T ÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Về phát triển nghề nón lá, đã có nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết đề cập đến như: - Nguyễn Thúy An 2017, “Phát triển dịch vụ du lịch làng nghề tru
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÁT TRIỂN NGHỀ NÓN LÁ TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện: Giảng viên hướng dẫn:
Lê Minh Nguyệt Tâm TS Hà Xuân Vấn Lớp: K48 – KTCT
Niên khóa: 2014 - 2018
Huế, tháng 5 năm 2018
Trang 2
Lời cảm ơn
Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận vừa qua, trước hết tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại Học Kinh Tế, Đại Học Huế nói chung, quý thầy cô trong khoa Kinh
Tế Chính Trị nói riêng đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy, cung cấp kiến thức, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu hoàn thành đề tài khóa luận này Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến T.S Hà Xuân Vấn – Giảng viên hướng dẫn đã dành thời gian, công sức để theo sát, tận tình giúp đỡ, góp ý cho tôi trong quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị tại Hội Nón Lá Huế , Hội Phụ Nữ tỉnh Thừa Thiên Huế, UBND thành phố Huế, chi cục Thống kê thành phố Huế, phòng Kinh tế Thành phố Huế, UBND các phường An Hòa, Kim Long, Phước Vĩnh đã tạo điều kiện, cung cấp số liệu cho tôi để thực hiện đề tài nghiên cứu.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn bè, đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho tôi để tôi có thể hoàn thành khoá luận một cách tốt nhất.
Cuối cùng, mặc dù đã cố gắng hết mình nhưng bài khóa luận chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong sự góp ý và giúp đỡ của các thầy
cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 5 năm 2018 Sinh viên thực hiện
Lê Minh Nguyệt Tâm
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Kết cấu của đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triền nghề TTCN 6
1.1 Cơ sở lý luận về nghề TTCN 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Vị trí, vài trò của TTCN 7
1.1.3 Nội dung, đặc điểm của TTCN 9
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến TTCN 12
1.1.5 Tiêu chí đánh giá phát triển TTCN 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về nghề TTCN 18
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 18
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 23
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho thành phố Huế 26
Chương 2 Thực trạng phát triển nghề nón lá ở thành phố Huế 28
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Huế 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Huế 28
2.1.2 Đặc điểm dân số, lao động thành phố Huế 29
Trang 42.1.3 Tình hình kinh tế, xã hội thành phố Huế 32
2.1.4 Những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển nghề nón lá ở Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 34
2.2 Phân tích thực trạng phát triển nghề nón lá tại thành phố Huế 36
2.2.1 Khái quát về phát triển TTCN ở thành phố Huế 36
2.2.2 Tình hình phát triển nghề nón lá ở thành phố Huế 38
2.3 Đánh giá chung tình hình phát triển nghề nón lá ở thành phố Huế 53
2.3.1 Kết quả đạt được 53
2.3.2 Hạn chế 54
2.3.3 Nguyên nhân của kết quả và hạn chế 55
Chương 3 Phương hướng và giải pháp phát triển nghề nón lá tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 58
3.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển 58
3.1.1 Phương hướng 58
3.1.2 Mục tiêu 59
3.2 Các giải pháp chủ yếu 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 70
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số trung bình theo giới tại thành phố Huế giai đoạn 2011-2016
Bảng 2.2 Dân số trên 15 tuổi tại thành phố Huế năm 2016 giai đoạn 2014-2016
phân theo ngành kinh tế
Bảng 2.3: Lao động đang làm việc trên địa bàn thành phố Huế
Bảng 2.4 Tỉ lệ lao động trong ngành TTCN trên dân số tại thành phố Huế giai đoạn
2013-2016
Bảng 2.5: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra
Bảng 2.6 Số hộ sản xuất phân theo loại nón lá sản xuất
Bảng 2.7 Tình hình sản xuất nón lá của các hộ điều tra
Bảng 2.8 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng suất sản xuất nón láBảng 2.9 Các chỉ tiêu tiêu thụ nón lá
Bảng 2.10 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tiêu thụ nón lá
Bảng 2.11 Lợi nhuận, tiền công theo từng loại nón
Bảng 2.12 Tình hình thu nhập từ nghề nón lá
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Dân số thành phố Huế theo giới tính giai đoạn 2011-2016
Biều đồ 2.2 Cơ cấu dân số thành phố Huế theo độ tuổi năm 2016
Biều đồ 2.3 Tỉ trọng các ngành kinh tế thành phố Huế năm 2015
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu các hộ làm nón theo loại nón lá sản xuất
Biểu đồ 2.5 Các chỉ tiêu tiêu thụ nón lá
Trang 8MỞ ĐẦU
1 L Ý DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế mở cửa và hội nhập của đất nước, bên cạnh những ngành kinh tếchiếm vai trò chủ yếu như công nghiệp, dịch vụ thì các ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp (TTCN) cũng đang dần lấy lại vị trí của mình trong đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội của đất nước cũng như mỗi địa phương Các ngành nghề TTCN không chỉ cóvai trò giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn là một cách thức giữ gìn
và bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc, các giá trị truyền thống mang tính bảnsắc và đặc thù của từng vùng đất cũng như con người Những sản phẩm thủ côngtruyền thống này góp phần tạo nên những di sản cả về phương diện vật thể lẫn phi vậtthể, trong đó nghề làm nón là một nghề có từ lâu đời, sống mãi trong đời sống nhândân, đặc biệt là người dân lao dộng bởi những giá trị văn hóa lâu đời mà nó mang lại Tuy nhiên, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay, để các nghềTTCN nói chung và nghề nón lá nói riêng tồn tại và phát triển không chỉ là vấn đề củacác cấp chính quyền mà còn là các vấn đề cụ thể về nguyên liệu đầu vào, nhân công,thị trường tiêu thụ sản phẩm
Nhìn chung, tuy các nghề TTCN đang ngày càng khẳng định vị trí của mìnhnhưng hiệu quả hoạt động của các nghề TTCN ở thành phố Huế còn thấp Vì vậy, việcnghiên cứu phát triển các nghề TTCN tại Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế là cầnthiết, nhằm đánh giá đúng thực trạng và từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nghề, từ
đó khai thác có hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh của địa phương trên phương diệnnghề truyền thống
Một trong những nghề TTCN nổi tiếng và có truyền thống lâu đời ở Huế là nghềnón lá Hiện nay, trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại và năng động, nghề nón lá đangđứng trước những thách thức cho sự phát triển của nghề Để nghề nón lá Huế vượt quanhững khó khăn, thách thức và phát triển hơn trong tương lai, cần thiết phải đánh giáđúng thực trạng, xem xét những kết quả đạt được và những điểm còn hạn chế, từ đó
Trang 9đưa ra giải pháp giúp nghề nón lá Huế khai thác được các tiềm năng, lợi thế sẵn có củamình, có định hướng phát triển rõ ràng.
