1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế

88 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Nghề đúc đồng truyền thống là một bộ phận quan trọng trong hệ thống nghềtruyền thống đã hình thành và tồn tại trong suốt quá trình phát triển kinh tế xã hội Việ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

PHÁT TRIỂN NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG

Ở THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Lớp: K48 KTCT

Niên khóa: 2014 – 2018

Huế, tháng 01 năm 2018

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, các cơ quan ban ngành, bạn bè và người thân.

Đầu tiên, xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo

TS Hà Xuân Vấn đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến quý thầy cô trong khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập, đó là những ý kiến đóng góp hết sức quý báu.

Xin gửi đến các cô, chú, anh, chị trong Phòng kinh tế thành phố Huế lời cảm ơn chân thành vì đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực tập tại cơ quan cũng như trong quá trình thu thập số liệu

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè

đã luôn bên tôi, động viên, khích lệ, ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những sai sót nhất định,vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và mọi người để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Cuối cùng, kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe

và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc

cô, chú, anh, chị Phòng kinh tế thành phố Huế dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc cũng như trong cuộc sống Kính chúc gia đình, người thân và bạn bè dồi dào sức khỏe

Trang 4

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 01 năm

2018 Sinh viên thực hiện Nguyễn Ái Trúc

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 5

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG 6

1.1 Cơ sở lý luận của nghề đúc đồng truyền thống 6

1.1.1 Một số khái niệm 6

1.1.2 Nguồn gốc, nội dung, đặc điểm 9

1.1.3 Các sản phẩm và quy trình tạo sản phẩm của nghề đúc đồng 12

1.1.4 Vai trò của nghề đúc đồng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 14

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề đúc đồng 17

1.1.6 Tiêu chí đánh giá phát triển nghề đúc đồng truyền thống 20

Trang 5

1.2 Cơ sở thực tiễn của nghề đúc đồng truyền thống 22

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nghề đúc đồng truyền thống của một số nước ở Châu Á 22

1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nghề đúc đồng truyền thống tại một số địa phương trong nước 25

1.2.3 Kinh nghiệm rút ra trong việc phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở Thành phố Huế 27

Chương 2.THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG Ở THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 29

2.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Huế 29

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

2.1.3 Đánh giá về địa bàn nghiên cứu 36

2.2 Tình hình phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế 38

2.2.1 Khái quát các nghề truyền thống ở Thành phố Huế 38

2.2.2 Tình hình về nghề đúc đồng truyền thống ở Thành phố Huế 41

2.2.3 Thực trạng nghề đúc đồng truyền thống qua điều tra ở Thành phố Huế 45

2.3 Đánh giá chung về phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế 55

2.3.1 Kết quả đạt được 55

2.3.2 Hạn chế trong việc phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế 56

2.3.3 Nguyên nhân 57

2.3.4 Những vấn đề đặt ra nhằm phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế 58

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 59

3.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế 59

3.1.1 Phương hướng 59

3.1.2 Mục tiêu 60

3.2 Giải pháp nhằm phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế 61

3.2.1 Về quy hoạch tổng thể nghề 61

Trang 6

3.2.2 Tạo sự các mối liên kết, hợp tác giữa các đơn vị trong ngành thông qua các hiệp

hội làng nghề 62

3.2.3 Tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm của nghề đúc đồng truyền thống Huế 62

3.2.4 Về phát triển chất lượng sản phẩm cũng như thiết kế mẫu mã cho sản phẩm đúc đồng 63

3.2.5 Huy động nguồn vốn phát triển nghề đúc đồng 64

3.2.6 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của thị trường 65

3.2.7 Phát triển hệ thống quảng bá sản phẩm và xúc tiến bán hàng 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

I Kết luận 67

II Kiến nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC

Trang 7

TCTT Thủ công truyền thốngSXKD Sản xuất kinh doanh

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình dân số và lao động thành phố Huế giai đoạn 2014 – 2016 32

Bảng 2.2: Lao động đang làm việc trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn 2014-2016 phân theo ngành kinh tế 33

Bảng 2.3: Chỉ tiêu Kinh tế - Xã hội – Môi trường của Thành phố Huế giai đoạn 2014 – 2016 35

Bảng 2.4: Tốc độ tăng trường sản phẩm trong tỉnh 36

Bảng 2.5: Danh mục các nghề truyền thống Thành phố Huế 39

Bảng 2.6 : Tình hình lao động của nghề đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn 2014 – 2016 41

Bảng 2.7 : Số lượng sản phẩm kinh doanh của nghề đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế 42

Bảng 2.8 : Vốn đầu tư trang thiết bị sản xuất nghề đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn 2014 – 2016 43

Bảng 2.9 : Tình hình nguồn vốn, vốn vay của nghề đúc đồng trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn 2014 – 2016 44

Bảng 2.10: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra 46

Bảng 2.11 Lao động và mặt bằng sản xuất kinh doanh của các cơ sở điều tra năm 2016 47

Bảng 2.12 Tình hình vốn sản xuất kinh doanh của các cơ sở điều tra 48

Bảng 2.13 Kết quả sản xuất bình quân của các cơ sở điều tra 50

trong giai đoạn 2014 - 2016 50

Bảng 2.14 Hiệu quả sản xuất của các cơ sở điều tra trong giai đoạn 2014 – 2016 trong kết quả điều tra và tiến hành xử lý thông qua bảng sau: 51

Bảng 2.15 Những vấn đề khó khăn của các cơ sở điều tra 52

Bảng 2.16 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở điều tra 55

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Bản đồ Thành phố Huế 29

Biểu đồ 2.2 Dân số trong độ tuổi lao động của Thành phố Huế 2014 -2016 33

Biểu đồ 2.3 Cơ cấu vốn vay của các cơ sở đúc đồng năm 2016 49

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu thị trường mua nguyên vật liệu 54

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghề đúc đồng truyền thống là một bộ phận quan trọng trong hệ thống nghềtruyền thống đã hình thành và tồn tại trong suốt quá trình phát triển kinh tế xã hội ViệtNam nói chung và mỗi địa phương nói riêng, đó là những làng nghề với những cơ sở

đã có từ lâu đời chuyên sản xuất những sản phẩm thủ công bằng đồng để phục vụ chocác mục đích sử dụng của đời sống Theo dòng chảy của sự vận động và phát triển,cũng như bao ngành nghề khác, nghề đúc đồng đã trải qua các giai đoạn hưng thịnh vàsuy tàn nhất định, cho đến ngày nay nghề đúc đồng đã giữ một vai trò quan trọng trongđời sống kinh tế và xã hội

Thành phố Huế nằm ở dải đất hẹp của miền Trung Việt Nam Đây là nơi đã gắn

bó với truyền thống lịch sử lâu đời, tồn tại nhiều nét văn hóa của cố đô, gắn với nhữngđặc điểm chung về lịch sử, truyền thống, văn hóa của đất kinh đô nên Thành phố Huế

có những nét nổi bật để phát triển kinh tế xã hội Nơi đây không chỉ nổi tiếng bởi hệthống di sản văn hóa đa dạng phong phú, danh lam thắng cảnh nổi tiếng mà còn nổitiếng với nhiều nghề truyền thống Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài việc phát triểnnghề đúc đồng truyền thống luôn gặp nhiều khó khăn, hạn chế do sự biến động của thịtrường, cơ chế quản lý, thu nhập và đặc biệt là khả năng tiếp cận thị trường nước ngoàiluôn gặp hạn chế Để khắc phục những khó khăn trên chính quyền địa phương luônkhuyến khích, tạo điều kiện để phát triển nghề đúc đồng truyền thống Bên cạnh việckhôi phục nghề đúc đồng còn chú trọng phát triển nghề gắn với du lịch tạo điều kiệnquảng bá thương hiệu nghề đúc đồng truyền thống Trong những năm gần đây, việcphát triển nghề đúc đồng truyền thống đã mang lại diện mạo mới cho cuộc sống củangười dân, tạo nên bức tranh sống động của địa phương làm tiền đề cho sự phát triểnkinh tế xã hội

Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ

sở đúc đồng trên địa bàn vẫn còn yếu, chưa tạo được những chuyển biến lớn nhằmtăng tốc cho sự phát triển của ngành, thể hiện ở giá trị sản xuất vẫn chưa cao so với cáctỉnh, thành phố khác Số lượng các cơ sở và lao động có xu hướng giảm theo mỗi năm

Trang 11

và phần lớn các cơ sở chỉ duy trì sản xuất ở quy mô nhỏ, cùng với mẫu mã chưa phongphú, bao bì thẩm mỹ kém nên chưa đáp ứng tốt thị hiếu tiêu dùng của khách hàngtrong và ngoài nước Bên cạnh đó, do không áp dụng các công nghệ kỹ thuật hiện đạivào quá trình sản xuất nên năng suất thấp, giá trị lao động thủ công trong một đơn vịsản phẩm còn quá lớn làm cho giá thành cao, đồng thời công tác tuyên truyền, tiếp thịquảng cáo còn ít được chú trọng , và trình độ quản lý của chủ cơ sở vẫn còn hạn chế.

Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển nghề đúc đồng ở Thành phố Huế, tỉnh ThừaThiên Huế, đánh giá đúng thực trạng và từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nhằmkhai thác có hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tạo ra nhiều việclàm, ổn định và nâng cao thu nhập cho người lao động được đặt ra cấp thiết

Với những lý do trên, tôi chọn “Phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Về phát triển nghề đúc đồng truyền thống đã có nhiều công trình nghiên cứu,những bài viết đề cập đến như:

- Nguyễn Thị Thảo, “Làng nghề gò đúc đồng đại bái với sự phát tiển du lịch tỉnhBắc Ninh”, Khóa luận tốt nghiệp – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2009

- Đào Ngọc Tiến, Vũ Huyền Phương, Đoàn Quang Hưng, “Xây dựng hệ thốngtiêu chí đánh giá phát triển bền vững tại một số làng nghề truyền thống đồng bằng BắcBộ”, Tạp chí kinh tế và phát triển, tháng 2 năm 2012

- Nguyễn Thanh Yến Thanh, “ Ảnh hưởng của làng nghề đúc đồng đến môitrường sống của người dân ở Thành phố Huế”, Khóa luận tốt nghiệp – Trường Đại họcKinh Tế - Đại học Huế, 2012

- Phan Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thị Chính, “Xây dựng thương hiệu cho làngnghề truyền thống Việt Nam”, Tạp chí kinh tế và phát triển, tháng 9 năm 2013

- Hoàng Thị Kim Oanh, “Giải pháp phát triển nghề đúc đồng trên địa bàn thànhphố Huế”, khóa luận tốt nghiệp – Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế, 2013

- Lê Đăng Hải, “ Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn Huyện PhúXuyên, Thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, 2015

- Hồ Thắng, Nguyễn Văn Toàn, Mai Chiếm Tuyến, “Quy mô và chất lượng lao

Trang 12

động tiểu thủ công nghiệp ở các nghề và làng nghề của Thừa Thiên Huế”, Tạp chí kinh

tế và phát triển, số 224(II), tháng 2 năm 2016

Và một số đề tài cấp bộ, luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp khác ở trườngĐại học Kinh tế - Đại học Huế cũng có đề cập đến vấn đề này

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nghề đúc đồng truyền thống, khóaluận trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng nghề đúc đồng ở Thành phố Huế, TỉnhThừa Thiên Huế, từ đó đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nghề đúc đồngtruyền thống ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm tới

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghề đúc đồng truyền thống

- Đánh giá thực trạng phát triển nghề đúc đồng truyền thống trên địa bàn thànhphố Huế, Tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành nghề đúc đồng trên địabàn thành phố Huế, Tỉnh Thừa Thiên Huế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu vào các hộ gia đình, các cơ sở có làm nghề đúc đồngtrên địa bàn thành phố Huế, Tỉnh Thừa Thiên Huế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt không gian: Địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Về mặt thời gian: Tình hình sản xuất trong giai đoạn 2014 – 2016, đưa ra giảipháp đến năm 2025

- Về nội dung: Nghiên cứu tình hình phát triển nghề đúc đồng truyền thống tạithành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phát triểnnghề đúc đồng truyền thống tại thành phố Huế

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 13

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch được sử dụng xuyên suốttrong quá trình nghiên cứu của đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Đối với số liệu thứ cấp: Nguồn tài liệu được thu thập từ niên giám thống kê củatỉnh Thừa Thiên Huế, số liệu từ phòng kinh tế thành phố Huế, tài liệu từ các nguồnsách báo, báo điện tử, các báo cáo khoa học, khóa luận tốt nghiệp, công trình nghiêncứu khoa học của nhiều tác giả liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu…

- Đối với số liệu sơ cấp:

+ Phỏng vấn 38 cơ sở đúc đồng trên địa bàn thành phố Huế

+ Phỏng vấn 2 cán bộ địa phương nhằm tìm hiểu quá trình hình thành và pháttriển việc đúc đồng; các chương trình, chính sách hỗ trợ hoạt động đúc đồng; tình hìnhphát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố, tổ và nhóm giải pháp mà chính quyềnđưa ra để giải quyết các tồn tại trong quá trình phát triển ngành nghề đúc đồng

+ Đi thực địa quan sát quá trình đúc đồng của các đơn vị trên địa bàn thành phố Huế

5.2.2 Phương pháp xử lý số liệu:

Số liệu được lưu trữ và xử lý thông qua phần mềm Microsoft Office Excel

5.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phương pháp tổng hợp và chi tiết hóa để phân tích ảnh hưởng của cácnhân tố tới sự phát triển của ngành nghề

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phát triển nghề đúc đồng truyền thống

Từ thực trạng phát triển nghề đúc đồng ở Thành phố Huế, xác định ưu điểm, nhượcđiểm và nguyên nhân trong quá trình phát triển Đề xuất phương hướng và một số giải

Trang 14

pháp chủ yếu nhằm phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế, tỉnh ThừaThiên Huế.

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục và mục lục,

đề tài gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghề đúc đồng truyền thống

Chương 2: Thực trạng phát triển nghề đúc đồng truyền thống ở thành phố Huế,tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển nghề đúc đồng truyền thống ởthành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 15

1.1.1.1 Khái niệm phát triển

Trước hết cần làm rõ khái niệm “phát triển”, “phát triển” tuy ban đầu được cácnhà kinh tế học định nghĩa là “tăng trưởng kinh tế”, nhưng nội hàm của nó từ lâu đãvượt khỏi phạm vi này, được nâng cấp sâu sắc hơn và chính xác hơn

- Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng,giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng; đồngthời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua nhữngbước quanh co phức tạp [2]

- Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triểndùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên: từtrình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Như vậy, kháiniệm phát triển không đồng nhất với khái niệm "vận động" (biến đổi) nói chung; đókhông phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổituần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoànthiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn [2]

- Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn

có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và

kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật,hiện tượng mới [2]

- Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theohướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội…[19]

- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ratính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính

Trang 16

của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng tháikhác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,… nguồn gốc của phát triển là sự thốngnhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” [1].

Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế xã hội rộng lớn, trong khuôn khổ một địnhnghĩa hay một khái niệm ngắn gọn không thể bao hàm hết được nội dung rộng lớn của

nó Song nhất thiết khái niệm đó phải phản ánh được các nội dung cơ bản sau:

– Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của vật chất,dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, cókhả năng khai thác nguồn lực trong nước và ngoài nước

– Sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đờisống dân cư

– Sự phát triển là quy luật tiến hoá, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố,trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài

có vai trò quan trọng

→ Từ những quan niệm trên, ta có thể hiểu Phát triển là biến đổi hoặc làm chobiến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giảnđến phức tạp cả về số lượng lẫn chất lượng và cơ cấu

1.1.1.2 Khái niệm nghề truyền thống

- Theo từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công laođộng của xã hội”[19] Từ khái niệm trên có thể hiểu, nghề chính là sự chuyên môn hóa vềmột lĩnh vực nhất định, có thể sản xuất sản phẩm theo các chất liệu khác nhau và kinhdoanh các mặt hàng đó trên thị trường nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng

- Truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ,được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác [19]

- Nghề truyền thống là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản xuấtchủ yếu là làm bằng tay, được truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác Cùng với sựphát triển của khoa học kỹ thuật, có thể sử dụng các máy móc, hóa chất và các giảipháp của công nghiệp trong một số công đoạn, nhưng phần quyết định và hình thứcđặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay

- Nghề truyền thống của Việt Nam vốn có truyền thống quý báu từ lâu đời, gắn

Trang 17

liền với những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản phẩm thủ côngtruyền thống, với những nét độc đáo, tinh xảo, hoàn mỹ

Căn cứ Nghị định số 86/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ

về phát triển ngành nghề nông thôn: Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từlâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và pháttriển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền

Nghề được công nhận là nghề truyền thống nhất thiết phải có các tiêu chí sau[25]

+ Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta

+ Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề

+ Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề

+ Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định ở Việt Nam

+ Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn, hoặc chủ yếu nhất

+ Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng rất cao,vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các

di tích văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam

+ Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng Có đóng gópđáng kể về kinh tế vào ngân sách nhà nước

Từ những khái niệm và tiêu chí trên có thể hiểu rằng: “ Nghề truyền thống lànhững nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế củanước ta, còn tồn tại đến ngày nay Bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp được cảitiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhưng vẫn tuân thủcông nghệ truyền thống [23]

1.1.1.3 Nghề đúc đồng truyền thống

Nghề đúc đồng truyền thống là một bộ phận quan trọng của LNTT nói riêng vàcủa nền kinh tế đất nước nói chung Nghề đúc đồng truyền thống thường có đại bộphận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu chatruyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề được thực hiện bằng phương pháp truyền nghề.Song sự truyền nghề này luôn có sự tiếp thu cải tiến, sáng tạo làm cho sản phẩm củamình có những nét độc đáo riêng so với những sản phẩm của người khác

Trang 18

Qua khái niệm nghề và nghề truyền thống được trình bày ở trên thì nghề đúcđồng truyền thống trước hết là nghề tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là nơiquy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làmnghề đúc đồng lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất, tiêu thụ sảnphẩm [23].

