Chương 1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG 1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của các sản phẩm Báo chí Truyền thông 1.1.1. Khái niệm và các thuật ngữ cơ bản 1.1.1.1. Các khái niệm Khái niệm Truyền thông Truyền thông được hiểu với rất nhiều khái niệm khác nhau: Ông MartinP.Adelsm cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta. Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống. Theo Frank Dance (1970}, Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người. Tức là truyền thông giúp phá vỡ tính độc quyền và quá trình truyền thông có thể phá bỏ tính chuyên quyền. Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, Truyền thông là truyền dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định. Thông tin tuyên truyền, mở rộng mạng lưới truyền thong đến từng cơ sở. {1350} Theo sách Cơ sở lý luận Báo chí, PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (NXB Lao động 2012) đưa ra khái niệm truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm...chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững. {15} Cũng theo PGS,TS Nguyễn Văn Dững thì căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, cso nhiều cách phân loại truyền thông khác nhau. Trong đó, việc phân loại truyền thông căn cứ vào phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông là phù hợp và khái quát nhất. Dựa theo căn cứ này, PGS,TS NGuyễn Văn Dững chia truyền thông thành: Truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng. Đó là một trong rất nhiều quan niệm về truyền thông được đưa ra nhưng tựu chung lại chúng ta có thể tóm lại, Truyền thông là quá trình trao đổi, tương tác thông tin, tư tưởng, tình cảm, kiến thức và kinh nghiệm giữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội với nhau thông qua hệ thống các ký hiệu, hoặc không cần đến kí hiệu nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau.
Trang 1Chương 1
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG
1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của các sản phẩm Báo chí - Truyền thông
1.1.1 Khái niệm và các thuật ngữ cơ bản
1.1.1.1 Các khái niệm
* Khái niệm Truyền thông
Truyền thông được hiểu với rất nhiều khái niệm khác nhau:
- Ông MartinP.Adelsm cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua
đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta
Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống
- Theo Frank Dance (1970}, Truyền thông là quá trình làm cho cáitrước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của haihoặc nhiều người Tức là truyền thông giúp phá vỡ tính độc quyền và quátrình truyền thông có thể phá bỏ tính chuyên quyền
- Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, Truyền thông làtruyền dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định Thông tin tuyêntruyền, mở rộng mạng lưới truyền thong đến từng cơ sở {1350}
- Theo sách Cơ sở lý luận Báo chí, PGS, TS Nguyễn Văn Dững (NXBLao động - 2012) đưa ra khái niệm truyền thông là quá trình liên tục trao đổithông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặcnhiều người với nhau nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức, tiến tới điềuchỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm
và của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững {15}
Cũng theo PGS,TS Nguyễn Văn Dững thì căn cứ vào các tiêu chí khácnhau, cso nhiều cách phân loại truyền thông khác nhau Trong đó, việc phân
Trang 2loại truyền thông căn cứ vào phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyềnthông là phù hợp và khái quát nhất.
Dựa theo căn cứ này, PGS,TS NGuyễn Văn Dững chia truyền thôngthành: Truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng
Đó là một trong rất nhiều quan niệm về truyền thông được đưa ranhưng tựu chung lại chúng ta có thể tóm lại, Truyền thông là quá trình traođổi, tương tác thông tin, tư tưởng, tình cảm, kiến thức và kinh nghiệm giữacác thành viên hay nhóm người trong xã hội với nhau thông qua hệ thống các
ký hiệu, hoặc không cần đến kí hiệu nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau
* Khái niệm Báo chí:
- Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, Báo là các loại hìnhthông tin tuyên truyền như báo, tạp chí giới báo chí, tin tức biết được quabáo chí [41]
- Theo Điều 1, Luật Báo chí, “ báo chí ở nước Cộng hòa XHCN ViệtNam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội: là
cơ quan ngôn luận của các tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân” làm rõhơn chức năng thông tin và vai trò của báo chí [32]
- Thuật ngữ “báo chí” trong Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) giảithích như sau: “Báo chí xuất phát từ hai từ báo và tạp chí, nói một cách kháiquát là những xuất bản phẩm định kỳ Nhưng cũng để chỉ cả các loại hìnhtruyền thông khác như đài phát thanh, đài truyền hình Định nghĩa này cũngđược áp dụng cho một tạp chí liên tục xuất bản trên web” Cách định nghĩanày cũng chỉ đưa ra được tính chất định kỳ và các loại hình báo chí hiện nay
- Trong sách Báo chí và dư luận xã hội, PGS,TS Nguyễn Văn Dững(NXB Lao động 2011), Theo nghĩa hẹp, khái niệm báo chí được hiểu lànhững ấn phẩm báo và tạp chí; theo nghĩa rộng, báo chí bao gồm các loạihình: báo in, báo phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử {129} Báo chí làmột loại tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện
Trang 3và vấn đề thời sự cho những đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định,xuất bản định kỳ, đều đặn.{134}
- Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, báo chí ở nươc cộng hòa
xã họi chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thong tin đại chúng thiêt yếu đốivới đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quanNhà nước, tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân
- Trong sách Cơ sở lý luận Báo chí, PGS, TS Nguyễn Văn Dững (NXBLao động - 2012) đưa ra khái niệm: “Báo chí là hoạt động thông tin – giaotiếp xã hội trên quy mô rộng nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hộihữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trongmối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhómlợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế…”[39]
Khái niệm này đã nêu được những đặc trưng cơ bản của báo chí là:
- Trước hết, báo chí là hoạt động thông tin – giao tiếp xã hội trên quy
mô rộng nhất Như vậy báo chí ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí
và nhận thức của con người Từ khi xuất hiện đến nay, báo chí luôn năngđộng trong việc phản ánh hiện thực đa dạng, sinh động và luôn vận động pháttriển Báo chí là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần củamọi người, mọi dân tộc
- Báo chí là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, làcông cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất Báo chí luôn lấy hiệnthực khách quan làm đối tượng phản ánh Thông tin trong báo chí vừa có tính
xã hội cao vừa có tính tư tưởng, khuynh hướng rõ rệt Với nhiều cách phảnánh khác nhau, đáp ứng mọi nhu cầu của mọi đối tượng, báo chí đã trở thànhmột hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất
Tác giả tóm lại, báo chí là một trong những hiện tượng phức tạp, tùytheo góc độ tiếp cận khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau Tuy nhiênhiểu báo chí một cách trực diện nhất, như đã nêu trên, tác giả cho rằng: Theonghĩa hẹp báo chí là những ấn phẩm được xuất bản định kỳ (bao gồm nhật
Trang 4báo, báo thưa kỳ, bản tin thời sự, bản tin thông tấn) với số lượng lớn nhằmphục vụ đông đảo các tầng lớp công chúng Theo nghĩa rộng, thuật ngữ báochí được dùng để chỉ chung các loại hình truyền thông đại chúng hiện đại baogồm báo in, báo phát thanh (báo nói), báo truyền hình (báo hình) và báo mạngđiện tử
Có một số ý kiến gọi báo mạng điện tử là báo điện tử, theo tác giả làchưa chính xác Bởi thuật ngữ báo điện tử còn bao gồm cả báo phát thanh vàbáo truyền hình
* Khái niệm sản phẩm báo chí truyền thông
- Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, sản phẩm là cái dolao động con người tạo ra ví dụ như sản phẩm mĩ nghệ; giới thiệu sản phẩmmới; trả lương theo sản phẩm Cái được tạo ra như là một kết quả tự nhiên Ví
dụ đứa con là sản phẩm của tình yêu { 1086}
- Sản phẩm báo chí truyền thông là những tác phẩm mà tác giả lànhững nhà báo, những cộng tác viên sáng tác và được in ấn trên sản phẩmbáo chí
* Khái niệm Tổ chức sản xuất sản phẩm
Thuật ngữ Tổ chức
Theo từ điển tiếng việt Tổ chức là việc sắp xếp và bố trí thành các
bộ phận để cùng nhau thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năngchung { tr157}
Theo tác giả Hà Huy Phượng trong cuốn Tổ chức nội dung và thiết kếtrình bày báo in - NXB Lý luận chính trị năm 2006, tổ chức nội dung báo, tạpchí là việc lập kế hoawch nội dung từng số báo, trang báo tạp chí sắp xuấtbản, tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu, mục đích đáp ứng nhu cầu tiếpnhận thông tin của công chúng mà cơ quan báo chí đó hướng đến
Theo luận văn thạc sĩ báo chí của tác giả Vũ Thị Lộc, học viện Bao chí
và Tuyên truyền trích định nghĩa của đồng chí Lê Duẩn về Tổ chức "Tổ chứcnói rộng ra là cơ cấu tồn tại của sự vật, hiện tượng Sự vật và hiện tượng
Trang 5không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tốthuộc nội dung Vì vậy nó là thuộc tính của bản thân các sự vật hiện tượng.
Như vậy, tổ chức theo nghĩa động có thể được hiểu theo các nghĩanhư sau:
- Sắp xếp bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụhoặc cùng một chức năng chung
- Sắp xếp bố trí để làm cho có trật tự, nề nếp
- Tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự
Tổ chức hiểu theo nghĩa thông thường là liên kết nhiều người lại đểthực hiện một công việc nhất định Tổ chức đặt ra để thực hiện nhiệm vụ Mỗi
tổ chức đều có mục đích, nhiệm vụ riêng
Thuật ngữ sản xuất
Theo từ điển tiếng việt, Sản xuất là tạo ra vật phẩm cho xá hội bằngcách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động, là hoạt độngbằng sức lao động của con người hoặc máy móc, chế biến các nguyên liệuthành ra của cải vật chất cần thiết {324}
Triết học Mác-Lê Nin định nghĩa sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chứckinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhucầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhucàu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
Theo luận văn thạc sĩ báo chí của tác giả Vũ Thị Lộc, học viện Bao chí
và Tuyên truyền thì Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủyếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm rasản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuấtdựa vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sảnxuất cho ai? Giá thành sản xuất và làm thé nào để tối ưu hóa việc sử dụng vàkhai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm
Trước kia, thuật ngữ sản xuất chỉ bao hàm việc tạo ra sản phẩm hữuhình Sau này, nó được mở rộng báo hạm cả việc tạo ra các dịch vụ Ngày
Trang 6nay, nói đến sản xuất có nghĩa là không kể việc nó tạo ra sản phẩm hữu hìnhhay dịch vụ Hệ thống sản xuất có đặc tính:
Thứ nhất, hệ thống sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm haydịch vụ cho nhu cầu xã hội
Thứ hai, các hình thức sản xuất khác nhau có thể có đầu vào khác nhau,đầu ra khác nhau, các dạng chuyển hóa khác nhau, song đặc tính chung của
nó là chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành các kết quả đầu ra có tính hữudụng, có ích cho đời sống cua con người
Các đầu vào của sản xuất là nguyên vật liệu, lao động, các phương tiệnsản xuất, kỹ năng quản trị Các đầu ra cua sản xuất là dịch vụ và các ảnhhưởng khác đến đời sống xã hội
Nếu coi sản xuất là một quá trình thì tổ chức sản xuất là các biên pháp,các phuơng pháp, các thủ thuật để duy trì mói liên hệ và phối hợp hoạt độngcủa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia vào quá trình sản xuất đó mộtcách hợp lý theo thời gian
Nếu coi sản xuất là một trạng thái thì tổ chức sản xuất là các phươngpháp, các thủ thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên hệ chặtchẽ với nhau và phân bố chúng một cách hợp lý về mặt không gian
Muốn tổ chức sản xuất tạo ra sản phẩm, đầu tiên cần phải phân chiaquá trình sản xuất tạo nên sản phẩm thành các quá trình riêng Căn cứ vàophương pháp, kỹ năn khác nhau, dựa trên lao động máy móc sẽ hình thànhnên loại hình sản xuất, cơ cấu sản xuất, lập kế hoạch sản xuất và tổ chức côngtác điều độ sản xuất
Như vậy tóm lại tổ chức sản xuất tác giả hiểu như sau:
Một là, tổ chức sản xuất là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc,giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực cua cơ quan để tạo ra những sảnphẩm hoàn chỉnh, tổ chức sản xuất có vai trò quyết định đến hiệu quả của quátrình sản xuất
Hai là, tổ chức sản xuất là làm những gì cần thiết để liên kết nhân sự,các quy tình lao động để tạo ra vật phẩm, đáp ứng nhu cầu theiets thực cho xã
Trang 7hội, bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động, trên cơ
sở các quy tắc nghề nghiệp và theo quy trình nhất định
Báo chí đến với công chúng là một sản phẩm hoàn chỉnh (tờ báo,chương trình ) Để có được sản phẩm ấy đòi hỏi sự tham gia của rất nhiềuloại hình lao động: Lãnh đạo, quản lý, phóng viên; tổ chức nội dung tờ báo,chương trình; sáng tạo tác phẩm; biên tập, thiết kế, trình bày, dàn dựng Do
đó, việc tổ chức hoạt động và tổ chức sản xuất là yếu tố đầu tiên, quan trọng,
có vai trò quyết định đến chát lượng, hiệu quả của sản phẩm, được thể hiệnqua nội dung, hình của sản phẩm, được thể hiện qua nội dung, hình thức củasản phẩm báo chí đó
Việc tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí nhấn mạnh đến vai trò củangười có vai trò điều hành, vận hành bộ máy sản xuất(các phóng viên, biêntập, họa sĩ ) để tạo ra sản phẩm báo chí là kết quả hoạt động của một tập thể,nhóm xã hội
Sản phẩm báo chí là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt, quy trình sảnxuất ra một tác phẩm báo chsi hoặc một sản phẩm báo chí qua nhiều khâu,nhiều công đoạn, từ việc lên kế hoạch, chọn đề tài, thu thập và xử lí thông tin,trình bày thông tin, biên tập, đăng tải và tiếp nhận, trả lời phản hồi từ bạn đọc.Việc sản xuât thông tin là tổng hợp lao động sáng tạo của nhiều người, từ cấp
độ quản lí đến phống viên, biên tập và kĩ thuật viên
Nhìn chung có thể hiểu việc tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí là việctập hợp, xây dựng bộ máy gồm những người có nghiệp vụ báo chí tham giavào các khâu khác nhau của một quy trình sản xuất sản phẩm báo chí, nhằmthực hiện chức năng của cơ quan báo chí
1.1.1.2 Một số thuật ngữ
* Kỹ Thuật
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, tổng thể nói chungnhững phuơng tiện và tư liệu họat động của con người, đựoc tạo ra để thực
Trang 8hiện quá trình sản xuất và phục vụ các nhu cầu phi sản xuất và phục vụ cácnhu cầu phi sản xuất của xã hội.