Vì vậy, với những lý do trên, tôi chọn “Phát triển nghề nón lá tại Thành phố Huế,tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình
2 T ÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Về phát triển nghề nón lá, đã có nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết đề cập đến như:
- Nguyễn Thúy An (2017), “Phát triển dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống tại thành phố Huế”, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Kinh tế Chính trị, trường Đại học Kinh tếHuế
- Trương Công Duy (2014), “Giải pháp phát triển tiểu thủ công nghiệp tại thành phố Huế”, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Huế
- Phan Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thị Chính (2013), “Xây dựng thương hiệu cho làng nghề truyền thống Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển
- Trần Văn Hòa, Lê Quang Trực (2015), “Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế
- Võ Văn Hòa (2014), “Phát triển tiểu thủ công nghiệp huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam”, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế Phát triển, Đại học Kinh tế Đà Nẵng
- Nguyễn Thị Thành (2015), “Làng nón Ba Giang, xã Phù Việt, huyện Thạch Hà,tỉnh Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Việt Nam học, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đào Ngọc Tiến, Vũ Huyền Phương, Đoàn Quang Hưng (2012), “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững tại một số làng nghề truyền thống Đồng bằng Bắc Bộ”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Và một số đề tài cấp Bộ, Luận văn Thạc sĩ, Khóa luận tốt nghiệp khác cũng có đềcập đến các vấn đề liên quan tới đề tài nghiên cứu này
Trang 103 M ỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về các nghề TTCN, khóa luận trình bày, đánh giáthực trạng phát triển nghề TTCN nói chung và nghề nón lá nói riêng tại Thành phốHuế, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó đưa ra các giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển nghềnón lá ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nghề TTCN trong thời kỳhội nhập kinh tế quốc tế
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nghề TTCN nói chung và nghề nón lánói riêng ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển nghề nón lá ở thành phố Huế, tỉnhThừa Thiên Huế trong những năm tiếp theo
4 Đ ỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề: Phát triển nghề nón lá tại thành phố Huế, tỉnh ThừaThiên Huế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Về thời gian: Giai đoạn 2013-2018, đưa ra giải pháp đến năm 2022
- Về nội dung: Nghiên cứu tình hình thực trạng và từ đó đưa ra các giải phápnhằm phát triển nghề nón lá tại Thành phố Huế
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Để làm rõ đối tượng và mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương phápnghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 115.1 Phương pháp luận:
Phương pháp luận xuyên suốt là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, nhằm xem xét, phân tích vấn đề một cách khoa học, khách quan
5.2 Phương pháp thu thập thông tin và số liệu:
Thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu được thu thập từ hai nguồn cơ bảnsau:
- Nguồn thông tin thứ cấp: Sưu tầm, thu thập các thông tin từ sách, báo, tạp chí,internet, số liệu thống kê, báo cáo, niên giám thống kê,… của UBND thành phố Huế,các phòng, ban liên quan và các phường trên địa bàn thành phố Huế có liên quan đếnnội dung đề tài
- Nguồn thông tin sơ cấp: Thông tin có được qua phương pháp điều tra các hộlàm nón lá tại thành phố Huế
5.4 Phương pháp phân tích thống kê:
Sau khi tiến hành điều tra thì đề tài tiếp tục sử dụng phương pháp thống kê để hệthống và tổng hợp tài liệu Tính toán và thống kê lại những mẫu điều tra và lập bảngphù hợp với nội dung nghiên cứu
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nghề TTCN nóichung, nghề nón lá nói riêng
6.1 Đóng góp về lý luận:
Trang 12Đề tài được mở đầu bằng việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đếnngành TTCN, các vấn đề lý luận và thực tiễn trước đây cũng được xem xét và pháttriển Việc chọn và phân tích kinh nghiệm ở các địa phương khác trong việc khôi phụccác nghề TTCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc góp phần gợi ý các định hướng, giảipháp phát triển các ngành nghề TTCN.
6.2 Đóng góp về thực tiễn cho địa phương:
Đề tài đưa ra các phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nghề nón lá hiện naytrên địa bàn thành phố Huế, tìm ra các nhân tố chủ yếu tác động, từ đó đưa ra các giảipháp có khả năng ứng dụng thực tiễn, những định hướng góp phần cho công tác hoạchđịnh chiến lược của các cơ quan quản lý ở địa phương để phát triển các nghề TTCNnói chung, nghề nón lá nói riêng ở Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngoài ra, đề tài còn là một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho những ngườiquan tâm nghiên cứu, nhất là sinh viên ngành Kinh tế và Kinh tế Chính trị
7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu đề tàigồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp
Chương 2: Thực trạng phát triển của nghề nón lá ở thành phố Huế, tỉnh Thừa ThiênHuế
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển nghề nón lá tại thành phố Huế, tỉnhThừa Thiên Huế
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
1.1 C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Tiểu thủ công nghiệp
- TTCN là một lĩnh vực sản xuất có quan hệ với sản xuất công nghiệp, TTCNđược coi là một lĩnh vực vừa độc lập, vừa phụ thuộc với công nghiệp Xét về trình độ
kỹ thuật và hình thức tổ chức sản xuất thì TTCN chính là hình thức phát triển sơ khaicủa công nghiệp [10]
- Nghề thủ công: Là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủyếu là làm bằng tay Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công
có thể sử dụng máy, hóa chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một sốcông đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặctrưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấytrực tiếp từ thiên nhiên; công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản.[10]
- Thủ công nghiệp: Là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ công Vềmặt sản xuất thì thủ công nghiệp là hình thái phát triển của công cụ lao động từ thô sơbằng tay đến nửa cơ khí kết hợp máy móc hiện đại Về mặt quan hệ sản xuất, đó là sựphát triển từ quan hệ thợ bạn, phường hội tới quan hệ chủ xưởng và nhân công làmthuê.[10]
- Tiểu công nghiệp: Như tên gọi của nó, tiểu công nghiệp chỉ những đơn vị sảnxuất công nghiệp với quy mô nhỏ, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp khó tách biệtvới nhau Tiểu công nghiệp là hình thức phát triển cao hơn của thủ công nghiệp trongđiều kiện phát triển công nghiệp ngày nay [10]
- Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp: Là lĩnh vực sản xuất bao gồm cácnghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ Thường các cơ sở công nghiệp nhỏ này
có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành Công nghiệp ra đời và phát triển
Trang 14theo một quá trình từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, không phải đột nhiên thay thế toàn
bộ nền sản xuất thủ công nghiệp Vì vậy ta thấy rằng tất nhiên phải xuất hiện hai tìnhtrạng: một là sự thâm nhập lẫn nhau giữa các ngành sản xuất này; hai là sự tồn tại vàphát triển song song của cả hai hình thức sản xuất công nghiệp và TTCN.[10]
- Làng nghề TTCN: là làng có nghề TTCN phát triển với một tỷ lệ số hộ và tỷ lệthu nhập từ nghề TTCN nhất định, trở thành nguồn thu nhập quan trọng không thểthiếu được của người dân trong làng [10]
ngành sản xuất thủ công là chủ yếu, bao gồm toàn bộ các cơ sở sản xuất có quy mônhỏ, chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống, có thể sửdụng tiến bộ kỹ thuật cho một số công đoạn nhưng chất lượng và đặc trưng của sảnphẩm vẫn do thủ công quyết định
Nghề nón lá là một trong những nghề tiểu thủ công nghiệp có từ lâu đời của ViệtNam vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Sản phẩm của nghề là sản phẩm thủ côngtruyền thống, nhân lực làm nghề chủ yếu là nữ giới Nghề nón lá sản xuất bằngphương pháp thủ công là chủ yếu, có thể sử dụng máy móc cho một số công đoạnnhưng chất lượng và đặc trưng của sản phẩm vẫn do các công đoạn thủ công quyếtđịnh
1.1.2 Vị trí, vai trò của nghề tiểu thủ công nghiệp
1.1.2.1 TTCN góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Khu vực kinh tế nông thôn và khu vực kinh tế thành thị có sự khác biệt không chỉ
ở các đặc trưng của ngành, mà còn có sự khác biệt ở vị trí địa lý và lực lượng sản xuất,phân công lao động xã hội [26]
- Thứ nhất, sự phát triển của TTCN sẽ cho phép tăng tỷ trọng của các ngành côngnghiệp – TTCN trong cơ cấu GDP của địa phương cũng như cả nước, đồng thời kíchthích phát triển dịch vụ, tạo ra cơ hội thu hút nguồn nhân lực
Trang 15- Thứ hai, TTCN có tác động tới mối tương quan giữa các ngành công nghiệp –nông nghiệp – dịch vụ Việc tạo ra sản phẩm TTCN sẽ kích thích trao đổi giữa các địabàn, khu vực, tạo ra sự phát triển dịch vụ, cũng như đóng vai trò là lực lượng sản xuấtcho lĩnh vực nông nghiệp phát triển, tạo điều kiện cho sự phát triển công nghiệp –nông nghiệp – dịch vụ, giúp chuyển dịch cơ cấu đi theo hướng tích cực.
1.1.2.2 TTCN với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Cũng như các ngành kinh tế khác, TTCN có vai trò không nhỏ trong quá trìnhtăng trưởng và phát triển kinh tế, trước hết là đóng góp vào tăng trưởng GDP Pháttriển TTCN góp phần làm tăng giá trị hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế, giúp phát huytiềm năng, thế mạnh nội lực của địa phương trong quá trình CNH, HĐH của đất nước.Mặt khác, sự phát triển TTCN còn tạo ra sự phát triển giao lưu giữa hai khu vực thànhthị và nông thôn, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập và đời sống, xóa bỏ dầnkhoảng cách giàu nghèo trong xã hội, giúp nền kinh tế tăng trưởng và phát triển mộtcách đồng đều.[26]
1.1.2.3 TTCN với giải quyết các vấn đề xã hội
- Vấn đề việc làm:
+ Ở khu vực nông thôn, với đặc điểm sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, đã dẫnđến thất nghiệp trá hình, thất nghiệp theo mùa vụ Để giải quyết vấn đề này thi việcchuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế là hết sức hợp lý Phát triển TTCN nông thôn sẽ chophép xen kẽ thời gian nhàn rỗi trong năm của nông dân [26]
+ Ở khu vực thành thị, số người thất nghiệp là tương đối lớn, do nó bao gồm cả
số người thất nghiệp tại chỗ và số người thất nghiệp di cư tự do từ nông thôn đến Sốlượng người thất nghiệp lớn, nhưng các xí nghiệp công nghiệp ở khu vực thành thịkhông có khả năng thu hút hết lực lượng lao động, vì vậy việc phát triển TTCN sẽ mở
ra một cơ hội cho việc giải quyết việc làm cho người lao động
Có thể thấy rằng, đẩy mạnh phát triển TTCN là biện pháp hiệu quả để khai tháctốt nguồn lao động dồi dào, tận dụng lao động tại chỗ, đồng thời cho phép khai thác và
Trang 16phát huy kỹ năng truyền thống của thợ thủ công theo hướng hiện đại hóa Phát triểnTTCN cũng là giải pháp nhằm phát huy tối đa nguồn vốn, trình độ lao động vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng quản ký kinh doanh của khu vực kinh tếvừa và nhỏ.