1.1.2 Nguồn gốc, nội dung, đặc điểm

1.1.2.1 Nguồn gốc

Việt Nam được biết đến là một Quốc gia có nền văn hóa cổ truyền lâu đời, mang

ý nghĩa về văn hóa và lịch sử Trong đó, không thể không kể đến nghề đúc đồng ViệtNam trải qua hàng nghìn năm gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân

Việt Nam hiện có khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau, trong đó đaphần đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm song song với quá trình phát triểnkinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước Ví như sản phẩm lụa của HàĐông (Hà Tây) có trên 1.700 năm lịch sử, sản phẩm gốm bát tràng (Hà Nội) đã có gần

500 năm tồn tại, nghề đan mây tre ở Phú Vinh (Hà Tây) cũng đã hình thành từ cáchđây 700 năm… Trong các ngành nghề đó thì nghề đúc đồng là nghề thủ công cótruyền thống lâu đời và nổi tiếng bật nhất ở việt Nam Nghề đúc đồng Việt Nam đãxuất hiện từ thời Phùng Nguyên, cách đây khoảng hơn 4 nghìn năm và trong suốt quátrình phát triển các nghệ nhân đúc đồng đã tạo ra rất nhiều sản phẩm nổi tiếng tronglịch sử văn hóa dân tộc Như trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ ở thời cácvua Hùng; Cửu Đỉnh và Cửu vị thần công ở thời nhà Nguyễn hiện được đặt tại khuvực Đại Nội Huế; pho tượng thánh Trấn Vũ bằng đồng đen đặt ở đền Quán Thánh, HàNội [10]

Từ thời Lý – Trần, đến các thời Lê, Nguyễn, đã chú trọng đến nghề đúc đồngcàng phát triển mạnh, tạo nên những sản phẩm đúc đồng hết sức đa dạng Những thế

hệ thợ đúc đồng thuộc các triều đại từ Lý – Trần về sau không chỉ sử dụng các kimloại đồng thời kì Đông Sơn, mà còn dùng thêm cả vàng, bạc để đúc tượng Phật quý,đúc chuông, khánh để tạo ra âm thanh trong và vang xa [8]

Trước thế kỷ thứ X, Vua Đinh Tiên Hoàng đã cho đúc tiền bằng đồng đầu tiêntrong lịch sử Sau này Lý Quốc Sư là người đúc tượng Phật chùa Quỳnh Lâm góp phần

Trang 19

tạo nên “Tứ đại khí” là báu vật nổi tiếng của nước Đại Việt Ông là người sưu tầmphục hưng nghề đúc đồng – tinh hoa văn minh Đông Sơn – văn minh của người Việt

cổ mà trở thành tổ sư nghề đúc đồng ở Việt Nam [10]

Ngày nay, nghề đúc đồng vẫn luôn chiếm được tình cảm và sự yêu thích củakhách hàng với đồ đồng thờ cúng đại phát và nhiều loại đồ thờ cúng khác

Khi nhắc đến nghề đúc đồng chắc hẳn ai cũng hình dung trong đầu ra những địađiểm nổi tiếng của nghề đúc đồng như Đại Bái – Bắc Ninh, Ngũ Xã – Hà Nội, Yên Xá– Nam Định… Đó là những làng nghề truyền thống còn tồn tại và phát triển bền vữngđến ngày nay, mỗi năm ở các làng nghề này cung cấp ra thị trường hàng ngàn sảnphẩm đồng mỹ nghệ, những món đồ thờ cúng bằng đồng, món quà tặng bằng đồng quýgiá, hay những vật phẩm linh vật mang lại may mắn, phúc lộc, tài vận cho người sởhữu Ngoài ra ở những làng nghề trên còn không ngừng tìm hiểu để tìm ra kỹ thuật đúctượng đồng, đúc tượng chân dung, đúc tượng phật theo yêu cầu của quý khách hàngvới nhiều kích thước, và tỷ lệ pha trộn khác nhau

1.1.2.2 Nội dung

- Phát triển về quy mô số lượng sản phẩm của nghề đúc đồng: Số lượng sảnphẩm chính là biểu hiện để đánh giá xem nghề đúc đồng có được phát triển tốt haykhông Số lượng sản phẩm tiêu thụ càng cao chứng tỏ được sự phát triển của nghề đúcđồng và ngược lại

- Phát triển về chất lượng của sản phẩm nghề đúc đồng: Chất lượng của sản phẩm

là yếu tốt tiên quyết giúp cho nghề đúc đồng phát triển Chất lượng sản phẩm có tốt thìthị trường tiêu thụ của nghề đúc đồng mới càng mở rộng hơn, từ đó đóng góp vào sựphát triển chung của nghề đúc đồng

- Phát triển về cơ cấu sản phẩm theo hướng biến đổi các dạng sản phẩm phù hợpvới công nghệ hiện đại và thị trường: Với nhu cầu thị trường ngày càng cao, đòi hỏisản phẩm của đúc đồng làm ra phải phong phú, đa dạng, phù hợp với thị hiếu ngườitiêu dùng Phát triển cần phân chia cơ cấu sản phẩm nghề đúc đồng để phù hợp hơnvới thị trường

Trang 20

1.1.2.3 Đặc điểm

Một là, Tồn tại với nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

+ Nghề TCTT của Việt Nam có lịch sử lâu đời, phát triển đa dạng, phong phú,mang bản sắc văn hóa Việt Vì vậy, sự ra đời và phát triển của nghề TCTT không táchrời sự phát triển, phong tục, tập quán, văn hóa, tư duy của người nông thôn Việt Nam.+ Nghề đúc đồng truyền thống ở nước ta ra đời và tách dần khỏi nông nghiệp.Ban đầu, người lao động ở nông thôn do nhu cầu cuộc sống và việc làm đã làm một sốnghề thủ công bên cạnh nghề nông Khi lực lượng sản xuất phát triển, nghề đúc đồngtách ra nghề độc lập, vươn lên thành một nghề chính trong làng Song, để đảm bảocuộc sống, người dân thường làm thêm nghề nông hay buôn bán và làm thêm nhiềunghề khác Sự kết hợp đa nghề thường thể hiện trong một làng hay gia đình Bởi ngườithợ thủ công cũng chính là người làm nông nghiệp Do vậy, những đặc tính của ngườinông dân đều được thể hiện trong đặc tính của người thợ thủ công, mang những nétvăn hóa làng xã

Hai là, Sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống có tính mỹ thuật cao, mang

đậm bản sặc văn hóa dân tộc

+ Bản sắc văn hóa của bất cứ dân tộc nào cũng đều là nền tảng cho sự tồn tại củadân tộc đó Truyền thống văn hóa được biểu hiện tập trung ở bản sắc văn hóa dân tộc,

đó vừa là động lực cũng là mục tiêu của sự phát triển

+ Đời sống tâm linh của người Việt Nam rất đa dạng, phong phú Chính vì vậy,việc thờ cúng tổ tiên trang trọng bằng đồng hầu như không thể thiếu vắng trên bàn thờcủa mỗi gia đình Nghề đúc đồng tồn tại, phát triển gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng

ấy Ngày nay, các nghệ nhân đúc đồng vẫn tiếp tục duy trì truyền thống đó bên cạnhviệc phát triển những sản phẩm mới mang đậm văn hóa dân tộc để phục cho nhu cầucủa người tiêu dùng

+ Các sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở Nhà nước Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các trống đồng và các hoạ tiết trên đồ vật đúc đồng

Trang 21

đến những nét chấm phá trên các tượng đồng tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.

Ba là, Tính mỹ thuật, độc đáo của sản phẩm là sự kết tinh và tính kế tục qua

nhiều thế hệ của lao động thủ công

+ Phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực hiện theo phương pháp truyền nghề.Chính nghệ nhân, thợ cả đã giữ cho nghề tồn tại, đã tạo ra những người thợ kế tục theophương pháp “cầm tay chỉ việc”, “vừa làm vừa học” ngày này qua ngày khác, năm nàysang năm khác Những người thợ không chỉ sản xuất ra những sản phẩm tiêu dùng mà

họ còn là những nghệ nhân chuyên sản xuất ra những sản phẩm mang tính nghệ thuậtcao Kế thừa và phát huy tính mỹ thuật độc đáo của nghề đúc đồng chính là điều kiệngiúp nghề đúc đồng tồn tại trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay

+ Lao động trong ngành nghề chủ yếu là lao đông thủ công, nhờ vào kỹ thuật kéoléo, tài hoa, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và tính sáng tạo của ngườithợ, người nghệ nhân Đây chính là thách thức lớn đối với nghề đúc đồng, phải cải tiếnphương thức sản xuất để phù hợp với thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay

Bốn là, Nghề đúc đồng truyền thống là sản phẩm của hình thức tổ chức sản xuất

theo địa bàn cư trú và có tính gia truyền

Nghề đúc đồng truyền thống nói riêng và nghề Việt Nam nói chung là kết quảcủa quá trình phát triển của xã hội loài người Làng xã Việt Nam có tổ chức chặt chẽ

Đó chính là môi trường sống, là tập thể cộng đồng chủ yếu của người Việt Nam, làkết quả của nền nông nghiệp tự cấp, tự túc, ít nhu cầu trao đổi hàng hóa, nền sản xuấtnông nghiệp không phát triển Trong các làng nghề đúc đồng truyền thống, các sảnphẩm đúc đồng thường được sản xuất ngay trong làng, thậm chí ngay trong từng nhà

ở những thời kỳ nông nhàn Nghề đúc đồng trong các làng nghề mang tính giatruyền, theo hình thức cha truyền con nối Mô hình đó, đến nay vẫn còn thích hợpvới nghề này

1.1.3 Các sản phẩm và quy trình tạo sản phẩm của nghề đúc đồng

1.1.3.1 Các sản phẩm của nghề đúc đồng

- Các sản phẩm truyền thống đặc trưng như lư đồng, bát hương, tam sự, ngũ sự,chuông, cồng, chiêng

Trang 22

- Các sản phẩm lưu niệm tinh xảo bằng đồng cũng được sản xuất phục vụ khách

du lịch tại chỗ như tượng danh nhân, trống đồng, bình hoa, và các biểu tượng văn hóatiêu biểu của Huế và đất nước

- Những chi tiết máy dùng trong công nghiệp và những linh kiện có tính chínhxác cao

1.1.3.2 Quy trình tạo sản phẩm của nghề đúc đồng truyền thống

- Bước 1: Tạo mẫu

+ Dùng đất sét chuyên ngành điêu khắc đắp mẫu theo quy định, chỉnh sửa đườngnét, ngôn ngữ điêu khắc của thành phẩm trên từng thành phẩm