- tổng thể nói chung những phuơng pháp, phuơng thức sử dụng trongmột lĩnh vực hoạt động nào đó của con ngừời
* Công nghệ
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, tổng thể nói chung cácphuơng tiện kỹ thuật, các phuơng pháp tổ chức, quản lí đuợc sủ dụng vào quytrình sản xuất để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ
* Thiết kế trình bày
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, thiết kế là lập kĩ thuậttoàn bộ, gồm có bản tính toán, bản vẽ để có thể theo đó mà xây dựng côngtrình, sản xuất thiết bị, sản phẩm
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, nói ra một cách rõràng và đầy đủ cho ngừoi khác; biểu diễn một tác phẩm nghệ thuật trứoc mọingừời; xếp đặt bố trí cho đẹp và nổi bật
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011, phát trên sóng vô tuyến
*Truyền thông mới
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng 2011,- truyền thông là truyền dữliệu theo những quy tắc và cách thức nhất định; thông tin và tuyên truyền
Trang 9- Mới là vừa đựoc làm ra hay là chưa dùng hoặc dùng chưa lâu; vừa có,vừa xuât hiện; phù hợp với thời đại ngày nay, với xu thế tiến bộ.
1.1.2 Sơ lược lịch sử ra đời của các sản phẩm báo chí truyền thông
1.1.2.1 Điều kiện ra đời của các sản phẩm báo chí truyền thông
*Điều kiện chủ quan
Lịch sử báo chí Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau vớikhá nhiều thăng trầm do tác động của các điều kiện lịch sử, xã hội, do nhu cầuthông tin giao tiếp của con nguời, của tập thể và các cá nhân nên cần thiếtphải ra đời các sản phẩm phục vụ quá trình giao tiếp
* Điều kiện khách quan
Mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau mà có những bối cảnh chínhtrị, văn hóa, xá hội, kinh tế, địa lý khoa học kỹ thuật công nghệi khácnhau để tạo đièu kiện cho sự ra đời và phát triển của các sản phẩm báo chítruyền thông
1.1.2.2 Các thời kỳ ra đời và phát triển của sản phẩm báo chí truyền thông
1.1.2.2.1 Báo chí
1 Báo chí Việt Nam trước năm 1930
Báo chí cách mạng Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ Xã hội chủ nghĩa, định hướng tưtưởng - nhận thức Đây là phương tiện hữu hiệu của người cộng sản trongcông tác tuyên truyền, giác ngộ, tập hợp và giáo dục quần chúng, giúp họnhận ra lý tưởng của Đảng, lựa chọn cho mình con đường đúng đắn nhất làđấu tranh giành độc lập dân tộc thống nhất đất nước Báo chí là một trongnhững vũ khí sắc bén nhất, lợi hại nhất trong quá trình đấu tranh quyết liệt,đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị Báo chí còn là cầu nối giữa ý Đảngvới lòng dân, mọi chủ trương của Đảng, chính sách - pháp luật của Nhà nước
và những ý kiến - mong muốn - phản ánh…của nhân dân đều được truyền tảihai chiều liên tục thông qua phương tiện này
Trang 10Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XIX dưới sự phát triển của nhu cầuthông tin, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và những thành tựu của kỹthuật in ấn, báo chí ở Việt Nam đã bắt đầu hình thành và phát triển với ấnphẩm đầu tiên là Gia Định báo Mặc dù còn rất khiêm tốn, đơn giản, thô sơ cả
về mặt nội dung, hình thức, số lượng ấn phẩm và phạm vi phát hành nhưngGia Định báo đã đánh dấu sự bắt đầu của báo chí Việt Nam
Vào đầu thế kỷ XX, ý thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền của đất nước,độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân đã được nhóm lên từ những “viênthan hồng” đang nung nấu trong lòng dân tộc Nắm bắt được tình hình đóNguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tổ chức Thanh niên cộng sản Đoàn, tập hợpnhững thanh niên yêu nước có tinh thần đấu tranh bảo vệ dân tộc làm nòngcốt cho sự ra đời của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội Đây là tổchức yêu nước đầu tiên ở Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản Ýthức được vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền, ngày 21/06/1925 tờbáo Thanh Niên - cơ quan ngôn luận của tổ chức cách mạng Việt Nam ra đời
và không ngừng phát huy vai trò quan trọng của mình
Vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, các tổ chức cách mạng trênkhắp mọi miền đất nước liên tục được thành lập và xuất bản các tờ báo.Tháng 6/1929 tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời, xuất bản báo BúaLiềm Ban Công vận Trung ương ra báo Công hội đỏ Tổng Công hội Bắc kỳ
ra báo Lao động Tháng 9/1929, An Nam Cộng sản Đảng ra báo Đỏ Những
tờ báo của các tổ chức này có tác dụng cao và rất quan trọng trong việc giáodục ý thức giai cấp, cổ vũ tinh thần đấu tranh giai cấp và bồi đắp lý tưởngcộng sản chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân… Tuy nhiên, tình trạng hoạtđộng riêng lẻ, thiếu tính đoàn kết, thiếu tinh thần phối hợp, thậm chí là côngkích lẫn nhau giữa các tổ chức cộng sản và các tờ báo của họ làm cho cáchmạng Việt Nam tổn hại nặng nề Để chấm dứt tình trạng này, Chủ tịch Hồ ChíMinh quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đang hoạtđộng riêng lẻ Dưới sự chủ trì của mình, ngày 03/02/1930 Chủ tịch Hồ ChíMinh quyết định: hợp nhất các tổ chức cộng sản, trên cơ sở đó thành lập Đảng
Trang 11cộng sản Việt Nam, xuất bản tạp chí Đỏ và báo Tranh Đấu làm cơ quan ngônluận chính thức của Đảng.
2 Báo chí Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Đặt cách mạng Việt Nam trong mối liên hệ mật thiết với các nướcĐông Dương, tháng 10/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành ĐảngCộng sản Đông Dương Ngay sau đó Trung ương Đảng cho ra báo Cờ Vô Sản
và tạp chí Cộng Sản Hòa chung khí thế đó, các xứ ủy, tỉnh ủy, nhiều huyện
ủy và chi bộ cũng lần lượt ra báo để kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ đấu tranh
và chuẩn bị đấu tranh Bên cạnh đó, Ban lãnh đạo Đảng ở nước ngoài cũngđược thành lập và xuất bản tạp chí Bonsevich Dưới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản Đông Dương, báo chí thời kỳ này đã phát huy cao độ vai trò quantrọng của mình trong việc tuyên truyền, phát động, cổ vũ phong trào chống đếquốc, chống phong kiến một cách sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân.Thành công của cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh là bằng chứng, là kết quả của
sự nỗ lực và những đóng góp quan trọng của báo chí
Đứng trước tình hình mới, Đại hội Đảng lần thứ I (tháng 03/1935)quyết định: đổi tạp chí Bonsevich thành tạp chí Lý luận Trung ương Tranhthủ tình hình thế giới có nhiều thuận lợi, Mặt trận nhân dân chống phát xítđược thành lập ở nhiều nước và khả năng hoạt động nửa hợp pháp nửa bấthợp pháp, Đảng chủ trương đưa báo chí ra hoạt động công khai Nhiều tờ báođược xuất bản hợp pháp trên cả nước, trong đó có cả các tờ báo cách mạngbằng tiếng Pháp được xuất bản ở Hà Nội Hoạt động báo chí trong các nhà tùlớn cũng phát triển với nhiều tờ báo và tạp chí ra đời phục vụ tích cực chocông tác xây dựng Đảng, truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối cáchmạng dân chủ của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống lại đế quốc, phong kiến,bài trừ Chủ nghĩa cải lương của giai cấp vô sản, chủ nghĩa dân tộc tư sản của
tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng, đồng thời chuẩn bị điều kiện về mọi mặtnhằm đưa cách mạng Đông Dương tiến lên giai đoạn mới
Trang 12Bước sang những năm 40, căn cứ vào diễn biến tình hình cách mạngtrên thế giới, khu vực và nhất là những chuyển biến nhanh chóng của tươngquan lực lượng và tình hình chiến sự trong nước, nhận thấy thời cơ của cáchmạng Việt Nam đang dần xuất hiện, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minhkhông ngừng chuẩn bị mọi điều kiện để đón nhận thời cơ cách mạng Ngaysau khi Mặt trận Việt Minh được thành lập, các tờ báo: Việt Nam độc lập,Cứu quốc, Cờ giải phóng, tạp chí Cộng sản, báo của các đoàn thể và các địaphương cũng được kỳ bộ, tỉnh bộ Việt Minh cho phép xuất bản Báo chí giaiđoạn này đã phục vụ tích cực cho công tác xây dựng lực lượng, kết hợp đấutranh chính trị với đấu tranh vũ trang Ngay sau khi nhận được Chỉ thị chuẩn
bị khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh (05/1944), đặc biệt là sau cuộc đảochính Nhật - Pháp (03/1945), Đảng phát động Cao trào kháng Nhật cứunước tiến tới Tổng khởi nghĩa Bên cạnh các tờ báo và tạp chí đã có lànhững tờ báo của các lực lượng vũ trang từ các Căn cứ kháng Nhật và Khugiải phóng cũng được xuất bản
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là nhờ một phần đóng gópkhông nhỏ của báo chí trong đó phải kể đến vai trò của tờ báo Cờ giải phóng
và báo Cứu quốc Mặc dù ra đời, phát triển trong một thời gian ngắn và hoàncảnh khó khăn với nhiều biến động nhưng báo chí Việt Nam đã vượt lên tất cả
và phát triển vô cùng mạnh mẽ Chỉ trong vòng 20 năm kể từ khi báo ThanhNiên được thành lập (1925) đến Cách mạng tháng Tám (1945), Việt Nam đã
có khoảng 380 tờ báo và tạp chí lớn nhỏ
3 Báo chí Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
Ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản tuyên ngôn độc lậpkhai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời cũng mở ra cho báochí Việt Nam một giai đoạn hoàn toàn mới Dưới chế độ dân chủ nhân dân,báo chí Việt Nam xuất bản công khai với số lượng lớn, nội dung phong phú,hình thức đẹp - hiện đại và kỹ thuật in tiên tiến Báo Cứu quốc trở thành tờnhật báo lớn nhất trên cả nước với sức hấp dẫn mạnh mẽ đến đa số giai cấp
Trang 13trong xã hội Cũng ngay trong năm 1945, bên cạnh báo viết đã trưởng thànhnhanh chóng về mọi mặt là sự ra đời của báo nói với Đài phát thanh tiếng nóiViệt Nam và Việt Nam thông tấn xã (Nay là Thông tấn xã Việt Nam) càngphát huy hơn nữa vai trò, hiệu quả của báo chí, nhất là trong việc bảo vệ chínhquyền và Nhà nước non trẻ mới được thành lập.