- Vấn đề xóa đói giảm nghèo:
Hiện nay cả nước tỷ lệ đói nghèo vẫn chiếm một tỷ lệ cao Đối tượng này tậptrung chủ yếu ở khu vực nông thôn, nơi mà khả năng mở rộng sản xuất còn hạn chế,trình độ dân trí còn thấp Trong khi nông nghiệp bị giới hạn về đất đai sản xuất, việcphát triển công nghiệp – TTCN có vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèothông qua tăng năng suất và sản lượng trong ngành cũng như các ngành liên quan, tạo
ra thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân, dần dần xóa đói giảm nghèo khu vựcnông thôn và tạo điều kiện giảm bớt chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn.Điều đó cho thấy vai trò của TTCN cũng không kém phần quan trọng trong xóa đóigiảm nghèo, đặc biệt khu vực nông thôn Việt Nam [26]
- Vấn đề giữ gìn văn hóa truyền thống:
Trong thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay, điều cần thiết nhất là phải hội nhậpđúng cách, hòa nhập chứ không hòa tan, mà trong đó, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
là điều cốt lõi Phát triển các nghề TTCN sẽ góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc vănhóa dân tộc của mỗi địa phương nói riêng, của đất nước ta nói chung Bởi lẽ các nghềTTCN phần lớn đều là những nghề có từ lâu đời, được hình thành và đúc kết từ tinhhoa mà cha ông để lại Các nghề TTCN mang trong mình hơi thở của thời gian, củalịch sử và văn hóa dân tộc, đây là điều đáng quý và cần thiết phải gìn giữ trong bốicảnh CNH, HĐH hiện nay
1.1.3 Nội dung, đặc điểm của nghề TTCN
1.1.3.1 Nội dung của phát triển nghề TTCN
Trang 17Phát triển TTCN là một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình CNH, HĐH, nhằmtạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo Nôi dungphát triển TTCN gồm ba mặt: về số lượng, về chất lượng và về cơ cấu.
- Thứ nhất, về số lượng:
Mở rộng quy mô các nguồn lực về vốn và về lao động Với việc mở rộng quy
mô nguồn vốn, phát triển TTCN phải tăng quy mô về vốn và khả năng huy động cũngnhư sử dụng hiệu quả vốn Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư quyết định việc phân bổnguồn lực vào các ngành kinh tế nói chung và phát triển TTCN nói riêng Về quy mônguồn lao động, phát triển TTCN là nâng cao về số lượng, chất lượng nguồn lao động,khả năng giải quyết việc làm cho người lao động và tỷ lệ lao động có tay nghề Tậndụng tối đa lượng lao động, nhất là lao động tại chỗ, lao động nhàn rỗi, đồng thời phảikhông ngừng nâng cao năng suất lao động của nhân công
Phát triển về quy mô số lượng sản phẩm của nghề nón lá: Số lượng sản phẩmchính là biểu hiện trực quan nhất để đánh giá xem nghề nón lá có được phát triển tốthay không Số lượng sản phẩm tiêu thụ càng cao chứng tỏ sự phát triển của nghề nón
Tăng cường công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ pháttriển quy mô sản xuất TTCN Một hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển sẽ phục vụ tíchcực cho sự phát triển của các ngành TTCN, đồng thời tạo điều kiện để hợp nhất và mởrộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng là một nội dungquan trọng nhằm tạo điều kiện để phát triển TTCN phù hợp với phát triển kinh tế xãhội từng vùng, khu vực Cơ sở hạ tầng đồng bộ, hoàn thiện sẽ góp phần thu hút cácthành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Phát triển, gia tăng quy mô
Trang 18sản xuất TTCN là một trong những tiêu chí quan trọng để nghiên cứu, đánh giá sự pháttriển TTCN
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm TTCN Một nghề TTCN phát triển đồngnghĩa với nghề đó có thị trường tiêu thụ ổn định và không ngừng mở rộng Tuy nhiên,một trong những khó khăn hiện nay của các nghề TTCN chính là vấn đề thị trườngtiêu thụ sản phẩm Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các đơn vị, cơ sở sản xuấtkinh doanh các sản phẩm TTCN cần chủ động trong việc phát triển thị trường tiêu thụsản phẩm, trong đó, cần chú trọng đến công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm TTCN
và thực hiện liên kết trong việc tạo nguồn nguyên liệu gắn với tiêu thụ sản phẩm
- Thứ ba, về cơ cấu:
Thay đổi cơ cấu sản phẩm trong nghề sao cho phù hợp với sự biến đổi nhu cầu
và thị hiếu của người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy tiêu thụ, nâng cao doanh số Cơ cấu sảnphẩm biểu hiện mức độ mềm dẻo, linh hoạt của nghề trong điều kiện lịch sử kinh tế xãhội cụ thể Đây cũng là yếu tố tác động không nhỏ đến sự phát triển của nghề TTCN,thủ công truyền thống, mà cơ cấu hợp lý của nó là một nội dung quan trọng biểu hiện
sự phát triển đó
Xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, có bài bản cho từng nghề,làng nghề Thành lập và phát triển các tổ chức, hiệp hội nghề, hợp tác xã, cơ sở sảnxuất có tổ chức hoạt động cụ thể, hiệu quả và hiện đại Phát triển các mô hình hoạtđộng có tính dây chuyền từ nguyên liệu, chế biến, sản xuất đến tiêu thụ, tạo ra mô hìnhhoạt động hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh và phát triển của các ngành nghề TTCN
Cơ cấu các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thể hiện trình độ phát triểnvềy quy mô của nghề TTCN TTCN có nhiều hình thức tổ chức kinh doanh, trong đóhình thức hộ gia đình vẫn chiếm đa số, số lượng loại hình tổ chức doanh nghiệp và hợptác xã chiếm tỷ lệ thấp hơn Để phát triển TTCN cần có sự tăng trưởng và phát triển ổnđịnh, khuyến khích phát triển loại hình doanh nghiệp TTCN vì loại hình này có lợi thế
là tính linh hoạt trong việc giải quyết các vấn đề sản xuất kinh doanh
1.1.3.2 Đặc điểm của nghề TTCN
Trang 19- Thứ nhất, TTCN sản xuất các mặt hàng phi nông nghiệp, và hầu như khôngchịu sự tác động của điều kiện tự nhiên cũng như tính thời vụ trong sản xuất nôngnghiệp
- Thứ hai, TTCN đơn giản về kỹ thuật sản xuất TTCN được sản xuất trên cơ sởđơn giản về kỹ thuật sản xuất và đôi khi nó mang tính truyền thống trong một khoảngthời gian tương đối dài Ở đây sự tham gia của máy móc nhiều khi không mang tínhquyết đinh đối với khả năng cạnh tranh của mỗi cơ sở sản xuất trong cơ chế thị trường
- Thứ ba, TTCN có tính linh hoạt trong sản xuất Xuất phát từ đặc điểm đơn giảntrong kỹ thuật sản xuất cho nên TTCN rất linh hoạt về sản xuất Phần nhiều máy mócđược sử dụng trong hoạt động sản xuất TTCN là máy động lực và máy phổ thông, do
đó việc chuyển từ sản xuất mặt hàng này sang mặt hàng khác là việc khá dễ dàng.Thêm vào đó vốn đầu tư cũng như vốn sản xuất trong TTCN là tương đối nhỏ, do vậynhững cản trở vào và ra của ngành là không đảng kể Điều đó tạo ra một sự linh hoạt
và tính mềm dẻo của các lĩnh vực sản xuất TTCN
- Thứ tư, TTCN có tính gọn nhẹ về quản lý Với hình thức sản xuất chủ yếu là cáthể và hộ gia đình, cao hơn là hình thức tổ chức hợp tác xã Đây là hình thức sản xuấtquy mô nhỏ, một người có thể kiêm nhiều vị trí, vừa làm quản lý vừa trực tiếp thamgia vào sản xuất Công tác điều hành quản lý ở đây phần nhiều mang tính kinh nghiệm,không đòi hỏi phức tạp như công tác quản lý các doanh nghiệp quy mô lớn
- Thứ năm, tính dễ dàng trong tổ chức sản xuất Trước hết, do sản phẩm ngànhTTCN đơn giản về hình thức, không đòi hỏi độ chính xác quá cao, nên việc tổ chứcsản xuất không đòi hỏi tính phức tạp Bên cạnh đó, do hình thức sản xuất chủ yếu là hộgia đình, với quy mô nhỏ nên việc tổ chức phân công công việc đơn giản, mọi thànhviên có thể hỗ trợ cho nhau, thay thế nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh Hơnnữa mỗi cơ sở sản xuất thường chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm có quy trình vàcách thức sản xuất nhất định Chính vì vậy việc tổ chức sản xuất không đòi hỏi độphức tạp như khi sản xuất nhiểu sản phẩm
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghề TTCN
1.1.4.1 Nhân tố truyền thống
