PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET) là doanh nghiệp quân đội thuộc loại hình doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng. Đây là doanh nghiệp hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó, hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng không chỉ là nhiệm vụ chính trị quan trọng của GAET, mà còn là một trong những hoạt động thương mại quân sự chủ yếu của các doanh nghiệp quân đội có chức năng nhập khẩu. Bên cạnh ý nghĩa chính trị, quốc phòng, an ninh mà GAET đóng góp cho đất nước, cho quân đội từ hoạt động nhập khẩu là những đóng góp không thể đo được bằng các con số cụ thể, hay đánh giá bằng các phương pháp kinh tế thông thường, thì hoạt động xuất nhập khẩu đang mang lại đóng góp về tài chính chiếm 50% doanh thu của GAET, trong đó riêng hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng chiếm 30%. Với chức năng vừa phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và phát triển kinh tế, xã hội thời bình, vừa sẵn sàng phục vụ thời chiến, GAET luôn coi trọng kết hợp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng, góp phần xây dựng quân đội theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của GAET, hiệu quả kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh của hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET bị chi phối, phụ thuộc bởi rất nhiều yếu tố cả thị trường trong và ngoài nước, cả yếu tố nội lực, cùng nhiều yếu tố tác động khác như: tình hình chính trị, xã hội và chính sách của Việt Nam, các nước trong khu vực và thế giới. Thực tế cho thấy, trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và việc nước ta phải từng bước thực hiện nghiêm túc các cam kết của tổ chức này, thì hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng của GAET ngay từ thời gian đầu đã phải đối mặt với thách thức, khó khăn nhiều hơn, phải chấp nhận cạnh tranh với mức độ quyết liệt, gay gắt hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra nhiều cơ hội, thuận lợi lớn, nhưng cũng đặt ra không ít trở ngại, khó khăn cho hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng đòi hỏi các cơ quan làm công tác nhập khẩu phải có những thay đổi ứng phó cho phù hợp. Những thay đổi đó đã có tác động đến kết quả hoạt động nhập khẩu là chức năng, nhiệm vụ chính của GAET mấy năm gần đây tăng chậm. Tình trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, nhưng trong đó quy trình tổ chức và quản lý hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng chưa được đổi mới, còn nhiều bất cập ở nhiều khâu, thuộc trách nhiệm của nhiều cấp, dẫn đến nhiều hoạt động triển khai không kịp thời, không được kiểm soát chặt chẽ. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động của GAET, trước hết là kết quả hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng, thì quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng cần được đổi mới, hoàn thiện. Với ý nghĩa như vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: Hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng tại Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET) - Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Bộ quốc phòng làm đề tài nghiên cứu của luận văn. 2. Mục tiêu của đề tài * Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở khoa học của việc hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng của GAET nhằm góp phần đẩy mạnh nhập khẩu hàng quốc phòng theo hướng tăng hiệu quả, đúng tiến độ, đúng chủng loại, chất lượng tốt, đủ về số lượng, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của đơn vị kinh tế quốc phòng. * Mục tiêu cụ thể: - Nghiên cứu cơ sở lý luận để làm rõ cơ sở xây dựng và thực thi quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng; - Đánh giá thực trạng quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET, qua đó làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục; - Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET trong thời gian tới. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ Quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng bao gồm từ Nghiên cứu thị trường; Đàm phán, thương thảo hợp đồng; Ký kết hợp đồng ngoại thương, Ký kết hợp đồng ủy thác nhập khẩu, Hợp đồng kinh tế; Thẩm định và phê duyệt hợp đồng; Tiến hành các thủ tục nhập khẩu; Thanh lý hợp đồng và báo cáo; Quản lý hồ sơ nhập khẩu ở GAET. 4. Phạm vi nghiên cứu * Về khách thể nghiên cứu: Hoạt động nhập khẩu hàng hóa, cụ thể là nhập khẩu hàng quốc phòng phục vụ nhiệm vụ quân sự của quân đội, bao gồm: - Hàng chuyên dùng quân sự: Vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, đạn dược, vật liệu nổ; Công nghệ, dây chuyền công nghệ chế tạo, sửa chữa, cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; Vật tư, phụ tùng chuyên dùng quân sự để bảo đảm hậu cần, bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm sản xuất công nghiệp quốc phòng cho quân đội; Tài liệu chuyên dùng quân sự; - Hàng lưỡng dụng: trang thiết bị kỹ thuật, phụ tùng, vật tư, tài liệu kỹ thuật và hàng quốc phòng khác mang tính phổ thông, lưỡng dụng phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ quốc phòng và có thể sử dụng cả trong lĩnh vực kinh tế xã hội. * Về thời gian: khảo sát, đánh giá thực trạng quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET từ năm 2009 đến năm 2011; * Về không gian: Vì Quy trình nhập