Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu thế chung của thế giới. Đặc biệt khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập và đầy thách thức; các doanh nghiệp (DN) buộc phải định hướng phát triển, cạnh tranh trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Muốn làm được điều đó, mỗi Doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp và Vốn là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự thành công của doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc huy động vốn ở các doanh nghiệp là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu, vốn được xem là một điều kiện cần và đủ để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển các dự án trọng điểm của doanh nghiệp. Đầu tư đúng hướng và hiệu quả chỉ ra cho doanh nghiệp thấy sự phát triển bền vững và ổn định trong tương lai. Cũng giống như các doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh thị trường và môi trường kinh doanh biến động nhanh chóng, Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP cần phải xây dựng một chiến lược phát triển riêng cho mình sau khi chuyển sang hoạt động theo mô hình cổ phần. Ý nghĩa quyết định sự thay đổi cho Tổng Công ty Thép đó chính là mục tiêu phát triển tổng thể của Ngành Thép Việt Nam, là đáp ứng tối đa nhu cầu về các sản phẩm thép của nền kinh tế, tăng cường xuất khẩu. Để đáp ứng mục tiêu phát triển sản phẩm như vậy, Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP đã đầu tư nhiều dự án trên cơ sở phân bổ nguồn nguyên liệu quặng sắt, vị trí địa lý và điều kiện cơ sở hạ tầng cũng như phân bố nhu cầu tiêu thụ thép để thực hiện đầu tư các dự án trọng điểm. Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp Ngành Thép nói chung và Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP nói riêng đang gặp phải một vấn đề khó khăn chung đó là thiếu vốn: mua máy móc thiết bị; đổi mới công nghệ; thiếu vốn để hoàn thiện các dự án dở dang và cho các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh…Thực tế cũng cho thấy có rất nhiều dự án do thiếu vốn nên bị chậm tiến độ, ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất kinh doanh của đơn vị. Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của vốn đối với tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và của Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP nói riêng trong giai đoạn thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước từ nay đến năm 2015, đề tài luận văn cao học “Nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn đầu tư cho sự phát triển của Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP giai đoạn 2011-2015” được hình thành với mong muốn Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP trở thành một công ty Thép liên hợp dẫn đầu Việt Nam về cung cấp sản phẩm chất lượng cao với khả năng cạnh tranh bền vững và ổn định.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, nội dung luận văn là kết quả của sự tìm tòi, nghiên cứu, sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ với thực tiễn Các số liệu trong luận văn là trung thực không sao chép từ bất cứ luận văn hoặc đề tài nghiên cứu nào trước đó.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày.
Tác giả
PHẠM THỊ HẢI
Trang 2Xin trân trọn cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong quá trình học tập;
Xin cảm ơn ban lãnh đạo, các phòng ban chuyên môn Tổng Công ty Thép Việt Nam; Hiệp Hội Thép Việt Nam; Các Phòng, Ban công ty trực thuộc trong toàn hệ thống VNSTEEL đã cung cấp những thông tin hữu ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài;
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 9 năm 2012
Tác giả
PHẠM THỊ HẢI
Trang 3VNSTEEL - Tổng Công ty Thép Việt Nam
SXKD - Sản xuất kinh doanh
AFTA - Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area)
WTO - Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
ROE - Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu
ROA - Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản
ODA - Official development assistance
FED - Cục dự trữ liên bang Mỹ
Trang 4Bảng 2.5: Các công ty VNSTEEL tham gia góp vốn tính đến thời điểm
31/12/2010 Error: Reference source not foundBảng 2.6: Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản năm 2008-2010 toàn hệ thống Error:
Reference source not found
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản Công ty mẹ giai đoạn 2008-2010
Error: Reference source not foundBảng 2.8: Các chỉ tiêu so sánh các doanh nghiệp trong ngành thép Error:
Reference source not found
Bảng 2.9: Kết quả phân tích tài chính của dự án Lào Cai Error: Reference source
not found
Trang 5Bảng 2.10: Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu công ty mẹ Error: Reference source not
Bảng 2.13: Tỷ lệ vốn chiếm dụng trong tổng vốn công ty mẹ Error: Reference
source not found
Bảng 2.14 : Tỷ lệ vốn bị chiếm dụng trong tổng vốn công ty mẹ Error: Reference
source not found
Bảng 3.1: Nhu cầu vốn từ các Dự án trọng điểm đến năm 2015 Error: Reference
source not found
Bảng 3.2: Nhu cầu tăng vốn đầu tư huy động từng năm đến 2015 Error:
Reference source not found
Bảng 3.3: Kế hoạch lập các phương án phát hành cổ phiếu Error: Reference
source not found
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu thế chung của thế giới Đặc biệt khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế
giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập và đầy thách thức; các doanhnghiệp (DN) buộc phải định hướng phát triển, cạnh tranh trong điều kiện, hoàn cảnhmới Muốn làm được điều đó, mỗi Doanh nghiệp phải xây dựng cho mình mộtchiến lược kinh doanh phù hợp và Vốn là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọngtrong sự thành công của doanh nghiệp Chính vì vậy, việc huy động vốn ở cácdoanh nghiệp là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu, vốn được xem là một điềukiện cần và đủ để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển các
dự án trọng điểm của doanh nghiệp Đầu tư đúng hướng và hiệu quả chỉ ra chodoanh nghiệp thấy sự phát triển bền vững và ổn định trong tương lai
Cũng giống như các doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh thị trường vàmôi trường kinh doanh biến động nhanh chóng, Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP cần phải xây dựng một chiến lược phát triển riêng cho mình sau khi chuyểnsang hoạt động theo mô hình cổ phần Ý nghĩa quyết định sự thay đổi cho TổngCông ty Thép đó chính là mục tiêu phát triển tổng thể của Ngành Thép Việt Nam, làđáp ứng tối đa nhu cầu về các sản phẩm thép của nền kinh tế, tăng cường xuất khẩu
Để đáp ứng mục tiêu phát triển sản phẩm như vậy, Tổng công ty Thép Việt CTCP đã đầu tư nhiều dự án trên cơ sở phân bổ nguồn nguyên liệu quặng sắt, vị tríđịa lý và điều kiện cơ sở hạ tầng cũng như phân bố nhu cầu tiêu thụ thép để thựchiện đầu tư các dự án trọng điểm
Nam-Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp Ngành Thép nói chung và Tổng Công tyThép Việt Nam-CTCP nói riêng đang gặp phải một vấn đề khó khăn chung đó làthiếu vốn: mua máy móc thiết bị; đổi mới công nghệ; thiếu vốn để hoàn thiện các
dự án dở dang và cho các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh…Thực tế cũng chothấy có rất nhiều dự án do thiếu vốn nên bị chậm tiến độ, ảnh hưởng đến tiến độ sảnxuất kinh doanh của đơn vị
Trang 8Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của vốn đối với tăng trưởng củanền kinh tế nói chung và của Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP nói riêng tronggiai đoạn thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước từ nay đến
năm 2015, đề tài luận văn cao học “Nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn đầu tư cho sự phát triển của Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP giai đoạn 2011- 2015” được hình thành với mong muốn Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP trở
thành một công ty Thép liên hợp dẫn đầu Việt Nam về cung cấp sản phẩm chấtlượng cao với khả năng cạnh tranh bền vững và ổn định