Trang 20- Các nghề TTCN được hình thành cách đây khá lâu, từ hàng chục đến hàng trămnăm, vì thế các nghề TTCN, thủ công truyền thống chính là được sản sinh, được nuôidưỡng trong môi trường và các giá trị truyền thống Có thể xem nhân tố truyền thốngnhư là nhân tố bên trong, căn nguyên của sự tồn tại và phát triển của nghề TTCN
- Các nghề TTCN, thủ công truyền thống là phương tiện trực tiếp và trực quannhất phản ảnh bản sắc văn hóa của từng địa phương nơi mà nó tồn tại Một nghềtruyền thống hình thành được dựa trên những điều kiện tự nhiên và văn hóa của địaphương đó, như khí hậu, đặc điểm địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, loại nguyên liệu đặctrưng của địa phương, phong cách sống, sinh hoạt của người dân, Nếu một yếu tốtruyền thống nào đó góp phần tạo nên nghề mất đi thì nghề TTCN gắn với yếu tố đócũng sẽ không thể tồn tại và phát triển nữa
1.1.4.2 Điều kiện tự nhiên và môi trường
- Các nghề TTCN phần lớn có đầu vào tại chỗ, cách thức hoạt động thủ công.Đối với các nguyên liệu đầu vào và công đoạn thực hiện sản phẩm có tính chất mùa vụ
và địa phương, địa lý thì điều kiện tự nhiên và môi trường sẽ ảnh hưởng phần nào
- Đối với nguyên liệu đầu vào, đa số những nguyên liệu đều có nguồn từ mộtvùng đất nào đó chứ không được phổ biến rộng rãi Ngoài ra, nếu nguyên liệu đó cótính chất mùa vụ, chỉ có trong một mùa nào đó chứ không có quanh năm thì cũng sẽảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất của nghề Trong trường hợp này, vì không thểthay đổi vùng nguyên liệu hay thay thế nguyên liệu khác, người thợ thủ công chỉ cóthể tích trữ nguyên liệu từ trước nếu có thể hoặc tạm thời dừng sản xuất đợi mùanguyên liệu mới
- Đối với việc sản xuất sản phẩm thì vấn đề môi trường, thời tiết là yếu tố ảnhhưởng không nhỏ, đặc biệt là thời tiết Với các sản phẩm TTCN, thủ công truyền thống
có các công đoạn như phơi nắng, thời tiết mưa chính là sự trở ngại lớn khi họ khôngthể thay thế việc phơi nắng bằng các công cụ khác như máy sấy hay lò vì sẽ ảnh hưởngđến chất lượng sản phẩm, sản phẩm không đạt đúng yêu cầu
1.1.4.3 Nguồn nhân lực và trình độ tay nghề
- Nguồn lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của bất kỳ ngành nghề nào,đặc biệt là các ngành nghề TTCN, thủ công truyền thống với hầu hết các công đoạn
Trang 21sản xuất đều được thực hiện thủ công Nguồn nhân lực là yếu tố có tác động lớn đếnsản lượng đầu ra của cơ sở sản xuất TTCN Người lao động là nhân công sản xuất trựctiếp, năng suất lao động của nhân công quyết định đến sản lượng sản phẩm làm ra Laođộng chính là động lực của phát triển TTCN
- Số lượng, năng suất lao động quyết định sản lượng còn trình độ tay nghề củangười lao động quyết định đến chất lượng và độ tinh tế của sản phẩm TTCN, thủ côngtruyền thống Với nguyên liệu chất lượng, nhưng lại không có thợ tay nghề giỏi, thìsản phẩm TTCN sản xuất ra không thể có được hình thức đẹp, đúng như mong muốn.Một trong những yếu tố giúp khẳng định thương hiệu cho nghề chính là tay nghề củangười thợ Vì vậy, bồi dưỡng và đào tạo nâng cao tay nghề là yếu tố quan trọng trongcông tác giữ gìn và phát triển nghề TTCN, thủ công truyền thống
1.1.4.4 Nhu cầu thị trường
Sự tồn tại và phát triển của các nghề TTCN phụ thuộc rất lớn vào sự biến đổi củathị trường Thị trường vừa là động lực, là điều kiện, thước đo kết quả của hoạt độngsản suất kinh doanh TTCN
Cũng như các ngành nghề kinh tế khác, một nghề TTCN, thủ công truyền thống
có thể tồn tại hay không đều phụ thuộc vào thị trường Nếu nhu cầu thị trường sụtgiảm hay thị trường không có nhu cầu, thì sản phẩm không thể tiêu thụ được, điều đóđồng nghĩa với việc sản xuất mà không có đầu ra, như vậy sẽ dẫn đến sự ngưng đọngsản xuất, nhân công không có lợi nhuận, không có điều kiện để tiếp tục nghề
1.1.4.5 Nguồn lực vốn
Vốn là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ quá trình sản xuất, kinhdoanh nào Sự phát triển của các nghề TTCN cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng củanhân tố vốn sản xuất
Để sản xuất sản phẩm, trước hết cần nguồn nguyên liệu đầu vào Để có nguồnnguyên liệu ổn định và chất lượng, vốn ban đầu là điều kiện không thể thiếu Trongquá trình sản xuất, các ngành nghề TTCN muốn nâng cao năng suất, sản lượng phải ưu
Trang 22tiên áp dụng máy móc hiện đại, tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào các quy trình
cụ thể Để làm được điều này, nguồn vốn là một yếu tố không thể thiếu được Ngoài
ra, các cơ sở sản xuất cũng cần có nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhàxưởng, thuê nhân công, liên kết với các nguồn đầu vào và đầu ra
1.1.4.6 Yếu tố nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của sảnphẩm TTCN, vì thế tìm kiếm và xây dựng nguồn nguyên vật liệu chất lượng, ổn định
là điều kiện để TTCN phát triển
Một trong những yếu tố cấu thành chất lượng của sản phẩm TTCN, thủ côngtruyền thống là tay nghề của người thợ và chất lượng nguyên vật liệu Đối với yếu tốnguyên vật liệu, đây là yếu tố chất liệu đóng vai trò bản chất tạo nên sản phẩm, vì thế,một nguồn nguyên liệu chất lượng, ổn định chính là nhân tố quyết định đến sự tồnt ại
và phát triển của các ngành nghề TTCN Nếu sử dụng một nguồn nguyên liệu kémchất lượng, thì sản phẩm TTCN sẽ không thể đạt chuẩn, gây mất uy tín cho thươnghiệu, địa phương nơi nghề đó tồn tại
1.1.4.7 Trình độ kỹ thuật và công nghệ
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹthuật, công nghệ vào một số khâu trong quá trình sản xuất là cần thiết để nâng caonăng suất, chất lượng cho sản phẩm thay vì làm hoàn toàn bằng tay, thủ công nhưtruyền thống
Đối với các ngành nghề TTCN, thủ công truyền thống, đặc trưng cơ bản vẫn làsản xuất bằng tay Tuy nhiên, với điều kiện công nghệ hiện đại, thì áp dụng máy mócvào một số công đoạn không bắt buộc bằng tay, có thể làm bằng máy để hỗ trợ chongười lao động là cách hiệu quả để nâng cao năng suất lao động và sản lượng làm ra
mà không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, thậm chí còn mang lại hiệu quả caohơn về chất lượng và mẫu mã cho sản phẩm TTCN, thủ công truyền thống
Trang 231.1.4.8 Các yếu tố chính sách
Các yếu tố chính sách là động lực tồn tại và phát triển của nghề TTCN Cácchương trình khuyến khích, quảng bá giới thiệu sản phẩm, hội chợ, triển lãm, festivalnghề truyền thống và du lịch đang giúp nghề TTCN có sức lan tỏa rộng hơn
Các địa phương có nghề TTCN, thủ công truyền thống hầu hết đều có các chínhsách hỗ trợ, khuyến khích giúp phát triển nghề như chính sách về vay vốn, tín dụng, hỗtrợ vốn, thành lập các hiệp hội nghề, hợp tác xã Bên cạnh đó, các lễ hội, chương trìnhđịa phương tổ chức là phương pháp hiệu quả vừa kích cầu, tăng các chỉ số về hầu hếtcác ngành du lịch, thương mại và TTCN, thủ công truyền thống
1.1.5 Tiêu chí đánh giá về phát triển tiểu thủ công nghiệp
và phát triển, đã giải quyết một phần lớn người lao động thất nghiệp tại địa phương,giúp họ có thu nhập ổn định, cải thiện đời sống, vật chất, tinh thần
- Sản lượng sản phẩm: Số lượng sản phẩm sản xuất ra và số lượng sản phẩmđược tiêu thụ ra bên ngoài thị trường chính là thước đo đánh giá sự phát triển của bất
cứ ngành kinh tế nào, và TTCN cũng không nằm ngoài quy luật đó Sản lượng sảnxuất là tiêu chí đánh giá quy mô hoạt động của nghề, còn sản lượng tiêu thụ là tiêu chíđánh giá hiệu quả hoạt động và tiềm năng phát triển, sức cạnh tranh của nghề Tỉ lệ sảnlượng tiêu thụ trên sản lượng sản xuất càng gần 1 thì hiệu quả hoạt động của cơ sở sản
Trang 24xuất càng tốt Tỉ lệ này càng bé hơn 1 thì chứng tỏ mức độ tiêu thụ sản phẩm càngthấp, lượng hàng tồn đọng, dư thừa càng nhiều Ngược lại, nếu tỉ lệ này lớn hơn 1,chứng tỏ thị trường đang khan hiếm hàng, cơ sở sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầuthị trường, đòi hỏi phải tăng cường mở rộng quy mô sản xuất.