+ Khi đạt được yêu cầu làm khuôn thạch cao âm bản chỉnh sửa đổ ra khuôn thạch cao.+ Bản chỉnh sửa đường nét như phát thảo đã được duyệt

- Bước 2: Tạo khuôn

+ Dùng đất + trấu + Giấy gió Để làm khuôn âm bản (Khuôn mở hay còn gọi làkhuôn 2 nửa)

+ Sau đó dùng đất bùn củ + trấu + Bột chịu nhiệt làm cốt bên trong (gọi là làm thao) + Nung chín khuôn ở nhiệt độ 700 độ C, sau đó để nguội căn chỉnh độ dày mỏngcủa phần đồng, đạt theo yêu cầu kỹ thuật

+ Chỉnh sủa khuôn, lau nhãn, quét sơn chịu nhiệt nung lại 1 lượt nữa ở nhiệt độ

500 độ C, ghép khuôn thành 1 khối

- Bước 3: Nấu chảy nguyên liệu

Nấu đồng ở nhiệt độ 1200 độ C, khi đồng chảy hết pha tỷ lệ Thiếc + Chì + Kẽmtheo yêu cầu, chỉnh nhiệt độ là 1250 độ C, nước đồng lỏng đạt theo yêu cầu lúc đó đưa

ra và rót vào khuôn

- Bước 4: Rót khuôn

Trước khi đúc đồng và các hợp kim nóng chảy vào khuôn phải nung khuôn nóngđều, đủ độ nhiệt cho đồng chảy đều trong khuôn Đây là khâu khó nhất phải nhờ kinhnghiệm của đôi mắt và khả năng phán đoán của nghệ nhân

- Bước 5: Hoàn thiện sản phẩm

Sau khi khuôn nguội, dỡ khuôn lấy sản phẩm ra mài, giũa, đục, tách, mà rũa theomẫu và con mắt của nghệ nhân phải đồng sắc - đồng khí mới đạt yêu cầu kỹ thuật ,

Trang 23

nghệ thuật Khó đúc nhất là các loại: sản phẩm có các thành phần chi tiết nhỏ, tượngchân dung Phật, người phải có thần thái; chuông, khánh đánh lên phải trong trẻo, ngânvang [27].

1.1.4 Vai trò của nghề đúc đồng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, nghề đúc đồng tuy lànghề truyền thống, nhưng lại giữ vai trò vô cùng quan trọng, góp phần vào sự pháttriển kinh tế - xã hội

1.1.4.1 Phát triển nghề đúc đồng truyền thống góp phần tạo việc làm cho người lao động

- Làng nghề Việt Nam hàng năm góp phần giải quyết số lượng lớn lao động nôngthôn nhàn rỗi Lao động ở khu vực nông thôn hiện nay đang chiếm một tỷ lệ rất lớntrong tổng số lao động của cả nước Phát triển nghề truyền thống giải quyết được việclàm tại chỗ cho người lao động, thể hiện được chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước

là xóa đói giảm nghèo, tạo cơ hội làm giàu ngay tại địa phương Thu hút được mộtlượng lớn lao động tại các địa phương, góp phần làm giảm bớt thời gian lao động nôngnhàn không những ở gia đình, làng xóm mình mà còn thu thu hút lao động ở các địaphương khác, do đó giải quyết việc làm dư thừa trên diện rộng

- Ngoài tạo việc làm cho người lao động tại chỗ, nghề đúc đồng còn cung cấpviệc làm cho một số người làm dịch vụ cung cấp nguyên liệu, dịch vụ hoàn chỉnh vàdịch vụ tiêu thụ sản phẩm

1.1.4.2 Phát triển nghề đúc đồng truyền thống góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo của từng địa phương.

- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Một sự phát triển đúng đắn phải là từ truyền thốngđến hiện đại, chỉ có như vậy mới không đánh mất mình trong quá trình HĐH Phầnquý báu nhất trong di sản văn hóa là những giá trị truyền thống, tiêu biểu cho sứcsống, phẩm chất, tính cách, bản sắc dân tộc được lưu giữ tạo thành bàn đạp, sức mạnhbên trong cho sự phát triển bền vững của cá nhân và cộng đồng

- Giá trị văn hóa của NTT thể hiện qua sản phẩm, cơ cấu của địa phương, lối sống,phong tục tập quán Những sản phẩm TCTT hầu hết là những hàng hóa mang tính nghệ

Trang 24

thuật, nó là sản phẩm văn hóa vật thể vừa chứa đựng những văn hóa phi vật thể Nhữngsản phẩm thủ công thể hiện sự ứng xử của con người trước thiên nhiên Từ nguyên liệuthô sơ, qua bàn tay tài hoa, tâm huyết người thợ đã thở thành những sản phẩm xinh xắn,duyên dáng vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếu thẩm mỹ laođộng, sự thông minh sáng tạo, tinh thần lao động của người thợ-nghệ nhân Mỗi làngnghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét văn hóa độc đáo của từng địa phương,từng vùng NTT từ lâu đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóadân gian Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các NTT đã tạo nên những nét riêngđộc đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam Phảichăng chính vì lẽ đó mà nảy sinh nhận thức: làng nghề TCTT chắc chắn sẽ đóng góptích cực, thiết thực vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

1.1.4.3 Phát triển nghề đúc đồng truyền thống góp phần định hình nên một đội ngũ thương nhân mới

- Doanh nghiệp là lực lượng quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,nhất là khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới.Hiện nay hình thức tổ chức SXKD phổ biến trong các nghề truyền thống là hộ giađình Mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển, mỗi gia đình không đủsức nhận hợp đồng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm, không đủ tầm để địnhhướng và vạch ra chiến lược kinh doanh Các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH,công ty cổ phần được phát triển từ một số tổ chức sản xuất hoặc một số gia đìnhSXKD đã bắt đầu hình thành ở nhiều làng nghề

- Như vậy, đội ngũ doanh nghiệp đóng vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển

từ bên trong của các nghề Bên cạnh quá trình tự thân vận động của chính các doanhnghiệp, cần có sự hỗ trợ từ phía nhà nước, chính quyền địa phương để các nghệ nhân,thợ cả, nghệ sỹ tạo hình đang hoạt động trong nghề có điều kiện phát huy năng lựcvươn lên thành các doanh nghiệp giỏi Chính khả năng nghề nghiệp của họ cộng vớinăng lực quản lý sản xuất và tài năng kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành đãtạo nên sức sống mới cho nhiều NTT hiện nay trên toàn quốc, tạo cơ hội có công ănviệc làm cho nhiều người lao động ở khu vực nông thôn và thành thị, góp phần tíchcực, có hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế và ổn định xã hội

Trang 25

1.1.4.4 Phát triển nghề đúc đồng truyền thống theo hướng liên kết cùng ngành

du lịch

- PGS.TS Phạm Trung Lương, Viện nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề nhậnđịnh :“Làng nghề truyền thống được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao hàm trong

nó cả những giá trị vật thể và phi vật thể” [22] Hệ thống làng nghề là một trong nhữngnguồn tài nguyên du lịch quan trọng của nước ta Đặc biệt phát triển nghề đúc đồngliên kết với du lịch không chỉ mang lại lợi nhuận kinh tế mà còn là cơ hội để quảng báhình ảnh đất nước và con người Việt Nam

- Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu pháttriển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống

cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượngcao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được vớicác nước trong khu vực và thế giới Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam, trở thành quốcgia có ngành du lịch phát triển Mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ đón 10- 10,5triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47-48 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từkhách du lịch đạt 18-19 tỷ USD, đóng góp 6,5-7% GDP cả nước; có tổng số 580.000buồng lưu trú với 35-40% đạt chuẩn từ 3 đến 5 sao; tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có870.000 lao động trực tiếp du lịch Năm 2030, tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lầnnăm 2020 [18]

Trong bối cảnh đó, việc phát triển nghề đúc đồng truyền thống phục vụ du lịch đãđược nhiều địa phương trên cả nước xúc tiến và đang tích cực triển khai quảng bá sảnphẩm thủ công Nhiều tỉnh thành như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thừa Thiên Huế cũng đang triển khai mạnh mẽ loại hình này

1.1.4.5 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

- Mục tiêu cơ bản của CNH –HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo ra một cơ cấukinh tế mới phù hợp và hiện đại ở nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển,NTT đã có vai trò tích cực trong việc tăng trưởng tỷ trọng của công nghiệp, TTCN, dulịch dịch vụ và thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp Sự phát triển lan tỏa của NTT đã mở

Trang 26

rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động, đồng thời nó còn đóng vai tròtích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ lẽ, mang tính tự cung tựcấp sang sản xuất rộng lớn hơn.

- Sự phát triển của NTT trong những năm qua đã thực sự góp phần thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng cơ cấu ngành công nghiệpdịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp Đặc biệt sự phát triển của NTT đãphá thế thuần nông, tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc đẩy cho sự phát triển kinh

Kỳ, Nhật Bả, Trung Quốc và các nước đang phát triển ở Châu Á Đây là yếu tố thuậnlợi để Việt Nam thúc đẩy công tác xuất khẩu hàng hóa của mình để góp phần vào sựtăng trưởng chung về kinh tế cửa đất nước

- Mục tiêu quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay là chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh những mặthàng có giá trị gia tăng cao

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề đúc đồng

Quá trình hình thành và phát triển của nghề chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố tựnhiên, kinh tế, xã hội, trong đó thì các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽhơn cả Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển gồm có:

1.1.5.1 Sự biến động của thị trường

- Sự tồn tại và phát triển của nghề phụ thuộc rất lớn vào khả năng đáp ứng nhucầu ngày càng đa dạng, phong phú và thường xuyên biến đổi của thị trường Khi nhucầu thị trường đối với các sản phẩm đúc đồng ngày càng lớn sẽ thúc đẩy việc mở rộngquy mô sản xuất trong tương lai và ngược lại

Trang 27

- Bên cạnh thị trường đầu ra, thị trường yếu tố đầu vào có ảnh hưởng rất lớn đến

sự phát triển của nghề này Nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất phải là nguyênliệu có chất lượng, khối lượng, chủng loại, phẩm cấp và khoảng cách từ cơ sở sản xuấttới nơi có nguồn nguyên vật liệu có ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành sản phẩmcủa các đơn vị sản xuất

1.1.5.2 Trình độ kỹ thuật và công nghệ

Yếu tố kỹ thuật và công nghệ đóng một vai trò rất quan trọng, với trình độ kỹthuật cao và công nghệ hiện đại thì sản phẩm được sản xuất ra sẽ có giá trị cao bêncạnh đó năng suất và sản lượng được sản xuất ra lớn, điều này góp phần làm tăng khảnăng cạnh tranh của sản phẩm được sản xuất ra

1.1.5.3 Kỹ thuật truyền thống và kinh nghiệm lâu đời

- Các sản phẩm đúc đồng của Việt Nam được đặc trưng bởi hai khía cạnh quantrọng là giá trị nguyên bản và giá trị truyền thống Việc giữ được tính nguyên bản cóvai trò hết sức quan trọng để mở rộng thị trường, cạnh tranh với sản phẩm của cácnước châu Á khác Công tác bảo tồn giá trị truyền thống sẽ góp phần nâng cao bản sắcvăn hóa Việt Nam, sử dụng các sản phẩm thủ công trong sinh hoạt hàng ngày đồngnghĩa với việc “bảo tồn truyền thống trong môi trường sống”

- Đối với làng đúc đồng hiện có nhiều nghệ nhân, thợ cả có trình độ tay nghề cao,

có kinh nghiệm sản xuất, có tâm huyết với nghề, là những hạt nhân để duy trì và pháttriển của nghề Họ là cơ sở cho sự tồn tại bền vững của làng nghề trước mọi thăngtrầm và đảm bảo duy trì, bảo tồn những nét đặc trưng văn hóa của nghề, của dân tộc,làm cho sản phẩm có tính độc đáo và có giá trị cao

1.1.5.4 Chính sách của nhà nước

Việc có những chính sách đúng đắn và một cơ chế thông thoáng để cho nghề đúcđống phát triển luôn là một nhân tố quan trọng Mặc dù làng nghề đúc đồng của ViệtNam đã được hình thành từ lâu đời thế nhưng khả năng phát triển sản phẩm và hướng

ra thị trường quốc tế còn rất hạn chế Vậy nên, với một cơ chế và chính sách hợp lýđiều này sẽ tạo động lực để nghề đúc đồng tồn tại và phát triển Nói cách khác, chínhsách và pháp luật của nhà nước luôn luôn tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất,kinh doanh và sự phát triển bền vững của nghề Thực chất của nhân tố thể chế, đường

Trang 28

lối, chính sách là nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, tận dụng nhữngmặt tích cực, giảm thiểu những mặt khuyết tật của cơ chế thị trường, nhằm nâng caotrình độ và hiệu quả kinh tế - xã hội của sản xuất hàng hóa.

1.1.5.5 Trình độ đào tạo, trình độ tay nghề của đội ngũ lao động

Có thể nói rằng chất lượng của đội ngũ lao động hoạt động trong nghề có ảnhhưởng rất lớn đến sự tồn vong của bản thân các ngành nghề Ngày nay, trong quá trìnhthực hiện CNH,HĐH ngành nghề nông thôn không đơn thuần chỉ sử dụng lao động cókinh nghiệm, với những công cụ lao động thủ công truyền thống, mà còn có sự đanxen giữa lao động thủ công truyền thống với lao động có trình độ chuyên môn cao, kếthợp giữa công nghệ cổ truyền và công nghệ hiện đại để sản xuất ra những sản phẩmvừa mang tính dân tộc cao, lại có mẫu mã đẹp, hiện đại đáp ứng được nhu cầu tiêudùng đa dạng của thị trường Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thứctruyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từnglàng [3] Hiện nay, việc phát triển mạnh kinh tế tư nhân hình thành các lớp dạy nghềtập trung đã làm các bí quyết nghề nghiệp không còn được giữ bí mật như trước kianữa Vậy nên, cần có sự đào tạo một cách bài bản và có tổ chức để trình độ tay nghềcủa đội ngũ lao động được cải thiện để sản phẩm làm ra có khả năng cạnh tranh vớicác sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh như trong giai đoạn hiện nay

1.1.5.6 Vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh

Vốn là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ quá trình sản xuất, kinhdoanh nào Sự phát triển của nghề cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của nhân tốvốn sản xuất Hiện tại có nhiều nguồn vốn vay ưu đãi để giúp các doanh nghiệp làngnghề đầu tư mở rộng sản xuất, tuy nhiên vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải chủđộng và mạnh dạn khai thác, đồng thời các cấp chính quyền cần tạo điều kiện thuận lợinhất để các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn một cách dễ dàng, hiệu quả

1.1.5.7 Ô nhiễm môi trường

Quy trình sản xuất các sản phẩm từ đúc đồng thải ra môi trường khối lượng lớnchất thải Vấn đề ô nhiễm môi trường mà nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạntrong phạm vi các cơ sở sản xuất mà còn ảnh hưởng đến người dân các vùng lân cận.Nếu không có hướng giải quyết bền vững thì tai họa về môi trường, về bệnh tật, sức

Trang 29

khỏe người dân sẽ ngày càng nghiêm trọng và các cơ sở sản xuất chắc chắn đứng trướcnguy cơ phải đóng cửa.

1.1.5.8 Mặt bằng cho sản xuất

Mặt bằng, nhà xưởng đang là vấn đề nóng ở hầu hết các ngành nghề Trải quanhiều thế kỷ, việc cải tạo cũng như quy hoạch lại nhà xưởng là hết sức khó khăn Việcquy hoạch các cụm công nghiệp nghề tốt sẽ tạo điều kiện rất lớn cho nghề phát triển.Tuy nhiên hiện nay việc cải tạo quy hoạch mặt bằng sản xuất kinh doanh đang rất khókhăn và có thể sẽ kéo dài nhiều năm

1.1.6 Tiêu chí đánh giá phát triển nghề đúc đồng truyền thống.

1.1.6.1 Về số lượng

- Số hộ sản xuất: Phát triển nghề đúc đồng truyền thống đặt vấn đề phát triển về

số hộ sản xuất lên hàng đầu Số hộ tham gia vào sản xuất đúc đồng càng nhiều chứng

tỏ được vai trò, vị trí, sự phát triển của nghề đúc đồng trên địa bàn

- Số sản phẩm: Lượng sản phẩm được tiêu thụ ra bên ngoài thị trường chính làthước đo đánh giá sự phát triển của nghề đúc đồng Lượng đơn đặt hàng càng cao thểhiện mức độ phát triển của nghề đúc đồng, khả năng thu hút lớn, có tiềm năng pháttriển Ngược lại, lượng đơn đặt hàng ít thể hiện mức độ phát triển của nghề đúc đồngkhông cao, không thu hút được khách hàng, chưa khai thác hết tiềm năng của nghề đúcđồng Với thị trường hiện đại ngày nay, nếu muốn phát triển tốt nghề đúc đồng cầntrang bị nhiều thiết bị sản xuất hiện đại, công nghệ hơn, đáp ứng nhu cầu của thịtrường

- Số lao động: Một nghề với quy mô rộng thì đòi hỏi phải cần nhiều nhân côngvới mục đích tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng Điều này cho thấyrằng số lao động làm việc trong nghề là điều kiện đánh giá sự phát triển của nghề đó.Một nghề tạo ra nhiều việc làm cho cho người dân thì chứng tỏ nghề đó có quy mô lớn

và phát triển, đã giải quyết một phần lớn người lao động thất nghiệp tại địa phương,giúp họ có thu nhập ổn định, cải thiện đời sống, vật chất, tinh thần

- Thị trường tiêu thụ: Việc mở rộng thị trường tiêu thụ chính là yếu tố quan trọnggiúp các sản phẩm của nghề đúc đồng được tiêu thụ ở nhiều nơi, không chỉ ở trongnước mà còn ở nước ngoài Sản phẩm muốn được thị trường tiêu thụ thì sản phẩm đó

Trang 30

phải thực sự tốt, đáp ứng nhu cầu của thị trường Thị trường tiêu thụ ngày càng rộng

lớn chứng tỏ được nghề đúc đồng đang rất phát triển và ngược lại.

1.1.6.2 Về chất lượng

- Năng suất lao động: Lao động của nghề đúc đồng phần lớn là lao động phổthông, không qua đào tạo bài bản Tuy nhiên chính những con người này là cái hồncủa sản phẩm Nhờ bàn tay tài hoa, óc sáng táo mà mỗi sản phẩm làm ra đều mang mỗisắc thái riêng, không như các sản phẩm công nghiệp Phát triển nghề đúc đồng chính làtạo ra nhiều sản phẩm hơn, muốn như vậy cần đầu tư cải tiến kỹ thuật, nâng cao chấtlượng tay nghề, có như vậy thì năng suất lao động sẽ cao hơn Năng suất lao độngcàng cao càng thể hiện được sự phát triển của nghề đúc đồng

- Độ tinh xảo: Một trong những tiêu chí đánh giá sản phẩm của nghề đúc đồng đóchính là độ tinh xảo Độ tinh xảo càng cao càng chứng tỏ được tay nghề của ngườinghệ nhân Với nhu cầu của thị trường hiện nay, sản xuất ra được nhiều sản phẩm chấtlượng và có độ tinh xảo cao thì sẽ được thị trường chấp nhận Muốn vậy người laođồng cần rèn luyện tay nghề của mình nhiều hơn nữa

- Mẫu mã sản phẩm: Để đánh giá một sản phẩm thì sự đa dạng về mẫu mã là điềukiện thiết yếu Sản phẩm có chất lượng thì sẽ được thị trường tiêu thụ, tuy nhiên nếumẫu mã đa dạng phong phú hơn sẽ thỏa mãn được như cầu của người tiêu dùng hơn.Việc phát triển nghề đúc đồng phải gắn liền với việc bảo đảm và nâng cao chất lượng ,chất lượng có ảnh hưởng tới giá cả, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu

1.1.6.3 Về cơ cấu sản phẩm

Số lượng và chủng loại sản phẩm nghề đúc đồng: Nhằm đáp ứng yêu cầu của thịtrường trong nước và trên thế giới đang biến động mạnh mẽ và cạnh tranh ngày càng gaygắt, phục vụ và thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng đối với sảnphẩm Điều này chứng minh được nếu cơ cấu số lượng sản phẩm và chủng loại sản phẩmđược thay đổi tốt sẽ thấy được thế mạnh của địa phương, phát huy trí tuệ, óc sáng tạo củađội ngũ nghệ nhân Từ đó nghề đúc đồng truyền thống sẽ ngày một phát triển hơn

- Các sản phẩm thờ tự: Đây là các sản phẩm được tiêu thụ phổ biến của nghề đúcđồng Các sản phẩm được sử dụng hàng ngày, tuy nhiên đóng góp không nhỏ cho sựphát triển chung của nghề đúc đồng

Trang 31

- Các sản phẩm du lịch: Mục tiêu phát triển của nghề đúc đồng luôn gắn liền vớimục tiêu phát triên du lịch của nghề Chính vì vậy, việc kết hợp sản xuất ra các sảnphẩm phục vụ cho du lịch chính là yếu tố giúp cho việc phát triển nghề đúc đồng nóichung Lượng tiêu thụ cho du lịch càng nhiều vừa chứng tỏ được sự phát triển củanghề đúc đồng, vừa chứng tỏ được sự phát triển của du lịch.

- Các chi tiết, linh kiện dùng cho công nghiệp: Các sản phẩm của nghề đúc đồngkhông chỉ là các sản phẩm trưng bày hay sinh hoạt hằng ngày mà nó còn là những chitiết, linh kiện phục vụ cho công nghiệp của các nghành nghề Việc phát triển về cơ cấu

sẽ giúp cho nghề đúc đồng phát triển trên nhiều lĩnh vực hơn nữa

1.2 Cơ sở thực tiễn của nghề đúc đồng truyền thống

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nghề đúc đồng truyền thống của một số nước ở Châu Á

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Có thể nói Trung Quốc là cái nôi của nhiều nghề, LNTT Nghề thủ công củaTrung Quốc ra đời từ rất sớm và phát triển cho tới ngày nay Trung Quốc có nhiềunghề truyền thống lâu đời và nổi tiếng như: nghề dệt vải, dệt tơ lụa, nghề gốm, nghềgiấy và đặc biệt là nghề đúc đồng Mặc dù trải qua nhiều thời kỳ lịch sử nhưng nghềđúc đồng truyền thống ở Trung Quốc vẫn tồn tại và phát triển đến nay Năm 1978,Trung Quốc cũng bắt đầu thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, thúc đẩy quá trìnhcông nghiệp hóa nông thôn Do đó, nghề đúc đồng truyền thống được quan tâm pháttriển thông qua các xí nghiệp hương trấn [15]

Những chính sách mà Trung Quốc thực hiện bao gồm:

- Chính sách thuế: Chính phủ quy định chính sách thuế khác nhau cho các vùng

và ngành nghề, ưu tiên các xí nghiệp hương trấn ở những vùng khó khăn và biên giới.Chính phủ còn miễn tất cả các loại thuế cho xí nghiệp hương trấn trong 3 năm khi mớithành lập

- Chính sách cho vay vốn: Chính phủ cung cấp tín dụng cho xí nghiệp hương trấntrong suốt những năm 80, một số ngân hàng lớn đã tham gia cho các xí nghiệp hươngtrấn vay vốn

Trang 32

- Chính sách xuất khẩu: Nhà nước tạo điều kiện cho xí nghiệp hương trấn đẩymạnh xuất khẩu Từ khi Trung Quốc thực hiện cải cách và mở cửa, nhiều xí nghiệphương trấn tham gia xuất khẩu và phát triển nhanh nhờ xuất khẩu

- Chính sách kích cầu: Chính phủ thực hiện chính sách kích cầu mạnh ở khu vựcnông thôn để tạo thị trường đầu ra cho xí nghiệp hương trấn

- Chính sách bảo hộ hàng nội địa: Chính phủ hạn chế nhập khẩu những mặt hàngtrong nước sản xuất, nhất là những mặt hàng tiêu dùng cho nông dân

- Hạn chế việc di chuyển lao động: Chính phủ thực hiện quản lý hộ khẩu chặtchẽ ở các thành phố nhằm hạn chế việc di chuyển lao động giữa các vùng và từ nôngthôn ra thành phố Vì vậy, nông dân cố gắng lập nghiệp ở nông thôn bởi việc di cư vàocác thành phố tìm việc làm gặp khó khăn

- Đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến: Quá trình đổi mới công nghệban đầu do xí nghiệp hương trấn thực hiện để tăng năng suất lao động, nâng cao chấtlượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu cạnh tranh [15]

Gần đây, Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến việc phát triển nghề kết hợpvới các điểm tham quan du lịch Để phát triển du lịch làng nghề, Chính phủ TrungQuốc chủ yếu phát triển mô hình nhà nước và lấy đó làm chủ đạo với hai nội dungchính: Một là nhà nước và các địa phương dựa vào bộ máy hành chính quản lý du lịch

để chỉ đạo phương hướng, chính sách phát triển của các doanh nghiệp, tổ chức quảng

bá xúc tiến thị trường Hai là phát huy tính chủ động của chính quyền địa phương, đặcbiệt là các hiệp hội làng nghề, nhằm phát triển du lịch làng nghề địa phương Nhờ vậy,hai lĩnh vực du lịch và làng nghề có tác động qua lại, tương trợ lẫn nhau, thúc đẩynhau cùng phát triển

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia có nền công nghiệp tiên tiến nhưng vẫn chú trọng phát triểncác ngành nghề truyền thống Ở Nhật Bản, bên cạnh các ngành công nghiệp hiện đạivới quy mô lớn, các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn và các hộ gia đình làmnghề thủ công vẫn được quan tâm phát triển Nghề đúc đồng truyền thống đa dạng vẫntồn tại và hoạt động hiệu quả đến nay Nghề đúc đồng tạo việc làm cho thợ thủ công

và nông dân lúc nông nhàn, đồng thời sản xuất một khối lượng hàng tiêu dùng và tư

Trang 33

liệu sản xuất đáng kể Nghề đúc đồng đóng góp tích cực đến sự phát triển kinh tế, xãhội ở nông thôn Vì vậy, Nhật Bản rất chú trọng phát triển làng nghề truyền thốngtrong quá trình công nghiệp hóa ở nông thôn, đặc biệt là nghề đúc đồng \ Nhiều quyđịnh của pháp luật được ban hành để khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống,tiêu biểu là “Luật phát triển nghề thủ công truyền thống” do Nghị viện ban hành năm

- Phong trào mỗi làng một sản phẩm: Phong trào thúc đẩy mỗi địa hương có mộtnghề thủ công Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” với ý tưởng khai thác nguồnnhân lực địa phương để khôi phục các ngành nghề đúc đồng truyền thống được phátđộng từ quận Oita vào năm

- Hỗ trợ vốn cho làng nghề truyền thống: Chính phủ cho thành lập hệ thống bảolãnh và bảo hiểm tín dụng để hỗ trợ các làng nghề truyền thống vay vốn không cần tàisản thế chấp

- Phát triển nguồn nhân lực cho nghề: Chính sách này do Hiệp hội nghề truyềnthống của Nhật Bản thực hiện

- Thành lập trung tâm nghề thủ công quốc gia [15]

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Ấn Độ

Ấn Độ là nước có dân số đứng thứ hai trên thế giới (sau Trung Quốc), là nước cónền văn minh và văn hóa lâu đời, được thể hiện rõ qua các nghề TCTT đặc sắc Đặcbiệt, hàng chục triệu người Ấn Độ hiện nay vẫn đang sinh sống dựa vào nghề đúc đồngtruyền thống Sản phầm làm ra tiêu thụ ở thị trường trong nước và xuất khẩu với doanhthu mỗi năm trên 1.000 tỷ rupi

Nói đến các nghề thủ công nổi tiếng ở Ấn Độ thì có các nghề như: In ấn hoa văn,nghệ thuật Rogan, nghề dệt và đúc chuông Làng Nirona có nhiều nghệ nhân sản xuấtchuông đồng Họ sử dụng búa và đôi chân của mình để tạo hình cho những khối sắt

Trang 34

thành những chuông gió nghệ thuật Những chiếc chuông gió này được đeo vào cổ củagia súc giúp họ theo dõi chúng hằng ngày Ngày nay thì du khách đến đây mua chuônggió để trang trí nhà cửa hoặc khu vườn

Chính phủ Ấn Độ đặc biệt quan tâm và đề ra nhiều chính sách để bảo tồn và pháttriển các nghề TCTT

- Chính phủ đã tổ chức các trung tâm phát triển công nghệ và thiết kết mẫu mã chocác mặt hàng ở nhiều nơi như Niuđêli, Cancutta, Mumbay, Bănggalo nhằm nghiên cứu,thiết kế mẫu mã và công nghệ, bảo tồn những nét đặc sắc của nghề TCTT của Ấn Độ

- Các trung tâm nghiên cứu những công nghệ mới, tạo ra mẫu mã đa dạng, hợpvới thị hiếu của khách hàng trong và ngoài nước

- Không chỉ chú ý ở mẫu mã, ở Ấn Độ còn có khoảng 400 trung tâm dạy nghề rảirác khắp cả nước nhằm đào tạo nghề cho các lao động thủ công mỹ nghệ

- Cùng với đào tạo tay nghề cho thợ, Ấn Độ đặc biệt quan tâm đến đội ngũ thợlàng nghề, thợ cả có nhiều kinh nghiệm: 13 trung tâm đào tạo có nhiệm vụ chuyên loviệc nâng cao tay nghề cho thợ cả, nhằm giữ gìn, khôi phục các làng nghề TCTT cónguy cơ mai một, thất truyền và bồi dưỡng tay nghề cho các nghệ nhân [15]

1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nghề đúc đồng truyền thống tại một số địa phương trong nước

1.2.2.1 Kinh nghiệm của làng đúc đồng Ngũ Xã, Hà Nội

Làng Ngũ Xã nằm bên bờ hồ Trúc Bạch phía Tây Hà Nội, hồ Trúc Bạch ănthông với Hồ Tây mênh mông Quanh bờ Hồ Tây tập trung các làng nghề thủ công nổitiếng của kinh thành Thăng Long trong nhiều thế kỷ - nghề dệt lĩnh hoa và nghề giấy

dó Yên Thái, nghề đúc đồng Ngũ Xã Ngũ Xã nghĩa là 5 làng (Đông Mai, Châu Mỹ,Làng Thượng, Diên Tiên và Dao Niên thuộc huyện Văn Lâm - Hải Hưng và ThuậnThành - Hà Bắc) vốn có nghề đúc thủ công Dân 5 làng kéo về Thăng Long lập nghiệp

và lập nên làng nghề mới, lấy tên Ngũ Xã để ghi nhớ 5 làng quê gốc của mình Họ tổchức thành phường nghề riêng, gọi là phường đúc đồng Ngũ Xã [23]

- Nói đến Ngũ Xã là nói tới tài năng của thợ đúc đồng Việt Nam, mà những sảnphẩm nổi tiếng của họ - ra đời trong suốt gần 500 năm nay đã trở thành những tácphẩm lớn, tiêu biểu của nghệ thuật dân tộc Một trong những pho tượng nói lên trí tuệ,

Trang 35

tài năng, bản sắc bí quyết và sự lao động cần mẫn, giàu sáng tạo của các nghệ nhân,thợ thủ công đúc đồng Ngũ Xã là tượng Di Đà ở chùa Trần Quang ngay trên đất làngnày Tính cả tượng và tòa sen làm đế, pho tượng Di Đà cao 5m50, nặng 12 tấn 300 kg.Đây là một tác phẩm nghệ thuật bằng đồng kỳ vĩ, độc đáo, tinh tế trên mọi lĩnhphương diện, cả kỹ thuật và nghệ thuật đúc đồng của ta Tượng được bố cục hết sứchài hòa, hợp lý Từ thân hình, dáng ngồi đến nếp áo đều toát lên sự trầm lắng sâu xa,nhưng lại sống động như người thực - thể hiện quan niệm nhân sinh truyền thống đạoPhật Việt Nam.Các sản phẩm đồ đồng Ngũ Xã - những sáng tạo tài hoa của các bậctiền nhân nơi đây quả thực không chỉ có tượng Phật Di Đà, mà còn hàng loạt tác phẩm

đã rất nổi tiếng được coi là các kiệt tác của Việt Nam

- Trình độ đúc đồng của thợ Ngũ Xã đã đạt tới đỉnh cao Thành công của ngườiNgũ Xã khi tiến hành đúc các sản phẩm bằng đồng trong suốt mấy trăm năm nay đãkhẳng định tài năng kỳ lạ của họ Bên cạnh sự thông minh sáng tạo, đôi mắt nhìnchuẩn xác, bàn tay khéo léo và đức tính cẩn trọng, người thợ thủ công còn có bí quyếtnghề nghiệp và kinh nghiệm từ lâu đời Bí quyết đúc đồng của Ngũ Xã, theo tục truyền

là ở các khâu làm khuôn, nấu đồng, rót đồng thành sản phẩm.Từ ý đồ ban đầu, theođơn đặt hàng, các nghệ nhân phải tiến hành hai công việc: tạo mẫu và làm khuôn Mẫuthường đắp bằng sáp hay nến (praphin) Đối với thợ Ngũ Xã, việc khó nhất là làmkhuôn, làm khuôn phải căn cứ vào tượng mẫu, khuôn có nhiều loại nhưng chất liệuthường dùng hơn cả là đất sét, bùn ao, giấy bản, vôi, trấu Người ta dùng đất bùn aophơi sấy khô, rây mịn xong trộn với tro trấu, giấy bản đã giã nhỏ phơi sấy khô để làmkhuôn luyện đồng tinh chất Khuôn tạo hình thì làm bằng đất sét trắng [23]

- Kỹ thuật đúc đồng Ngũ Xã từ lâu đã được đánh giá cao, đã làm cho chúng ta vàkhách quốc tế phải hết sức khâm phục Người Ngũ Xã tự hào về nghề đúc đồng của

mình, một nghề đã trở thành truyền thống quý báu của họ

1.2.2.2 Kinh nghiệm của làng đúc đồng Đại Bái, Bắc Ninh

Làng nghề gò, đúc đồng Đại Bái cổ xưa có tên làng Văn Lãng hay gòn gọi là

làng Bưởi, thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Đại Bái từ xa xưa đã nổi tiếng là

làng thủ công truyền thống chuyên sản xuất đồ đồng phục vụ về mặt dụng cụ gia đình,ban đầu mới chỉ làm xoong nồi thô sơ, sau mới có ấm, mâm, chậu thau [22]

Trang 36

- Nhờ có sự tổ chức sản xuất hoàn chỉnh đã giúp cho Đại Bái nhanh chóng pháttriển với sự nâng cao rõ rệt về kỹ thuật luyện đồng: Lấy đất sét bờ sông xây ò đúc, lấybùn ao nhào với tro trấu làm nơi luyện đồng, đồng pha kẽm làm đồng thau và tạothêm được nhiều sản phẩm mới được chế tác từ đồng như: Tượng đồng, đỉnh đồng, lưhương, lọ hoa, tranh, câu đối bằng đồng…

- Ngày nay, làng nghề gò, đúc đồng Đại Bái gìn giữ được nghề truyền thống vàphát triển mạnh mẽ, với những hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, có sự cảitiến kỹ thuật và tự trang, tự chế ra máy móc như máy cán, máy dập, máy đánhbóng tìm kiếm thị trường xuất khẩu, khẳng định được vị thế của một làng nghề thủcông truyền thống tiêu biểu của Việt Nam Bên cạch đó, làng nghề Đại Bái còn gìn giữđược nhiều di tích lịch sử - văn hóa có giá trị, tiêu biểu như: Khu lăng tổ sư nghề đồngNguyễn Công Truyền, đình Văn Lãng, đình Diên Lộc, chùa Diên Phúc và Lễ hội Làngtruyền thống làng Đại Bái - nơi tôn vinh những sản phẩm truyền thống được làm từđồng, tôn vinh những tấm lòng gắn bó với nghề và lưu giữ những nét đẹp văn hóa củaquê hương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 4 Âm lịch [22]

Nét đẹp văn hóa và sức phát triển mạnh mẽ của một làng nghề thủ công truyềnthống đã đưa đúc đồng Đại Bái trở thành một địa chỉ du lịch hấp dẫn trên quê hươngQuan họ Bắc Ninh

1.2.3 Kinh nghiệm rút ra trong việc phát triển nghề đúc đồng truyền thống

ở Thành phố Huế

Đối với Thành phố Huế, phát triển được nghề đúc đồng có vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy KT –XH Từ kinh nghiệm của một số nước và các tỉnh thành ởViệt Nam, có thể rút ra một số bài học như sau:

- Cần tận dụng được những lợi thế về truyền thống cũng như yếu tố lịch sử Cầnthành lập thêm những hội làng nghề truyền thống và cần có sự định hướng về tổ chứccũng như phương thức hoạt động hướng đến sự chuyên nghiệp nhằm đảm bảo được sựliên kết và gia tăng sức mạnh cho hội làng nghề

- Về phương diện khoa học kỹ thuật, cần áp dụng các máy móc và công nghệ mớinhằm tăng năng suất lao động và giảm giá thành sản phẩm để qua đó tăng khả năng

Trang 37

cạnh tranh của sản phẩm với sản phẩm cùng loại của các nhà sản xuất khác mà đặcbiệt là các sản phẩm cùng loại của quốc gia khác

- Bên cạnh vẫn giữ vững những nét đặc sắc của các sản phẩm truyền thống cầnhọc hỏi những mẫu mã sản phẩm mới của các nước khác, qua đó có thể kết hợp nhằmtạo ra những nét đặc sắc riêng cho sản phẩm của địa phương mình