khẩu hàng Quốc phòng không chỉ do một mình GAET tổ chức thực hiện mà còn do Bộ Quốc phòng và nhiều cơ quan chuyên biệt khác cùng tham gia và thực hiện, trong đó GAET chỉ là đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện trực tiếp trên cơ sở các cơ quan tham gia đã hoàn thành nhiệm vụ và chuyển giao cho GAET thực hiện. Do vậy, đề tài này chỉ nhiên cứu những phần công việc trong Quy trình do GAET thực hiện chứ không thể nghiên cứu toàn bộ Quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng. 5. Phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp phương pháp như: phân tích - tổng hợp; thống kê - so sánh; khảo sát thực tiễn và phương pháp chuyên gia. Để đánh giá khách quan, toàn diện, đúng thực trạng thực hiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET, tác giả đã tiến hành đồng thời nghiên cứu tài liệu, báo cáo tổng kết định kỳ (hàng năm trong 5 năm gần đây) của lãnh đạo, chỉ huy GAET và các cơ quan quản lý hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng trực thuộc Bộ Quốc phòng với tiến hành khảo sát thực tế ở một số doanh nghiệp quân đội nhập khẩu hàng quốc phòng đặc thù như: Vaxuco, Viettel… Ngoài ra, tác giả tham gia tổ chức tọa đàm về hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng và thực trạng thực hiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET với sự tham gia của lãnh đạo, chỉ huy các cấp của GAET, của Tổng Cục công nghiệp quốc phòng; lãnh đạo, chỉ huy một số doanh nghiệp quân đội và cơ quan chiến lược trực thuộc Bộ Quốc phòng như: Cục Kinh tế, Cục Đối ngoại, Cục Quân lực, Cục Kế hoạch và Đầu tư... Nguồn dữ liệu thứ cấp: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tài liệu, báo cáo của GAET từ các cơ quan, gồm: Văn thư lưu trữ, Phòng tài chính kế toán, Phòng kinh doanh, phòng kế hoạch, phòng tổ chức. Nguồn dữ liệu thu thập từ các cơ quan của Bộ Quốc phòng như: Cục Kế hoạch và Đầu tư, Cục Tài chính, Cục kinh tế, Cục đối ngoại, Cục bảo vệ an ninh… Các thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi chú chi tiết trong mục tài liệu tham khảo. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học liên quan đã công bố gần đây để làm phong phú và sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu - Đối với GAET: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET; - Đối với Bộ Quốc phòng và một số cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng: giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET sẽ cung cấp cơ sở khoa học để Bộ Quốc phòng và các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động này tiến hành bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhập khẩu hàng hàng quốc phòng ở các doanh nghiệp quân đội thời gian tới. 7. Kết cấu của luận văn Nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 Chương với 9 tiết, trong đó: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động nhập khẩu và quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng. Chương 2: Thực trạng thực hiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET. Chương 3: Hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng và giải pháp thực hiện ở GAET.
Trang 1TRẦN THỊ MINH TUYẾT
HOµN THIÖN QUY TR×NH HO¹T §éNG NHËP KHÈU
Kü THUËT C¤NG NGHIÖP QUèC PHßNG (GAET)
TæNG CôC CNQP, Bé QUèC PHßNG
Ngêi híng dÉn khoa häc:
PGS.TS HOµNG V¡N C¦êNG
hµ Néi, N¨m 2013
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn “Hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu
hàng quốc phòng tại Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET) - Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Bộ quốc phòng” là
công trình do tôi thực hiện
Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính chính xác, sự trung thực của cácthông tin trong luận văn này Các số liệu, kết quả nghiên cứu chưa được công
bố Đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TSHoàng Văn Cường
Tác giả
Trần Thị Minh Tuyết
Trang 3Luận văn này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn về khoa học củaPGS.TS Hoàng Văn Cường; sự quan tâm, tạo điều kiện học tập, nghiên cứu đối vớitôi của lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ, nhân viên Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Côngnghiệp Quốc phòng.
Tôi trân trọng biết ơn sự giúp đỡ của PGS.TS Hoàng Văn Cường đối với tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện bản luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể Thầy, Cô của Viện Sau đại học và chươngtrình Executive MBA đã giúp tôi có nhiều kiến thức cần thiết; đặc biệt là ý kiến củacác Thầy, Cô trong Hội đồng đánh giá luận văn cấp cơ sở và hội đồng đánh giá luậnvăn ngày hôm nay
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của các đồng nghiệpcủa tôi ở Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng Cảm ơn các cơquan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luậnvăn này
Trang 4LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG QUỐC PHÒNG 5
1.1 Hàng quốc phòng và sự cần thiết phải nhập khẩu hàng quốc phòng 5
1.1.1 Khái niệm hàng quốc phòng và nhập khẩu hàng quốc phòng 5
1.1.2 Vai trò nhập khẩu hàng quốc phòng 6
1.1.3 Đặc thù của hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng 8
1.1.4 Một số yêu cầu đối với hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng 9
1.1.5 Trách nhiệm của doanh nghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng 10
1.2 Quy trình hoạt động nhập khẩu hàng hóa 11
1.2.1 Phân loại hoạt động nhập khẩu 11
1.2.2 Quy trình hoạt động nhập khẩu hàng hóa 14
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET 19
1.3.1 Yếu tố khách quan 19
1.3.2 Yếu tố chủ quan 22
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG QUỐC PHÒNG Ở GAET 25
2.1 Khái quát về GAET 25
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 25
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 28
2.1.3 Tình hình sản xuất, kinh doanh ở một số lĩnh vực ( 2009-2012) 30
2.1.4 Mục tiêu nhập khẩu hàng quốc phòng 33
2.2 Quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET 33
2.2.1 Nghiên cứu thị trường 36
Trang 52.2.4 Thẩm định, phê duyệt hợp đồng nhập khẩu hàng quốc phòng 43
2.2.5 Tiến hành các thủ tục nhập khẩu hàng quốc phòng 45
2.2.6 Thanh lý hợp đồng; báo cáo kết quả thực hiện 47
2.3 Đánh giá chung về quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET 49
2.3.1 Thuận lợi khi thực hiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng 49
2.3.2 Khó khăn khi thực hiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng 50
2.3.3 Rủi ro khi thực hiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng 52
2.3.4 Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân 54
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG QUỐC PHÒNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN Ở GAET 60
3.1 Phương hướng, yêu cầu, nguyên tắc hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET 60
3.1.1 Phương hướng phát triển hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng của GAET 60
3.1.2 Yêu cầu hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng 61
3.1.3 Nguyên tắc hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng 62
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET 63
3.2.1 Nhóm giải pháp từ phía GAET 63
3.2.2 Nhóm giải pháp phối hợp giữa GAET với cơ quan quản lý hoạt động thương mại quân sự, trong đó có hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng .66
3.3 Một số kiến nghị 70
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và cơ quan quản lý vĩ mô 70
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Quốc phòng và bộ ngành liên quan 70
3.3.3 Kiến nghị với Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và GAET 71
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6BQP Bộ Quốc phòng
CNQP Công nghiệp quốc phòng
GAET Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòngKHĐT Kế hoạch đầu tư
MB Ngân hàng cổ phần thương mại Quân đội
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
VCSH Vốn chủ sở hữu
Trang 7BẢNG
Bảng 1.1 Danh mục hàng quốc phòng đặc biệt 6Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của GAET giai đoạn 2010-2012 32Bảng 2.2 Cơ cấu vốn kinh doanh xuất nhập khẩu tại GAET (2006 - 2011) 53
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của GAET 30
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng 34
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ các bước lập Kế hoạch nhập khẩu 37
Sơ đồ 2.4 Sơ đồ các bước tiến hành thẩm định, phê duyệt hợp đồng nhập khẩu
Trang 8TRẦN THỊ MINH TUYẾT
HOµN THIÖN QUY TR×NH HO¹T §éNG NHËP KHÈU
Kü THUËT C¤NG NGHIÖP QUèC PHßNG (GAET)
TæNG CôC CNQP, Bé QUèC PHßNG
hµ Néi, N¨m 2013
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I Sự cần thiết của đề tài
Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET) là doanhnghiệp quân đội hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó, hoạt động nhập khẩuhàng quốc phòng vừa là nhiệm vụ chính trị của GAET vừa là hoạt động thương mạiquân sự chủ yếu mang ý nghĩa chính trị quốc phòng an ninh và hiệu quả kinh tế chodoanh nghiệp quân đội thời bình, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền công nghiệpQuốc phòng Việt Nam
Trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổchức thương mại thế giới (WTO) và việc nước ta phải từng bước thực hiện nghiêmtúc các cam kết của tổ chức này, thì hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng củaGAET ngay từ thời gian đầu đã phải đối mặt với thách thức, khó khăn nhiều hơn,phải chấp nhận cạnh tranh với mức độ quyết liệt, gay gắt hơn Để nâng cao hiệu quảhoạt động của GAET, trước hết là kết quả hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng,thì quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng cần được đổi mới, hoàn thiện
II Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận để làm rõ cơ sở xây dựng và thực thi quy trìnhnhập khẩu hàng quốc phòng;
- Đánh giá thực trạng quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET, qua đólàm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế cầnkhắc phục;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàngquốc phòng ở GAET trong thời gian tới
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG QUỐC
PHÒNG 1.1 Hàng quốc phòng và sự cần thiết phải nhập khẩu hàng quốc phòng
1.1.1 Khái niệm hàng quốc phòng và nhập khẩu hàng quốc phòng
Ngoài việc đưa ra khái niệm hàng quốc phòng, nhập khẩu hàng quốc phòngtiết này còn làm rõ vai trò, đặc thù, yêu cầu và trách nhiệm của doanh nghiệp đốivới hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
1.1.2 Vai trò nhập khẩu hàng quốc phòng
Trang 10- Hoạt động nhập khẩu sẽ làm cho thị trường hàng hoá, dịch vụ trong nướcphong phú, tạo điều kiện để đất nước phát triển bền vững hơn.
- Tiết kiệm nguồn lực đầu tư trong nước
- Là động lực thúc đẩy doanh nghiệp trong nước nâng cao chất lượng, hạ giáthành sản phẩm và dịch vụ để nâng cao khả năng cạnh tranh
- Nhập khẩu là cầu nối để tiến hành hoạt động chuyển giao công nghệ, kỹthuật hiện đại từ nước ngoài, hiện đại hoá công nghiệp quốc phòng
- Nhập khẩu góp phần lành mạnh hoá thị trường trong nước và nước ngoàibằng việc xoá bỏ tình trạng độc quyền, tăng tính cạnh tranh
- Dưới góc độ doanh nghiệp, tham gia vào hoạt động nhập khẩu sẽ tạo điềukiện cho đội ngũ cán bộ, nhân viên nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, khôngchỉ mang lại lợi nhuận, mà có thể tạo cơ hội kinh doanh mới để các chủ thể kinhdoanh nhập khẩu mở rộng thị trường, lĩnh vực kinh doanh của mình
1.1.3 Đặc thù của hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
- Ngoài văn bản Nhà nước về nhập khẩu còn có văn bản quy phạm pháp luật
của Bộ Quốc phòng
- Hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng thực hiện theo kế hoạch đã được phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
- Chủ hàng là cơ quan chủ trì lựa chọn đối tác nhập khẩu hàng quốc phòng
- Hợp đồng nhập khẩu hàng quốc phòng chỉ có hiệu lực khi hợp đồng đã được cấp có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng phê duyệt
- Nhập khẩu hàng quốc phòng không hạn chế thị trường nhập khẩu hàngquốc phòng (trừ trường hợp Bộ Quốc phòng có chỉ đạo cụ thể)
- Có nhiều chủ thể tham gia hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
- Hàng quốc phòng nhập khẩu là đối tượng không chịu thuế VAT, được xétmiễn thuế nhập khẩu
1.1.4 Một số yêu cầu đối với hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
Xuất phát từ đặc thù của đối tượng tiêu dùng đối với hàng quốc phòng, nhất làmục đích và yêu cầu sử dụng hàng quốc phòng, nên ngoài việc phải tuân thủ yêu cầuđối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nói chung, hoạt động nhập khẩu hàngquốc phòng còn có những yêu cầu nghiêm ngặt, chặt chẽ hơn
1.1.5 Trách nhiệm của doanh nghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng
- Phối hợp với chủ hàng có nhu cầu nhập khẩu hàng quốc phòng
- Phải cung cấp thông tin chính xác về thị trường, đối tác, nguồn hàng, giá
Trang 11cho chủ hàng và cơ quan chức năng.
- Xác định nhu cầu nhập khẩu hàng quốc phòng với các đối tác nước ngoàitrên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao, hoặc yêu cầu của chủ hàng, đềnghị đối tác chào hàng, đàm phán, thương thảo
- Ký hợp đồng ủy thác nhập khẩu hàng quốc phòng hoặc hợp đồng kinh tếvới chủ hàng; ký hợp đồng ngoại thương với đối tác nước ngoài
- Cùng với chủ hàng báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt hợp đồng ngoạithương và cấp phép nhập khẩu hàng quốc phòng
- Phối hợp với chủ hàng và cơ quan của Bộ Quốc phòng theo quy định, tổchức thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng quốc phòng
- Đảm bảo bí mật, an toàn, chấp hành đúng quy định của Bộ Quốc phòng, phápluật Việt Nam, cam kết của Việt Nam với các nước, phù hợp thông lệ quốc tế
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về an toàn tiền hàng thanh toán cho đốitác nước ngoài
- Kịp thời thanh lý hợp đồng, thanh quyết toán với chủ hàng theo quy định.Đồng thời báo cáo kết quả cho cơ quan chức năng
1.2 Quy trình hoạt động nhập khẩu hàng hóa
1.2.1 Phân loại hoạt động nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu được tiến hành bằng các hình thức như: Nhập khẩu
trực tiếp và Nhập khẩu gián tiếp.
1.2.2 Quy trình hoạt động nhập khẩu hàng hóa
- Nghiên cứu thị trường.
- Lập kế hoạch kinh doanh nhập khẩu
- Chào hàng, đàm phán, thương thảo và ký kết hợp đồng
- Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến quy trình hoạt động nhập khẩu
1.3.1 Yếu tố khách quan: Sự bất ổn về kinh tế, chính trị, an ninh thế giới và
khu vực; Chế độ, chính sách, luật pháp trong nước và quốc tế; Trình độ phát triểncủa nền kinh tế, năng lực kinh doanh của các chủ thể; Sự biến động thị trường trongnước, khu vực và thế giới; Hệ thống tài chính, ngân hàng; Tỷ giá hối đoái; Hệ thốngkết cấu hạ tầng giao thông, thương mại, thông tin
1.3.2 Yếu tố chủ quan: Chiến lược, uy tín và mạng lưới khách hàng; Bộ
máy quản lý và chất lượng nguồn nhân lực; Cơ sở vật chất; Nguồn lực tài chính
Trang 12Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU
HÀNG QUỐC PHÒNG Ở GAET 2.1 Khái quát về GAET
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của GAET được xây dựng trên cơ sở Điều 3 và Điều 4 Quyết
định số 3035/QĐ-BQP ngày 23/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Về việc
thành lập Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng.
2.1.3 Tình hình sản xuất, kinh doanh ở một số lĩnh vực ( 2009-2012)
Kết quả hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng của GAET góp phần tăngcường sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Những năm gần đây,chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh của GAET, trong đó có nhập khẩu phát triển theohướng vững chắc, nhất là tăng trưởng của hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
2.1.4 Mục tiêu nhập khẩu hàng quốc phòng
Mục tiêu tổng quát: Đa dạng hóa sản phẩm, đa phương hóa bạn hàng; đẩy
mạnh khai thác thế mạnh thị trường truyền thống với mở rộng thị trường tiềm năng;nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng, hoàn thành
chỉ tiêu kế hoạch 2011-2015, đáp ứng tốt nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng quân đội.
Mục tiêu cụ thể Với nhiệm vụ quốc phòng: bảo đảm an toàn, đúng tiến độ;
gắn mở rộng thị trường nước ngoài với mở rộng thị phần trong nước; phục vụ kịp thờinhiệm vụ quốc phòng, xây dựng quân đội trong mọi tình huống Với nhiệm vụ kinhtế: chủ động, tích cực tìm hiểu thị trường; tăng cường xúc tiến thương mại quân sự,chủ động tìm kiếm bạn hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ
2.2 Quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET
Bước 1: Nghiên cứu thị trường trong nước
Bước 2: Nghiên cứu thị trường nước ngoài
Trang 13Bước 3: Chào hàng, đàm phán, thương thảo hợp đồng
Bước 4: Ký kết hợp đồng: ngoại thương, ủy thác và hợp đồng kinh tế
Bước 5: Thẩm định và phê duyệt hợp đồng
Bước 6: Tiến hành các thủ tục nhập khẩu
Bước 7: Thực hiện hợp đồng
Bước 8: Thanh lý hợp đồng và báo cáo
Bước 9: Quản lý hồ sơ nhập khẩu
2.3 Đánh giá chung về quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
ở Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng
2.3.1 Thuận lợi khi thực hiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng
Thứ nhất, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc
phòng và Tổng Cục công nghiệp quốc phòng
Thứ hai, GAET coi trọng marketing, thực hiện hoạt động kinh doanh sao cho
vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, vừa phục vụ kịp thời nhiệm vụ quốc phòng
Thứ ba, GAET đã hoạch định chiến lược kinh doanh đúng với nhiều biện
pháp tích cực, có hiệu quả
Thứ tư, hầu hết các đàm phán, trao đổi, thống nhất nội dung hợp đồng giữa
GAET với các đối tác được tiến hành thông qua điện thoại, email, fax…
2.3.2 Khó khăn khi thực hiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng
- Chịu tác động của hai cơ chế: hành chính quân sự và thị trường; với hai hệthống quy luật: quy luật hoạt động quốc phòng và quy luật kinh tế thị trường
- GAET phải chấp hành luật và văn bản quy phạm pháp luật về thương mạiquân sự, quy định của Bộ Quốc phòng đối với đơn vị quân đội
- Đa số hàng quốc phòng nhập khẩu thông qua ủy thác, hoặc đấu thầu
- Hợp đồng ngoại thương chỉ có hiệu lực khi cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Điều kiện thương mại khắt khe, thời gian thực hiện hợp đồng dài, tiến hành
nhiều khâu nghiệp vụ phức tạp
2.3.3 Rủi ro khi thực hiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
Thực tiễn cho thấy, rủi ro xảy ra tuy không thường xuyên, nhưng khó tránhkhỏi bởi nhiều yếu tố khó lường Có các yếu tố điển hình: biến động kinh tế, chính
trị, pháp lý; biến động tỷ giá; trong thanh toán L/C; thiếu trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, hoặc kinh nghiệm thực tiễn hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
2.3.4 Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
Trang 14- Thời gian thực hiện hợp đồng ngoại thương kéo dài.
- Nội dung đàm phán hợp đồng nhập khẩu thường bao gồm 3 lĩnh vực chủyếu là: kỹ thuật, thương mại và pháp lý
- Với các hợp đồng nhập khẩu, GAET thường mua giá CIF, C&F hoặc CIP,theo đó thì việc thuê tàu, mua bảo hiểm thuộc quyền của đối tác nước ngoài
- Nguồn vốn thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng quốc phòng chậm vì phảiqua nhiều khâu trung gian, nhất là khi ngoại tệ khan hiếm, tỷ giá tăng
- Giải quyết thủ tục nhập khẩu hàng quốc phòng còn nhiều bất cập như: thủtục thuế, quy định thông quan đối với hàng phục vụ quốc phòng
* Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế:
Có nhiều nguyên nhân như: Đàm phán, ký kết hợp đồng còn bất cập, thiếuchế tài, nhất là am hiểu luật quốc tế; Cơ sở pháp lý quản lý hoạt động nhập khẩuhàng quốc phòng lạc hậu, chưa cập nhật với tiến trình hội nhập quốc tế; Chỉ tiêu kỹchiến thuật đối với hàng quốc phòng nhập khẩu chưa đồng bộ, nên việc áp dụng rấtkhó khăn; Do nhận thức chưa đúng về pháp luật thương mại quốc tế, dẫn đến mâuthuẫn giữa các nội dung khi ký kết hợp đồng, gây khó khăn khi thực hiện hợp đồng
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG QUỐC
PHÒNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN Ở GAET 3.1 Phương hướng, yêu cầu, nguyên tắc hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET
3.1.1 Phương hướng phát triển hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng của GAET
Trang 15Xây dựng GAET phát triển bền vững trở thành tập đoàn kinh tế - quốc phòng
mạnh với chức năng đa ngành, đa lĩnh vực Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ kinh tế với
nhiệm vụ quốc phòng, luôn quán triệt và thực hiện tốt phương châm an toàn, kịp
thời, đủ về số lượng, đúng về chủng loại, chất lượng tốt.
3.1.2 Yêu cầu hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng
Để bảo đảm cho GAET phát triển bền vững, thì việc hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là nhu cầu nội tại của chính doanh nghiệp này
3.1.3 Nguyên tắc hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng
Thứ nhất, phải trên cơ sở pháp luật của Nhà nước, văn bản quy phạm pháp
luật của Bộ Quốc phòng, luật pháp và thông lệ quốc tế
Thứ hai, không ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng, bảo
đảm cho GAET hoàn thành chức năng, nhiệm vụ
Thứ ba, góp phần đổi mới và hoàn thiện quy trình hoạt động thương mại
quân sự nói chung, hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng nói riêng
Thứ tư, góp phần làm cho hoạt động này tiến hành nhanh, thuận tiện, kịp
thời, an toàn và hiệu quả hơn
Thứ năm, phải trên cơ sở kế thừa, phát huy kinh nghiệm hoạt động nhập
khẩu hàng quốc phòng trong lịch sử xây dựng và phát triển của GAET
Thứ sáu, phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng, phát
huy vai trò của mọi tổ chức, mọi lực lượng
3.2 Giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET
3.2.1 Nhóm giải pháp từ phía GAET
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi cá nhân
là thành viên của GAET
- Nâng cao năng lực, trình độ của cơ quan quản lý và đội ngũ cán bộ tiếnhành hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
- Chủ động nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác theo hướng khai thác hiệuquả thị trường và bạn hàng truyền thống, mở rộng thị trường và bạn hàng tiềm năng
3.2.2 Nhóm giải pháp phối hợp giữa GAET với cơ quan quản lý
- Xây dựng hệ thống luật và các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt độngthương mại quân sự và hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
- Nâng cao vai trò quản lý vĩ mô và năng lực của bộ máy quản lý nhà nướcđối với hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
Trang 16- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động thương mại quân sựcũng như hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng.
3.3 Một số kiến nghị
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và cơ quan quản lý vĩ mô
- Nâng cấp dịch vụ công trực tuyến, nhất là dịch vụ thuế và hải quan
- Phê duyệt danh mục hàng quốc phòng nhập khẩu được miễn, giảm thuế, ưutiên thủ tục hải quan trong Kế hoạch nhập khẩu hàng quốc phòng hàng năm
- Nghiên cứu, điều chỉnh tăng phí ủy thác nhập khẩu hàng quốc phòng
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Quốc phòng và bộ ngành liên quan
- Khi trình duyệt Kế hoạch nhập khẩu hàng quốc phòng, Bộ Quốc phòng báocáo danh mục hàng hóa được miễn, giảm thuế, hay ưu tiên thủ tục hải quan
- Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với cơ quan thuế, hải quan sớm ban hànhmột số văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quyền hạn của các cơ quan này
- Cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về hoạt động thương mại quân sự,nhất là thông tin dự báo nhu cầu nhập khẩu hàng quốc phòng
- Bổ sung, sửa đổi các quy định về xuất nhập khẩu hàng quốc phòng
3.3.3 Kiến nghị với Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và GAET
- Tổng cục Công nghiệp quốc phòng giao quyền tự chủ nhiều hơn cho GAETtrong hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
- GAET cần có chiến lược quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thựchiện nhiệm vụ nhập khẩu hàng quốc phòng không chỉ về mọi mặt
- GAET cần xây dựng chiến lược nhập khẩu hàng quốc phòng dài hạn, trunghạn và ngắn hạn theo phương châm đa phương hóa đối tác, đa dạng hóa nguồn hàng
KẾT LUẬN
Nhập khẩu hàng quốc phòng là nội dung quan trọng của hoạt động thươngmại quân sự Hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó quy trìnhhoạt động nhập khẩu có ý nghĩa quyết định Song quy trình này còn nhiều bất cập.Khắc phục sự bất cập này là quá trình đổi mới, hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàngquốc phòng Để hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng, mộtmặt, phải trên cơ sở nguyên tắc; mặt khác, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp,trong đó có nhóm giải pháp thuộc phạm vi thẩm quyền của GAET, có nhóm giảipháp cần sự phối hợp với cơ quan quản lý Chỉ khi hiện thực hóa những giải phápnày thì quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET mới có thể đượchoàn thiện
Trang 17TRẦN THỊ MINH TUYẾT
HOµN THIÖN QUY TR×NH HO¹T §éNG NHËP KHÈU
Kü THUËT C¤NG NGHIÖP QUèC PHßNG (GAET)
TæNG CôC CNQP, Bé QUèC PHßNG
Ngêi híng dÉn khoa häc:
PGS.TS HOµNG V¡N C¦êNG
hµ Néi, N¨m 2013
Trang 18PHẦN MỞ ĐẦU
1
Sự cần thiết của đề tài
Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET) là doanh
nghiệp quân đội thuộc loại hình doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng Đây là doanh
nghiệp hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó, hoạt động nhập khẩu hàng quốcphòng không chỉ là nhiệm vụ chính trị quan trọng của GAET, mà còn là một trongnhững hoạt động thương mại quân sự chủ yếu của các doanh nghiệp quân đội cóchức năng nhập khẩu Bên cạnh ý nghĩa chính trị, quốc phòng, an ninh mà GAETđóng góp cho đất nước, cho quân đội từ hoạt động nhập khẩu là những đóng gópkhông thể đo được bằng các con số cụ thể, hay đánh giá bằng các phương pháp kinh
tế thông thường, thì hoạt động xuất nhập khẩu đang mang lại đóng góp về tài chínhchiếm 50% doanh thu của GAET, trong đó riêng hoạt động nhập khẩu hàng quốcphòng chiếm 30%
Với chức năng vừa phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và phát triển kinh
tế, xã hội thời bình, vừa sẵn sàng phục vụ thời chiến, GAET luôn coi trọng kết hợpnâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tronghoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng, góp phần xây dựng quân đội theo hướngchính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc Là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của GAET, hiệu quảkinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh của hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ởGAET bị chi phối, phụ thuộc bởi rất nhiều yếu tố cả thị trường trong và ngoài nước,
cả yếu tố nội lực, cùng nhiều yếu tố tác động khác như: tình hình chính trị, xã hội vàchính sách của Việt Nam, các nước trong khu vực và thế giới Thực tế cho thấy,trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chứcthương mại thế giới (WTO) và việc nước ta phải từng bước thực hiện nghiêm túccác cam kết của tổ chức này, thì hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng của GAETngay từ thời gian đầu đã phải đối mặt với thách thức, khó khăn nhiều hơn, phải chấpnhận cạnh tranh với mức độ quyết liệt, gay gắt hơn Hội nhập kinh tế quốc tế vừatạo ra nhiều cơ hội, thuận lợi lớn, nhưng cũng đặt ra không ít trở ngại, khó khăn chohoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng đòi hỏi các cơ quan làm công tác nhập khẩuphải có những thay đổi ứng phó cho phù hợp Những thay đổi đó đã có tác động đếnkết quả hoạt động nhập khẩu là chức năng, nhiệm vụ chính của GAET mấy năm gần
Trang 19đây tăng chậm Tình trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan vàkhách quan, nhưng trong đó quy trình tổ chức và quản lý hoạt động nhập khẩu hàngquốc phòng chưa được đổi mới, còn nhiều bất cập ở nhiều khâu, thuộc trách nhiệmcủa nhiều cấp, dẫn đến nhiều hoạt động triển khai không kịp thời, không được kiểmsoát chặt chẽ Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động của GAET, trước hết là kếtquả hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng, thì quy trình hoạt động nhập khẩu hàngquốc phòng cần được đổi mới, hoàn thiện Với ý nghĩa như vậy, tác giả lựa chọn
vấn đề: Hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng tại Tổng
Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET) - Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Bộ quốc phòng làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2 Mục tiêu của đề tài
* Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở khoa học của việc
hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng của GAET nhằm gópphần đẩy mạnh nhập khẩu hàng quốc phòng theo hướng tăng hiệu quả, đúng tiến
độ, đúng chủng loại, chất lượng tốt, đủ về số lượng, phục vụ kịp thời nhiệm vụchính trị của đơn vị kinh tế quốc phòng
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàngquốc phòng ở GAET trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ Quy trình nhập khẩu hàng quốcphòng bao gồm từ Nghiên cứu thị trường; Đàm phán, thương thảo hợp đồng; Ký kếthợp đồng ngoại thương, Ký kết hợp đồng ủy thác nhập khẩu, Hợp đồng kinh tế;Thẩm định và phê duyệt hợp đồng; Tiến hành các thủ tục nhập khẩu; Thanh lý hợpđồng và báo cáo; Quản lý hồ sơ nhập khẩu ở GAET
4 Phạm vi nghiên cứu
* Về khách thể nghiên cứu: Hoạt động nhập khẩu hàng hóa, cụ thể là nhập
khẩu hàng quốc phòng phục vụ nhiệm vụ quân sự của quân đội, bao gồm:
Trang 20- Hàng chuyên dùng quân sự: Vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, đạn dược,vật liệu nổ; Công nghệ, dây chuyền công nghệ chế tạo, sửa chữa, cải tiến vũ khí,trang bị kỹ thuật quân sự; Vật tư, phụ tùng chuyên dùng quân sự để bảo đảm hậucần, bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm sản xuất công nghiệp quốc phòng cho quân đội; Tàiliệu chuyên dùng quân sự;
- Hàng lưỡng dụng: trang thiết bị kỹ thuật, phụ tùng, vật tư, tài liệu kỹ thuật
và hàng quốc phòng khác mang tính phổ thông, lưỡng dụng phục vụ trực tiếp chonhiệm vụ quốc phòng và có thể sử dụng cả trong lĩnh vực kinh tế xã hội
* Về thời gian: khảo sát, đánh giá thực trạng quy trình nhập khẩu hàng quốc
phòng ở GAET từ năm 2009 đến năm 2011;
* Về không gian: Vì Quy trình nhập khẩu hàng Quốc phòng không chỉ do