1.1.5.2 Nhóm tiêu chí về chất lượng
- Thị trường tiêu thụ: Thị trường tiêu thụ rộng hay không chính là tiêu chí đánhgiá mức độ phủ sóng, quy mô của nghề TTCN Thị trường tiêu thụ là mục đích đếncuối cùng của nghề, đồng thời cũng là nhân tố tác động trở lại nghề Nhu cầu, thị hiếucảu thị trường buộc nghề TTCN phải thay đổi sao cho phù hợp, nếu nghề không làmđược điều đó thì tất yếu sẽ không tiêu thụ được sản phẩm, khiến nghề bị suy giảm, maimột dần Sản phẩm TTCN muốn được thị trường ưa chuộng thì sản phẩm đó phảikhông chỉ tốt về chất lượng, mà còn đáp ứng nhu cầu của thị trường về cả hình thứcbên ngoài Thị trường tiêu thụ càng rộng lớn càng chứng tỏ được nghề đang rất phát
triển và ngược lại.
- Năng suất lao động: Lao động của nghề TTCN phần lớn là lao động phổ thông,không qua đào tạo bài bản Tuy nhiên chính những con người này là cái hồn của sảnphẩm Phát triển nghề TTCN chính là tạo ra nhiều sản phẩm hơn, muốn như vậy cầnđầu tư cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng tay nghề, thúc đẩy nâng cao năng suất laođộng Năng suất lao động thường được tính theo thời gian hoặc tính trên nhân công:
Năng suất lao động = Số sản phẩm / Thời gian hoàn thành sản phẩm
Năng suất lao động một nhân công = Tổng sản lượng / Số nhân công
- Độ tinh xảo: Đặc trưng của nghề TTCN, thủ công truyền thống là hầu hết cáccông đoạn sản xuất đều được thực hiện bằng tay, vì thế một trong những tiêu chí đánhgiá sản phẩm của nghề TTCN đó chính là độ tinh xảo, độ tinh xảo càng cao thì càngchứng tỏ được tay nghề của người nghệ nhân
- Mẫu mã sản phẩm: Để đánh giá một sản phẩm thì sự đa dạng về mẫu mã là điềukiện thiết yếu Sản phẩm có chất lượng thì sẽ được thị trường tiêu thụ, tuy nhiên nếumẫu mã đa dạng phong phú hơn sẽ thỏa mãn được như cầu của người tiêu dùng hơn
Trang 25Với điều kiện thị trường hiện nay, thì yêu cầu về độ da dạng và độc đáo của mẫu mãsản phẩm ngày càng cao hơn, điều này đòi hỏi sự sáng tạo hơn nữa của người nghệnhân làm nghề Yêu cầu này của thị trường cũng là nhân tố thúc đẩy nghề TTCN đổimới và phát triển.
- Doanh thu: là số tiền thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm chưa trừ đi chi phí.Doanh thu lớn chứng tỏ mức độ tiêu thụ sản phẩm TTCN cũng không nhỏ, điều nàychứng minh cho mức độ quy mô của nghề Doanh thu được tính theo công thức:
Doanh thu = Sản lượng x Giá cả
- Lợi nhuận: là số tiền thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm đã trừ đi chi phí Lợinhuận là chỉ tiêu thể hiện trực tiếp hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sởlàm nghề Lợi nhuận càng cao chứng tỏ nghề TTCN càng phát triển mạnh Lợi nhuậnđược tính theo công thức:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: đây là chỉ tiêu phản ánh mỗi đồng doanh thu
mà cơ sở sản xuất thu được trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuậntrên doanh thu được tính theo công thức:
Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận / Doanh thu x 100%
1.1.5.3 Nhóm tiêu chí về cơ cấu
- Cơ cấu số lượng và chủng loại sản phẩm của nghề TTCN: Cơ cấu số lượng vàchủng loại sản phẩm cần linh hoạt theo nhu cầu thị trường, nhằm đáp ứng yêu cầu của thịtrường đang biến động mạnh mẽ và nhanh chóng Nếu cơ cấu số lượng sản phẩm vàchủng loại sản phẩm được thay đổi tốt sẽ thấy được thế mạnh của địa phương, phát huy trítuệ, óc sáng tạo của đội ngũ thợ làm nghề, từ đó đánh giá mức phát triển của nghề
- Có các sản phẩm du lịch trong cơ cấu sản phẩm: Các nghề TTCN hiện nay đềuphát triển theo hướng gắn với ngành du lịch, vì vậy tỉ lệ sản phẩm dành cho du lịchtrên tổng số, tỉ lệ sản phẩm dành cho du lịch trên sản phẩm tiêu dùng thường ngày làtiêu chí đánh giá mức độ kết hợp của nghề TTCN với du lịch Chính vì vậy, việc kếthợp sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho du lịch chính là yếu tố giúp cho việc phát
Trang 26triển nghề TTCN nói chung Lượng tiêu thụ cho du lịch càng nhiều vừa chứng tỏ được
sự phát triển của nghề, vừa chứng tỏ được sự phát triển của du lịch
1.2 C Ơ SỞ THỰC TIỄN VỀ NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển ở một số nước trên thế giới về TTCN
Cũng như Việt Nam, Trung Quốc là một nước mang nền văn hóa phương Đông
Có thể nói Trung Quốc là cái nôi của nhiều nghề thủ công truyền thống lâu đời và nổitiếng như: nghề dệt vải, dệt tơ lụa, nghề gốm, nghề giấy Nghề thủ công của TrungQuốc ra đời từ rất sớm và phát triển cho tới ngày nay Chính phủ Trung Quốc cũng rấtquan tâm đến việc giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống, trong đó phát triển nghềtruyền thống là nhiệm vụ quan trọng Một số chính sách Trung Quốc đã thực hiện đểgiữ gìn và phát triển nghề thủ công truyền thống[18]:
- Chính sách thuế: Chính phủ Trung Quốc quy định sách thuế khác nhau cho cácvùng và các ngành nghề, ưu tiên cho vùng biên giới, miễn tất cả các loại thuế trongvòng ba năm đầu đối với các xí nghiệp, cở sở mới thành lập
- Chính sách bảo hộ xuất nhập khẩu: Thực hiện chính sách bảo hộ hàng nội địamột cách kiên quyết, cấm nhập khẩu những mặt hàng công nghiệp vào trong nước,nhất là những mặt hàng tiêu dùng cho người dân nông thôn
- Chính sách cho vay vốn: Chính phủ cung cấp tín dụng cho xí nghiệp, khuyếnkhích ngân hàng lớn đã tham gia cho các xí nghiệp vay vốn
- Hạn chế việc di chuyển lao động giữa các vùng cũng như từ nông thôn ra thànhthị;
- Đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến: Quá trình đổi mới công nghệđược chính phủ Trung Quốc quan tâm và khuyến khích thực hiện để tăng năng suất laođộng, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong điều kiệnkinh tế mới [18]
Trang 27Nhật Bản là quốc gia có nền công nghiệp tiên tiến nhưng vẫn chú trọng phát triểncác ngành nghề truyền thống Ở Nhật Bản, bên cạnh các ngành công nghiệp hiện đạivới quy mô lớn, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và các hộ gia đình làmnghề thủ công vẫn được quan tâm phát triển Một số nghề truyền thống ở Nhật Bản cóthể kể đến như dệt vải, nấu rượu, các sản phẩm từ tre, giấy, làm búp bê truyền thống, Nghề thủ công truyền thống Nhật Bản rất đa dạng và vẫn tồn tại đến nay
