuất hàng tiến hành cho xuất hàng, ghi vàophiếu xuất kho, thẻ kho, chuyển các chứng từ cho kế toán bán hàng
7 Kế toán bán hàng định khoản và ghi sổ kế toán chi tiết; bảo quản chứng từtrong kỳ và chuyển vào lưu trữ khi đến hạn
Trang 27Sơ đồ 2.1: Quy trình luân chuyển chứng từ phản ánh nghiệp vụ bán buôn hàng hóa
Tùy vào từng phương thức bán hàng mà quy trình bán hàng và luân chuyểnchứng từ có thể có đầy đủ các bước nêu trên hoặc không đầy đủ các bước
Tại bước 3 hóa đơn có thể được lập tách biệt với phiếu xuất kho hoặc có thể sửdụng hóa đơn kiêm phiếu xuất kho Khi đó cột đơn giá ghi trên hóa đơn kiêm phiếuxuất kho là giá bán và tổng doanh thu Đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩuhàng hóa thì Hóa đơn xuất khẩu được lập riêng theo mẫu quy định kèm với bảng chitiết đóng gói hàng hóa
Bước 4 và 5 chỉ áp dụng trong trường hợp bán hàng thu tiền ngay, nếu bánchịu thì không áp dụng 2 bước này
Bước 6 sẽ không được ghi nếu doanh nghiệp áp dụng phương thức bán thẳngkhông qua kho Nếu xuất hàng từ kho thì việc xuất kho hàng được thực hiện chỉ khi
đã hoàn thành tủ tục thu tiền
Quy trình luân chuyển chứng từ theo Sơ đồ 2.1 chỉ áp dụng trong trường hợp
thanh toán bằng tiền mặt, trong trường hợp thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng như vậybước 4, bước 5 sẽ có giấy báo Có của ngân hàng và kế toán theo dõi ngân hàng ghi sổ
Đối với phương thức bán lẻ hàng hóa.
Phương thức này có thể thực hiện dưới các hình thức sau: Bán lẻ thu tiền tậptrung, bán lẻ thu tiền trực tiếp, bán lẻ tự phục vụ, bán trả góp hoặc bán hàng tự động Bước 1: Người mua nhận hàng rồi thanh toán
Lập
HĐ GTGT
Lập PT Nhập
quỹ
Xuất hàng Ghi sổ
Người
mua
Bộ phận C/Ư
Bộ phận kinh doanh
KT TT
Thủ quỹ
Thủ kho Kế toán
Lưu
Nghiệp
vụ bán
Trang 28Bước 2: Thu ngân thu tiền và in hóa đơn bán lẻ
Bước 3: Xác định lượng hàng bán viết hóa đơn GTGT
Bước 4: Thu ngân nộp tiền cho thủ quỹ
Bước 5: Kế toán tiến hành ghi sổ căn cứ vào bảng kê và báo cáo bán hàng
Sơ đồ 2.2: Quy trình luân chuyển chứng từ kế toán phản ánh nghiệp vụ bán lẻ hàng hóa
Đối với bán hàng theo phương thức bán hàng đại lý hoặc ký gửi hàng hóa.
Theo chế độ quy định, bên giao đại lý khi xuất hàng hóa chuyển giao cho các
cơ sở nhận làm đại lý bán đúng giá, hưởng hoa hồng, căn cứ vào phương thức tổchức kinh doanh và tổ chức công tác hạch toán, bên giao đại lý có thể lựa chọn mộttrong hai cách sử dụng hóa đơn chứng từ sau:
- Sử dụng hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng để làm căn cứ thanh toán
và kê khai nộp thuế GTGT ở từng đơn vị và từng khâu độc lập với nhau Trongtrường hợp này, bên giao đại lý hạch toán giống như tiêu thụ trực tiếp
- Sử dụng phiếu xuất hàng gửi bán đại lý kèm theo lệnh điều động nội bộ Theo cách này, cơ sở bán hàng gửi đại lý, ký gửi khi bán hàng phải lập hóađơn theo quy định, đồng thời lập bảng kê hàng hóa bán ra ( mẫu 02/GTGT) gửi vềcho cơ sở có hàng hóa gửi đại lý để cơ sở này lập hóa đơn GTGT cho hàng hóa thực
tế tiêu thụ làm cơ sở định khoản và ghi nhận doanh thu
Bán hàng theo phương thức thực hiện thương mại điện tử
Thu ngân Kế toán
Thủ quỹ Kế toán
Nhận hàng
Thu tiền, in hóa đơn bán lẻ
Lập
HĐ GTGT
Nhập quỹ Ghi sổ
Trang 29Ngày 09/06/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP vềthương mại điện tử, điều này đã đánh dấu một bước ngoặt trong thương mại điện tửtại Việt Nam Đến ngày 21/7/2008 Bộ công thương đã đưa ra Thông tư hướng dẫnNghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trênwebsite thương mại điện tử Theo Thông tư này, việc thực hiện giao kết hợp đồng
sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử được phápluật thừa nhận, nên việc giao kết hợp đồng và đặt hàng được thực hiện nhanh gọn,
do đó việc bán hàng thuân lợi hơn Sau khi các giao kết hợp đồng được thực hiệnthông qua website, bên bán hàng tiến hành làm thủ tục giao hàng và chứng từ chobên mua giống như trường hợp bán hàng trực tiếp
2.2.2 Tổ chức tài khoản kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
2.2.2.1 Vai trò và nguyên tắc tổ chức hệ thống tài khoản.
Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán là tổ chức vận dụng phương pháp tàikhoản để xây dựng hệ thống tài khoản trên góc độ ban hành chế độ và vận dụng chế
độ cho đơn vị hạch toán Hệ thống tài khoản kế toán là bộ phận cấu thành quantrọng trong toàn bộ hệ thống kế toán của doanh nghiệp
Vai trò của hệ thống tài khoản
Tài khoản kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh được sử dụng để theodõi và phản ánh tình hình biến động của từng loại hàng hóa, dịch vụ và các hoạtđộng liên quan đến bán hàng của doanh nghiệp Bởi vậy, để cung cấp đầy đủ thôngtin cho quản lý, các doanh nghiệp phải dùng rất nhiều tài khoản khác nhau mới cóthể bảo đảm phản ánh được toàn bộ các chỉ tiêu cần thiết
Tùy thuộc quy mô, điều kiện kinh doanh cụ thể và loại hình hoạt động, sởhữu của mình, trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán thống nhất do Nhà nước banhành, mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn những tài khoản thích hợp để vận dụng vàocông tác kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
Nguyên tắc tổ chức hệ thống tài khoản
Trang 30- Hệ thống tài khoản kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh ở đơn vị phải baoquát đầy đủ hoạt động kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động bán hàng
và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp
- Doanh nghiệp không mở thêm tài khoản cấp I ngoài hệ thống tài khoản kếtoán thống nhất mà Nhà nước ban hành
- Nội dung, kết cấu, phạm vi hạch toán trên các tài khoản phải được quy địnhphù hợp với đặc điểm ngành
- Hệ thống tài khoản kế toán xây dựng phải đáp ứng yêu cầu xử lý thông tinbằng máy vi tính và thỏa mãn nhu cầu thông tin cho đối tượng sử dụng
2.2.2.2 Tổ chức tài khoản kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
Để phản ánh kết quả kinh doanh từ hoạt động bán hàng ngoài các tài khoảnliên quan đến hàng hóa, công nợ, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp thì tàikhoản quan trọng phản ánh kết quả bán hàng là tài khoản loại 5 - doanh thu , tàikhoản 632 - giá vốn hàng bán và tài khoản 911 – Kết quả kinh doanh Cụ thể: Theo Quyết định số 15/2006QĐ-BTC của Bộ tài chính ngày 20/03/2006 tàikhoản loại 5 – Doanh thu, dùng để phản ánh toàn bộ doanh thu bán sản phẩm, hànghóa bất động sản đầu tư, dịch vụ, tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận đượcchia, các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại vàđược chia thành các nhóm như sau:
Tài khoản loại 5 – Doanh thu có 6 tài khoản, chia làm 3 nhóm
- Nhóm tài khoản 51 – Doanh thu, có 03 tài khoản
- Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Tài khoản 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ
- Tài khoản 515 – Doanh thu hoạt động tài chính
- Nhóm tài khoản 52- có 01 tài khoản
- Tài khoản 521 – Chiết khấu thương mại
- Nhóm tài khoản 53 – có 02 tài khoản
- Tài khoản 531 – Hàng bán trả lại
Trang 31- Tài khoản 532 – Giảm giá hàng bán
Nội dung tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tài khoản này dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ mà doanh nghiệp đã thực hiện và các khoản giảm trừ doanh thu Từ đó, tính radoanh thu tuần về tiêu thụ trong kỳ
Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, có 5 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hoá
- Tài khoản 5112 - Doanh thu bán các thành phẩm
- Tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ
- Tài khoản 5114 - Doanh thu trợ cấp, trợ giá
- Tài khoản 5117 - Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư
Theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ tài chính thì Tàikhoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, có 2 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hoá
- Tài khoản 5112 - Doanh thu bán các thành phẩm
Tài khoản 531 “ Hàng bán bị trả lại”
Tài khoản này dùng để theo dõi doanh thu của số hàng hóa, thành phẩm, dịch
vụ đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại
Tài khoản 532 “ Giảm giá hàng bán”
Tài khoản này dùng để theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán chấpnhận cho khách hàng trên giá bán đã thỏa thuận về lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch
vụ đã tiêu thụ do lỗi thuộc về người bán (hàng hóa kém, mất phẩm chất…) cáckhoản giảm giá phản ánh trên tài khoản này là các khoản giảm giá phát sinh sau khidoanh nghiệp đã bán hàng và phát hành hóa đơn
Tài khoản 521 “Chiết khấu thương mại”
Tài khoản này dùng để theo dõi toàn bộ các khoản chiết khấu thương mại chấpnhận cho khách hàng trên giá bán đã thỏa thuận về lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch
vụ đã tiêu thụ Các khoản chiết khấu thương mại này phải được ghi trên các hợpđồng kinh tế hay các cam kết về mua, bán hàng
Trang 32Trình tự kế toán các nghiệp vụ chủ yếu về doanh thu
Sơ đồ 2 3: Trình tự kế toán các nghiệp vụ về Doanh thu và các khoản giảm trừ
doanh thu
Tài khoản 632 “ Giá vốn hàng bán”
Trường hợp doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên
TK 632 dùng để ghi nhận giá vốn hàng bán theo các nghiệp vụ tiêu thụ hànghóa và kết chuyển, điều chỉnh giá vốn phục vụ việc cân đối xác định kết quả kinhdoanh Nội dung các nghiệp vụ ghi nhận trên TK 632 “ Giá vốn hàng bán” gồm: + Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã bán trong kỳ;
+ Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bình thường và chiphí sản xuất chung cố định không phân bổ được tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ;+ Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường
do trách nhiệm cá nhân gây ra;
+ Chi phí xây dựng, tự chế TSCĐ vượt trên mức bình thường không được tínhvào nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng, tự chế hoàn thành;
+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Chênh lệch giữa số dự phònggiảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng đã lập năm trước chưa
TK111,112,131 TK521,531,532
Các khoản giảm trừ
doanh thu phát sinh
Ghi giảm thuế GTT
của các khoản giảm
trừ nếu đượcc phép
TK3331
Doanh thu các sản phẩm hàng hóa xđ được tiêu thụ
TK 3331
Thuế GTGT đầu ra
Trang 34Sơ đồ 2 4: Trình tự kế toán giá vốn hàng bán theo PP kê khai thường xuyên( Theo
QĐ số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng BTC)
Sơ đồ 2.5: trình tự kế toán giá vốn hàng bán theo PP kiểm kê định kỳ (Theo QĐ số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng BTC)
Tài khoản 641 “Chi phí bán hàng”
Được dùng để tập hợp và kết chuyển chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ.Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ tài chính, Tàikhoản 641 được chi tiết theo các tài khoản sau:
- Tài khoản 6411: “ Chi phí nhân viên”
- Tài khoản 6412 “Chi phí vật liệu, bao bì”
- Tài khoản 6423 “Chi phí dụng cụ đồ dùng”
- Tài khoản 6414 “Chi phí khấu hao TSCĐ”
- Tài khoản 6415 “Chi phí bảo hành”
- Tài khoản 6416 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”
TK 611 TK 632
Trị giá vốn hàng hoá xuất bán trong kì
K/c giá vốn hàng bán tiêu thụ trong kỳ
TK 159
Trang 35- Tài khoản 6417 “Chi phí bằng tiền khác”
Tài khoản 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi phí phát sinh liên quan chungđến toàn doanh nghiệp như các chi phí quản trị kinh doanh và quản lý hành chính.Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ tài chính Tài khoản nàyđược chi tiết theo các tài khoản sau:
- Tài khoản 6421 “Chi phí nhân viên quản lý”
- Tài khoản 6422 “Chi phí vật liệu quản lý”
- Tài khoản 6423 “Chi phí đồ dùng văn phòng”
- Tài khoản 6424 “Chi phí khấu hao TSCĐ”
- Tài khoản 6425 “ Thuế, phí và lệ phí”