2 Mục tiêu của đề tài.
- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản về vốn và công tác huy động vốncủa doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình sử dụng và huy động vốn của TổngCông ty Thép Việt Nam-CTCP
- Đề xuất các giải pháp tác huy động vốn đầu tư cho sự phát triển của TổngCông ty Thép Việt Nam-CTCP giai đoạn 2011-2015
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu: lý thuyết ứng dụng hệ thống;phương pháp phân tích tổng hợp; thống kê; so sánh và đối chiếu dựa trên số liệu thuthập; phương pháp hệ thống hoá…
- Số liệu: Sơ cấp (Phiếu phỏng vấn, ý kiến chuyên gia…) thứ cấp (lấy từ cácnguồn khác như tạp chí, báo cáo ngành, báo biểu thống kê, tổng hợp từ internet…)
- Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia đầu ngành vàthu thập ý kiến qua phiếu điều tra phỏng vấn và thu thập ý kiến 2 nhóm chuyên gia: + Nhóm chuyên gia trong nội bộ Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP
+ Nhóm chuyên gia ngoài doanh nghiệp, gồm:
• Các chuyên gia Hiệp hội Thép Việt Nam – VSA; Các chuyên gia và cán bộchủ chốt của các nhà phân phối lớn, hệ thống đại lý)
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP
- Phạm vi: Nghiên cứu thực trạng nhu cầu vốn và công tác huy động vốn tạiTổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP từ năm 2009 đến năm 2011 và đưa ra các giảipháp Các giải pháp huy động vốn ở đây không phải là được áp dụng hết toàn bộngay tại thời điểm nghiên cứu, mà tùy thuộc vào nhiều yếu tố để áp dụng Vớinhững người hoạch định và làm công tác huy động vốn ở VNSTEEL, những nộidung nghiên cứu này sẽ được sử dụng như một hoạch định lâu dài để đem ra xemxét các phương án mỗi khi cần huy động vốn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn và huy động vốn của doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng nhu cầu vốn và huy động vốn đầu tư của Tổng
Công ty Thép Việt Nam
- Chương 3: Nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn đầu tư cho sự
phát triển của Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP giai đoạn 2011-2015
Trang 10PHẦN NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về vốn của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu để một doanh nghiệp được thành lập và tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phảnánh nguồn lực tài chính đầu tư vào sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, khi nói về vốn
có rất nhiều định nghĩa khác nhau về vốn
Theo Samuelson, vốn là hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quátrình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Trong cuốn
"Kinh tế học" của D.Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa: vốn hiện vật và vốn tàichính của doanh nghiệp Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sảnxuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanhnghiệp Như vậy, D.Begg đã bổ sung vào định nghĩa vốn của Samuelson
Theo K.Marx, vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào củaquá tŕnh sản xuất Định nghĩa này có một tầm khái quát lớn vv́ bao hàm đầy đủ cảbản chất và vai tṛ của vốn Bản chất của vốn là giá trị cho dù nó được biểu hiện dướinhiều hv́nh thức khác nhau Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư vv́ nó tạo ra sự sinhsôi về giá trị thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên do hạn chế vềtŕnh độ phát triển lúc bấy giờ mà Marx đă bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vựcsản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá tŕnh sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư chonền kinh tế
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, việc huy động vốn, quyết địnhđầu tư là theo định hướng và theo kế hoạch của nhà nước Các doanh nghiệp không
Trang 11được quyền tự chủ huy động vốn và ra các quyết định đầu tư Vốn của các doanhnghiệp chủ yếu do ngân sách Nhà nước cấp hoặc vay ngân hàng với lãi suất rất thấp.
Với chế độ cấp phát vốn và giao nộp sản phẩm, các doanh nghiệp luôn ỷlại cho trung ương về các nguồn tài trợ, luôn đòi hỏi rót vốn, tăng đầu tư nhưmột điều kiện bảo đảm thực hiện kế hoạch, pháp lệnh Các doanh nghiệp tìmcách xin thêm vốn càng nhiều càng tốt, còn hiệu quả sử dụng không được chú ýđến Nhu cầu vốn của các doanh nghiệp rất lớn trong khi nguồn vốn của Nhà nư-
ớc có giới hạn Chính vì vậy, có nhiều người có vốn nhàn rỗi, dư thừa lại không
có thị trường để lưu thông
Cơ chế bao cấp đã làm cho vốn không được lưu thông và sử dụng có hiệuquả vì không có nơi giao dịch mua bán trên thị trường đồng thời làm mất đi vai trò
và tác dụng khách quan, đặc biệt là một đặc trưng của vốn "tính hàng hoá"
Chuyển sang nền kinh tế thị trường với chính sách phát triển kinh tế hànghoá nhiều thành phần, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế tự bỏ vốn đầu
tư Vốn trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết của mọi quátình đầu tư sản xuất, kinh doanh
Thông qua thị trường, vốn lưu thông rộng rãi và thể hiện đầy đủ bản chất, vaitrò của nó Các Mác đã khái quát hoá vốn qua phạm trù “Tư bản”: Tư bản là giá trị
mang lại "giá thị thặng dư" Định nghĩa cô đọng này đã phản ánh được nội dung,
các đặc trưng và vai trò, tác dụng của vốn Tuy nhiên do hạn chế của trình độ pháttriển kinh tế lúc bấy giờ, Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ragiá trị thặng dư cho nền kinh tế
Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm khái quát về vốn của doanh nghiệp như sau:
"Vốn của doanh nghiệp là các quĩ tiền, vốn mà các doanh nghiệp dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình Vốn thực chất là một số tiền mà các doanh nghiệp ứng ra trước một chu kỳ sản xuất kinh doanh và nó phải được thu hồi đầy đủ(bảo toàn về giá trị) sau mỗi chu kỳ sản xuất, kinh doanh."
Trước hết vốn được biểu hiện dưới hình thái giá trị của những tài sản, tức làvốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản nhất định bao gồm: tài sản
Trang 12hữu hình như tư liệu sản xuất, nhà máy, đất đai, nguyên vật liệu Và tài sản vô hìnhnhư chất xám, nguồn nhân lực, thông tin
Điều này phân biệt rõ vốn khác với tiền Có người ngộ nhận giữa đồng tiền
giấy - tiền phát hành ra với “vốn” như thường gọi và cho rằng tiền do nhà nước phát
hành ra cũng là vốn Suy nghĩ như vậy là không đúng Vì một lượng tiền được inkhông phát hành trên cơ sở giá trị thực của hàng hoá để đưa vào đầu tư thì đó chỉ làvốn giả tạo chứ không phải là vốn đầu tư thực chất Chỉ những đồng tiền phát hànhtrên cơ sở đảm bảo bằng giá trị thực của hàng hoá mới được gọi là vốn
Có nhiều quan niệm về vốn, khi vốn được biểu hiện bằng tiền, người ta gọi
đó là vốn tài chính Vốn của doanh nghiệp có thể là uy tín của người đứng đầudoanh nghiệp, trình độ tay nghề của đội ngũ công nhân viên, các công trình, bằngphát minh khoa học_kỹ thuật của doanh nghiệp, các nhãn hàng có tính chất vềthương mại Cần phải lưu ý rằng, vốn của doanh nghiệp không có nghĩa là trùng vớitiền của doanh nghiệp Tiền chỉ có thể trở thành vốn khi:
Thứ nhất, là tiền được hình thành nên trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp tích luỹ lại
Thứ hai, là quỹ tiền được các doanh nghiệp dùng để tiếp tục đầu tư vào lĩnh
vực sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu thu lợi nhuận, tối đa hoá giá trị tài sản củachủ sở hữu
Sự vận động của vốn (T) thể hiện qua 3 phương thức:
T- H SX H’ - T’ Đây là phương thức vận động vốn của các doanh nghiệpsản xuất
T -H -T’, là phương thức vận động vốn của các doanh nghiệp thương mại
Trang 13T - T’, là phương thức vận động vốn của các tổ chức tài chính trung gian.
Thông qua các phương thức trên, sự vận động của vốn thường phải thay đổihình thái và nhờ đó đã tạo ra khả năng sinh lời Khả năng sinh lời của vốn vừa là mụcđích kinh doanh vừa là phương tiện để vốn vận động tiếp ở chu kỳ sau
- Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định.
Trong đầu tư sản xuất kinh doanh, thường đòi hỏi phải có một lượng vốn nhấtđịnh mới có thể tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh một cách bình thường vàmang lại hiệu quả đồng thời tăng sức cạnh tranh Do đó vốn bị phân tán, khôngđược huy động, đóng góp, khai thác sẽ không phát huy được tác dụng mạnh mẽ
Vì thế nhà đầu tư ngoài việc khai thác tiềm năng vốn của đơn vị, còn tìm cách huy
động vốn thông qua hình thức: "hùn" vốn, liên doanh, phát hành cổ phiếu
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền - phản ánh giá trị của những tài sản hữu hình như đất đai, nhà máy, thiết bị Mà nó còn được biểu hiện bằng giá trị
của những tài sản vô hình như nhãn hiệu, vị trí kinh doanh, bản quyền phát minhsáng chế
Tài sản vô hình rất đa dạng, phong phú và giá trị của nó rất lớn Nếu khaithác và sử dụng có hiệu quả, tài sản vô hình này sẽ đem lại lợi nhuận rất lớn Đặcbiệt trong việc đầu tư liên doanh, đánh giá doanh nghiệp để bán hoặc thanh lý Cần phải giá trị hoá chính xác các tài sản trong đó có tài sản vô hình
Từ những phân tích trên đây về phạm trù vốn trong nền kinh tế ta có thể rút ra
được định nghĩa chung: "vốn là giá trị của các tài sản xã hội được đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai”.