Xuất phát điểm của việc bảo tồn và phát triển nghề thủ công truyền thống ở ViệtNam và Nhật Bản là khác nhau: Nhật Bản tìm thấy ở nghề thủ công truyền thống sựcân bằng các giá trị cuộc sống giữa hiện tại và quá khứ, giải pháp để phục hồi sức sốngcho khu vực nông thôn, ngăn chặn sự di dân ra các thành phố lớn ; còn Việt Nam lạicần phát triển nghề thủ công truyền thống để tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cholao động ở nông thôn, đồng thời đóng góp vào xuất khẩu, tăng GDP Chính vì vậy,Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của Nhật Bản ở những giải pháp mang tính hệthống:[16]
- Trước hết, cần xây dựng một hệ thống Luật và chính sách đồng bộ, thành lậpHội đồng thẩm định nhằm tìm kiếm, khôi phục và phát triển những nghề thủ côngtruyền thống đã bị mai một Chính sách và Luật là nền tảng pháp lý để các cấp, cácngành và toàn dân thực hiện việc bảo tồn, phát triển nghề thủ công truyền thống Tuynhiên, hệ thống chính sách của Việt Nam hiện nay còn chưa đồng bộ, nhiều chính sách
đã lạc hậu Vì vậy, cần xác định những yếu tố bất hợp lý, những điểm bất cập của cácchính sách hiện hành, đồng thời đánh giá các yếu tố mới phù hợp với điều kiện pháttriển của nước ta để đưa vào Luật Tất nhiên, việc đánh giá phải được thực hiện bởimột Hội đồng chuyên môn, có sự tham gia của các nhà sản xuất, quản lý, kinh doanhthuộc lĩnh vực nghề thủ công truyền thống.[16]
- Nâng cao nhận thức của người dân trong việc yêu mến và tin dùng sản phẩmthủ công truyền thống, xây dựng ý thức bảo vệ nghề thủ công truyền thống như một
“báu vật” của quê hương Một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến việc chưacoi trọng bảo tồn nghề thủ công truyền thống ở nước ta là do nghề thủ công truyềnthống chưa được nhìn nhận đúng với giá trị vốn có của nó - là “di sản văn hóa dân
Trang 28tộc”, việc dạy nghề và làm nghề mới chỉ được tiến hành như một phương thức để giảiquyết công ăn việc làm cho lao động dư thừa ở vùng nông thôn Vì vậy, cần tuyêntruyền để mọi người dân có sự hiểu biết nhất định về nghề thủ công truyền thống, đưanội dung giáo dục lòng tự hào và yêu mến nghề thủ công truyền thống vào chươngtrình giáo dục phổ thông ở Việt Nam.[16]
- Đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác giữa khu vực sản xuất và các cơ quan nghiên cứutrong việc cải tiến kỹ thuật, công nghệ sản xuất truyền thống, tìm kiếm nguồn nguyênliệu thay thế, bảo vệ môi trường Việc liên kết, cộng tác giữa các cơ quan khoa học vớilàng nghề là rất cần thiết, bởi nó tạo nên tính năng động của toàn xã hội trong việc gìngiữ và phát triển nghề thủ công truyền thống Các cơ quan khoa học sẽ có trách nhiệmnghiên cứu và tư vấn cho cơ sở sản xuất nên sử dụng loại công nghề gì, đổi mới ởkhâu nào, cách thức áp dụng kỹ thuật mới ra sao… để giảm thiểu tối đa sự ô nhiễmmôi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất mà vẫn giữ được sự độc đáo, tinh xảo của sảnphẩm thủ công truyền thống.[16]
- Xây dựng kế hoạch phát triển nghề thủ công truyền thống của từng địa phương
cụ thể (từ khâu vốn, nguyên liệu, đào tạo lao động, trang bị kỹ thuật - công nghệ hỗ trợsong vẫn bảo đảm được tính “thủ công”, đến thiết kế mẫu mã, lo đầu ra cho sản phẩm,
xử lý chất thải, bảo vệ môi trường), với sự hỗ trợ của địa phương và Nhà nước, đặcbiệt sự hỗ trợ về nguồn kinh phí là rất quan trọng.[16]
- Các nước ASEAN có nét chung là có nhiều nghề truyền thống hình thành từ lâuđời Một số nghề truyền thống nổi tiếng có thể kể đến ở các nước ASEAN như: dệt lụa
ở các nước Lào, Campuchia, Philippin, nghề làm bình bát, làm ô ở Thái Lan, nghề chếtác bạc, điêu khắc gỗ ở Campuchia, làm dao bướm truyền thống ở Philippin, [18]
- Trong nền kinh tế hiện nay, phát triển TTCN vẫn được nhấn mạnh với vai trògiải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân Chính phủ các nước khuvực ASEAN đã thực hiện nhiều chính sách để khôi phục và phát triển các ngành nghềthủ công truyền thống của đất nước họ Một số chính sách nổi bật của các nước có thể
kể đến như:
Trang 29 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước Đây là cơ sở quan trọng giúp cho các doanhnghiệp, cơ sở sản xuất cũng như người lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinhdoanh một cách thuận lợi Các chính sách hỗ trợ về nhiều mặt như vay vốn, tín dụng,bảo hộ sản phẩm, đã giúp cho các ngành nghề thủ công ở các nước ASEAN hồi phụctrở lại trong bối cảnh rất nhiều nghề đã bị mai một và có dấu hiệu biến mất.
Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm thủ công truyền thống của từng địaphương Mỗi địa phương có sản phẩm đặc trưng, đặc thù làm chủ lực, bên cạnh đócũng duy trì tính đa dạng và phù hợp thị hiếu khách hàng Chú trọng chính sách hỗ trợ
và công tác đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động, đặc biệt là lao động trẻtuổi
Kết hợp các ngành nghề truyền thống với dịch vụ du lịch Ngành du lịch ở cácnước ASEAN hiện đang phát triển rất nhanh, điển hình là ở Thái Lan Việc lượngkhách du lịch lớn là một lợi thế thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển, trong đó dịch vụ dulịch nghề truyền thống, giới thiệu và trải nghiệm với các sản phẩm thủ công truyềnthống đặc trưng của địa phương đang là xu hướng của khách du lịch Sự kết hợp dulịch với các nghề thủ công truyền thống là một cách làm hữu hiệu giúp cả hai ngànhcùng phát triển
- Điển hình cho sự phát triển TTCN ở khu vực ASEAN là Thái Lan, là xứ sở “đấtnước của nụ cười”, với chủ trương phát triển TTCN kết hợp với du lịch, việc tổ chứclại các làng nghề truyền thống ở Thái Lan đã tạo ra giá trị về nhiều mặt: bảo tồn vànâng cao kỹ năng tay nghề nghệ nhân, gìn giữ văn hóa truyền thống, tạo công ăn việclàm ở nông thôn, ngăn chặn làn sóng di cư vào đô thị, tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sảnphẩm du lịch
Thái Lan có khoảng 70.000 làng nghề thủ công Từ năm 2001, Chính phủ TháiLan đã thực hiện dự án OTOP (One Tambon One Product: mỗi làng nghề một sảnphẩm) Đây là chương trình chiến lược từ sáng kiến của Cục xúc tiến xuất khẩu (DEP)thuộc Bộ Thương mại Thái Lan Chính phủ hỗ trợ kết nối địa phương với toàn cầu,thông qua việc hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói, tiếp thị, tổ chứckênh phân phối ở hải ngoại.[26]