- Tài khoản 6426 “Chi phí dự phòng”
- Tài khoản 6427 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”
- Tài khoản 6428 “Chi phí bằng tiền khác”
Theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ tài chính, chi phíquản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng không được chi tiết theo các tài khoảnnhỏ hơn, mà sử dụng tài khoản 642: Chi phí quản lý kinh doanh, chi tiết theo hai tàikhoản cấp 2 là
- Tài khoản 6421 “Chi phí bán hàng”
- Tài khoản 6422 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”
Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”
Tài khoản này dùng để xác định và phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh vàcác hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán năm Kết quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, kếtquả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác Tuy nhiên, trong phạm vi bàiviết chỉ đề cập đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mà không đề cập đến kếtquả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác
Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu thuần
và trị giá vốn hàng bán (Gồm cả sản phẩm, hàng hoá, bất động sản đầu tư và dịch
vụ, giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp, chi phí liên quan đến hoạt động kinhdoanh bất động sản đầu tư, như: chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa, nâng cấp, chi
Trang 36phí cho thuê hoạt động, chi phí thanh lý, nhượng bán bất động sản đầu tư), chi phíbán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Bên Nợ:
- Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, và dịch vụ đã bán;
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp;
Tài khoản 911 không có số dư cuối kỳ
Sơ đồ hạch toán kết quả kinh doanh từ hoạt động kinh doanh
Sơ đồ 2.6: Sơ đồ hạch toán kết quả kinh doanh từ hoạt động bán hàng (Theo QĐ
số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng BTC)
2.2.3 Tổ chức sổ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
K/c Doanh thu thuần
K/c giá vốn hàng bán trong kỳ
TK 632
K/c Chi phí bán hàng
TK
635
Lãi từ hoạt động bán hàng
TK 421
Lỗ từ hoạt động bán hàng
TK 421
Cuối kỳ K/c Chi phí khác
TK 711
K/c Chi phí bán hàng, CP quản lý doanh nghiệp
TK 641, 642
Trang 372.2.3.1 vai trò và nguyên tắc tổ chức sổ kế toán
Sổ kế toán là một phương tiện dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộcác nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tựthời gian có liên quan đến doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải thực hiện các quy định về sổ kế toán trong Luật kế toán,Nghị định 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán trong lĩnh vực kinh doanh, các vănbản hướng dẫn thi hành luật kế toán và chế độ kế toán ban hành theoQĐ15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ tài chính chế độ kế toán doanhnghiệp Căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản
lý, trình độ nghiệp cụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật tính toán,lựa chọn một hình thức kế toán phù hợp và phải tuân thủ theo đúng quy định củahình thức sổ kế toán đó Theo quy định hiện nay, doanh nghiệp được áp dụng mộttrong năm hình thức kế toán
Vai trò sổ kế toán
Để quản lý có hiệu quả các hoạt động kinh tế tài chính trong đơn vị, nhữngthông tin phản ánh trong những bản chứng từ kế toán cần được phân loại và phảnánh một cách có hệ thống vào các tài khoản kế toán trong các sổ kế toán phù hợp
tế tài chính của đơn vị
Sổ kế toán phải có kết cấu khoa học, hợp lý, đảm bảo những yếu tố quy định:ngày, tháng ghi sổ, số liệu và ngày của chứng từ sử dụng để ghi sổ, tóm tắt nội dunghoạt động kinh tế tài chính được ghi sổ, số tiền được ghi sổ, đảm bảo thuận tiện việcghi chép, hệ thống hóa, tổng hợp tài liệu, thuận tiện cho việc nhận biết thông tinphục vụ công tác lãnh đạo và quản lý các hoạt động trong đơn vị
Các doanh nghiệp phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán, các chế độ, thể
Trang 38lệ kế toán của Nhà nước và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để mở sổ kế toán Trường hợp sử dụng chương trình phần mềm kế toán;
+ Hệ thống sổ kế toán nếu xử lý và ghi chép bằng chương trình phần mềm kếtoán phải đảm bảo nguyên tắc ghi chép theo một hình thức kế toán đã lựa chọn( Chứng từ ghi sổ, Nhật ký chung…) và cuối tháng phải in ra các sổ kế toán để sửdụng và lưu trữ
+ Hệ thống xử lý và ghi chép kế toán bằng phần mềm máy vi tính có thể ghinhận và tổng hợp thông tin riêng biệt theo các phần hành kế toán tổng hợp và kếtoán chi tiết; hoặc được ghi chép chi tiết cho các tài khoản cấp II, cấp III, sau đótổng hợp chi tiết để có thông tin tổng hợp về tài khoản cấp I để lập các báo cáo kếtoán nội bộ
+ Doanh nghiệp được lựa chọn chương trình phần mềm kế toán phù hợp,không phải đăng ký nhưng chương trình phần mềm kế toán này phải có tính tươngthích với một hình thức kế toán nhất định được quy định trong chế độ kế toán doanhnghiệp Việt Nam
Trong điều kiện áp dụng tin học trong kế toán, sổ kế toán cần được xây dựng,thiết kế với những mẫu phù hợp với cơ chế hoạt động của phương tiện tin học sửdụng trong kế toán, đảm bảo cho các phương tiện kỹ thuật tin học sử dụng có thểthực hiện ghi chép, hệ thống hóa thông tin về các hoạt động của đơn vị vào nhữngmẫu sổ kế toán, thực hiện tổng hợp số liệu, tài liệu từ những sổ kế toán, cung cấpthông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán
2.2.3.2 Tổ chức sổ kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh
Để đảm bảo thực hiện dễ dàng chức năng ghi chép, hệ thống hóa số liệu bánhàng, giúp kế toán bán hàng và nhà quản lý giám sát, quản lý được kết quả bán hàngthông qua ghi sổ kế toán Tùy vào đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp, vềlĩnh vực kinh doanh, quy mô doanh nghiệp lớn, hay nhỏ, khối lượng nghiệp vụ phátsinh nhiều hay ít, yêu cầu trình độ quản lý, trình độ kế toán, trang thiết bị vật tư hiện
có tại doanh nghiệp, để xác định hình thức sổ kế toán nên được áp dụng trong doanhnghiệp cho phù hợp Từ đó, có những quy định về hệ thống sổ kế toán bán hàng và
Trang 39kết quả kinh doanh Mỗi doanh nghiệp chỉ có một hệ thống sổ kế toán bao gồm sổtổng hợp và sổ chi tiết
Sổ kế toán chi tiết: là loại sổ kế toán được sử dụng để ghi chép các hoạt động
kinh tế tài chính vừa theo tài khoản kế toán tổng hợp, vừa theo tài khoản kế toán chitiết Sổ kế toán chi tiết bán hàng bao gồm sổ, thẻ kế toán chi tiết bán hàng dùng đểghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động bán hàngchi tiết theo yêu cầu quản lý Sổ chi tiết bán hàng được sử dụng để phục vụ quản lý
và vào sổ kế toán tổng hợp
Sổ kế toán tổng hợp: là loại sổ kế toán được sử dụng để ghi các hoạt động
kinh tế tài chính liên quan đến các đối tượng kế toán ở dạng tổng quát được phảnánh ở các tài khoản kế toán tổng hợp
Tùy vào từng hình thức kế toán mà áp dụng sổ kế toán bán hàng và kết quảkinh doanh theo các nguyên tắc cơ bản quy định như số lượng các loại sổ, kết cấutừng loại sổ, trình tự ghi chép trên từng sổ kế toán Do tính đa dạng của đơn vị kinhdoanh mà thực tế hiện nay có 4 hình thức tổ chức hệ thống sổ khác nhau Do đó, sổ
kế toán tổng hợp bán hàng và kết quả kinh doanh cũng được lập tùy theo từng hìnhthức tổ chức hệ thống sổ
- Hình thức Sổ Nhật ký chung
Theo hình thức này, các loại sổ chi tiết và sổ tổng hợp liên quan đến bán hàng
và kết quả kinh doanh bao gồm:
- Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký đặc biệt: Nhật ký bán hàng, Nhật ký thu tiền;
- Sổ Cái TK: 156, 157, 131, 333, 632, 641, 642, 511, 521, 531, 532, 911
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan.được thể hiện trên sơ đồ 2.7
Trang 40Sơ đồ 2.7: Hình thức sổ Nhật ký chung (Theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006