- Cần tiếp tục tổ chức các lễ hội để giới thiệu và quảng bá sản phẩm của các vùngmiền khác nhau, có thể mời thêm các nước khác tham gia các hội chợ triển lãm để tạo

ra một môi trường trao đổi tốt nhất Cần chú trọng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm vìđây là điều kiện để kích thích việc sản xuất và phát triển sản phẩm

- Hơn thế nữa, để hướng ra thị trường nước ngoài cần có sự phối hợp với chínhquyền địa phương để có sự hỗ trợ trong việc thành lập các tổ chức tư vấn pháp lýhoặc các tổ chức chuyên về xuất khẩu và tìm kiếm thị trường tiêu thụ ở nước ngoài.Sau cùng, vấn đề về môi trường cũng cần được chú trọng bởi vì các làng nghề vẫn sửdụng phương thức sản xuất thủ công nên ảnh hưởng không ít đến môi trường sốngxung quanh

Tóm lại: Qua chương 1, khóa luận đã nêu được cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phát triển nghề đúc đồng truyền thống, cụ thể như: Nêu lên các khái niệm về

phát triển, nghề truyền thống, nghề đúc đồng truyền thống Ngoài ra đã nêu lên được

các tiêu chí đánh giá nghề truyền thống Nêu lên sáu vai trò chính của nghề đúc đồng

và bốn đặc điểm của nghề đúc đồng truyền thống và tám nhân tố có ảnh hưởng đến sự

phát triển của nghề đúc đồng Từ đó đưa ra những thực tiễn và kinh nghiệm về phát

triển nghề đúc đồng ở một số nước Châu Á và một số địa phương trong nước, từ đó rút

ra bài học cho thành phố Huế

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG Ở THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Huế

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Biểu đồ 2.1 Bản đồ Thành phố Huế

Trang 39

Thành phố Huế là trung tâm văn hóa, giáo dục, du lịch, lễ hội của cả nước Nềnvăn hóa hàng trăm năm là Kinh đô của xứ Đàng trong và là thủ đô nước Việt dướitriều đại phong kiến cuối cùng triều Nguyễn đã được biết đến với một từ rất riêng đó là

“Văn hóa Huế”

Thành phố Huế có toạ độ địa lý: 107o31’45’’ – 107o38’ kinh Ðông và 16o30’’45’’– 16o24’ vĩ Bắc [11] Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc -Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gần tuyếnhành lang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á Cách Hà Nội 675 km về phía Bắc,cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.060 km, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Trung bộvới các trung tâm kinh tế đang phát triển nhanh như khu khuyến khích phát triển kinh tế

- thương mại Chân Mây, Thành phố Đà Nẵng, khu kinh tế mở Chu Lai, khu công nghiệpDung Quất , có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối dễ dàng với Thủ đô Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước [8]

Diện tích tự nhiên: 70,99 km2 Dân số: 355.095 người Với 27 đơn vị hànhchính trên địa bàn: Phú Thuận, Phú Bình, Tây Lộc, Thuận Lộc, Thuận thành, ThuậnHòa, Phú Hiệp, Phú Hậu, Phú Hòa, Phú Cát, Kim Long, Vĩ Dạ, Phường Đúc, VĩnhNinh, Phú Hội, Phú Nhuận, Xuân Phú, Trường An, Phước Vĩnh, An Cựu, An Đông,

An Tây, Hương Sơ, Thủy Biều, Thủy Xuân và Hương Long [8]

Thành phố Huế là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế Ranh giới hànhchính được xác định: Phía Bắc và phía Tây giáp với thị xã Hương Trà, phía Đông giápvới huyện Phú Vang, phía Nam giáp thị xã Hương Thủy Địa hình thành phố Huếtương đối bằng phẳng, đồng bằng chiếm diện tích lớn [8]

Khí hậu thành phố huế thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp

từ á xích đạo đến chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miềnBắc và miền Nam nước ta mà dãy Bạch Mã là ranh giới khí hậu tự nhiên giữa hai miềnlãnh thổ [13]

Chế độ nhiệt: Thành phố Huế nằm trọn trong vĩ độ nhiệt đới nên thừa hưởng mộtchế độ bức xạ phong phú và nền nhiệt cao, có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh.Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24oC - 25oC Chế độ mưa: Trung bình hàngnăm ở thành phố Huế có khoảng 150 – 160 ngày mưa Trong mùa mưa, mỗi tháng có

Trang 40

từ 16 – 24 ngày mưa, lượng mưa trung bình khoảng 2.500mm/năm Độ ẩm trung bình85% – 86% [13].

Do thuận lợi về vị trí địa lý, phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông trên các phươngtiện, thành phố Huế là địa phương có tính thu hút cao đối với các nguồn nhân lực, nhất

là nhân lực khoa học kỹ thuật, chuyên môn kỹ thuật cao, nguồn nhân lực tại chỗ phục

vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Nếu biết khai thác và tậndụng thế mạnh này, thành phố sẽ có nhiều cơ hội tập hợp đội ngũ nhân lực tại chỗ màchi phí đào tạo, tuyển chọn nhân lực ít bị tốn kém, tốn thời gian Đó là lợi thế so sánhcủa thành phố Huế so với các địa phương khác

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Cơ sở hạ tầng

- Hệ thống giao thông Giao thông

Thành phố Huế là đầu mối giao thông của cả tỉnh và vùng Trung Bộ, có nhiều tuyếngiao thông nắm giữ vị trí quan trọng của tỉnh, vùng và cả nước Nằm trên trục đường giaothông huyết mạch Bắc - Nam và cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàngkhông Hiện nay trên địa bàn thành phố Huế có 232 tuyến đường nội thị [ 8]

- Hệ thống cấp nước, cấp điện

Thành phố Huế có nhà máy nước Giả Viên công suất 14.000m3 /ngày đêm; nhàmáy nước Quảng Tế công suất 55.000m3 ngày đêm đảm bảo cung cấp nước sạch trên85% Tổng chiều dài đường ống thoát nước là 125,8km đảm bảo tiêu thoát nướckhoảng 45.000 - 50.000m3 /ngày đêm [ 8]

Hệ thống cấp nước, cấp điện hiện nay của thành phố tương đối đầy đủ, ổn địnhthuận tiện cho sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân

- Mạng lưới bưu điện và bưu chính viễn thông

Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển nhanh về quy mô và chất lượng vớinhiều loại hình dịch vụ đa dạng, phong phú Nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụđiện thoại như: Vinaphone, Mobilphone, Viettelphone,… góp phần giải quyết nhu cầuthông tin liên lạc trên địa bàn Mạng Internet phát triển mạnh, số thuê bao tăng nhanh,

số điểm Internet công cộng tăng và phổ biến rộng khắp trên địa bàn thành phố [8]

Ngày đăng: 12/07/2018, 23:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Trương Công Duy (2014), “Giải pháp phát triển tiểu thủ công nghiệp tại thành phố Huế”, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển tiểu thủ công nghiệp tại thànhphố Huế
Tác giả: Trương Công Duy
Năm: 2014
9. Bài báo: “ Làng nghề truyền thống nhìn từ nhiều phía”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 302 của tác giả Uyên Nghi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề truyền thống nhìn từ nhiều phía
10. Bài báo: “Làng nghề truyền thống ở Việt Nam”, Tạp chí Du lịch, 11/10/2016 của tác giả Lệ Thị Thanh Yến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề truyền thống ở Việt Nam
11. Bài báo: “ Nghề đúc đồng ở Huế”, Báo nhân dân, 26/12/2010 của tác giả Nguyễn Công Hậu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề đúc đồng ở Huế
15. Huỳnh Đức Thiện (2015) “ Chính sách phát triển làng nghề của một số Quốc gia ở Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tập 18 Tạp chí Phát triển Kh&CN74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển làng nghề của một số Quốcgia ở Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
20. Bùi Văn Vượng (2002) “ Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”, NXB Văn hóa thông tin.21. Wikipedia.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam
Nhà XB: NXBVăn hóa thông tin.21. Wikipedia.org
1. Bách khoa tri thức phổ thông (2000), NXB Văn hóa – Thông tin, Hà nội Khác
2. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình triết học Mác – Lê nin, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Cổng thông tin điện tử Thành phố Huế, Điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, dân số lao động của Thành phố Huế Khác
4. Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế , Chi cục thống kê Thành phố Huế (2014), Niên giám thống kê năm 2014, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
5. Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế , Chi cục thống kê Thành phố Huế (2015), Niên giám thống kê năm 2015, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
6. Cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế , Chi cục thống kê Thành phố Huế (2016) Khác
8. Huecity.gov.vn ( Cổng thông tin điện tử thành phố Huế ) Khác
12. Phòng kinh tế Thành phố Huế (2011), Đầu tư khôi phục và phát triển hoạt động trung tâm trưng bày và giới thiệu sản phẩm làng nghề đúc truyền thống Huế Khác
13. Sở khoa học công nghệ Thừa Thiên Huế (2004), Đặc điểm khí hậu – Thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế, NXB Thuận Hóa Huế Khác
14. Bài báo: “ Tiếp sức phát triển nghề đúc đồng’, Báo Thừa Thiên Huế, 29/02/2016.của tác giả Thanh Hương Khác
16. Phan Văn Tú, Các giải pháp để phát triển làng nghề ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Khác
17. UBND Thành phố Huế (2011), Báo cáo kết quả điều tra khảo sát nghề đúc đồng truyền thống Huế và phương hướng phát triển làng nghề đúc Thành phố Huế Khác
18. UBND Thành phố Huế (2016), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2016, Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội năm 2017 Khác
19. Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w