Trang 30 Sự phát triển OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan đượcduy trì Nó đã giúp cho người dân Thái giải quyết được công ăn việc làm, làm ra nhiềusản phẩm đặc sắc của từng địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân thamgia và điều quan trọng là giữ được giá trị tri thức truyền thống trong văn hóa lâu đờicủa họ Chính phủ Thái Lan sẽ tiếp tục giúp các cộng đồng địa phương nâng cao chấtlượng sản phẩm theo chương trình OTOP để có thể tăng doanh thu thông qua việc chỉthị cho các trường đại học mở các phòng vi tính tạo phần mềm thiết kế các mẫu sảnphẩm OTOP, đồng thời lập ra các trang thông tin nhằm giúp khách hàng nước ngoài
có thể đặt mua hàng qua mạng Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ giúp tổ chức các chuyến
du lịch tới các làng nghề để du khách nước ngoài có thể tận mắt thấy được các sảnphẩm OTOP được sản xuất như thế nào Ngoài ý nghĩa kinh tế, đây là cách bảo tồn,phát triển và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ở địa phương, và giữ gìn tri thức bảnđịa một cách hiệu quả.[26]
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển ở một số địa phương trong nước
Hà Nội nổi tiếng có nhiều nghề TTCN nổi tiếng và phát triển hưng thịnh từ xưa,minh chứng là sự hình thành và phát triển của 36 phố phường, mỗi phường là mộtnghề khác nhau Với sự đa dạng sẵn có về các nghề TTCN, cùng việc sáp nhận toàn bộđịa bàn tỉnh Hà Tây, vùng đất được mệnh danh là “đất trăm nghề”, Hà Nội đã trởthành nơi hội tụ của sự tài hoa, khéo léo trong ngành thủ công mỹ nghệ cả nước [27]
- Trong đó, về nghề làm tranh dân gian, nổi bật có 3 dòng tranh truyền thống làĐông Hồ, Hàng Trống và Kim Hoàng, tuy có thời gian bị mai một nhưng thời gianhiện nay các dòng tranh này đã và đang được khôi phục, phát triển trở lại nhanh chóng.Đặc biệt là dòng tranh Kim Hoàng, dòng tranh này đã có thời gian không còn được sảnxuất nữa, khiến tên tuổi của làng tranh bị rơi vào quên lãng, ít người biết đến hơn dòngtranh Đông Hồ và Hàng Trống Tuy nhiên, thời gian gần đây, thế hệ trẻ ở làng tranh đãđược học lại các quy trình làm tranh đúng chuẩn từ các nghệ nhân, giúp dòng tranhnày dần hồi phục trở lại
Trang 31- Về nghề làm gốm, hiện nay, trên địa bàn xã Bát Tràng (Gia Lâm) có hơn 1.000
lò gốm lớn, nhỏ Sản phẩm gốm của Bát Tràng không chỉ thu hút khách du lịch trongnước, mà cả khách du lịch nước ngoài mỗi khi đến Hà Nội Từ khách nội thành tớikhách du lịch ở các tỉnh khác, và tất nhiên, không thể vắng những du khách nướcngoài Mấy năm trở lại đây, Bát Tràng còn mở thêm dịch vụ để du khách tham quantrực tiếp một số xưởng sản xuất, tham gia trực tiếp vào một số công đoạn sản xuất và
đã thu hút được nhiều du khách Thú chơi vẽ gốm ở Bát Tràng đã và đang là một thúchơi độc đáo, hấp dẫn trí tò mò của bất kỳ du khách nào có dịp ghé qua.[27]
Ngoài ra, trên địa bàn Hà Nội còn có nhiều làng nghề hình thành từ lâu đời, nổitiếng trong và ngoài nước, đã được du khách trong nước và quốc tế biết đến và trởthành những địa điểm của ngành du lịch như: Lụa Vạn Phúc, khảm trai Chuyên Mỹ,thêu Quất Động, sơn mài Duyên Thái, mộc Chàng Sơn, rèn Đa Sỹ, đúc đồng NgũXá, Các làng nghề trên địa bàn Hà Nội có mật độ lớn, nằm dọc các trục đường giaothông và gắn liền với những di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội, nên rất thuận lợi cho cáccông ty du lịch lữ hành đầu tư, xây dựng những tour, tuyến du lịch
Nói tới con đường di sản miền Trung không thể không nói tới Quảng Nam mảnh đất nổi tiếng không chỉ với những di sản văn hóa đã được thế giới vinh danh màcòn bởi nhiều làng nghề truyền thống đã có lịch sử lâu đời Quảng Nam có 61 làngnghề, đa dạng về quy mô và loại nghề truyền thống Những làng nghề này sau khi khôiphục hoạt động khá tốt, còn trở thành những điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong
-và ngoài nước[27]
- Một trong số những làng nghề nổi tiếng đó là làng gốm Thanh Hà Làng gốmThanh Hà với lịch sử trên 500 năm, nằm bên bờ sông Thu Bồn, thuộc xã Cẩm Hà, cáchphố cổ Hội An khoảng 2km về hướng Tây Vào khoảng thế kỷ XVI, XVII, Thanh Hà
đã nức tiếng với các mặt hàng gốm, đất nung được trao đổi, buôn bán khắp các tỉnhmiền Trung Cho đến nay, làng gốm Thanh Hà vẫn được coi là đối tác duy nhất có thểcung cấp các nguyên vật liệu đúng tiêu chuẩn, hợp quy cách và chất lượng cao phục vụ
Trang 32công tác trùng tu, bảo tồn di sản văn hóa thế giới khu phố cổ Hội An Người dân nơiđây đã mở ra các dịch vụ như hướng dẫn du khách cách làm gốm từ khâu nhào nặngđất sét, nắn hình thù đến cách nung sao cho có màu bóng đẹp không bị cháy, bị chai…
Du khách đến đây, ngoài việc tha hồ lựa chọn các sản phẩm lưu niệm bằng gốm độcđáo, còn được tận mắt chứng kiến những thao tác điêu luyện từ những bàn tay tài hoacủa các nghệ nhân làng nghề này [27]
Phương huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Đây là một làng nghề truyền thống đã nổitiếng từ nhiều thế kỷ trước với các sản phẩm bằng đồng phục vụ trong các dịp tế lễ,hội hè như chuông, chiêng, kiểng, mõ, phèng la; các vật dụng thông thường trong đờisống như lư hương, chân đèn, nồi niêu, xoong chảo, chén bát và cả các loại binh khí cổnhư gươm, dao, giáo, mác…Một số làng nghề khác như làng nghề dệt Mã Châu, làngdệt chiếu cói Bàn Thạch cũng khá nổi tiếng Để duy trì được các làng nghề này, ngoàiviệc gắng giữ nét độc đáo truyền thống của làng nghề mình, người dân và chính quyềnđịa phương còn phải luôn tạo ra những sản phẩm mới mẻ, dịch vụ đa dạng để có thểthu hút được khách du lịch.[19]
1.2.2.3 Bắc Ninh
- Hầu hết các làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử phát triển lâu dài, thậm chí đã tìmthấy dấu tích làng nghề từ những thế kỷ trước công nguyên Làng nghề thủ công ở đâyphong phú, đa dạng từ việc chế biến nông sản, thực phẩm làm các món ăn đặc sản, sảnxuất các vật dụng gia đình, chế biến tạo công cụ sản xuất nông nghiệp, đến làm cácmặt hàng mỹ nghệ, các sản phẩm phục vụ cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, sinhhoạt lễ hội, các sản phẩm nghệ thuật, làm các nghề xây dựng nhà cửa, đình, chùa, đềnmiếu
- Toàn tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề thủ công, trong đó có một số làng nghềbước đầu đã thu hút được khách như Gốm Phù Lãng, Gỗ Ðồng Kỵ, Bắc Ninh đanghướng vào triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ Trong đó tiếp tục hoàn thiệnquy hoạch hệ thống các làng nghề phục vụ du lịch và đẩy mạnh đầu tư nhằm hoàn
Trang 33thiện đồng bộ để hình thành ở mỗi làng nghề là một điểm đến, ưu tiên cải tạo và xâydựng mới cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho làng nghề.
- Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá về du lịch làng nghề như tổ chứctham gia các hội chợ triển lãm, hội chợ du lịch trong nước và quốc tế Giới thiệu thôngtin chi tiết về các sản phẩm làng nghề trên các tạp chí, các phương tiện thông tin đạichúng, các sách báo, ấn phẩm mà khách du lịch thường quan tâm theo dõi Ðẩy mạnhviệc trưng bày, giới thiệu sản phẩm ở các thành phố, đô thị lớn là nơi tập trung nhiều
du khách
- Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về du lịch để hình thành một đội ngũ dulịch tại chỗ theo hai hướng: hình thành đội ngũ quản lý và điều hành hoạt động du lịchtại làng nghề; huy động cộng đồng dân cư tại làng nghề tham gia vào quá trình hoạtđộng du lịch Trong đó, ưu tiên vinh danh những nghệ nhân và khuyến khích nhữngnghệ nhân này trực tiếp hướng dẫn khách du lịch tham gia vào quá trình hướng dẫnsản xuất sản phẩm cho các du khách
- Ða dạng hóa sản phẩm làng nghề, tập trung sản xuất các mặt hàng có giá trịnghệ thuật, phù hợp với thị hiếu của du khách, hướng dẫn họ tìm hiểu quy trình sảnxuất, cách làm và đặc biệt thích tự tay mình làm được một sản phẩm nào đó Liên kếtxây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các công ty du lịch của tỉnh và các địa phươngkhác, thường xuyên cập nhật thông tin và có nguồn khách ổn định.[26]
1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra vận dụng cho Thành phố Huế, tỉnh
Thừa Thiên Huế
Đối với Thành phố Huế, phát triển TTCN nói chung và nghề nón lá nói riêng cóvai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển KT – XH Từ kinh nghiệm của một sốnước trên thế giới và các tỉnh thành khác ở trong nước, có thể rút ra một số bài họckinh nghiệm như sau:
- Một là, bất kỳ địa phương nào trong quá trình CNH, HĐH cũng đều không nênxem nhẹ vai trò của các ngành nghề TTCN Phát triển TTCN, nghề truyền thống là nội
Trang 34dung quan trọng trong sự phát triển bền vững, phù hợp với tiêu chí hòa nhập nhưngkhông hòa tan mà Chính phủ đề ra
- Hai là, cần tận dụng được những đặc trưng riêng biệt, những lợi thế so sánh củađịa phương về cả phương diện điều kiện tự nhiên lẫn phương diện các yếu tố truyềnthống; tìm ra, định hướng và phát triển dựa trên các lợi thế sẵn có đó
- Ba là, nâng cao vai trò của các hiệp hội nghề, làng nghề là rất cần thiết để đảmbảo sự phát triển của nghề truyền thống Các hiệp hội nghề cần có sự định hướng về tổchức cũng như phương thức hoạt động chuyên nghiệp nhằm đảm bảo được sự ổn định
và phát triển của nghề
- Bốn là, cần áp dụng khoa học kỹ thuật, máy móc và công nghệ mới vào nhữngkhâu cần thiết nhằm tăng năng suất lao động và giảm giá thành, từ đó làm tăng khảnăng cạnh tranh của sản phẩm
phẩm cần phải đa dạng hóa hơn nữa, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, đặcbiệt là khách du lịch – thị phần khách hàng đầy tiềm năng của các mặt hàng TTCN,thủ công truyền thống
- Sáu là, cần thường xuyên tổ chức các hội chợ, triễn lãm để giới thiệu và quảng
bá sản phẩm Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để tạo điều kiện và có chiếnlược quảng bá sản phẩm rộng rãi ra các khu vực trong cũng như ngoài nước, thu hút vàtạo thị trường rộng hơn cho đầu ra sản phẩm
- Bảy là, cần có sự quan tâm đặc biệt đối với đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi, thợlành nghề, mời các nghệ nhân bồi dưỡng truyền nghề cho lực lượng thợ trẻ thông quacác lớp đào tạo, hội thảo, trao đổi kinh nghiệm
Tóm lại: Qua chương 1, khóa luận đã nêu được cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
của việc phát triển các ngành nghề TTCN, cụ thể: Nêu lên các khái niệm liên quan đến
TTCN, vị trí, vai trò của TTCN trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, các đặc điểmcũng như nhân tố ảnh hưởng đến nghề TTCN Ngoài ra, khóa luận cũng đã nêu lên cáctiêu chí đánh giá nghề TTCN, cũng như những thực tiễn và kinh nghiệm phát triển
Trang 35TTCN ở một số nước trên thế giới và một số địa phương trong nước, từ đó rút ra bàihọc cho thành phố Huế.
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGHỀ NÓN LÁ Ở
THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 K HÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN , KINH TẾ , XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ H UẾ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huế là thành phố trực thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, thuộc vùng đồng bằng duyênhải miền Trung Việt Nam Huế là đô thị cấp quốc gia của Việt Nam và từng là kinh đôcủa Việt Nam thời phong kiến dưới triều nhà Nguyễn (1802 - 1945) Hiện nay, thànhphố là trung tâm về nhiều mặt của miền Trung như văn hoá, chính trị, y tế, giáodục, du lịch, khoa học
Trang 37Thành phố Huế là trung tâm của tỉnh Thừa Thiên Huế, tọa lạc hai bên bờ sônghương, nằm ở phía Bắc đèo Hải Vân Phía Đông Bắc giáp Huyện Phú Vang Phía Tây
và Tây Nam giáp Huyện Hương Trà Phía Nam và Đông Nam giáp Huyện HươngThủy.[5]
Khu vực thành phố Huế là đồng bằng thuộc vùng hạ lưu sông Hương và sông Bồ,
có độ cao trung bình khoảng 3 – 4 m so với mực nước biển Khu vực này tương đốibằng phẳng, trong đó có xen kẽ một số đồi, núi thấp như núi Ngự Bình, đồi VọngCảnh.[5]
Khí hậu thành phố Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởngcủa khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta với dãy Bạch Mã là ranhgiới khí hậu tự nhiên Huế là nơi diễn ra sự giao tranh giữa các khối không khí khácnhau, hệ quả là hầu hết các loại thiên tai có ở nước ta đều xuất hiện ở đây như bão, lũ,hạn hán, lốc tố, mưa đá, gió khô nóng, rét đậm.[5]
Thành phố Huế nằm trên trục Bắc - Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt,đường hàng không và đường biển, gần tuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đườngXuyên Á, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ, có hệ thống giao thông kết nốithuận lợi với Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác trong
Trang 38Tổng số Người 34255
0
346070
Biểu đồ 2.1 Dân số thành phố Huế theo giới tính giai đoạn 2011-2016
Qua biểu đồ 2.1 có thể thấy rằng dân số thành phố Huế tăng khá đều trong cảthời kỳ 2011-2016, với tỉ lệ dân số nữ cao hơn tỉ lệ dân số nam
Tổng số người trong độ tuổi lao động là 134437 người (trong đó lao động nữ
58661 người) (2016)
Trang 39Bảng 2.2 Dân số trên 15 tuổi tại thành phố Huế năm 2016
(ĐVT: Người)
Trong độ tuổi lao động Trên độ tuổi lao động
(Nguồn: Phòng lao động - thương binh và xã hội thành phố Huế)
Số người trong độ tuổi lao động là 134437 người, chiếm 38% dân số Số ngườingoài độ tuổi lao động là 220658 người, chiếm 62%, trong đó số người trên độ tuổilao động là 18797 người, tương ứng khoảng 5% và số người dưới độ tuổi lao động là
201861 người, tương ứng khoảng 57% dân số
Dưới tuổi lao động Trong tuổi lao động Trên tuổi lao động
Biều đồ 2.2 Cơ cấu dân số thành phố Huế theo độ tuổi năm 2016
Qua biểu đồ trên có thể thấy rõ số dân dưới tuổi lao động chiếm phần lớn trong
cơ cấu dân số của thành phố, điều này chứng tỏ dân số của thành phố Huế đang có cơcấu dân số trẻ, và tiềm năng của nguồn nhân lực trong tương lai là vô cùng dồi dào
Bảng 2.3: Lao động đang làm việc trên địa bàn thành phố Huế
giai đoạn 2014-2016 phân theo ngành kinh tế
Trang 40kinh tế
Số lao động (người)
Tỉ lệ
(%)
Số lao động (người)
Tie lệ
(%)
Số lao động (người)
Tỉ lệ (%) Nông – lâm –
(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Huế)
Từ Bảng 2.3 ta có thể thấy ngành dịch vụ là ngành có số lao động tăng rõ rệt nhấttrong các ngành kinh tế, biểu hiện ở cả con số thực tế và cơ cấu lao động Với cơ cấu laođộng chiếm tỉ trọng trên 60%, có thể thấy rằng nền kinh tế của Thành phố Huế đang dịchchuyển theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản, tăng tỷ trọng ngành côngnghiệp, xây dựng, đặc biệt là dịch vụ, phù hợp với tiêu chí xây dựng một thành phố du lịchcủa đất nước
2.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Huế
- Tình hình chung về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Về tăng trưởng kinh tế, trong những năm vừa qua cùng với sự phát triển chungcủa tỉnh, nền kinh tế thành phố Huế đã có những bước tăng trưởng, nhưng chủ yếu là
du lịch – dịch vụ - thương mại; Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, sau đó là sản xuấtnông nghiệp
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm liên tục tăng Năm 2015, doanh thu du lịchước đạt 1.743 tỷ đồng, tăng 16,9 % so với năm trước Tỷ trọng Du lịch, dịch vụ -thương mại chiếm 72,09%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 26,96%; Nông nghiệpchiếm 0,95%
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành đang có sự chuyển dịchđúng hướng, ngành nông nghiệp giảm tỉ trọng, du lịch, dịch vụ, thương mại và côngnghiệp – xây dựng phát triển tăng tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố