1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khao sat va sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 2

11 281 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 80 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG Chương 1: Nội dung và phương pháp dạy học phân môn chính tả lớp 2 1/ Nội dung dạy học phân môn chính tả lớp 2 1 - Rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kỉ năng nghe: a - Các mức độ

Trang 1

MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài

Những thay đổi quan trọng trong kinh tế, xã hội, giáo dục đã dẫn tới những yêu cầu mới trong dạy học tiếng Việt nói chung Để tiếng Việt trở thành công cụ đắc lực cho

sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển giáo dục, việc dạy tiếng Việt phải nhằm vào cả hai chức năng của ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) phải hướng vào sự giao tiếp và phương pháp giao tiếp Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người (Lê - nin) Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được thực hiện giữa hai hình thức: giao tiếp bằng lời nói, giao tiếp bằng chữ viết Sản phẩm hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ là những lời được viết ra hoặc nói ra khi chúng ta giao tiếp với nhau Dù là ngôn ngữ nói hay viết thì chính tả là yếu tố quan trọng

Trong thực tế, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn đối với cộng đồng xã hội Việc viết đúng chính tả và thực hiện tốt kĩ năng viết chữ không chỉ có ý nghĩa trong giao tiếp mà còn thể hiện năng lực tư duy và trình độ văn hóa của mỗi người Việc dạy học chính tả không chỉ liên quan đến kĩ năng giao tiếp

mà ở một khía cạnh nào đó còn là vấn đề văn hóa: "luyện nét chữ - rèn nét người"

Vì vậy, phân môn Chính tả dạy cho học sinh tri thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viết trong hoạt động giao tiếp Không biết chữ hoặc không viết đúng chuẩn, con người tự hạn chế hoạt động giao tiếp, làm ảnh hưởng đến năng lực tư duy Vì thế, dạy chính tả cho học sinh tiểu học còn giúp cho việc hình thành năng lực tư duy, trẻ em đến tuổi học thường bắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ Nhờ biết chữ, học sinh mới có thể tiếp thu các kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác Biết chữ được biểu hiện ở góc độ đọc thông viết thạo một ngôn ngữ hay nói cách khác để biết chữ, học sinh cần phải nắm được chính tả, nắm được kĩ năng viết chữ Kĩ năng này thể hiện qua việc nhận dạng chữ, tạo ra chữ và tiến tới dùng chữ để diễn đạt ngôn ngữ Qua đó, có thể thấy Chính tả là môn học có tính chất công cụ, có vị trí vô cùng quan trọng trong học tập của học sinh Chính tả cũng là môn học đặt nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ, văn hóa nói chung

Viết sai chính tả của các em học sinh nhất là học sinh đầu bậc Tiểu học đang là vấn

đề bức xúc và day dứt của nhiều giáo viên và các cán bộ quản lí cũng như toàn xã hội

Chính vì những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài "Khảo sát và chữa lỗi chính tả cho học sinh lớp 2 " để nghiên cứu

2/ Mục đích nghiên cứu

- Khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 2

- Khắc phục một số khó khăn trong dạy học chính tả cho học sinh lớp 2

- Nâng cao chất lượng dạy học môn chính tả lớp 2

3/ Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 2

Đề xuất cơ sở lí luận nghiên cứu đề tài Khảo sát, thống kê, phân loại, chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi, thực trạng và giải pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 2 Thiết kế giáo án thể hiện phương pháp dạy học chính tả theo các phương án đề xuất

4/ Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu bằng phương pháp: Phương pháp điều tra khảo sát, thực trạng Thể nghiệm sư phạm thể nghiệm một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh Qua đó khẳng định tính khả thi của các biện pháp Thống kê số liệu điều tra, thể nghiệm phân tích

NỘI DUNG Chương 1: Nội dung và phương pháp dạy học phân môn chính tả lớp 2

1/ Nội dung dạy học phân môn chính tả lớp 2

1 - Rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kỉ năng nghe:

a - Các mức độ rèn luyện chính tả ở lớp 2:

- Chính tả đoạn, bài: Nhìn – viết (tập chép) hoặc nghe – viết một bài hoặc một đoạn có độ dài trên dưới 50 chữ (tiếng)

- Chính tả âm, vần: luyện viết các từ có âm, vần dễ viết sai chính tả do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương

b - Các chỉ tiêu cần đạt:

- Viết chữ đúng mẫu, đúng chính tả, không mắc quá 5 lỗi / 1 bài trên dưới 50 chữ

- Đạt tốc độ viết khoảng 50 chữ / 15 phút

+ Kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, củng cố nghĩa từ, trau dồi về ngữ pháp tiếng Việt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy (nhận xét,

so sánh, liên tưởng, ghi nhớ …)

+ Bồi dưỡng một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như: tính cẩn thận, chính xác, có óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm …

B - NỘI DUNG DẠY HỌC

a - Số bài, thời lượng học

- Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết Tổng hợp lại, trong 2 học

kì, HS được học 62 tiết chính tả

b - Nội dung:

+ Chính tả đoạn, bài:

HS nhìn – viết (tập chép) hoặc nghe – viết một đoạn hay một bài có độ dài trên dưới 50 chữ (tiếng) Phần lớn các bài này được trích từ bài tập đọc vừa học trước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc

+ Chính tả âm, vần:

Trang 3

- Nội dung cụ thể của chính tả âm, vần là luyện viết các tiếng có âm vần dễ viết

sai chính tả do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ (c/k, g/gh, ng/ ngh, ia/ ya/ iê/ yê, …) hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương (l/ n, tr/ch, s/x, r/ d/ gi – đối với các địa phương phía Bắc; an/ang, ac/at, dấu hỏi, dấu ngã – đối với các địa

phương phía Nam Trung Bộ và Nam Bộ (gọi chung là phía Nam)

- Các bài luyện viết những tiếng dễ viết sai do cách phát âm địa phương bao giờ cũng là loại bài tập lựa chọn Số hiệu của các bài tập lựa chọn được đặt trong ngoặc đơn, VD: (2), (3) Mỗi bài tập lựa chọn gồm 2 hoặc 3 bài tập nhỏ đặt kí hiệu là a, b hay c, mỗi bài tập nhỏ dành cho một vùng phương ngữ nhất định GV sẽ căn cứ vào đặc điểm phát âm và thực tế viết chính tả của mỗi lớp hoặc mỗi HS mà chọn bài tập nhỏ thích hợp cho các em GV cũng có thể thay những bài tập này bằng các bài tập

do mình tự biên soạn sát hợp với HS địa phương

c - Hình thức rèn luyện:

- Thông thường, có 3 hình thức chính tả đoạn, bài là nhìn – viết (tập chép), nghe – viết và nhớ - viết Do kĩ năng viết của HS lớp 2 chưa thật vững nên SGK Tiếng Việt lớp 2 coi trọng hình thức tập chép và chưa đưa hình thức nhớ - viết vào

- Hình thức rèn luyện chính tả âm, vần như đã trình bày, cũng rất đa dạng

2/ Phương pháp dạy học phân môn chính tả lớp 2

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ

- Phương pháp rèn luyện theo mẫu

- Phương pháp giao tiếp

- Phương pháp trò chơi học tập

- Phương pháp thảo luận nhóm

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề

Chương 2: Thực trạng dạy phân môn chính tả lớp 2

1/ Dự giờ đồng nghiệp

- Để có kết quả khảo sát thực tế tôi đã tiến hành dự giờ đồng nghiệp một số tiết dạy chính tả lớp 2

2/ Nội dung và kết quả khảo sát

2.1 Mục đích khảo sát.

Khảo sát tìm hiểu việc dạy học chính tả và tìm hiểu nguyên nhân học sinh

mắc lỗi sai khi viết chính tả lớp 2 Hạn chế tối đa học sinh mắc lỗi chính tả ở lớp 2 2.2 Đối tượng khảo sát

Trang 4

Tiến hành thể nghiệm trên 2 lớp 2/1, 2/2 Trường tiểu học Hiếu Trung A, huyện

Tiểu Cần Tỉnh Trà Vinh

2.3 Nội dung khảo sát

- Các phương pháp dạy chính tả trong các tiết chính tả ở lớp 2

- Một số lỗi của học sinh dẫn đến việc học chưa tốt chính tả.

2.4 Kết quả khảo sát

3/ Thực trạng dạy và học Tiếng Việt

Trường tiểu Hiếu Trung A nằm cách trung tâm huyện Tiểu Cần khoảng 5km

về phía Đông Nam Trường có hơn 30 giáo viên lành nghề, trình độ chuyên môn đạt chuẩn trở lên Có giáo viên nhiều năm liền đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở trở lên, nhiều giáo viên đạt giáo viên Giỏi cấp trường, cấp huyện Học sinh ngoan ngoãn, đi học đều

Tuy có nhiều ưu điểm như vậy nhưng việc học tập của các em cũng chưa đạt được như mong muốn, đặc biệt là phân môn chính tả

Môn Tiếng việt nói chung và phân môn chính tả nói riêng giữ một vị trí quan trọng đối với cấp tiểu học

Phân môn chính tả còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng giúp cho học sinh học tốt các môn học khác; bởi các em có đọc được, viết được thì mới nhận thức được, hiểu được nội dung, nắm được kiến thức của bài học; đồng thời thông qua phân môn chính tả sẽ hình thành cho các em cái đẹp, cái hay mới phù hợp với thời đại; hình thành cho các em tình yêu quê hương đất nước

Trường Tiểu học Hiếu Trung A là trường có khá nhiều học sinh dân tộc cùng học tập, môi trường học tập tương đối thuận lợi Điều kiện đi lại của các em tương đối thuận lợi, trong đó có đa số học sinh là con em các dân tộc khmer người nên nhận thức cũng như phát âm còn sai nên dẫn đến học yếu ở môn Tiếng việt, nhất là đối với phân môn chính tả Các em thường mải chơi, ngoài giờ học ở lớp, thời gian học ở nhà các em phải phụ giúp gia đình, mặt khác việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của các

em còn phổ biến nên việc đọc, viết bằng tiếng phổ thông còn gặp nhiều khó khăn

Trang 5

Các em chưa hiểu hết ngôn ngữ Tiếng việt nên còn nói ngọng, phát âm sai, khi viết dẫn đến còn sai nhiều lỗi chính tả, các em còn nhầm bởi các âm, vần, dấu thanh

VD: Khi viết tiếng “cũng” thì các em viết thành “cúng” chính vì sự hạn chế

đó dẫn đến kết quả bài viết của các em chưa cao

Từ những căn cứ trên, tôi đã lựa chọn đề tài này, thực hiện đề tài tôi sẽ giúp các em phát huy tính tích cực, tự giác lấy học sinh làm trung tâm trong học tập, các

em sẽ đọc thông, viết thạo, viết không sai lỗi chính tả và có khả năng diễn đạt tốt trong quá trình giao tiếp với mọi người xung quanh

2 Cơ sở khoa học

Thực trạng là ở học sinh tiểu học các em viết chính tả còn sai rất nhiều Có phải

là do ở tiểu học việc nhận dạng chữ viết của các em còn gặp khó khăn hay do các em chưa đọc thông thạo chữ Để giúp các em nắm vững một số qui tắc chính tả, từ đó các em viết không còn sai như trước

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy chính tả lớp 2 I/ Các giải pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy chính tả lớp 2

*/ Tích cực luyện phát âm đúng:

Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, đồng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm cuối Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…

*/ Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:

Trang 6

Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ

Ví dụ: Khi viết tiếng “làng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “làn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

- làng = l + ang + thanh huyền

- làn = l + an + thanh huyền.

So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “làng” có âm cuối là “ng”, tiếng

“làn” có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai

*/ Phân biệt bằng nghĩa từ:

Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu…nhưng trong tiết Chính tả cũng là một biện pháp tích cực, khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng

Ví dụ: Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn): Bàn= cái bàn – bàng

=cây bàng hoặc phân biệt Bác và bát : bác=anh của ba, Bác Hồ - bát = đồ dùng ăn cơm (bát đũa)

Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ

*/ Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:

Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1,

Trang 7

các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie

Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ngã trong các từ láy (mát mẻ, vui

vẽ, sạch sẽ ) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở

cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng) Để nhớ được

2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên tắc : Ngang- sắc

= hỏi/ Huyền- nặng = ngã

Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại)

Ví dụ:

Ngang + hỏi: Nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ…

Sắc + hỏi: Mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ…

Hỏi + hỏi: Thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ…

Huyền + ngã: Mỡ màng, lững lờ, vồn vã

Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã…

Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…

Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con

vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…

Trang 8

+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt

đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…

+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:

Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc có vần ênh: Gập

ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…

Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang,

đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…

Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo

chân

*/ Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:

Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau

để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng

từ trong văn cảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ

Ngoài ra, việc kiểm tra “viết đúng chính tả” của giáo viên đối với học

sinh không chỉ ở môn Chính tả mà cũng cần lưu ý nhắc nhở học sinh trong tất cả các môn học khác trong chương trình, đặc biệt là môn Tập làm văn.

Việc này phải được tiến hành kiên trì và liên tục để giúp học sinh dần có ý thức rèn kỹ năng “viết đúng” trong mọi tình huống

Trang 9

Phát hiện lỗi chính tả, đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời là rất cần thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy - học Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bĩ

Giáo viên nên hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ…Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra, … từ đó phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn

III KẾT QUẢ

Qua quá trình rèn cho học sinh viết chính tả đã mang lại kết quả như sau:

Số học sinh được rèn ở lớp 2/2 năm học 2017 – 2018 đã được điểm cao hơn năm học trước Số học sinh viết sai chính tả đã giảm đi nhiều Cụ thể nhữnng đợt

kiểm tra định kì như sau: (so sánh đối chiếu với phương pháp cũ)

1 Nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả

Trong quá trình giảng dạy phân môn chính tả, người giáo viên tổ chức đọc cho học sinh viết cần phải nắm được đối tượng học sinh, cách phát âm và hướng tới việc viết thông qua tiếng có dấu thanh dễ lẫn, để từ đó có biện pháp uốn nắn cho các em

và cũng từ đó phát hiện ra những em thường xuyên viết sai để đánh giá kết quả

2 Kết quả cụ thể và những tồn tại của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức.

Sau khi nghiên cứu và áp dụng vào sáng kiến mới kết quả đó đạt được như sau:

2017-2018

- Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng vào sáng kiến mới với kết quả trên, tôi khẳng định rằng đề tài này có thể áp dụng vào dạy môn chính tả ở khối lớp 2 và các khối lớp khác trong trường Tiểu học Hiếu Trung A và ở cả các trường Tiểu học khác

Trang 10

Với kết quả đạt được như trên, bản thân tôi rất vui vì mình đã góp một phần không nhỏ vào kết quả học tập của các em

C KẾT LUẬN

-Thông qua việc nghiên cứu này, bản thân tôi đã tìm hiểu và đề ra những biện pháp rèn học sinh viết đúng chính tả ở trường tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng Từ đó tôi rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:

- Phải hướng dẫn học sinh thật kĩ những qui tắc cơ bản

- Giáo viên phải phát âm một cách chuẩn và chính xác

- Đối với học sinh: các em cần phải tư duy và vận dụng thực tiễn để áp dụng

vào bài viết của mình

-Chính tả trong trường tiểu học rất quan trọng Giúp các em nói và viết chuẩn xác Tiếng Việt và là tiền đề để học lên các bậc học tiếp theo

-Ứng dụng vào dạy lớp 2 và các lớp khác trong các trường Tiểu học

Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã nghiên cứu và vận dụng trong quá trình giảng dạy thực tế của lớp mình Tuy kết quả bước đầu chưa cao lắm, nhưng với nhiệt tình và nổ lực theo khả năng, tôi cũng đã tích lũy được một số bài học thực tiễn Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu cùng các bạn đồng nghiệp, để việc giảng dạy Chính tả trong nhà trường ngày càng nâng cao chất lượng, giúp học sinh học tốt hơn

II Dạy thực nghiệm

1 Giới thiệu:

- Giáo viên dạy Thạch Sách dạy lớp 1/1 Trường Tiểu học Hiếu Trung A, Tiểu Cần,

Trà Vinh

-

2 Thiết kế bài dạy

3 Kết quả thực nghiệm

Ngày đăng: 13/07/2018, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w