Cuối năm 1945 tình hình cách mạng có nhiều bất lợi, không thể tiếp tụchoạt động công khai, Đảng ta quyết định chuyển sang hoạt động bí mật Theo
đó báo Cờ giải phóng phải ngừng xuất bản, thay vào đó là báo Sự thật đượcthành lập trên danh nghĩa là cơ quan ngôn luận của Hội nghiên cứu Chủ nghĩaMác ở Đông dương Dưới vỏ bọc này, báo Sự thật tiếp tục sứ mệnh của báo
Cờ giải phóng, báo Cứu quốc… một cách khéo léo và linh hoạt Năm 1946cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai bùng nổ ở Hải Phòng,Lạng Sơn, Đà Nẵng sau đó nhanh chóng lan rộng, lúc này báo chí cơ bản phảirút vào hoạt động bí mật nhưng vẫn có một bộ phận hoạt động và xuất bảncông khai tại các vùng tự do, căn cứ kháng chiến và cả vùng địch tạm chiếm
Vì thế nội dung các văn kiện quan trọng của Đảng, đường lối cách mạng, chủtrương của Nhà nước, các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những vị lãnhđạo cấp cao của Đảng và Nhà nước vẫn được báo chí kịp thời đăng tải, phổbiến đến đông đảo quần chúng nhân dân
Năm 1951, báo Nhân Dân ra đời, tạp chí Cộng sản tiếp tục được xuấtbản, tạp chí Sinh hoạt nội bộ và báo Quân đội Nhân dân được thành lập càngcủng cố hơn nữa vai trò và sức mạnh của báo chí Điều này càng có ý nghĩaquan trọng hơn trong hoàn cảnh cách mạng Việt Nam đang gặp nhiều khókhăn Bằng sự nỗ lực phi thường, chiến đấu, hi sinh anh dũng của Đảng Cộngsản và nhân dân Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã kết thúcthắng lợi nhưng nước ta tạm thời bị chia làm hai miền Nam - Bắc với hai chế
độ xã hội và hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng đều hướng đến mụctiêu cuối cùng là đánh đổ đế quốc Mỹ và tay sai, hoàn thành cách mạng giải
Trang 14phóng dân tộc - thống nhất đất nước Báo chí ở miền Bắc hoạt động tự do nênkhông ngừng gặt hái được nhiều thành công đáng kể, hỗ trợ đắc lực cho báochí ở miền Nam đang hoạt động bí mật.
Trước sự phát triển và trưởng thành về mọi mặt, ngày 02/06/1950 Hộinhà báo Việt Nam được thành lập và chỉ hơn một tháng sau Hội gia nhập Tổchức các nhà báo Quốc tế Tờ báo Nhân dân được xuất bản đều đặn hằngngày, báo Thanh Niên, tạp chí Cộng sản, báo Quân đội nhân dân… đã đồnghành với Đảng và nhân dân đưa cuộc đấu tranh của dân tộc ta đến với Đạithắng mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước
4 Báo chí Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn và vẻvang của cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng và cuộc kháng chiến chốngngoại xâm nói chung, đưa lịch sử dân tộc bước sang một trang hoàn toàn mới
Từ nay, nhân dân ta vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của các nước đế quốc,tình trạng đất nước bị chia cắt, miền Nam được hoàn toàn giải phóng - đấtnước thống nhất, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên
cả nước, bảo vệ những thành quả bước đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ởmiền Bắc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do,thống nhất và chủ nghĩa xã hội Hòa chung với không khí hào hùng, phấnkhởi, tự hào, tin tưởng của cả dân tộc, báo chí Việt Nam có điều kiện thuậnlợi để phát triển đáp ứng yêu cầu thông tin của thời đại mới với sự phát triểncủa khoa học công nghệ, công nghệ truyền thông, xu thế mở cửa hội nhập khuvực và thế giới, báo hình và báo điện tử ra đời, trở thành kênh thông tin hữuhiệu nhất trong thời đại mới
Bên cạnh việc tiếp tục truyền tải chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước, là cầu nối ý Đảng với lòng dân, báo chí Việt Nam còn thể hiện trítuệ, khát vọng, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt, chỉ rõ ý chíkiên trì theo con đường độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ViệtNam mà Đảng và Nhà Nước đã dầy công xây dựng Với ý nghĩa đó, Ban Bí
Trang 15thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Quyết định số 52 (Ngày05/02/1985) lấy ngày 21.6 (ngày thành lập báo Thanh Niên) hằng năm làmNgày báo chí Việt Nam Trải qua 75 năm hình thành và phát triển, để đánhdấu sự kiện quan trọng này, vào ngày 21/06/2000, Bộ Chính trị, Ban Chấphành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đồng ý đổi Ngày báo chí ViệtNam thành Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam theo đề nghị của Hội Nhà báoViệt Nam.
Theo Báo cáo tổng kết năm 2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông:
“Đến nay, cả nước có 858 cơ quan báo chí in ; 105 cơ quan báo điện tử , 207trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 66 đài phát thanh,truyền hình với gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ đang hoạt động trên khắpmọi vùng miền của Tổ quốc và ở nước ngoài Nhìn chung, các cơ quan báochí hoạt động và thông tin đúng tôn chỉ, mục đích và đúng định hướng Donền kinh tế gặp nhiều khó khăn nên nguồn thu chủ yếu của các cơ quan báochí là từ thu quảng cáo, đặc biệt là báo in, giảm đáng kể; mặt khác do nguồnngân sách hạn hẹp nên các đơn vị, cơ quan báo chí phải vừa đảm bảo hoạtđộng chuyên môn chính trị, vừa phải khắc phục khó khăn về kinh phí để đápứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ
Hiện cả nước có tổng số 182 kênh chương trình phát thanh, truyền hìnhquảng bá, gồm: 105 kênh chương trình truyền hình quảng bá, 77 kênh chươngtrình phát thanh, quảng bá Đặc biệt có 06 kênh truyền hình hoạt động không
có hạ tầng phát sóng truyền hình riêng, bao gồm các kênh: Truyền hình VOV,Truyền hình Công an nhân dân, Truyền hình Thông tấn, Truyền hình quốcphòng, Truyền hình Quốc hội, Truyền hình Nhân dân Hệ thống truyền hìnhtrả tiền đến hết năm 2015 có 31 đơn vị cung cấp dịch vụ với 73 kênh truyềnhình và 09 kênh phát thanh trong nước Số lượng kênh truyền hình nướcngoài được cấp phép biên tập trên hệ thống truyền hình trả tiền là 40 kênh.Truyền hình trả tiền sử dụng 04 loại công nghệ truyền dẫn, gồm: truyền hìnhcáp (gồm cả IPTV), truyền hình mặt đất kỹ thuật số, truyền hình trực tiếp qua
Trang 16vệ tinh và truyền hình di động Hiện nay, số lượng thuê bao truyền hình trảtiền khoảng 9,9 triệu, trong đó số lượng thuê bao truyền hình cáp chiếm80,8% Tổng doanh thu dịch vụ truyền hình trả tiền là 9.624 tỷ đồng, thu hútkhoảng 9.500 lao động {Trong đó có: 199 cơ quan báo in chiếm 24% (86 báotrung ương và các bộ, ngành, đoàn thể; 113 báo địa phương) và 659 tạp chíchiếm 76% (522 tạp chí trung ương, các bộ, ngành, trường đại học và việnnghiên cứu; 137 tạp chí địa phương)
Trong đó có: 83 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo chí in và 22 báo,tạp chí điện tử độc lập
Trong đó có: 02 đài Trung ương, 64 đài địa phương (riêng TP Hồ ChíMinh có 02 đài: Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh và Đài Tiếng nói nhân dân
và Gmail, nhưng những dịch vụ đó chỉ mang tính cá nhân nhiều hơn là xã hội
Điểm khác bịêt của Yahô 360 là giúp cho ngừoi dung tạo đựoc mộttrang cá nhân riêng, từ đó có thể viết blog, chia sẻ quan điểm, tro đổi và thảoluạn thông tin với những ngừời dung khác Vào thời điểm hoàng kim nhất,mạng xã hội này thuhút đến hơn hai triệu ngừoi dùng ở Việt nam Đến năm
2008 yahoo tuyên bố đóng cửa dịch vụ blog Yahoo 360 Tuy vậy, với tiềmvăng của một thị trưong hơn 80 triệu dân cùng với gần một nửa là dân số trẻ(tại thời điểm đó), không ít những dịch vụ blog khác nhảy vào thế chân củaYahoo 360 tại Việt Nam, tiêu biểu nhất là Blogspot và Wordpress Cùng lúcnày, dịch vụ mạng xa hội facebook, sau một năm thâm nhập vào thị truờngViệt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ
Trang 17Sự xuát hiện của facebook đánh dấu một bước phát triển mới chotruyền thông xã hội ở Việt Nqam, đặc biệt khi xét đến quy mô lan tỏa củathông tin Với nền tảng blog, ngưoi dung có thể tạo ra nội dung nhưng bị hạnchế do blog không hỗ trợ nhiều về chia sẻ nội dung Facebook đã phá vỡ ràocản này, với tính năng share (chia sẻ) rất dễ dàng, kết nối mạng lứoi Friends(bạn bè) nhanh và rộng Và đây cũng là thời điểm mà mạng xã hội bắt đầu tạo
ra những ảnh hửong lớn đến nền báo chí và truyền thông việt nam nhưngkhông thể không nhắc đến tác động của nền tảng công nghệ tạo ra nó là mạnginternets Mạng internet thúc đẩy các tòa soạn phải trở nên online Với dân sốinternet ở VIệt Nam lên tới 31 trỉệu ngừoi, ngay cả những tờ báo chính trị xãhội và ít chịu sự thay đổi của họat động kinh doanh như báo Nhân dân, báoLao Động, báo Công an nhân dân, cũng đã xuất hiện phiên bản onnile
Thêm vào đó các Tòa soạn cũng đã lập trang facebook, để kết nốinhạnh chóng và dễ dàng hơn với ngừoi đọc Một ví dụ điển hình là fanpagetrên facebook của tờ Tin nhanh VNam (vNxpess) có gần 1700000 lựot like.Tuổi trẻ 1.320.000, thanh niên 588.000, tính đến giữa năm 2015
Truớc kỉ nguyên internet báo chí và ngưoi đọc chỉ có mối quan hệ mộtchiều: Độc giả đón nhận những thông tin đứợc báo chí đem lại, hoàn toànkhông có cơ chế giám sát, phản hồi hiệu quả Trong giai đoạn từ năm 2008 trở
đi, hầu hét các tờ báo mạng đều triển khai mục “bình luận của bạn đọc”(comment) và yêu thích (like), dứoi mỗi bài viết.Một bài báo đuợc nhiềungừoi đọc quan tâm không chỉ còn phụ thuộc vào số luợng truy cập (View)
mà còn cả số luợng comment và like
Điều này thúc đẩy các tờ báo nỗ lực tìm kiếm các chủ đề hay, có liênquan mật thiết đến thực tế và cuộc sống của độc giả hơn, với tư cách tiếp cận
dễ hiểu hơn với quần chúng Dù không phủ nhận vai trò cung cáp thông tincủa báo in trong giai đoạn tiền internet, nhưng có thể thấy rằng, báo in chưabao giờ tạo ra đuợc một diễn đàn chung để công chúng thảo luận những vấn
Trang 18đề cùng quan tâm Sự cải tiến vè công nghệ của báo mạng internet đã giúphình thành nên điều đó, và nhân tố tác động trực tiếp nhất đến sự cải tiến đóchính sự phát triển cua mạng xã hội.