1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Hoạt động của công ty đòi hỏi phải có vốn, đầu tiên là nó giúp cho hoạt độngkinh doanh được thực hiện (xảy ra hoạt động), sau đó là duy trì hoạt động và xâydựng kế hoạch kinh doanh cụ thể và chắc chắn Khi vốn phát triển, nó sẽ giúp doanhnghiệp mở rộng được sản xuất về cả chiều rộng và chiều sâu, qua đó lại tác độngngược lại làm tăng lượng vốn sẵn có của doanh nghiệp Trong kinh doanh vốn là
Trang 14công cụ cần thiết hàng đầu để doanh nghiệp thực hiện ý định kinh doanh của mình.Rất nhiều người đã không thể tham gia kinh doanh vì không đủ vốn Nói cách khác
nó là "chiếc rìu" của ông tiều phu Do đó doanh nghiệp phải tổ chức huy động, sửdụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất, muốn vậy phải xem xét, cân nhắc phươngthức huy động vốn, cơ cấu vốn hợp lý với chi phí sử dụng vốn vay thấp nhất và làmgia tăng lợi ích của vốn chủ sở hữu Nền kinh tế thị trường với chính sách phát triểnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế
tự bỏ vốn đầu tư Vốn trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyếtcủa mọi quá trình đầu tư sản xuất, kinh doanh
Vốn kinh doanh là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt phục vụ cho sản xuất kinhdoanh tức là mục đích tích luỹ chứ không phải là mục đích tiêu dùng như một sốquỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra hoạtđộng sản xuất kinh doanh Sau khi ứng ra, vốn được sử dụng vào kinh doanh và saumột chu kỳ hoạt động phải được thu về để đáp ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động sau.Vốn kinh doanh không thể bị tiêu mất đi, mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩavới nguy cơ phá sản
Đầu tư vốn của doanh nghiệp
Là quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp vào quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận Trong quá trình đầu tư vốn của doanhnghiệp, có thể chia hai loại:
- Đầu tư vào trong nội bộ của các doanh nghiệp: đầu tư vào các yếu tố tronghoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ví dụ như đầu tư để muasắm tài sản cố định, nguyên- nhiên vật liệu, trả lương cho công nhân viên
- Đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp Chủ yếu các doanh nghiệp dùng vốn củamình để góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác hay đầu tư trên thị trườngchứng khoán
Dù đầu tư bên trong hay ngoài doanh nghiệp thì đều nhằm mục tiêu hướng tớilợi nhuận, tối đa hoá giá trị vốn của chủ sở hữu Các doanh nghiệp căn cứ vào một
số yếu tố cơ bản sau để đầu tư vốn:
Trang 15+ Căn cứ vào khả năng sinh lời của dự án đầu tư và thời gian thu hồi vốn đầutư.
+ Căn cứ vào số lượng sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ được sản xuất ra và khả năngtiêu thụ của sản phẩm, dịch vụ đó trên thị trường
+ Các doanh nghiệp phải căn cứ vào sự lựa chọn công nghệ trong quá trìnhđầu tư
+ Các doanh nghiệp phải xác định được nguồn tài trợ cho vốn kinh doanh củamình
+ Căn cứ vào mô hình tổ chức và quản lý dự án đầu tư
1.1.3 Phân loại vốn
Trong quá tŕnh sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng vốn một cách cóhiệu quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn Tùy vào mục đích và loạihình của từng doanh nghiệp mà vốn được phân loại theo các tiêu thức khác nhau
1.1.3.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
- Vốn chủ sở hữu (vốn tự có của doanh nghiệp):
Là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đó Nó có thể là dochủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quĩ của doanh nghiệp, vốntài trợ của Nhà nước (nếu có) Nó được sử dụng 1 cách lâu dài mà không phải camkết thanh toán, gồm có vốn kinh doanh và các quỹ của doanh nghiệp
Cần phân biệt vốn điều lệ và vốn pháp định:
+ Vốn pháp định: Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh
nghiệp do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề
+ Vốn tự bổ sung: Vốn tự bổ sung là vốn chủ yếu do doanh nghiệp lấy mộtphần từ lợi nhuận, từ quỹ đầu tư và phát triển, quỹ dự phòng tài chính
Tóm lại, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là vốn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp.
- Vốn vay (vốn huy động của doanh nghiệp):
Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanhnghiệp có nhiệm vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế như: ngân hàng thương
Trang 16khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho cán bộ công nhân viên
Một doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả, với mức sinh lời cao và đảmbảo khả năng cạnh tranh thắng lợi trên thị trường thì ngoài nguồn chủ sở hữu, nóphải vay vốn trên thị trường để hình thành vốn của mình Trong nền kinh tế thị trư-ờng, vốn vay của doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với vốnchủ sở hữu Đây là nguồn vốn cung cấp chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của đơn
vị Nguồn này có thể được hình thành bằng một số biện pháp sau:
+ Vốn vay: Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức in tín dụng, các
cá nhân, đơn vị kinh tế để tạo lập hoặc tăng thêm nguồn vốn
* Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng: rất quan trọng đối với các doanhnghiệp
* Vốn vay trên thị trường chứng khoán: doanh nghiệp có thể phát hành tráiphiếu để thu hút rộng răi số tiền nhàn rỗi trong xă hội, đây là một công cụ tài chínhquan trọng và dễ sử dụng vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn sản xuấtkinh doanh
+ Vốn liên doanh liên kết : Các doanh nghiệp có thể liên doanh, hợp tác với
nhau để huy động thực hiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Vốn tín dụng thương mại : Tín dụng thương mại là các khoản mục chịu từ
người cung cấp hoặc ứng trước của khánh hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếmdụng Tuy các khoản tín dụng thương mại thường có thời gian ngắn hạn nhưng nếudoanh nghiệp biết quản lư một cách có khoa học có thể đáp ứng phần nào nhu cầuvốn lưu động
+ Vốn tín dụng thuê mua: Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng giữa
người thuê và người cho thuê Người thuê sử dụng tài sản và phải trả tiền cho ngườicho thuê theo thời hạn mà hai bên thỏa thuận, người cho thuê là người sở hữu tàisản và nhận được tiền cho thuê tài sản
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu: là thuê vận hành vàthuê tài chính
* Thuê vận hành (thuê hoạt động): là hình thức thuê ngắn hạn tài sản
* Thuê tài chính : là phương thức tài trợ tín dụng trung hạn và dài hạn theo hợp đồng
Trang 17Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là cơ sở để doanhnghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinhdoanh, quy mô, quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến lược đầu tư
1.1.3.2 Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển
Phân loại theo tính chất chu chuyển của vốn thì vốn của doanh nghiệp được
chia ra làm 2 loại:
- Vốn cố định: Vốn cố định là giá trị biểu hiện bằng tiền của tổng tài sản cố
định (TSCĐ) trong doanh nghiệp Tài sản cố định thuộc loại tài sản có giá trị lớn và
có thời gian sử dụng lâu dài Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Sốvốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng, lắp đặt tài sản cố định hữu hình hay vôhình gọi là vốn cố định của doanh nghiệp Nói cách khác, vốn cố định của doanhnghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước Quy mô của vốn cố định nhiều hay
ít sẽ tác động đến quy mô của tài sản cố định, ngược lại những đặc điểm vận độngcủa tài sản cố định trong quá tŕnh sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặcđiểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định
Đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trính sản xuất kinh doanh:+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm Vốn cố định làhình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định cùng tham gia vào các chu kỳtương ứng
+ Vốn cố định được chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu kỳ sảnxuất Khi tham gia vào quá trình sản xuất, tài sản cố định bị hao mòn, giảm dần vềgiá trị và giá trị sử dụng Vốn cố định được tách thành hai bộ phận:
* Bộ phận thứ nhất tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định được luânchuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao vàđược tích lũy thành qũy khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ, quỹkhấu hao này sẽ được sử dụng để tái sản xuất tài sản cố định nhằm duy trì năng lựcsản xuất của doanh nghiệp
* Bộ phận thứ hai đó chính là phần còn lại của vốn cố định được gọi là giá trịcòn lại của tài sản cố định
Trang 18Đặc trưng của tài sản cố định là khụng thay đổi hỡnh thỏi vật chất sau mỗi chu
kỳ sản xuất kinh doanh Tuy nhiờn, giỏ trị của nú giảm dần do cú hao mũn Cú hailoại hao mũn tài sản cố định là hao mũn vụ hỡnh và hao mũn hữu hỡnh Để chốnghao mũn cần phải trớch quỹ khấu hao nhằm bự đắp cho hao mũn tài sản cố định Tấtnhiờn nú khụng trựng khớt với số tiền tài sản thực tế bị hao mũn (cú thể lớn hoặcnhỏ hơn) Tài sản cố định bao gồm TSCĐ hữu hỡnh và TSCĐ vụ hỡnh Trong đú,TSCĐ hữu hỡnh: Là những tài sản cú hỡnh thỏi, vật chất (như nhà cửa, vật kiến trỳc,mỏy múc, thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quảnlý ) và TSCĐ vụ hỡnh là những tài sản khụng cú hỡnh thỏi vật chất, thể hiện nhữnglượng giỏ trị lớn mà doanh nghiệp đó đầu tư, liờn quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh(như Quyền sử dụng đất, Chi phớ thành lập doanh nghiệp, Chi phớ về bằng phỏtminh sỏng chế, chi phớ nghiờn cứu phỏt triển, nhón hiệu thương mại )
Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luõn chuyển vào giỏ trị sản phẩm dầntăng lờn, song phần vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định dần giảm xuống Kếtthỳc quỏ trỡnh vận động đú cũng là lỳc tài sản cố định hết thời gian sử dụng giỏ trịcủa nú được dịch chuyển hết vào giỏ trị sản phẩm đă sản xuất, và khi đú vốn cố địnhmới hoàn thành một vũng luõn chuyển
Trong cỏc doanh nghiệp, vốn cố định là bộ phận quan trọng chiếm tỷ trọngtương đối lớn Việc quản lý vốn cố định phải gắn liền với việc quản lý tài sản cốđịnh vỡ điều này cú ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất củadoanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh cỏc doanh nghiệp cần cú cỏc đối tượng laođộng Khỏc với tư liệu lao động, cỏc đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu
kỳ sản xuất, khụng giữ nguyờn hỡnh thỏi ban đầu, giỏ trị của nú được dịch chuyểntoàn bộ một lần vào giỏ trị sản phẩm
- Vốn lưu động: Vốn lu động là giá trị bằng tiền của các tài sản
lu động Có hai loại tài sản lu động:
+ Các tài sản lu động sản xuất: có đặc điểm gắn trực tiếpvới quá trình sản xuất chẳng hạn nh nguyên liệu, vật liệu, các sản
Trang 19phẩm dở dang, các bán thành phẩm
+ Tài sản lu động lu thông: ví dụ sản phẩm cha tiêu thụ, tiềnmặt, các chứng khoán dễ chuyển nhợng(tín phiếu, trái phiếu ),cỏc khoản chờ kết chuyển, chi phớ
Khỏc với tài sản cố định, tài sản lưu động của doanh nghiệp có đặc điểm
là hình thái vật chất luụn luụn thay đổi để tạo ra sản phẩm hàng húa, vốn lưuđộng của doanh nghiệp cũng khụng ngừng vận động qua cỏc giai đoạn của chu kỳkinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thụng Quỏ trỡnh này được diễn ra liờntục, thường xuyờn lặp lại theo chu kỳ được gọi là quỏ trỡnh tuần hoàn của vốn lưuđộng và giá trị của tài sản lu động chuyển toàn bộ vào sản phẩmsau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh
Việc nghiờn cứu cỏc phương phỏp phõn loại vốn trờn đõy cú tỏc dụng giỳp chocỏc doanh nghiệp một mặt tăng cường quản lý và sử dụng cú hiệu quả vốn hiện cú,mặt khỏc cú thể đa dạng hoỏ cỏc kờnh huy động vốn
1.2 Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện khụng thể thiếu được để một doanh nghiệp hoạt động vàtiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Khi muốn khởi tạo Doanh nghiệp, điềukiện cần đầu tiờn phải cú vốn Trong quỏ trỡnh hoạt động,sự biến động của vốn cũng
là cơ sở và dấu hiệu cho sự tồn tại và phỏt triển của Doanh nghiệp Để tiếp tục phỏttriển và đứng vóng, Doanh nghiệp khụng những phải duy trỡ số vốn bỏ ra ban đầu
mà cũn phải tỡm kiếm những khoản vốn bổ sung từ nhiều nguồn khỏc nhau
Chớnh vỡ lẽ đú, huy động vốn trong doanh nghiệp luụn được coi là một trongnhững ưu tiờn hàng đầu Thực hiện tốt huy động vốn là cũng đồng nghĩa với thànhcụng trong xõy dựng một cơ cấu vốn hợp lý với chi phớ thấp, tạo điều kiện thuận lợicho doanh nghiệp cạnh tranh với cỏc chủ thể kinh tế khỏc trờn thương trường
1.2.2 Cỏc phương thức huy động vốn của Doanh nghiệp
Việc huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu tỏc
Trang 20động bởi nhiều yếu tố Về cơ bản như đã xem xét ở trên thì vốn của doanh nghiệp khixem xét theo tính chất sở hữu thì có thể chia làm 2 và tương ứng như vậy là có 2 nhómhình thức huy động vốn cho doanh nghiệp theo tiêu chí này.
1.2.2.1 Vốn chủ sở hữu và các hình thức huy động vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu ban đầu, như đã nói ở trên được hình thành từ việc đóng gópcủa các nhà đầu tư Tuy nhiên, khi chạm tới ngưỡng tăng trưởng chín muồi thì vốnchủ sở hữu ban đầu không đủ đáp ứng cho các hoạt động tài chính, để tiếp tục pháttriển, doanh nghiệp thường tiến hành các hoạt động đầu tư chiến lược mở rộng đáng
kể năng lực sản xuất hoặc bước sang lĩnh vực hoạt động mới và đi cùng với nó làviệc huy động thêm vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu bao gồm các nguồn sau:
- Vốn điều lệ của các doanh nghiệp: được hình thành từ nguồn nào thì nó tuỳ
thuộc vào hình thức sở hữu của các doanh nghiệp
+ Nếu doanh nghiệp nhà nước: thì nguồn hình thành là ngân sách nhà nước.+ Nếu doanh nghiệp thuộc sở hữu cổ phần: thì nguồn hình thành do cổ đông,người mua cổ phiếu, cổ phần
+ Nếu doanh nghiệp của tư nhân: do tư nhân bỏ ra
- Vốn từ việc phát hành cổ phiếu:
Cổ phiếu là một giấy chứng nhận việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần vàquyền được nhận một phần lợi nhuận từ công ty cổ phần ấy, quyền được chia tài sản
từ công ty cổ phần ấy
Có hai loại cổ phiếu:
+ Cổ phiếu có ghi tên: ghi rõ họ tên của chủ sở hữu Nó không được tự do
chuyển nhượng, mua bán Nó chỉ có thể được chuyển nhượng trong điều kiện được
sự đồng ý của hội đồng quản trị của công ty cổ phần đó Nó dành cho các nhà sánglập viên của công ty cổ phần Đây là hình thức pháp luật ràng buộc các người sánglập viên với công ty cổ phần đó
+ Cổ phiếu không ghi tên(vô danh): trên cổ phiếu không ghi rõ họ tên của ai.
Nó được tự do chuyển nhượng mua bán Người nào cầm cổ phiếu là người đó có
Trang 21quyền chia tài sản Người ta chia hai loại:
Các cổ phiếu ưu đãi(đặc quyền): trong cổ phiếu ghi rõ về thu nhập mà cổphiếu đó được hưởng(có tính chất cố định) Ví dụ: 6%/năm Tuy nhiên cổ đôngcũng không được hưởng một số quyền kiểm soát doanh nghiệp(như bầu cử hội đồngquản trị, ban kiểm soát )
Các cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu mà thu nhập của nó(lợi tức cổphiếu) lên hay xuống tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Đây là loại cổ phiếu có rủi ro cao nhất
- Các quỹ được tạo nên trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
+ Quỹ dữ trữ: thông thường được trích trên lãi ròng hàng năm của các doanh
nghiệp, theo tỷ lệ phần trăm nhất định với mục tiêu để bổ sung và làm tăng thêmvốn điều lệ của các doanh nghiệp Quỹ được trích lập thường xuyên, nhưng đượcđưa vào vốn điều lệ, việc đưa vào bao nhiêu do các cơ quan chức năng của cácdoanh nghiệp đó quyết định
+ Quỹ dữ trữ đặc biệt: được trích lập theo tỷ lệ nào đó trên cơ sở lãi ròng hàng
năm của các doanh nghiệp Mục đích để trang trải rủi ro trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp
Trong các ngân hàng thương mại, trích lập các quỹ dự trữ đặc biệt dựa trên cơ
sở thu nhập- chi phí nhưng chưa trừ thuế Nó không được trích lập trên lãi ròng Vì:
Thứ nhất, bởi vì kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng có tỷ lệ rủi ro cao nhất.
Quỹ dự trự đặc biệt trích lập theo lãi ròng không đủ để trang trải cho những rủi rocủa ngân hàng thương mại
Thứ hai, là nếu các ngân hàng thương mại trích lập quỹ đặc biệt trên cơ sở sau
khi đã trừ đi thuế thì nhiều ngân hàng thương mại sẽ không được hưởng cơ chế này,
vì nhiều ngân hàng thương mại hoạt động không có lãi
+ Các quỹ khác: coi như vốn tự có của các doanh nghiệp Ví dụ: quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao, quỹ đầu tư phát triển
Trang 22Ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không chịu sự kiểm soát củacác chủ nợ, không phụ thuộc vào khả năng vay của doanh nghiệp Nguồn này cũngđược nhà nước khuyến khích (như giảm thuế cho phần lợi nhuận tái đầu tư) Tuynhiên việc sử dụng nguồn này cũng có một số bất lợi như: vốn chủ sở hữu của cácdoanh nghiệp thường nhỏ, không đủ để chi cho các dự án đầu tư lớn.
1.2.2.2 Vốn vay và các hình thức huy động
- Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, các ngân hàng:
Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọngnhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắnliền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó cóviệc cung ứng các nguồn vốn
Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụngtín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thươngtrường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảmbảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo
có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có ưu điểm nhưng tồn tại song song là nhữnghạn chế nhất định:
- Điều kiện tín dụng: Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thươngmại cần đáp ứng những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng Doanhnghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêucầu Ngân hàng sẽ phân tích hồ sơ xin vay vốn trước khi quyết định cho doanhnghiệp vay hoặc từ chối
- Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung cácngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay vốn phải có các bảo đảm tiền vay, phổbiến nhất là tài sản thế chấp Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiềutrường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả nhữngthủ tục pháp lý về giấy tờ Do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận
Trang 23nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
- Sự kiểm soát của ngân hàng: Một khi đã vay vốn của ngân hàng thì doanhnghiệp phải chấp nhận chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sửdụng vốn vay Nói chung, sự kiểm soát này không gay khó khăn lớn nhưng trongmột số trường hợp, nó dặt doanh nghiệp vào thế bị động
- Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suấtvốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời
kỳ Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốnlớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp Có những thời kỳ ở nước ta, lãi suấtvay vốn khá cao và thiếu tính cạnh tranh do đó không tạo điều kiện cho các doanhnghiệp đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh
- Phát hành trái phiếu công ty:
Trái phiếu công ty là công cụ nợ dài hạn được một doanh nghiệp phát hành đểhuy động vốn của tổ chức cá nhân trong nền kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu vốn sảnxuất kinh doanh Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựachọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tìnhhình trên thị trường tài chính
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì nó có liên quan đến chiphí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu Trướckhi quyết định phát hành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại tráiphiếu Trên thị trường tài chính ở nhiều nước, hiện nay thường lưu hành những loạitrái phiếu doanh nghiệp như sau:
- Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được sử dụngnhiều nhất, tức là phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suấtđược ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Việcthanh toán lãi trái phiếu cũng thường được quy định rõ Để huy động vốn theophương thức này, phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu, nó phụ thuộc vào:+ Lãi suất của trái phiếu: Lãi suất của trái phiếu phải được đặt trong tươngquan so sánh với lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt là phải tính đến sự cạnh tranh
Trang 24với trái phiếu của các công ty khác và trái phiếu Chính phủ Tuy nhiên, một ràngbuộc khác là chi phí lãi vay mà công ty phải trả cho các trái chủ Nếu đưa thêm cácyếu tố khuyên khích vào trái phiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất.+ Kỳ hạn của trái phiếu: Đây là yếu tố rất quan trọng, không những đối vớicông ty phát hành mà cả đối với nhà đầu tư Khi phát hành, doanh nghiệp phải căn
cứ vào tình hình thị trường vốn và tâm lý dân cư mới có thể xác định kỳ hạn hợp lý.+ Uy tín của doanh nghiệp: Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thuhút được công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu tư phải đánh giá uy tín của doanhnghiệp thì mới quyết định mua hay không mua Các doanh nghiệp có uy tín và vữngmạnh thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy độngvốn
+ Trong việc phát hành trái phiếu cũng cần chú ý đến mệnh giá, vì nó có thểliên quan đến sức mua của công chúng Đặc biệt, ở Việt Nam, khi phát hành tráiphiếu, doanh nghiệp cần xác định một mức mệnh giá vừa phải để nhiều người cóthể mua được, tạo sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường
- Trái phiếu có lãi suất thay đổi: Loại trái phiếu này có lãi suất biến động theo
sự biến động của thị trường vốn Trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãisuất thị trường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loạitrái phiếu này Do các biến động của lạm phát kéo theo sự giao động của lãi suấtthực, các nhà đầu tư mong muốn được hưởng một lãi suất thỏa đáng khi so sánh vớitình hình thị trường Vì vậy, một số người ưa thích trái phiếu thả nổi Tuy nhiên,nhược điểm của loại trái phiếu này là doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chiphí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn cho việc lập kế hoạch tài chính.Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanh nghiệp phải thôngbáo các lần điều chỉnh lãi suất
- Trái phiếu có thể thu hồi: Một số doanh nghiệp lựa chọn cách phát hànhnhững trái phiếu có thể thu hồi, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thờigian nào đó Trái phiếu như vậy phải được quy định ngay khi phát hành để ngườimua trái phiếu được biết Doanh nghiệp phải quy định rõ về thời hạn và giá cả khi
Trang 25doanh nghiệp mua lại trái phiếu Thông thường, người ta quy định thời hạn tối thiểu
mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi Ưu điểm của loại trái phiếu này là có thể sử dụngnhư một cách điều chỉnh lượng vốn hoạt động Khi không cần thiết, doanh nghiệp
có thể thay nguồn tài chính do phát hành trái phiếu loại này bằng một nguồn tàichính khác thông qua việc mua lại các trái phiếu đó
- Chứng khoán có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu có thể chuyển đổithành một lượng nhất định các cổ phiếu phổ thông (đối với công ty cổ phần).Trái phiếu này cho phép người sở hữu có thể chuyển nợ phải thu thành vốn góp
cổ phần, khi đó người có trái phiếu có quyền nhận cổ tức và mọi quyền lợi như
cổ đông khác Việc huy động vốn bằng hình thức này có ưu điểm là tạo ra sự gắn
bó giữa người mua trái phiếu với doanh nghiệp Ngoài ra, do hấp dẫn hơn, hìnhthức này có thể huy động được nguồn vốn có chi phí thấp hươn các hình thứckhác đồng thời đa dạng hóa các công cụ huy động vốn
- Một số loại trái phiếu khác: Doanh nghiệp có thể lựa chọn một số loại tráiphiếu khác như: Trái phiếu có đảm bảo (là trái phiếu được bảo đảm bằng tài sản củacông ty) hoặc trái phiếu không co bảo đảm (là loại trái phiếu không được bảo đảmbằng một tài sản cụ thể nào), trái phiếu trả một lần và trái phiếu trả nhiều đợt
Có thể nói, huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu công ty có ưu điểm
là tiết kiệm được chi phí đầu tư, kiềm chế được lạm phát (do không làm tăng lượngtiền cung ứng cho lưu thông, chỉ nhằm sử dụng có hiệu quả hơn lượng tiền sẵn cótrong lưu thông), chủ động khai thác trực tiếp nguồn vốn có sẵn và tiềm năng củacác tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế Nếu tận dụng được những ưu điểm này thiđây chính là phương thức tối ưu và khả thi cho giải pháp về vốn dài hạn của doanhnghiệp trong nước, đồng thời có lợi cho toàn cảnh của nền kinh tế quốc dân
Giữa cổ phiếu và trái phiếu công ty có một số điểm giống và khác nhau cănbản như sau:
- Khi các công ty phát hành cổ phiếu thì công ty đó tập trung được nguồnvốn chủ sở hữu Khi các công ty phát hành trái phiếu ra thị trư ờng thì công ty đó
Trang 26tăng thêm nguồn vốn đi vay của mình Đồng thời khi phát hành cổ phiếu công ty
cổ phần không có trách nhiệm hoàn trả tiền cho người mua cổ phần, còn khi pháthành trái phiếu thì phải hoàn trả lại tiền(bao gồm cả gốc và lãi)
- Người mua cổ phiếu của công ty họ có quyền làm chủ sở hữu của công ty,cho nên họ có quyền tham gia quản lý và điều hành công ty cổ phần Người muatrái phiếu là chủ nợ của công ty và không có quyền tham gia quản lý và điều hànhcông ty
- Những người mua cổ phiếu của công ty thì phần thu nhập chủ yếu phụ thuộcvào hiệu quả, chất lượng hoạt động của công ty Người mua trái phiếu công ty, thunhập của họ phụ thuộc vào lãi suất ngân hàng
- Nguồn vốn tín dụng thương mại:
Đây là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng màdoanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn luôn đi kèm với mộtluồng hàng hoá cụ thể, gắn với quan hệ thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của
cơ chế thanh toán, chính sách tín dụng khách hàng doanh nghiệp được hưởng Khốilượng vốn doanh nghiệp huy động từ hình thức này lớn nhỏ tuỳ thuộc vào tính chấtcác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khoản tín dụng này thường
có thời gian ngắn từ một đến ba tháng nhưng nó đáp ứng phần nào lượng vốn củadoanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
- Nguồn vốn tín dụng thuê mua:
Tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua việc chothuê máy móc thiết bị, các động sản và bất động sản khác Người cho thuê (chủ sỡhữu tài sản) chuyển giao tài sản cho người thuê (người sử dụng tài sản) được sửdụng trong một thời gian nhất định và người thuê phải trả cho chủ sở hữu tài sảnmột khoản tiền thuê tương xứng với quyền sử dụng Hình thức thuê mua giúp doanhnghiệp tránh được những sai lầm khi tự đi vay và tự tìm mua sắm thiết bị vì cáccông ty thuê mua không chỉ đơn thuần thay thế tín dụng ngân hàng mà còn cung cấpcác dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp mua sắm và thuê thiết bị như: chuyển giao côngnghệ, đào tạo công nhân kỹ thuật và bảo hành, bảo trì, tư vấn hợp lý hóa sản xuất và
Trang 27hiện đại hóa hệ thông trang thiết bị kỹ thuật Thuê tài chính là một hình thức tài trợ tíndụng thông qua cho thuê các loại tài sản, máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển
là nhu cầu mà các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mong muốn để đổi mới máy móc, thiết
bị, hiện đại hóa công nghệ sản xuất kinh doanh Đặc trưng của phương thức này là đơn
vị cho thuê là chủ sở hữu tài sản sẽ chuyển giao tài sản cho người thuê, tức là người sửdụng tài sản được quyền sử dụng và hưởng những lợi ích kinh tế mang lại từ các tài sản
đó trong một thời gian nhất định Người thuê có nghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tàisản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng Điều này cũng nói lên việccấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không đòi hỏi sự đảm bảo tài sản cótrước, tạo cho doanh nghiệp tiếp cận hình thức tín dụng mới, vừa giải tỏa được áp lực
về tài sản đảm bảo nếu phải vay từ ngân hàng Ngoài ra, các công ty cho thuê tài chính
có thể mua tài sản của doanh nghiệp và cho thuê lại tài sản đó nếu doanh nghiệp thiếuvốn lưu động do đã tập trung vốn để đầu tư mua sắm tài sản cố định Như vậy doanhnghiệp vừa có tài sản để sử dụng, vừa có vốn để kinh doanh
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê hoạt động vàthuê tài chính
- Thuê hoạt động (Operating Lease).
Thuê hoạt động hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chất thời
vụ Hình thức thuê hoạt động được coi là một loại hợp đồng để chấp hành, tài sản
đi thuê không được phản ánh trong sổ sách kế toán của người thuê, số tiền thuê trảtheo hợp đồng được ghi như một chi phí bình thường khác
Thuê hoạt động có hai đặc trưng chính:
- Thời hạn thuê thường rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tàisản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một thời gian ngắn
- Người thuê chỉ phải trả tiền thuê theo thỏa thuận, người cho thuê phải chịumọi chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì, bảo hiểm, thuế tài sản cùngvới mọi rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản
- Thuê tài chính (Finance Lease)
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạn theo hợp
Trang 28đồng Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà ngườimua cần và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua lại tài sản từ người cho thuê.Trong nhiều trường hợp, một công ty bán ngay tài sản của mình cho người thuê rồithuê lại Trong hợp đồng thuê tài chính thì thời hạn thuê tài sản của bên thuê phảichiếm phần lớn đời sống hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoảntiền thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.Thông thường hết giai đoạn thuê tài chính người cho thuê thường ủy quyềncho người thuê làm đại lý bán tài sản Nếu người thuê quản lý sử dụng tài sản tốt thìgiá trị thực tế của tài sản có thể lớn hơn nhiều so với giá tiền còn lại dự kiến tronghợp đồng, họ có thể mua lại và cũng có thể bán được giá cao hơn họ sẽ được hưởngphần chênh lệch.
Trong hợp đồng thuê tài chính, các loại chi phí bảo dưỡng, vận hành, phí bảohiểm, thuế tài sản cũng như những chi phí rủi ro khác đối với tài sản do bên thuêphải chịu cũng như tương tự của công ty mua sắm.Cũng vì lý do đó các khoản tiềnthuê mà người cho thuê nhận được coi là giá trị thừa của tài sản nên hình thức thuênày cũng được gọi là thuê mua thuần
- Nguồn vốn liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau Tức là
nguồn vốn mà các doanh nghiệp góp vốn theo phương thức cùng hợp tác kinhdoanh, cùng chia sẻ rủi ro nếu có và cùng phân chia lợi nhuận
- Nguồn vốn ODA (Official development assistance).
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nướcngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thứctài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF (Officialdevelopment finance) – Tài trợ phát triển chính thức) nào khác
Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốnvay tương đối lớn, bao giờ ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố
hỗ trợ) đạt ít nhất 25%
Yếu tố không hoàn lại (thành tố hỗ trợ) của từng khoản vay được xác định dựavào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần trả nợ trong các
Trang 29năm và tỷ suất chiết khấu.
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm cácđiều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyểngiao vốn và thị trường ) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệtthòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không,việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế.Điều này còn hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còncần có nghệ thuật thỏa thuận, để vừa có thể nhận vốn, vừa đảm bảo được các mụctiêu có tính nguyên tắc
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan
1.3.1.1 Chi phí sử dụng vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
•Chi phí vốn: Bất kỳ một sự gia tăng nào trên tài sản của doanh nghiệp cũngphải được gia tăng ít nhất một khoản mục bên nguồn vốn Cũng như các yếu tốđầu vào khác, muốn có số vốn để sử dụng thì doanh nghiệp phải chi trả chi phí
Có thể hiểu chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng sốlợi nhuận kỳ vọng đạt được trên vốn đầu tư vào được dự án hoặc doanh nghiệp
để giữ không làm giảm số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu Các nhà đầu tư chỉchấp nhận cấp vốn cho doanh nghiệp khi họ được trả một khoản lãi xứng đáng.Thông thường, người cho vay luôn mong muốn một lãi suất cao, ngược lại,doanh nghiệp đi vay muốn trả lãi thấp, vì vậy, lãi suất vay vốn và lãi suất cânbằng tại đó người cho vay và người đi vay đều chấp nhận được
•Cơ cấu vốn: Một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường kiếm khi chỉ sửdụng một nguồn vốn để tài trợ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình ngay cảkhi đó là nguồn có chi phí thấp hơn các nguồn khác Nguồn vốn của một doanhnghiệp được chia thành: Nguồn vốn tự có (vốn chủ sỡ hữu) và vốn vay
Thông thường, nguồn vốn tự có không đủ lớn để tài trợ cho toàn bộ các dự ánphát triển chiều sâu và mở rộng của doanh nghiệp Mặt khác, tăng nguồn vốn chủ sở
Trang 30hữu luôn tạo ra sức ép về tỷ suất lợi nhuận cho người quản lý, vì vậy, doanh nghiệpphải huy động vốn vay Tuy nhiên, người cho vay lại luôn mong muốn doanhnghiệp duy trì tỷ trọng nguồn vốn tự có đủ lớn để đảm bảo khả năng trả nợ, điềunày luôn là một khó khăn đối với doanh nghiệp Các nhà quản trị tài chính doanhnghiệp luôn giải quyết mâu thuẫn trên để tìm ra một cơ cấu nguồn vốn tối ưu, đảmbảo một tỷ lệ hợp lý giữa nguồn vốn chủ sở hữu và nợ vay sao cho lợi ích thu được
là lớn nhất Đó là cơ cấu hướng tới sự cân bằng giữa rủi ro và lãi suất, nhờ đó tối đahóa giá trị của doanh nghiệp
Để thiết lập một cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp, các nhà quản trị tài chínhcần xem xét bốn nhân tố chủ yếu sau:
- Rủi ro kinh doanh: Là một trong những nhân tố có tác động đến việc lựachọn nguồn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp Rủi ro đề cập đến ở đây là rủi
ro cố hữu trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp khi không sử dụng nợ vay.Như vậy, đối với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có rủi ro kinh doanhlớn thì vay nợ nhiều khi không phải là giải pháp tối ưu Nói cách khác, rủi ro kinhdoanh càng lớn, tỷ lệ tối ưu càng thấp
- Chính sách thuế: Thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng đến chi phí của nợvay thông qua điều tiết phần tiết kiệm nhờ thuế Thuế suất cao sẽ khuyến khích doanhnghiệp sử dụng nợ do phần tiết kiệm nhờ thuế tăng lên, vì khi đó, phần lãi vay phải trả
sẽ được tính vào chi phí hợp lý trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Các nhà quản lý tài chính biết rằng, tàitrợ vốn vững chắc là một trong những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả Họ cũng biết rằng khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong nền kinh
tế hoặc khi một doanh nghiệp đang trải qua khó khăn trong hoạt động, những nhà đầu
tư muốn tăng cường tài trợ cho những doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh.Như vậy, nhu cầu vốn tương lai và những hậu quả thiếu vốn có ảnh hưởng quan trọngđối với mục tiêu cơ cấu vốn
- Tính quyết đoán của nhà quản lý: Chính là sự lựa chọn giữa hai quan điểm:Sẵn sàng sử dụng nhiều nợ hơn bất chấp mức đọ rủi ro cao nhằm thu lợi nhuận cao
Trang 31và sử dụng vốn chủ sở hữu chấp nhận mức lợi nhuận thấp nhưng an toàn.
Việc cân nhắc tới tất cả những yếu tố trên đều là nhằm mục tiêu thiết lập nênmột cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp Trong từng giai đoạn phát triển khácnhau, những điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có thể biến đổi, nhưngtại bất kỳ thời điểm nào đó cho trước, ban quản lý doanh nghiệp đều có một cơ cấuvốn nhất định và những quyết định tài trợ phải thích hợp với mục tiêu này
Về cơ bản, các doanh nghiệp luôn cố gắng hướng tới cơ cấu vốn chỉ có chi phítrung bình của vốn là thấp nhất Việc xác định chi phí vốn trung bình (WACC) củadoanh nghiệp dựa trên chi phí của các yếu tố cấu thành tổng nguồn vốn của doanhnghiệp bao gồm: Chi phí nợ vay sau thuế (Kd.(1-t), trong đó t là thuế suất thuế thunhập doanh nghiệp), chi phí cổ phiếu ưu tiên (Kp) và chi phí lợi nhuận giữ lại (Ks)theo công thức:
Rõ ràng là, cho phí vốn và cơ cấu vốn có ảnh hưởng trực tiếp một cách mạnh
mẽ tới việc huy động vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ huy động nguồn vốnnào, với quy mô là bao nhiêu không chỉ phụ thuộc vào chi phí phải trả cho nguồnvốn đó mà còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đã đặt ra
1.3.1.2 Năng lực hoạt động của doanh nghiệp
Nhìn chung, một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, tình hình tài chính lànhmạnh luôn dễ dàng được các tổ chức tín dụng, ngân hàng cho vay vì khả năng hoàntrả nợ cao Vì vậy, năng lực kinh doanh tốt là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đếnkhả năng huy động vốn của doanh nghiệp
Trang 321.3.1.3 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, nó phản ánhtrình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanhđạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất Một doanh nghiệp có hiệu quả sử dụngvốn cao đỗng nghĩa với việc doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao Trong nềnkinh tế thị trường, đây là một yếu tố quyết định khả năng mở rộng sản suất kinhdoanh của doanh nghiệp theo chiều rộng lẫn chiều sâu Nói cách khác, khi phân chiavốn vào các mục đích sử dụng một cách hợp lý và được bảo toàn, doanh nghiệp cóthể tiết kiệm được vốn và tránh được lãng phí, nâng cao uy tín đồng thời tăng khảnăng huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan
1.3.2.1 Chính sách kinh tế vĩ mô
Là một chủ thể của nền kinh tế, mọi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt làhoạt động huy động vốn luôn chịu ảnh hưởng bởi chính sách kinh tế vĩ mô của từngquốc gia
Ở Việt Nam, chính sách của Đảng và Nhà nước là một nhân tố có ảnh hưởngrất lớn và trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệptrong nền kinh tế Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo mục tiêu kinh tế vĩ mô
đã được hoạch định
Đây là yếu tố mà các doanh nghiệp bắt buộc phải nắm rõ và chấp hành Việchuy động vốn của doanh nghiệp (Nguồn huy động, quy mô huy động, phương thứchuy động) được quy định cụ thể phải thực hiện theo cơ chế quản lý tài chính củaNhà nước được thể chế hóa bằng các quy định, nghị định của Chính phủ và các vănbản pháp luật khác
Điều quan trọng ở đây là các doanh nghiệp cần quan tâm dự đoán và thườngxuyên cập nhật các chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước trong mỗithời kỳ vì các chính sách này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến khả năng huy độngvốn, đặc biệt khi thị trường tài chính phát triển Chẳng hạn, chính sách tiền tệ thắt
Trang 33chặt luôn gây khó khăn cho doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng do lãi suất chovay cao, thủ tục vay vốn chặt chẽ hơn Tương tự như vậy, chính sách khuyến khíchhay hạn chế phát triển đối với một ngành nghề cũng sẽ cũng tạo điều kiện hoặc hạnchế khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề đó Cóthể kể tới những nhân tố vĩ mô có ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanhnghiệp:
- Lãi suất ngân hàng là yếu tố đầu tiên mà mọi doanh nghiệp phải cân nhắckhi lựa chọn nguồn vốn cho kế hoạch tài trợ của mình Đây là yếu tố ảnh hưởng đếnchi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải tính toán hiệu quảđầu tư, cân đối và lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp giữa vay ngân hàng hay phát hànhtrái phiếu
- Thu nhập dân cư cũng là mọt nhân tố tác động đến khả năng huy động vốncủa doanh nghiệp Thu nhập dân cư ở mức cao đồng nghĩa với khả năng tích lũy cao,tiết kiệm lớn dẫn đến đầu tư lớn và lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế tăng lên.Điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách dễ dàng hơnthông qua các công cụ của thị trường vốn như cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ
có thể chuyển đổi, đặc biệt là ở những nước có thị trường tài chính phát triển
- Lạm phát là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn củadoanh nghiệp Lạm phát cao làm đồng tiền mất giá, Ngân hàng Trung ương có xuhướng thắt chặt tiền tệ còn người dân thì có tâm lý rút vốn để đầu cơ tích trữ nhữngtài sản ít bị ảnh hưởng như vàng, bất động sản, làm giảm lượng vốn xã hội dànhcho đầu tư sản xuất kinh doanh Mặt khác, lạ phát cao cũng dẫn tới lãi suất huyđộng cao hơn , lãi suất cho vay cao hơn để duy trì một lãi suất thực dương và gâykhó khăn cho doanh nghiệp khi vay vốn
- Lãi suất trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế: Trong một nền kinh tế mở.lãi suất có ảnh hưởng tới dòng chảy của vốn vì vốn luôn có xu hướng di chuyển vềnhững thị trường có lãi suất cao
- Thuế là chính sách cơ bản của Nhà nước nhằm phân phối lại thu nhập củanền kinh tế, huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển Chính sách thuế có
Trang 34ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Ví dụ, nếu thuế suất thuếthu nhập doanh nghiệp cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp doanh nghiệp đầu tưbằng nguồn vốn vay, thuế suất thuế thu nhập cá nhân cao sẽ khuyến khích cổ đông
sử dụng cổ tức được chia để tái đầu tư hơn là sử dụng cho chi tiêu Đối với cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chính sách ưu đãi về thuế đã và đang thuhút lượng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của nước ngoài dưới hình thức liên doanhhoặcđầu tư 100%vốn nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng cơ hộinày sể huy động vốn đầu tư thông qua hình thức liên doanh, liên kết, hợp đồng hợptác kinh doanh
1.3.2.2 Sự phát triển của thị trường tài chính
Hiện nay, nguồn vốn dài hạn của ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp cònrất hạn chế vì nguồn huy động của ngân hàng phần lớn là tiết kiệm ngắn hạn và tiềngửi trên tài khoản thanh toán, không thể sử dụng toàn bộ để cho vay dài hạn Giảipháp cho các doanh nghiệp là tìm kiếm vốn đầu tư dài hạn thông qua thị trường tàichính với hai hình thức cơ bản là phát hành cổ phiếu và trái phiếu
Thị trường tài chính, với chức năng là cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nềnkinh tế, có ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp:
- Thị trường chứng khoán: Các doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp tại thịtrường sơ cấp thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành Quy mô và thời gian huyđộng phụ thuộc vào hiệu quả của dự án, uy tín của doanh nghiệp phát hành và tổchức bảo lãnh phát hành cũng như sự phát triển của thị trường chứng khoán Thịtrường chứng khoán Việt Nam hiện nay mới ở dạng sơ khai, hàng hóa chưa nhiều,
sự hiểu biết của các nhà đầu tư còn hạn chế, cơ chế pháp lý tạo khung pháp lý chohoạt động chứng khoán chưa đầy đủ Điều này đã khiến cho các doanh nghiệp gặpnhiều khó khăn khi muốn huy động vốn trển thị trường này
- Thị trường tiền tệ: Thị trường vốn là nơi diễn ra việc mua bán các công cụvay nợ ngắn hạn như tín phiếu, thương phiếu, hối phiếu, Mặc dù thị trường tiền tệ
có mức giao động giá nhỏ, ít rủi ro nhưng nguồn vốn huy động thường nhỏ và ngắnhạn Thị trường tài chính Việt Nam nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng chưa
Trang 35phát triển một cách hoàn thiện, các tổ chức trung gian tài chính chưa đủ tiềm lực đểđáp ứng nhu cầu vốn trung hạn và vốn dài hạn mà hoạt động tài trợ ngắn hạn cũngchưa phát huy hết hiệu quả Đối với Việt Nam hiện nay, hệ thống ngân hàng vẫn làkênh dẫn vốn chính trong nền kinh tế khi mà thị trường chứng khoán mặc dù đãhình thành nhưng chưa phát huy được vai trò tạo ra các hình thức đầu tư, chưa mởrộng các kênh chu chuyển vốn trung và dài hạn để tạo cơ hội huy động nguồn lực xãhội cho đầu tư phát triển sản xuất Vì vậy, khả năng huy động vốn của các doanhnghiệp còn nhiều hạn chế, nhất là đối với những doanh nghiệp cần huy động vốncho những dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản, có quy mô lớn và thời gianthu hồi vốn kéo dài.
1.3.2.3 Sự tác động của kinh tế thế giới
- Sự tác động của toàn cầu hóa và việc Việt nam gia nhập WTO:
Việc toàn cầu hóa mở ra cho các doanh nghiệp Việt nam một cơ hội lớn để huyđộng vốn trên thị trường quốc tế Niêm yết tại thị trường chứng khoán quốc tế đemlại những lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn quốc tế, tăng tínhthanh khoản của giao dịch, mở rộng cơ sở cổ đông, đồng thời, quảng bá hình ảnh rakhỏi biên giới quốc gia, đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty vàtính minh bạch Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam, việc huy động vốn theo hình thứcnày gặp một số trở ngại nhất định từ phía cơ quan quản lý và cả doanh nghiệp Vềphía cơ quan quản lý, nguồn lực quản lý, cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu kết nốigiám sát chung và cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện là những khó khăn chủ yếu Đốivới doanh nghiệp, khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chuẩn niêm yết về tài chính,công bố thông tin cũng như chi phí và nguồn lực để duy trì niêm yết tại hai thịtrường là những rào cản lớn để tiếp cận kênh vốn này Tìm hiểu và hướng đến thịtrường vốn quốc tế là một cách làm đang được nhiều doanh nghiệp Việt Nam quantâm Hơn nữa, kể từ khi trở thành thành viên đầy đủ của WTO vào tháng 1/2007 làmột trong những yếu tố khuyến khích Việt Nam nhận được luồng vốn chảy vào lớn
từ các nhà đầu tư nước ngoài và như vậy đem lại nhiều cơ hội hơn trong việc huyđộng vốn cho các doanh nghiệp trong nước Những công ty niêm yết mới trên thị
Trang 36trường đã thúc đẩy quá trình cổ phần hoá đi nhanh hơn Một số công ty nhà nướclớn đã được cổ phần hóa xong làm cho thị trường mở rộng không chỉ về lượng mà
cả về chất
- Ảnh hưởng của biến động các thị trường tài chính trên thế giới:
Trong thời đại ngày nay, thị trường tài chính trong nước có mối liên quan cực
kỳ mật thiết với thị trường tài chính tài chính quốc tế Thị trường trong nước vànước ngoài đã thông thương với nhau ở mức độ nhất định, và vì vậy ví dụ như khiCục dự trữ liên bang của Mỹ (FED) cắt giảm lãi suất USD thì cũng sẽ cũng ảnhhưởng đến lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay và việc huy động vốn nói chung ởViệt Nam Tương tự như vậy, với các thay đổi về giá của các nguyên liêụ chiến lượcnhư dầu mỏ, vàng cũng ngược lại tác động đến lãi suất cũng như khả năng huyđộng vốn tại Việt nam
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
***
Trang 37Vốn và huy động vốn trong doanh nghiệp quan trọng như huyết mạch trong
cơ thể con người vậy, đó là điều kiện để tồn tại Trong nền kinh tế thị trường, hiệnnay việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là đòn bẩy cho sự phát triển bềnvững của Doanh nghiệp Việc xây dựng chiến lược tài chính mạnh mẽ, phát huy nộilực là việc rất cần thiết được mọi thành viên trong công ty nỗ lực thực hiện, tậptrung mọi nguồn lực dưới sự quản trị của Ban lãnh đạo công ty, được đánh giá vàhiệu chỉnh kịp thời nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho tổ chức
Chương 1 đã trình bày một cách cơ bản nhất cơ sở lý luận về vốn và huyđộng vốn, vận dụng thực tế vào việc đầu tư nhằm đưa ra kết quả cuối cùng là cácmục tiêu và giải pháp thực hiện cho sự phát triển của một tổ chức Kết quả này cóđược từ sự kết hợp phân tích các ưu, nhược từ nội bộ và các ý chủ quan của ngườiquản lý và những người tham gia xây dựng chiến lược tài chính
Cơ sở lý luận về vốn và huy động vốn cho ta thấy tầm quan trọng của việchoạch định chiến lược kinh doanh và đầu tư phát triển của một công ty trong mộtkhoảng thời gian nhất định Chiến lược tài chính mạnh và đạt được như mong muốncần có sự nhìn nhận và hướng đi đúng trong việc hoạch định hướng đi của đơn vị vàđặc biệt đó chính là tầm nhìn của người xây dựng chiến lược Ở đây, ngoài việc cậpnhật các thông tin vốn có, cần có thêm một công tác nữa đó là công tác dự báo,nhạy cảm với thay đổi của thị trường và các yếu tố khách quan khác đưa lại nên quátrình quản trị chiến lược tài chính của doanh nghiệp phải được xem là quá trình liêntục và thường xuyên, mục tiêu chiến lược tài chính và các giải pháp thực hiện phảiđược đổi mới kịp thời cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
CỦA TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM-CTCP
2.1 Tổng quan về Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tổng công ty Kim khí được thành lập vào những năm đầu của thập kỷ 70 thế
kỷ trước với nhiệm vụ tiếp nhận và cung ứng vật tư kim khí trong toàn quốc Dochuyển đổi mô hình quản lý, vào những năm 80 của thế kỷ XX, Nhà nước đã giảithể Tổng công ty để thành lập các Xí nghiệp liên hiệp thuộc Bộ Vật tư Năm 1985,thực hiện chủ trương của Chính phủ về tổ chức kinh doanh cung ứng vật tư theoNghị định số 204-HĐBT ngày 11/7/1985, Bộ Vật tư có Quyết định số 422/VT-QĐngày 13/9/1985 thành lập Tổng công ty Kim khí trực thuộc Bộ Vật tư Cuối năm
1990, Công ty Vật tư Thứ liệu Trung ương thuộc Bộ Vật tư được sáp nhập vào Tổngcông ty Kim khí theo Quyết định số 1278 TN/TCCB của Bộ Thương nghiệp Tổngcông ty Kim khí là tổ chức quản lý kinh doanh ngành hàng kim khí của cả nước,hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, có trụ sở đặt tại số 55B, phố Hàng Cót,quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Ngày 30/5/1990, Bộ Công nghiệp nặng có Quyết định số 128/CNNg-TCthành lập Tổng công ty Thép trên cơ sở tổ chức, sắp xếp các đơn vị khai thác, tuyểnluyện các loại khoáng sản kim loại đen và các đơn vị nghiên cứu, đào tạo, dịch vụ
về lĩnh vực luyện kim đen thuộc Bộ Công nghiệp nặng, trụ sở đặt tạm thời tại số phố Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội
6-Ngày 10/11/1993, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 549/TTg chuyểnTổng công ty Kim khí từ Bộ Thương mại về Bộ Công nghiệp nặng quản lý từ ngày
01 tháng 01 năm 1994, đến ngày 04 tháng 7 năm 1994 hợp nhất với Tổng công tyThép thành Tổng công ty Thép Việt Nam
Trên cơ sở đó, Tổng công ty Thép Việt Nam được thành lập ngày 29/4/1995theo mô hình Tổng công ty Nhà nước (Tổng công ty 91) theo Quyết định số
Trang 39255/TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất và sáp nhập nhiều doanhnghiệp, đơn vị trong ngành sản xuất thép, trong đó Tổng Công ty Thép Việt Namthuộc Bộ Công nghiệp và Tổng Công ty Kim khí thuộc Bộ Thương mại Ngày23/11/2006, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 267/2006/QĐ-TTg, thành lậpcông ty mẹ - Tổng công ty Thép Việt Nam; Ngày 21/6/2007 Thủ tướng Chính phủ
có Quyết định số 91/2007/QĐ-TTg phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động củaCông ty mẹ - Tổng công ty Thép Việt Nam và đến ngày 1/7/2007 Tổng Công ty đãchính thức đi vào hoạt động theo mô hình Công ty mẹ-Tổng Công ty Thép ViệtNam
Đến ngày 1/10/2011, Tổng công ty thép Việt Nam - CTCP được thành lậptrên cơ sở Quyết định số 552/QĐ-TTg về việc Phê duyệt phương án cổ phần hóaCông ty mẹ-Tổng công ty Thép Việt Nam; Quyết định số 1517/QĐ-TTg ngày05/9/2011 về việc điều chính cơ cấu vốn của Tổng công ty Thép Việt Nam - CTCPcủa Thủ tướng Chính phủ và hoạt động theo Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tổngcông ty Thép Việt Nam - CTCP được Đại hội đồng cổ đông thành lập Tổng công tyThép Việt Nam - CTCP thông qua ngày 20/9/2011
Kể từ nay, VNSTEEL sẽ chính thức hoạt động theo mô hình và cơ chế mớivới chức năng cơ bản là trực tiếp sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính đa ngành,trong đó sản xuất kinh doanh thép và các sản phẩm thép là chủ yếu gồm 10 đơn vịtrực thuộc, 14 Công ty con và 30 Công ty liên kết
Tên gọi đầy đủ: Tổng công ty Thép Việt Nam - CTCP
Tên giao dịch quốc tế: VietNam Steel Corporation
Viết tắt: Tổng công ty thép Việt Nam - VNSTEEL
Trụ sở chính: 91 Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội.
Trang 402.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của VNSTEEL
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy quản lý điều hành Vnsteel
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban quản lý tại Văn phòng Vnsteel được
cụ thể như sau (Trích Quy định chức năng nhiệm vụ của VNSTEEL)
2.1.2.1 Văn phòng Tổng Công ty
Văn phòng Tổng công ty là phòng chức năng tham mưu giúp Tổng giám đốc,Hội đồng quản trị Tổng công ty tổng hợp, điều phối hoạt động của các phòngnghiệp vụ, các đơn vị trực thuộc Tổng công ty theo chương trình, kế hoạch làm việc
và thực hiện công tác pháp chế, công tác hành chính, quản trị cơ quan; tham mưugiúp Tổng giám đốc công tác quản lý, khai thác và ứng dụng công nghệ thông tinphục vụ công tác quản lý, điều hành của Tổng công ty…