Không chỉ tác động đến sự cải tíến của báo online, mạng xã hội còngiúp báo chí họat động công khai, minh bạch và chuyên nghiệp hơn nhờ khảnăng lan truyền siêu tốc của nó
Có thể nói, với sự xuất hiện của mạng xã hội như facebook hayyoutube, chưa bao giờ độc giả lại có sức mạnh to lớn đến vậy trong việc giámsát và phản hồi những thông tin có đuợc từ báo chí Nếu báo chí truyền thôngđuợc coi là quyền lực thứ tư, và có chức năng giám sát, kiểm tra hỏat độngcủa nhà nước và tổ chức thì với sự sxuất hiện của mình, mạng xã hội lại đóngvai trò “quyền lực thứ năm” trong việc giám sát họat động cua các cơ quantruyền thông
Qua đó mạng xã hội góp phần tích cực trong việc nâng cao chất luợngsang phẩm báo chí, giúp nó trở nên thiết thực hơn, chất luợng hơn và gắn bóchất luợng hơn, mật thiết hơn với nhu cầu và mong muốn của công chúng
Báo chí thời đại internet không còn là công cụ truyền thông một chiều
từ tòa soạn đến độc giả nữa, mà đang dần trở thành một diễn đàn thực sự đểcông chúng tiếp nhận thông tin và tranh luận về các vấn đè quan tâm
Với 91 năm hình thành và phát triển (1925 - 2016), mặc dù trải quanhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhaunhưng dù ở bất kỳ thời kỳ nào, bất kỳ nhiệm vụ nào báo chí cách mạng ViệtNam vẫn không ngừng lớn mạnh và luôn hoàn thành xuất sắc mọi sứ mệnhcủa mình để trở thành tiếng nói của Đảng, các cơ quan Nhà nước, các đoànthể và là diễn đàn của nhân dân Tiếng nói của báo chí không chỉ phản ánhkịp thời, đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật củaNhà nước vào cuộc sống mà còn là kênh thông tin tin cậy để nhân dân bày tỏtâm tư nguyện vọng, là phương tiện giám sát đối với Đảng và Nhà nước
1.1.2.2.2 Sự hình thành và phát triển của phát thanh
Trang 191 Lịch sử phát thanh Thế giới.
Sự ra đời của phát thanh phải trải qua một thời gian tương đối dài bằng
sự kết hợp hàng loạt phát minh khoa học Việc Alecxander Graham Bell công
bố chiếc máy điện thoại mới được sáng chế của mình tại Hội chợ Thế kỷPhiladelphia năm 1875 đã cho thấy rằng điện thoại có thể truyền thanh âmnhạc và đối thoại Máy quay đĩa của Edison và sự ra đời cảu hãng Kodak năm
1888 là những mốc quan trọng trong lịch sử truyền thông Phát minh vềtruyền tin bằng điện tín của Guglielmo Marconi vào những năm 1890 là tiến
bộ quan trọng để tiến tới truyền thanh Reginald A Fessenden - giáo sư củatrường đại học Pittsbrgh (Mỹ) đã cải tiến quá trình truyền tin của Marconibằng cách sử dụng sóng liên tục để truyền giọng nói và âm nhạc Vào Đêmgiáng sinh năm 1906, Fesseden đã truyền thanh tin tức cho những chiếc tàu ởngoài khơi
Thế nhưng bước ngoặt năm 1906 khi Lee De Forest phát minh rabóng đèn chân không mới thực sự bảo đảm cho tương lai của radio Năm
1907 ông đã sử dụng băng của Hãng Máy hát Columbia để phát thanh buổihòa nhạc Và năm 1910 ông thu thanh giọng hát của nam ca sĩ lừng danhEnrico Caruso tại Nhà hát Opera Metropolitan và đồng thời phát cho nhữngnhà xung quanh nghe Đó cũng là năm mà David Samoff, một nhân viênvận hành kỹ thuật viba trong Công ty Marconi đã truyền những thông điệp
từ nơi xảy ra thảm họa đắm tàu Titanic Trong ba ngày đêm, ông đã thôngtin cho công chúng về diễn biến của thảm học này Đó là sự khởi đầu chochương trình tin tức qua radio
Ngày 7/11/1910 tờ The NewYork American đã nối một đường dây vớitrạm phát thanh thí nghiệm của De Forest ở High Bridge, New York để "ông
tổ radio" này truyền đi những tin tức về cuộc bầu cử tổng thống cho một vàithính giả nghiệp dư lúc bấy giờ Cũng như tờ American và một số tờ báokhác, De Forest đã truyền trên sóng thông báo này: "Charles Evans Hughes sẽ
là tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ"
Trang 20Những phát minh và kỹ thuật của viba và radio đã phục vụ rất hữu hiệucho các mục tiêu quân sự trong suốt Đại chiến Thế giới thứ nhất, và phátthanh tư nhân đã bị cấm cho đến tận năm 1919 Chỉ có một số ít người thấyđược tiềm năng của phát thanh đại chúng Một trong số ít đó là David Samoff.Khi ba công ty truyền thông và sản xuất điện lớn và Westinghouse, GeneralElectric và Công ty điện thoại và điện tín Mỹ góp cổ phần và quyền sáng chếthành lập Tập đoàn Radio Mỹ (RCA) Samoff trở thành "động cơ đốt trong"của RCA Hoạt động của nghề nghiệp của ông kéo dài tới tận năm 1970.
Tiến sĩ Frank Conrad là kỹ sư của Công ty Westinghouse, người đã đưa
ra chứng minh đầu tiên cho luận điểm của Samoff là con người ta có thể ngheđài Những buổi phát thanh âm nhạc của ông đã khuyến khích người ta muađài bán dẫn và đã thúc đẩy Công ty Westinghouse thành lập Đài KDKA vàongày 2/11/1920 như một đài phát thanh thương mại hoàn chỉnh (theo đúngnghĩa của nó) được cấp giấy phép đầu tiên Một trong những chương trìnhquan trọng của đài này là tin tức về cuộc bầu cử tổng thống Harding - cox,một trong những người mà kết quả số phiếu có thể dễ dàng dự đoán từ trước.Phát thanh về kết quả cuộc bầu cử này còn có trạm phát thể nghiệm của báoDetroit News mà sau đó đã trở thành Đài WWJ vào năm 1921 Một đài phátthanh tiên phong khác (do báo thành lập) là của tờ Chartes "Doc" Herrold ởSan Jose, bang California, mà trạm thể nghiệm cảu nó đã phát chương trình
âm nhạc và tin tức định kỳ từ sau năm 1910 Các nhà xuất bản báo chí bắt đầuthấy rằng bản tin phát thanh rất có lợi cho việc phát hành các ấn phẩm củamình; từ năm 1927 đã có 97 tờ báo giới thiệu những phần nhỏ tin tức củamình trên làn sóng và đã có 48 đài phát thanh được thành lập bởi các tờ báo
Từ chỗ là một điều mới lạ hấp dẫn vào đầu những năm 1920, radio đãphát triển nhanh chóng trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sồng giađình Nó đã tạo ra một hệ thống phân phối nhanh nhạy rộng lớn khắp quốc gianhững thông tin nóng hổi về các sự kiện trọng đại, thêm vào đó là những phầntin tức quan trọng về sự thống nhất của cơ cấu xã hội Mới đầu người nghe đài
Trang 21sử dụng tai nghe và bắt sóng chương trình bằng cách nối khéo léo một sợi dâythép mảnh như ria mèo bắc ngang qua một chất bán dẫn tinh thể Nhiều máythu thanh được chế tại nhà, thiết bị của các trạm phát thanh cũng rất sơ sài,nghiệp dư Khi loa phóng thanh phát triển thì vị trí của radio ở phòng kháchcủa mỗi gia đình lại càng được nâng cao.
Việc sử dụng kheo léo hiệu quả âm thanh đã đưa người nghe đến nhữngvùng đất xa xôi của trí tưởng tượng Mặc dù các phát thanh viên chỉ làm việcbằng giọng nói, nhưng họ vẫn được thính giả cả nước biết mặt qua báo chí và
sự xuấ hiện của họ ở ngoài đời
Bên cạnh tầm quan trọng của các tin tức, những đài phát thanh thời kỳđầu tiên cũng chú trọng tới việc thu hút sự quan tâm của công chúng bằngcách quan tâm tới giải trí hơn là thông tin Người ta kết hợp đưa tin về những
sự kiện nổi bật và tường thuật tại chỗ những môn thể thao hấp dẫn Nhữngchương trình tóm lược tin tức còn sót lại rất ít vào những năm 1920 vì chúngchỉ thu hút sự quan tâm của một số ít các nhà quảng cáo Lúc này các đài phátthanh không tự mình thu thập tin tức Tin tức chỉ được đọc từ các tờ báo mộtcách rất lúng túng và khó nghe trên làn sóng Trong khi đó, năm 1921 đàiKDKA đã phát những buổi tường thuật các trận đấu quyền Anh hấp dẫn vàcác trận đấu bóng chày tiêu biểu của mùa giải năm 1924 ước tính đã có đến
10 triệu người Mỹ được nghe đài Năm đó nước Mỹ đã có 3 triệu chiếc đài vàcon số các đài phát thanh từ 30 đài vào năm 1921 đã tăng lên tới 530 đài
Những bước đầu tiên của kỹ xảo radio trong tương lai xuất hiện nhữngnăm 1930 khi một số đài thực hiện các chương trình "Phòng Khiêu vũ giả".Trong suốt những chương trình này một người giới thiệu chương trình bậtbăng đã được ghi từ trước và làm bộ như đang phát thanh từ một phòng Khiêu
vũ, vờ như những buổi biểu diễn của các dàn nhạc đang được phát thanh trựctiếp từ các khách sạn và các câu lạc bộ Từ những bản tường thuật ngắn gọn,người ta có thể miêu tả diễn biễn của những trận bóng đá ở các thành phố xa
Trang 22xôi như thể nó đang diễn ra nhờ trí tưởng tưởng và khả năng diễn đạt củanhững người giới thiệu chương trình ở studio.
Sự phát triển của hệ thống các đài phát thanh có tầm quan trọng sốngcòn đối với sự tiến bộ của radio Đến năm 1925, Công ty AT&T đã thành lậpđài WEAF với 26 đầu ra, phủ sóng tới tận miền Tây xa xôi Các công tyRCA, Westinghouse và General Electric có một hệ thống đài cạnh tranh đứngđầu là WJZ ở New York và WGY ở Schenectady Năm 1926 các công ty lớn
kể trên đã đạt được một thỏa thuận theo đó AT&T sẽ không làm nhiệm vụphát sóng và thay vào đó có thể kiểm soát mọi thủ tục tiếp sóng RCA,Westinghouse và General Electric đã mua WEAF từ tay AT&T với giá 1 triệu
đô la Sau đó họ đã thành lập Công ty Phát thanh quốc gia như một công tycon của RCA Nhóm đài do AT&T thành lập và đứng đầu bởi WEAF đã trởthành hệ thống đài NBC Đỏ vào đầu năm 1927, còn nhóm đài do WJZ đứngđầu thì trở thành hệ thống đài NBC xanh Hoạt động của hệ thống đài xuyênquốc gia cũng bắt đầu từ năm đó Samoff trở thành người điều hành cả RCA
và NBC vào năm 1930
Chỉ có 7% tổng số 733 đài hoạt động vào đầu năm 1927 gia nhập vàoNBC Năm 1927 một số đối thủ cạnh tranh đã thành lập một hệ thống dịch vụủng hộ cho Công ty Băng đĩa Columbia, mà sau này đã trở thành Hệ thốngPhát thanh Columbia Năm 1934 hệ thống này có 97 đài thành viên trongtương quan so sánh với 65 đài của NBC Đỏ và 62 đài của NBC Xanh
Sự tăng trưởng của các hệ thống từ sau năm 1927, và những thành côngcủa chúng trong doanh thu từ quảng cáo, đã làm cho radio trở thành một tháchthức đáng lo ngại đối với công nghiệp báo in Sức hấp dẫn của radio trongviệc phát đi những tin tức và các vấn đề xã hội ngày càng tăng cũng tạo racạnh tranh Năm 1928 ứng cử viên Đảng Cộng hòa Herbert Hoower và ứng
cử viên Đảng Dân chủ Alfred E Smith đã tiêu 1 triệu đô la để mở chiến dịchvận động tranh cử trên sóng phát thanh qua hệ thống NBC và CBS là những
hệ thống phủ sóng tới nhiều nơi trong tổng số 8 triệu máy thu trên toàn quốc.Năm đó các hãng thông tấn như AP (Asscociated Press), UP (United Press) và
Trang 23Dịch vụ Thông tin Quốc tế đã cung cấp kết quả đầy đủ cuộc bầu cử cho 677đài phát thanh Sự thành công của radio trong việc tường thuật cuộc bầu cửtổng thống rất gay gắt này đã kích thích lòng mòng mỏi của thính giả có thêmnhững chương trình tin tức phát thanh.
Một cuộc chiến tranh gay go quyết liệt đã nổ ra giữa radio và các tờbáo trong việc phát đi tin tức Radio như một phương tiện thông tin đạichúng mới ngày càng lôi kéo được các nhà đầu tư quảng cáo Cuộc tranhgiành này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến dư luận hơn là nó đáng có Các hãngthông tấn phải ngừng cung cấp tin tức cho radio, từ đó phát thanh phải tựmình thu thập tin tức
Radio trưởng thành và phát triển
Các hệ thống radio đã mở rộng những tin tức của mình phản ánh tínhchất ác liệt của Đại chiến Thế giới lần thứ II, đặc biệt là sau khi người Nhậttấn công vào căn cứ hải quân Mỹ tại cảng Pearf (Chân Châu cảng) ở Hawai
đã kéo nước Mỹ vào cuộc chiến toàn cầu này
Nhu cầu thông tin về cuộc chiến dường như là vô hạn Mặc dù rất nhiềuchương trình được đánh giá cao theo sự sắp xếp của thính giả, nhưng đặc biệtbốn chương trình tin tức có số lượng thính giả rất cao - đó là chương trìnhThe Mareh of Time và chương trình của các bình luận viên Lowell Thomat,Gabriel Heatter và Walter Winchell
Những năm tháng chiến tranh là thời kỳ vô cùng thịnh vượng của radio.Năm 1945 nước Mỹ có 909 đài AM được cấp giấy phép Mười sáu tháng sau
đã có thêm gần 600 đài mới Đến năm 1950 đã có 2086 đài AM với 80 triệumáy thu thanh
Nhưng vô tuyến truyền hình đã phủ cái bóng của mình lên radio.Năm đánh mốc quan trọng của truyền hình là 1948 - cũng là năm mà doanhthu của các hệ thống radio quốc gia đã đạt tới đỉnh cao không thể vượt quađược Công chúng bắt đầu chuyển sự chú ý của mình sang vô tuyến truyềnhình Khi hệ thống phát thanh thu nhỏ lại dần trong các chương trình ca
Trang 24nhạc, tin tức, thể thao thì ngành phát thanh vẫn tiếp tục phát triển như mộtngành công nghiệp.
Khi phát thanh FM bắt đầu được thể nghiệm vào năm 1936 ngành côngnghiệp này đã coi nó như một điều mới lạ không đáng chú ý lắm Chỉ một vàimáy thu thanh có đủ điều kiện để bắt sóng FM Những đài AM cũng có giấyphép phát FM coi FM như một mảng phụ ít tiềm năng và hiệu quả Đếnkhoảng giữa những năm 1970 và những năm 1980, tỷ lệ số thính giả của FM
đã tăng lên 38% Sức hấp dẫn của FM đã trở nên mạnh mẽ đối với nhữngthính giả trẻ Các đài AM có phạm vi và tần số mạnh hơn FM nhưng lại bịảnh hưởng rất nhiều bởi sự nhiễu tín hiệu Đài FM chỉ có thể nghe trong mộtkhoảng cách nhỏ, nhưng hầu như không bị nhiễu và có thể phát âm nhạc với
âm thanh Sacreo rất rõ nét, rất trung thực Đầu tư cho các đài FM cũng tốn ítkinh phí hơn Hầu hết các đài AM kinh doanh có lãi cao phải nằm ở các trungtâm đô thị lớn
Dần dần các nhà phát thanh và các nhà quảng cáo ý thức được rằng FM
có thể trở thành một phương tiện kinh doanh có hiệu quả Các máy thu thanhmới cho gia đình và trong xe hơi được thiết kế để bắt sóng được cả AM và
FM Hàng trăm kênh FM mới được thiết lập Nhiều đài FM đã tiến hành kếthợp giữa quảng cáo và giải trí chẳng kém gì các đài AM
Theo quan điểm của các nhà quảng cáo, FM có sức hấp dẫn bởi vì cácđài có thể hướng nội dung các chương trình phát thanh của mình nhằm vàonhững đối tượng khán giả có sở thích đặc biệt Sử dụng những kết quả nghiêncứu về nhân khẩu học và xã hội học cho phép các đài FM thiết kế chươngtrình của mình theo phạm vi lứa tuổi và sở thích của người nghe Kỹ thuật nàyđược gọi là “phân loại thu hẹp” Vì vậy một nhà quảng cáo có thể chọn mộtđài hay phát nhạc rock để gửi thông điệp tới các thính giả trẻ, hoặc chọn mộtđài thiên về nhạc nhẹ, dễ nghe hơn để lôi cuốn một nhóm người già hơn, bảothủ hơn quant âm tới các hàng hóa của mình Và đối tượng thính giả rộng rãinên các đài AM không thể chuyên môn hóa như các đài FM được
Trang 25Bằng chứng xác định về sự ưu việt vượt bậc của FM được thể hiện ởgiá cả mà các nhà kinh doanh phải trả khi mua một đài FM Giữa những năm
1980, một đài FM đã được bán đến giá 12 triệu đô la bởi vì người mua đãnhìn thấy ở nó lợi nhuận tiềm tàng rất lớn trong tương lai Đến năm 1988 thìchỉ một đài FM ở khu vực Los Angeles đã được bán với 79 triệu đô la Nhữngđài cùng hoạt động AM và FM đã xây dựng kênh FM như một chương trìnhtin tức và quảng cáo riêng biệt
Phát thanh Kỹ thuật số (Digital Audio)
Một hình thức phát thanh công nghệ cao hoàn toàn mới mẻ được gọi là
âm thanh kỹ thuật số (DAB) tạo ra sự thay đổi đột biến với chất lượng âmthanh vào cuối những năm 1990
DAB dựa trên công nghệ giống như đĩa compact Nó dùng những con
số 1 và 0 của mã số máy tính để biểu diễn ký hiệu âm thanh Những nhà thiết
kế hệ thống này đã khẳng định rằng những tín hiệu kỹ thuật số đó khi phátqua vệ tinh sẽ đem đến cho bạn âm thanh trung thực không bị nhiễu Các nhàthiết kế này dự đoán rằng mỗi vệ tinh radio sẽ đem đến những tín hiệu từ gần
100 trệm phát tới các máy thu thanh, lần đầu tiên tạo ra những kênh phátthanh phủ sóng toàn quốc
Các chuyên gia kỹ thuật đã thấy trước được thời điểm khi các thiết bịthu DAB có một màn tinh thể lỏng để các dữ liệu số hiện lên thành các dữliệu nhìn thấy được, sẽ đem lại cho phát thanh một nhân tố mới hoàn toàn.Một hệ thống truyền những chương trình radio bằng kỹ thuật số tới các máy
vi tính văn phòng và gia đình theo yêu cầu cũng được thể nghiệm
Khả năng của các đài phát thanh mới đạt được gần đây trong việc tiếpnhận các tư liệu chương trình qua vệ tinh từ các tập đoàn và mạng lưới kênh
đã tạo nên một thay đổi lớn trong ngành phát thanh Xu hướng phát thanh tựđộng, theo đó các đài sẽ phát tren làn sóng những chương trình thu băng đãđược chuẩn bị trước, là một bước tiến trong kỷ nguyên truyền dẫn qua vệ tinh
Nó đã mở rộng con đường tiến đến tự động hóa ngành phát thanh
Trang 26Ngày nay một đài phát thanh có thể phát sóng 24 giờ một ngày, nhữngchương trình nhận được qua đĩa vệ tinh từ một nhà cung cấp nào đó và sau đótruyền lại chúng bằng tháp riêng của mình Những chương trình vệ tinh nàytạo ra hiệu quả âm thanh khiến công chúng nghĩ là chúng được sản xuất chínhgốc tại đài vậy, bởi vì chúng có cả những tin tức và những chương trìnhquảng cáo địa phương.
Một chương trình giống nhau có thể đồng thời được phát sóng từ hơnmột trạm đài trên khắp đất nước (do cùng khai thác từ vệ tinh) Một số nhàphê bình gọi trường hợp này là phát thanh đồng bộ
Dùng từ góc độ kinh tế mà nói thì sử dụng những chương trình vệ tinh sẽtiết kiệm được rất nhiều chi phí, bởi vì người ta không phải tự sản xuất cácchương trình để phát sóng Một đài sử dụng dịch vụ vệ tinh có thể tự do khaithác chương trình như tin tức chẳng hạn, bất cứ khi nào họ muốn Các đài sẽphải trả một khoản lệ phí hàng tháng cho nhà cung cấp chương trình, bù lại nhàcung cấp sẽ dành 2 phút mỗi giờ để lồng ghép các chương trình quảng cáo
Chương trình vệ tinh chủ yếu được các đài nhỏ sử dụng với mục đíchtiết kiệm tiền Nhiều đài lớn từ chối sử dụng nó, bởi họ tin rằng nó sẽ phá vỡ
Khi một sự kiện quan trọng trong nước hoặc thế giới xảy ra, tin tức về
nó thường được radio phát đi nhanh hơn bất cứ một phương tiện truyền thôngnào khác Chương trình linh hoạt của radio cho phép những bản tin có thểphát sóng ngay lập tức Radio đem đến thông tin trên một phạm vi rộng lớn,trở thành một trong những phương tiện truyền thông phổ cập nhất hiện nay
2 Quá trình hình thành và phát triển của phát thanh Việt Nam
Chặng đường đầu tiên của phát thanh Tiếng nói Việt Nam (1945-1975)
Trang 27Cuối tháng 8 năm 1945, sau khi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền,công việc chuẩn bị cho ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và
ra mắt Chính phủ lâm thời hết sức khẩn trương Vào những ngày tháng này,
Hồ Chủ tịch đã ra chỉ thị: “Công việc cấp bách nhất là phải thành lập ngay đàiphát thanh quốc gia, vì đài phát thành có tác dụng cả về mặt tuyên truyền đốinội và đối ngoại Về đối nội, đài là phương tiện thông tin nhanh nhất, rộngkhắp nhất để truyền bá những chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ,phản ánh kịp thời những diễn biến của tình hình trong nước và thế giới, là cáicầu nối giữa trung ương với địa phương trong cả nước, giữa Chính phủ vànhân dân Sóng đối ngoại có thể vượt qua biên giới quốc gia không cần hộchiếu để chọc thủng bức màn bưng bít của chủ nghĩa đế quốc về tình hìnhcách mạng ở Việt Nam, đáp lại những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc củachúng nằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sựnghiệp cách mạng”
Thời gian đó ở Hà Nội chưa có đài phát thanh làm nhiệm vụ thông tinđại chúng Sau khi giành chính quyền, Bộ quốc phòng đã quản lý Sở Vôtuyến điện viễn thông bao gồm điện đài Bạch Mai và Trung tâm thụ tín ở khunhà số 4 Phạm Ngũ Lão Từ trung tâm thụ tín này đến điện đài Bạch Mai cóđường cáp ngầm để truyền dẫn tín hiệu Các cán bộ kỹ thuật của ta phải cảitiến máy phát tín hiệu thành máy phát âm thành Ngày 2 tháng 9 năm1045, đãcải tiến xong 5 máy phát bằng sóng ngắn 19m-25m-31m-39m-41m-49m,công suất lớn nhất là 1KW, nhỏ nhất là 100W, trung bình là 300W đến 500W
Nhìn lại lịch sử, ngày đầu thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam, ngay cảnhững người được giao nhiệm vụ thành lập đài cũng chưa hiểu biết nhiều vềcông tác phát thanh Trong Hồi ký của mình, đồng chí Trầm Lâm, nguyênTổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam viết: “Chúng tôi chưa biết gì về côngtác phát thanh Chỉ mới làm quen với việc nghe các đài phát thanh ngoại quốc
để lấy tin tức cung cấp cho đoàn trong thời kỳ hoạt động bí mật Qua tìm hiểurất nhanh, cùng với sự nhạy bén của thanh niên tri thức hăng hái cách mạng
Trang 28và với những mối quan hệ đã thiết lập được trong thời kỳ hoạt động bí mật,chúng tôi cũng biết được một đài phát thanh đại thể gồm có ba bộ phận chính:một là phải có máy phát sóng điện tử để phát tiếng nói đi xa, hai là phải cóstudio, ba là phải có một bộ phận làm chương trình như tòa soạn của một tờbáo, có khác là ở chỗ cần có phát thanh viên đọc trước micro” Những ngàyđầu khó khăn về mọi mặt, các chương trình phát thanh và phát sóng đều đượcthực hiện rất đơn giản.
Đây là thời kfy đất nước ta gặp nhiều biến động, một lúc phải chiến đấuchống lại nhiều kẻ thù xam lược để giành độc lập tự do Sau cách mạngTháng Tám, nhân dân ta vừa giành được độc lập, chính quyền chưa đượccủng cố thì đã rơi vào một hoàn cảnh chính trị vô cùng phức tạp, khó khăn Ởmiền Bắc, 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào với danh nghĩa quân đồngminh vào tước khí giới quân đội Nhật Nhưng thực tế là chúng muốn thựchiện dã tâm chiếm đóng miền Bắc lâu dài, lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh.Ngày 23/9/1945, quân Pháp núp sau quân Anh đã nổ súng đánh chiếm cáccông sở của chính quyền cách mạng ở Sài Gòn Nước ta rơi vào hoàn cảnh
“nghìn cân treo sợi tóc” Ngoài Bắc phải hằng ngày hàng giời đối phó vớiquân Tàu Tưởng cùng bọn tay sai Việt quốc, Việt cách, trong Nam phải chiếnđấu chống lại sự xâm lược của quân Pháp có quân Anh giúp sức Trong khi
đó, chính quyền các cấp và lực lượng vũ trang còn non yếu, ngân quỹ cạnkiệt, nhân dân phải chịu hậu quả của nạn đói và nạn lụt, tỷ lệ dân mù chữchiếm trên 90%
Trong bối cảnh ấy, Đài Tiếng nói Việt Nam vừa ra đời đã cùng báo inthực hiện các nhiệm vụ theo các Nghị quyết của Chính phủ lâm thời và chỉ thịcủa Hồ Chủ tịch: Đầu tiên là chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, tổchức thành công cuộc tổng tuyển cử 6-1-1946 để bầu Quốc hội và Quốc hộibầu Chính phủ chính thức và ban hành Hiến pháp của nước Việt Nam Dânchủ Công hòa, phục vụ chiến trường miền Nam Đây cũng chính là thờiđiểm mà Đài Tiếng nói Nam Bộ ra đời Ngoài ra Đài Tiếng nói Việt Nam
Trang 29cũng đã cùng các báo giải thích, tuyên truyền chủ trương sách lược của Đảng
và Chính phủ với nhân dân trong tình hình chính trị rất phức tạp lúc đó vì sauHiệp định Sơ bộ 6/3/1946 Pháp đã đem quân ra đóng ở một số nơi trên miềnBắc, liên tục vi phạm Hiệp định nói trên
Trong thời kỳ chín năm kháng chiến toàn quốc (1946-1954), Đài Tiếngnói Việt Nam đã phải thay đổi địa điểm tới 14 lần trong điều kiện còn thiếuthốn về cơ sở vật chất, nguồn tin cũng rất hạn chế Vì vậy, các phóng viên ĐàiTiếng nói Việt Nam sử dụng nhiều thể tin bình và chính những tin tức bìnhluận, giải thích đường lối có tác dụng lớn về mặt tuyên truyền Về đối ngoại,các chương trình phát thanh tiếng Anh, tiếng Pháp vẫn được phát đều đặn, vềsau còn có thêm tiếng Bắc Kinh và tiếng Quảng Đông, tiếng Khơ-me Nam
Bộ Tháng 4 năm 1949, Đài rời đến Bản Dung (cách Tân Trào khoảng nửangày đường bộ) Lúc này, máy phát công suất lớn nhất lúc rời Hà Nội là1KW, nay chỉ còn 500W, đã xuống cấp Tường Studio chỉ là tường vách sơn
và vữa căng chăn chiên để cách âm nên tiếng động bên ngoài vẫn lọt vào, tuykhông át được tiếng phát thanh viên Cơ sở vật chất nghèo nàn nhưng thực tếchiến đấu và sản xuất sôi động được phản ánh theo tinh thần Nghị quyết Đạihội II của Đảng đã giúp cho nội dung các chương trình của Đài Tiếng nói ViệtNam ngày càng phong phú
Từ 1/5/1953, Đài chuyển đến địa điểm mới ở Hồ Ba Bể Ở đây, đượctrang bị một máy phát thanh công suất 2,5KW với các thiết bị phụ tùng kèmtheo Nhờ có máy phát mới, linh kiện dồi dào, công suất tăng gấp 5 lần nên dùStudio vẫn làm bằng gỗ, nứa và vách rơm trộn vữa, cách âm bằng chăn chiên
và chiếu, són phát thanh vẫn tỏa đi xa, nghe rõ hơn trước Đài được cung cấpnhiều tin, đặc biệt là tin chiến thắng từ các chiến trường để phát sóng Mặtkhác, đài tập trung được thông tin nhanh và phong phú từ các đài và hãngthông tin ngoại quốc, lại nắm bắt được các chủ trương chính sách, đường lối,quan điểm, ý đồ chiến lược và chủ trương chiến thuật của Trung ương để
Trang 30tuyên truyền đạt hiệu quả cao, đưa tin nhanh và chính xác về chiến dịch ĐiệnBiên Phủ.
Ngày 10/10/1954, Đài Tiếng nói Việt Nam chuyển vào nội thành HàNội, lắp đặt máy mới 2,8KW sóng ngắn và 1KW sóng trung Đến ngày 20/10,Đài Tiếng nói Việt Nam đã thật sự phát các chương trình từ Thủ đô nước ViệtNam Dân chủ cộng hòa “Một chặng đường mới được mở ra Một bước nhảyvọt về mọi mặt Một thay đổi lớn về tổ chức Tất cả là do có điều kiện thuậnlợi mới, do nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới và cũng do nhu cầu củabạn nghe đài đòi hỏi phải có một sự cải tiến một cách cơ bản về nội dung,hình thức và tiêu chuẩn kỹ thuật”
Đến tháng 8/1955, Đài khánh thành khu điện đài phát sóng phát thanhBạch Mai Đài đã có 2 máy công suất 7,5KW và nhiều máy nhỏ hơn Phóngviên sử dụng máy ghi âm xách tay R5 và R6, sau đó có R7 gọn nhẹ hơn Đài
đã cải tạo ngôi nhà 39 Bà Triệu thành trung tâm bá âm (vừa ghi âm, vừatruyền tín hiệu bằng cáp ngầm đến điện đài Bạch Mai) Đài Tiếng nói ViệtNam cũng được Liên Xô giúp cho 1 máy phát sóng trung 150KW và một sốmáy sóng ngắn 15KW Vì sóng trung 150KW có thể ảnh hưởng đến môitrường nên không đặt trong nội bộ thành được, phải đặt ở Mễ Trì, cách HàNội 10km Từ tháng 6/1959, Đài Tiếng nói Việt Nam đã có 2 đài phát sóngđược khai thác cùng một lcú, một ở 128C Đại La, một ở Mễ Trì Với máyphát sóng trung 150KW, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát sóng trên một vùngrất rộng lớn ở miền Bắc và khu Bốn Cũng nhờ những máy phát sóng ngắn15KW và 7,5KW được dùng mạng ăng ten tiên tiến nhất, công suất nhân lênnhiều lần, phát cho nhiều tần số khác nhau và định hướng cho nhiều vùng ởmiền Nam Việt Nam, miền núi và nước ngoài nên phát huy được hiệu quả tốt.Với vùng phủ sóng như vậy, Đài đã hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh ởmiền Nam và phục vụ tuyên truyên đối ngoại Đây là một nhiệm vụ hết sứcquan trọng
Trang 31Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, nước ta bị chia làm 2 miền: miền Bắcđược hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, xây dựngchủ nghĩa xã hội Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, vẫn phải sống dướiách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, lúc đầu thì đấu tranhchính trị, về sau chuyển sang đấu tranh vũ trang Cuộc chiến tranh chống
Mỹ ngày càng ác liệt
Việc Đài Tiếng nói Việt Nam được tăng cường về cơ sở vật chất kỹthuật và lực lượng cán bộ đã kéo theo việc phát triển các chương trình tiếtmuc, các thể tài báo chí phát thanh cả về số lượng và chất lượng phục vụ Donhu cầu của các tầng lớp nhân dân trong giia đoạn cách mạng mới và do yêucầu, nhiệm vụ chính trị của 2 miền Nam - Bắc và đối ngoại khác nhau Cảtrong thời kỳ miền Bắc phải đương đầu với chiến tranh phá hoại bằng khôngquân của Mỹ, các chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam vẫntiếp tục phát triển, nhằm mục tiêu: Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
“Tiếng nói Việt Nam” được xây dựng thành một hệ thống các chương trình
Hệ chương trình dành cho miền Bắc (gồm 9 chương trình) Hệ chương trìnhdành cho miền Nam (gồm 5 chương trình) Hệ chương trình phát thanh đốingoại (11 thứ tiếng)
a Hệ chương trình dành cho miền Bắc: Xây dựng được hàng loạtchương trình cho các đối tượng khác nhau
a1 Chương trình thời sự:
Là chương trình chủ lực quan trọng nhất, giúp mọi người theo dõi đượctình hình trong nước và thế giới, theo dõi được chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước Chương trình này do Ban biên tập đối nội phụ trách dànhcho miền Bắc, nhưng thực chất là phục vụ nhân dân cả nước
a2 Chương trình dành riêng cho nông thôn (có lúc gọi là chương trìnhdành cho nông nghiệp)
Chương trình này theo sát để phản ánh và hướng dẫn những phong trào
về nông nghiệp, phổ biến kiến thức và giống lúa mới (cải cách ruộng đất,
Trang 32thành lập HTX, chuyển vụ lúa chiêm thành vụ lúa xuân ) Đồng thời, tuyêndương cá nhân và tập thể tiên tiến, phê phán những nơi làm ăn kém
a3 Chương trình dành cho công nhân (có lúc, gọi là chương trìnhcông nghiệp):
Chương trình này chuyên đi sâu vấn đề sản xuất công nghiệp, kể cảxây dựng giao thông vận tải và thương nghiệp (quan tâm đến cả những Xínghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh và các hợp tác xã tiểu thủ côngnghiệp) Cũng như trong nông nghiệp, Đài tuyên truyền, biểu dươngnhững điển hình tốt, phê phán những xí nghiệp làm ăn kém, có biểu hiệntiêu cực, góp phần phát động những phong trào thi đua sản xuất giỏi, phục
vụ tiền tuyến lớn là miền Nam
a4 Chương trình văn hóa xã hội:
Tập trung vào các vấn đề văn hóa, giáo dục, nếp sống văn minh, gia đìnhvăn hóa Đài cũng động viên mạnh mẽ cho phong trào xóa nạn mù chữ và bổ túcvăn hóa cho cán bộ ở miền Bắc Đặc biệt là các chương trình dành cho lứa tuổithiếu niên, nhi đồng đạt chất lượng cao và tồn tại cho đến ngày nay
a5 Chương trình phát thanh cho đối tượng
Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với các tổ chức, đoàn thể để xâydựng các chương trình phát thanh, thí dụ chương trình phát thanh Thanh niênphối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Việt Nam; chương trình phátthanh Phụ nữ phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam Các chương trìnhluôn bám sát nhiệm vụ chính trị - xã hội của đất nước qua từng thời kỳ Thêmvào đó, các chương trình cũng lựa chọn những chủ đề phù hợp với từng nhómđối tượng phục vụ Từ khi Mỹ ném bom miền Bắc, Đài Tiếng nói Việt Nam
đã tập trung cổ vũ phong trào “phụ nữ ba đảm đang”, “thanh niên ba sẵnsàng” v.v bằng những tấm gương người thật việc thật rất sinh động
a6 Chương trình phát thanh Quân đội nhân dân:
Được xây dựng phối hợp với Tổng cục chính trị, phát dành riêng choquân đội nhân dân Việt Nam Chương trình này chủ yếu phục vụ lực lượng vũ
Trang 33trang nhưng cũng tuyên truyền cho tất cả các tầng lớp nhân dân quán triệtnhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giáo dục tình đoàn kết quân dân, thực hiện cácchính sách hậu phương quân đội.
a7 Chương trình Vì an ninh Tổ quốc:
Chương trình này do đài phối hợp với Bộ Nội vụ tổ chức, vừa phục vụcác chiến sĩ an ninh, vừa để giáo dục ý thức cảnh giác, đấu tranh với âm mưucủa kẻ thù, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, xóa bỏ tệ nạn xã hội Chương trình có tính chiến đấu cao, dùng nhiều hình thức phóng sự điều tra,đặc biệt là “Câu chuyện cảnh giác” phát mỗi tối thứ bảy rất được công chúngquan tâm theo dõi
a8 Chương trình Văn nghệ: gồm có đọc truyện đêm khuya, sân khấutruyền thanh và chương trình tiếng thơ, chương trình ca nhạc:
Ban đầu, chương trình “Đọc truyện đêm khuya” chủ yếu đọc các tùybút với tên gọi chung là Tổ quốc ta tươi đẹp Sau đó, nội dung có thêm nhữngtác phẩm văn học chọn lọc bao gồm truyện ngắn, truyện dài, bút ký văn học
và tùy bút Đây là chương trình rất được thính giả ưa thích, qua đó nâng caotinh thần yêu nước, nâng cao trình độ thẩm mỹ và giải trí cho đông đảo nhândân, kể cả những người không biết chữ và không có điều kiện mua sách.Chương trình này vẫn giữ được số lượng thính giả lớn cho tới ngày nay
Chương trình “Tiếng thơ” giới thiệu những bài thơ chọn lọc, nội dungmang tính tư tưởng và tính nghệ thuật
Chương trình “Sân khấu truyền thanh” ra đời sau chiến thắng ĐiệnBien Phủ và khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc Ban đầu, chương trình chỉphát bằng ghi âm các vở chèo, cải lương, tuồng cổ đã diễn trên sân khấu, sau
mở rộng sang các thể loại kịch nói và ca kịch với nội dung tư tưởng ngàycàng phong phú, hình thức nghệ thuật cải tiến và nâng cao Từ thành công củakịch nói, đài đã sáng tạo một thể loại mới là câu chuyện truyền thanh Đặcbiệt các mục “Câu chuyện truyền thanh” của chương trình phát thanh “Quânđôi nhân dân” sáng chủ nhật hàng tuần rất được thính giả yêu thích
Trang 34Chương trình Ca nhạc: đã được chú ý phát triển từ ngày đầu thành lập.Đài Tiếng nói Việt Nam đã tổ chức được một đoàn ca nhạc tổng hợp, gồmhơn 40 nhạc công giỏi và nhiều nghệ sĩ nổi tiếng làm nhiệm vụ ghi băng chođài và đi diễn trên sân khấu nhỏ, phục vụ công nhân, nông dân, bộ đội ở cơ
sở Đặc biệt là đã góp phần tích cực trong việc khôi phục và phát triển ca trù,bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc
b Hệ chương trình dành cho miền Nam
Trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền, Đài Tiếng nói ViệtNam vừa phải đáp ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừaphải phục vụ tốt nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đấtnước Vì vậy, mặc dù hệ chương trình dành cho miền Bắc và đối ngoại đã nóirất nhiều về miền Nam chung Đài vẫn tổ chức một hệ thống chương trìnhdành riêng cho miền Nam Từ 1960, hệ chương trình này đã phát triển cao,bao gồm nhiều chương trình nhằm các đối tượng khác nhau và các mục đíchkhác nhau: Các chương trình giới thiệu miền Bắc vào Nam, chương trìnhdành cho Thành thị miền Nam, chương trình phát thanh dành cho Nông thônmiền Nam, chương trình nối liền Nam - Bắc và chương trình dành cho cácdân tộc thiểu số ở Tây Nguyên:
b1 Chương trình giới thiệu miền Bắc vào Nam:
Bao gồm: Tin tức, Bình luận, Điểm báo miền Bắc nói về miền Nam.Điểm tin thế giới ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Ngoài ra,hàng ngày đều có tiết mục về một chuyên mục, phục vụ nhu cầu tìm hiểumiền Bắc và thế giới cho mọi tầng lớp nhân dân miền Nam
b2 Chương trình dành cho Thành thị miền Nam:
Nhằm phục vụ nhân dân trong các thành thị, đặc biệt là ở Sài Gòn,chuyên nói về các cuộc đấu tranh chính trị, ủng hộ các cuộc đấu tranh côngkhai, các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân thành thị Trong đó
có tiết mục bên lề cuộc sống có tác dụng rất lớn Tiết mục này được xây dựngcăn cứ vào tin khai thác qua các hãng thông tin ngoại quốc và nguồn thông tin
Trang 35riêng của ta về tình hình nội bộ của bọn Ngụy quyền, về mối quan hệ giữa Mỹ
và chính quyền Ngụy Vì vậy, rất có sức thuyết phục
b3 Chương trình phát thanh dành cho Nông thôn miền Nam:
Chương trình này dành cho các đối tượng ở nông thôn miền Nam sốngtrong ách kìm kẹp của Mỹ - Ngụy, Chủ đề cho nó đề cập nhiều đến việc tốcáo tội ác của Mỹ - Diệm, ca ngợi tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bàomiền Nam ở nông thôn
Trong các chương trình dành cho nông thôn miền Nam cũng như thànhthị miền Nam đều đưa nhiều tin chiến thắng của quân dân miền Nam, sự thốinát của Ngụy quyền Sài Gòn và giới thiệu những thành tựu của miền Bắc xãhội chủ nghĩa, trong đó có sự đóng góp tích cực của con em miền Nam tập kết
ra Bắc
b4 Chương trình nối liền Nam - Bắc:
Dành nhiều thời lượng để nhắn tin về Nam, dưới hình thức là nhữngbức thu của con em miền Nam tập kết ra Bắc, gửi về cho người thân Chươngtrình này thật sự là nhịp cầu nối liền Nam Bắc, đáp ứng nhu cầu về tình cảmcủa những cán bộ tập kết muốn trao đổi với gia đình ở miền Nam Tuy khôngtrực tiếp nói chính trị nhưng ý nghĩa chính trị của chương trình này rất lớn
Đặc biệt phải nhắc tới chương trình phát thanh dành cho binh sĩ quânđội cộng hòa miền Nam (quân đội của Ngụy quyền Sài Gòn) Chương trìnhnày nhằm kêu gọi tình cảm yêu quê hương đất nước, nhớ cha mẹ vợ con, chỉcho họ thấy đâu là kẻ thù thực sự của dân tộc mình, khuyên họ bỏ súng quay
về gia đình cưỡng lại mệnh lệnh của bọ chỉ huy bắt họ đi vào chỗ chết Đây làchương trình được đánh giá là rất hấp dẫn và thành công
b5 Các chương trình dành cho các dân tộc thiểu số ở Tây NguyênPhát bằng tiếng nói dân tộc Tây Nguyên như: Hrê, Bana, Êđê, Mơnông,Giarai, Châuro, nên có tác dụng tuyên truyền lớn đối với đồng bào Tây Nguyên
c Hệ chương trình phát thanh đối ngoại
Trang 36Với đặc điểm là sóng phát thanh có thể truyền đi rất xa, ngay lập tức vàvượt qua mọi biên giới quốc gia Ngay từ những ngày đầu thành lập ĐàiTiếng nói Việt Nam đã phát các chương trình đối ngoại bằng tiếng Anh, Pháp,Quảng Đông (sau đó thêm tiếng Bắc Kinh), tiếng Espesanto rồi tiếng Lào,Campuchia Nhưng bị hạn chế về phương tiện kỹ thuật và đội ngũ cán bộ nênthời kỳ này, chương trình đối ngoại chỉ đơn giản gồm tin trong nước, tin thếgiới và bình luận Từ 1954 trở đi, với sự phát triển nhảy vọt về cơ sở vật chất
kỹ thuật, với các thiết bị ghi âm và máy phát sóng công suất lớn, đội ngũ cán
bộ giỏi ngoại ngữ được tăng cường nên các chương trình đối ngoại đã từngbước phát triển cả về số lượng và chất lượng, tính chất Năm 1975 hệ chươngtrình đối ngoại đã phát tăng lên thành 11 thứ tiếng Anh, Pháp, Nhật Bản, BắcKinh, Quảng Đông, Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxi, Nga, Tây Ban Nha
và Tiếng Việt cho những người Việt Nam ở xa Tổ quốc
Riêng tiếng Anh có 3 loại chương trình, nội dung khác nhau, phát theocác hướng và giờ khác nhau Một là chương trình chung cho các đối tượngnước ngoài nghe tiếng Anh ở Đông Nam Á và Tây Âu Hai là chương trìnhdành cho quân đội viễn chinh Mỹ ở Thái Bình Dương và Thái Lan, có nộidung sách lược, làm cho binh sĩ Mỹ hiểu sự thật về cuộc chiến tranh phi nghĩacủa chính quyền Mỹ mà họ cũng chính là nạn nhân Chương trình đạt hiệuquả rất tốt Loại chương trình tiếng Anh thứ 3 nhằm vào đối tượng là nhândân Mỹ, phát từ La Habana truyền thẳng vào Mỹ đánh vào hậu phương lớncủa quân đội viễn chinh Mỹ Chương trình này được Cuba giúp đỡ cả về vậtchất kỹ thuật, phát sóng và đào tạo cán bộ, luôn đứng đầu về số lượng thưthính giả gửi về
Chương trình phát thanh tiếng Anh là chương trình phát thanh đốingoại đạt hiệu quả nhất của Đài Tiếng nói Việt Nam Nó đóng góp tích cựcivào phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ Có thể nói, trong cả thờigian dài (từ 1945 - 1975) làn sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam làmột phương tiện thông tin hiệu quả nhất, kịp thời nhất, rộng khắp nhất, nhằm
Trang 37phục vụ đời sống tinh thần và sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do, thốngnhất đất nước của nhân dân Việt Nam.
Phát thanh Tiếng nói Việt Nam từ 1975 đến nay
Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, đất nước đã hoàn toàn thốngnhất bước vào xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc Đài Tiếng nóiViệt Nam vẫn luôn bám sát, phản ánh, mọi hoạt động của đời sống xã hội,góp phần đưa đường lối chính sách của Đảng và cả những cách thức làm kinh
tế có hiệu quả đến với nhân dân Ví dụ như cơ chế khoán mới đến nhóm vàngười lao động theo chỉ thị 10 của Ban bí thư Rồi việc tuyên truyền vận dụngNghị quyết 6 của Ban chấp hành Trung ương khóa IV năm 1979; Tư tưởngxóa bỏ cơ chế quản lý quan liêu hành chính bao cấp của Đại hội Đảng toànquốc lần thứ năm đến 1986, đường lối đổi mới đã hoàn chỉnh, Đài Tiếng nóiViệt Nam đã tham gia tích cực vào việc chống tư tưởng bảo thù, chống thamnhũng, cách làm ăn trì trệ, chống những hiện tượng tiêu cực trong xã hội Mặtkhác, Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã đổi mới về mặt thông tin, loại bỏ việcthông tin một chiều theo định kiến chủ quan làm cho nội dung nghèo nàn,thiếu tính chân thật, thiếu tính chiến đấu và ít sức thuyết phục Cũng nhờ vậndụng quan điểm đổi mới, thông tin của Đài phong phú hơn, toàn diện hơn vàchân thực hơn, vì vậy cũng hấp dẫn và hiệu quả hơn
Từ 1990, ngân sách Nhà nước đã có điều kiện chi những khoản kinhphí lớn cho phát thanh và truyền hình Bên cạnh đó là sự phát triển của côngnghiệp điện tử và tin học trong nước cùng với chính sách mở cửa hội nhập vớithế giới và cơ chế thị trường đã tạo điều kiện cho cả phát thanh và truyền hìnhphát triển
Chỉ thị của thủ tướng chinihs phủ cho Đài Tiếng nói Việt Nam năm
1994 nêu rõ: “Phát triển, hiện đại hóa ngành phát thanh Việt Nam là mộtnhiệm vụ cấp bách không thể chậm trễ, vì phát thanh ngày càng có vai trò hếtsức quan trọng trong việc cung cấp thông tin nhanh chóng và chính xác đếnmỗi người dân ở bất cứ vùng nào của đất nước Đây là phương tiện giúp nhân
Trang 38dân nắm bắt được đường lối chính sách và pháp luật góp phần nâng cao dântrí, trình độ thẩm mỹ của nhân dân” Để thực hiện chỉ thị này, từ 1994, ĐàiTiếng nói Việt Nam với sự hợp tác của các tổ chức phát thanh quốc tế, khuvực, các nhà khoa học trong nước đã tập trung xây dựng “Quy hoạch truyềndẫn và phủ sóng phát thanh giai đoạn 1995-2000 và sau 2000” với mục tiêu:Phủ sóng mạnh các hệ phát thanh TNVN khắp lãnh thổ, vùng lãnh hải ViệtNam, đến năm 2000 đảm bảo 98% số hộ gia đình phải có phương tiện nghephát thanh, có sóng mạnh đến các địa bàn quan trọng trên thế giới ”
Có thể nói, trong suốt lịch sử 56 năm qua của Đài Tiếng nói Việt Nam,bảy năm gần đây là thời kỳ kỹ thuật truyền dẫn và phát sóng của Đài pháttriển và hiện đại hóa nhanh nhất, phục vụ yêu cầu mở rộng và nâng cao chấtlượng các chương trình
Về hệ thống truyền dẫn tín hiệu phát thanh và phát sóng phát thanh:
“Trước 1994, hệ thống truyền dẫn tín hiệu (TDTH) của Đài Tiếng nóiViệt Nam có thể nói là còn lạc hậu Đài đã sử dụng ??? ba tấm gán và cáp đểcung cấp tín hiệu phát thanh cho các đài trung ương ở quanh Hà Nội, mặc dù
đã có một vài tuyến vĩ ba đã được sử dụng vì ba số chất lượng cao, nhưng đốivới các đài trung ương xa Hà Nội, tín hiệu gốc để phát lại phải thu bằng sóngngắn Chất lượng tín hiệu gốc không đảm bảo, thậm chí bị gián đoạn rất nhiều
vì sóng ngắn lan truyền không ổn định”
Trên thực tế hiện nay, những vấn đề trên đã được khắc phục bởi từ
1994 Đài Tiếng nói Việt Nam đã sử dụng phương thức truyền dẫn tín hiệuqua vệ tinh Chất lượng sóng phát thanh được nâng cao rõ rệt, không chỉ cungcấp tín hiệu gốc cho các đài phát thanh trung ương trên toàn quốc mà còn lànguồn tín hiệu chất lượng cao cho các đài địa phương, cho các vùng hải đảobiên giới xa xôi Ngoài ra, Đài đã bắt đầu áp dụng kỹ thuật số nén, giải - mộtphương thức hiện đại trong truyền dẫn tín hiệu (TDTH) phát thanh, vừa giúpnâng cao chất lượng sóng phát thanh, vừa mang lại những hiệu quả kinh tếcao, giảm được chi phí cho việc thuê kênh phát đáp trên vệ tinh
Trang 39Những năm gần đây, báo chí Việt Nam đã thực sự khởi sắc, đặc biệt làTruyền hình đã có những bước tiến đáng kể về số lượng và chất lượng cácchương trình Điều đó tác động không nhỏ vào yêu cầu mở rộng, phát triển
số lượng chương trình và tầm phủ sóng phát thanh đối nội cũng như đốingoại của Đài Tiếng nói Việt Nam Vì vậy hệ thống THTH của Đài cũngphát triển rất nhanh, thể hiện qua việc thiết lập các đài khu vực với công suấtlớn như Việt Nam 2 (VN2), Việt Nam 3 (VN3), các đài FM đã và đang đượcxây dựng ở Đà Nẵng, Thanh Hóa, Tam Đảo, Quảng Ninh, các cơ quanthường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam trong và ngoài nước như Sơn La,Cần Thơ, Băng Cốc, Pari, chương trình phát sóng cho người nước ngoài ởViệt Nam, chuyển tiếp chương trình phát thanh đối ngoại từ Nga sang cácvùng ở Châu Mỹ, Châu Âu, Caribê Hiện nay chúng ta sử dụng 3 vệ tinhcho các chương trình đối nội và đối ngoại là PALAPA, ASIASAT,EXPRESS 6 (INTERSPUTNICK) Mặt khác, Đài cũng thực hiện dự án quyhoạch TDTH qua vệ tinh, nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao tính hấp dẫn, đadạng của chương trình phát thanh, thực hiện tốt các buổi tường thuật tại chỗnhững sự kiện chính trị - văn hóa nổi bật bất cứ đâu trên lãnh thổ Việt Nam.Hơn nữa, dự án này cũng đảm bảo an toàn, thống nhất cho sự phát triển phátthanh Việt Nam trong tương lai
Song song với việc phát triển hệ thống và kỹ thuật TDTH, thì việcphát triển hệ thống, kỹ thuật phát sóng phát thanh cũng là một khâu quyếtđịnh đối với sự phát triển của Đài Tiếng nói Việt Nam Hệ thống phát thanhcủa Đài Tiếng nói Việt Nam được phân bổ trên phạm vi toàn quốc, kết hợpphương thức vừa tập trung vừa rải mạng, có những đài công suất lớn mangtính tập trung, có những đài công suất vừa và nhỏ để đảm bảo phủ sóng đồngđều cho những vùng vị “lõm”, chưa bắt được sóng Đài Tiếng nói Việt Namvới chất lượng tốt Phương thức phủ sóng của Đài cũng rất linh hoạt: kết hợp
cả sóng AM và FM, sóng trung và sóng ngắn Hệ thống đài phát thanh Trung
Trang 40ương bao gồm 11 đài, bố trí trên toàn quốc cùng với đài phát thanh của 61tỉnh thành.
Sự phát triển về quy mô bao giờ cũng phải đi đôi với sự phát triển về kỹthuật Từ 1995, kỹ thuật phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam bắt đầu đượcchuyển sang công nghiệp hiện tại Đó là việc đưa vào khai thác máy phát côngsuất lớn đầu tiên sử dụng bán dẫn hoàn toàn, và phương thức điều chế số - máyphát Hanss 200KW đài ở Đồng Hới, đạt hiệu suất 86%, không những chấtlượng tín hiệu tốt mà còn tiết kiệm được khoảng 800 triệu đồng mỗi năm Đàicũng đã áp dụng phương thức phát đồng thời hai sóng trên cùng một hệ thốngăng ten, đảm bảo phát được đồng thời hai Hệ I và Hệ II trên một số đài khu đàiphát Đồng Hới và đài Bắc Bộ (VN3) Như vậy đã giảm bớt một hệ thống ăngten, bởi chi phí xây dựng bảo quản tháp ăng ten và diện tích bãi ăng ten
Một bước hiện đại hóa và đưa công nghệ mới vào dây chuyền kỹ thuậtphát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam là bổ sung, hiện đại hóa và ứng dụngcông nghệ mới vào các thiết bị phụ trợ, nhờ đó cũng cải thiện được chất lượngsóng phát thanh Hiện nay, chương trình của Đài sau khi thành phẩm tạiStudio đã được đi qua hệ thống xử lý tín hiệu Optimot trước khi đi vào hệthống TDTH với phương pháp xử lý số và chia nhỏ phổ tần số âm thanh để xltừng đoàn tần, khắc phục được sự không ổn định, lúc to lúc nhỏ của âm tần.Ngoài ra, Đài còn lắp đặt hệ thống thiết bị xử lý âm tần đầu vào cho máy phátsóng, bán dẫn hóa toàn bộ các bộ nguồn trong các máy phát cũ và máy phátsóng FM do Công ty BDC sản xuất
Sự phát triển, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ tiên tiến và phù hợptrong TDTH và phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam như trên đã trình bày
đã giúp ngành phát thanh Việt Nam - cụ thể là Đài Tiếng nói Việt Nam mởrộng phạm vi phủ sóng, nâng cao chất lượng sóng phát thanh theo đúng quyhoạch và định hướng phát triển
Nhưng nói đến chất lượng phát thanh, không thể bỏ qua khâu sản xuấtchương trình Đây là một công đoạn rất quan trọng phục vụ cho việc phát