một mình GAET tổ chức thực hiện mà còn do Bộ Quốc phòng và nhiều cơ quanchuyên biệt khác cùng tham gia và thực hiện, trong đó GAET chỉ là đơn vị chịutrách nhiệm thực hiện trực tiếp trên cơ sở các cơ quan tham gia đã hoàn thànhnhiệm vụ và chuyển giao cho GAET thực hiện Do vậy, đề tài này chỉ nhiên cứunhững phần công việc trong Quy trình do GAET thực hiện chứ không thể nghiêncứu toàn bộ Quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng
5 Phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp phương phápnhư: phân tích - tổng hợp; thống kê - so sánh; khảo sát thực tiễn và phương phápchuyên gia Để đánh giá khách quan, toàn diện, đúng thực trạng thực hiện quy trìnhhoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET, tác giả đã tiến hành đồng thờinghiên cứu tài liệu, báo cáo tổng kết định kỳ (hàng năm trong 5 năm gần đây) củalãnh đạo, chỉ huy GAET và các cơ quan quản lý hoạt động nhập khẩu hàng quốcphòng trực thuộc Bộ Quốc phòng với tiến hành khảo sát thực tế ở một số doanhnghiệp quân đội nhập khẩu hàng quốc phòng đặc thù như: Vaxuco, Viettel… Ngoài
ra, tác giả tham gia tổ chức tọa đàm về hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng vàthực trạng thực hiện quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET với
sự tham gia của lãnh đạo, chỉ huy các cấp của GAET, của Tổng Cục công nghiệpquốc phòng; lãnh đạo, chỉ huy một số doanh nghiệp quân đội và cơ quan chiến lượctrực thuộc Bộ Quốc phòng như: Cục Kinh tế, Cục Đối ngoại, Cục Quân lực, Cục Kếhoạch và Đầu tư
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tài
liệu, báo cáo của GAET từ các cơ quan, gồm: Văn thư lưu trữ, Phòng tài chính kế
Trang 21toán, Phòng kinh doanh, phòng kế hoạch, phòng tổ chức Nguồn dữ liệu thu thập từcác cơ quan của Bộ Quốc phòng như: Cục Kế hoạch và Đầu tư, Cục Tài chính, Cụckinh tế, Cục đối ngoại, Cục bảo vệ an ninh… Các thông tin trích dẫn trong luận vănđược ghi chú chi tiết trong mục tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng kết quả nghiên cứu của một số công trìnhkhoa học liên quan đã công bố gần đây để làm phong phú và sâu sắc hơn cơ sở lýluận và thực tiễn của đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Đối với GAET: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ trực tiếp góp phần nângcao hiệu quả hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET;
- Đối với Bộ Quốc phòng và một số cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạtđộng nhập khẩu hàng quốc phòng: giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàngquốc phòng ở GAET sẽ cung cấp cơ sở khoa học để Bộ Quốc phòng và các cơ quanquản lý nhà nước đối với hoạt động này tiến hành bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện cơchế, chính sách nhập khẩu hàng hàng quốc phòng ở các doanh nghiệp quân đội thờigian tới
7 Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 Chương với 9 tiết, trong đó:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động nhập khẩu và quy trình hoạt
động nhập khẩu hàng quốc phòng
Chương 2: Thực trạng thực hiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET
Chương 3: Hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng quốc phòng và giải pháp thực
hiện ở GAET
Trang 22Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
NHẬP KHẨU VÀ QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
HÀNG QUỐC PHÒNG
1.1 Hàng quốc phòng và sự cần thiết phải nhập khẩu hàng quốc phòng
1.1.1 Khái niệm hàng quốc phòng và nhập khẩu hàng quốc phòng
Hàng quốc phòng là một loại hàng hóa đặc biệt, được sử dụng cho mục đíchquân sự, quốc phòng, trong đó có loại bị cấm sản xuất trong nước, cấm sử dụng,tàng trữ trái phép, cấm nhập khẩu, cấm lưu thông trên thị trường Có thể hiểu, hàngquốc phòng là loại hàng hóa “đảm bảo cho quân đội thực hiện các nhiệm vụ quân
sự, quốc phòng gồm: vũ khí, trang bị kỹ thuật, các dây chuyền công nghệ, sản phẩmcông nghệ, dịch vụ, vật tư và các hàng hóa khác” Hàng quốc phòng được chia làm
2 loại: hàng chuyên dùng quân sự và hàng lưỡng dụng Trong đó: “hàng chuyên
dùng quân sự là hàng quốc phòng đặc biệt bao gồm vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ,
trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ, vật tư chuyên dùng quốc phòng”; “hàng
lưỡng dụng là hàng quốc phòng, gồm trang thiết bị kỹ thuật, dịch vụ, vật tư, hàng
hóa, có thể sử dụng cho quốc phòng và cả trong lĩnh vực kinh tế - xã hội”
Nhập khẩu hàng quốc phòng vừa là nội dung quan trọng của hoạt độngthương mại quân sự nói riêng, vừa là nội dung của hoạt động ngoại thương nóichung Do đó nội hàm của khái niệm nhập khẩu hàng quốc phòng cũng bao hàmmột số nội dung của khái niệm nhập khẩu như: cùng là hoạt động mua hàng hóa từnước ngoài để phục vụ cho tiêu dùng trong nước; cũng phải tuân thủ luật pháp quốcgia, luật pháp quốc tế Tuy nhiên, đối tượng tiêu dùng hàng quốc phòng phải làquân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam; nguồn hàng quốc phòng rất
hạn chế, thậm chí cấm công khai vì bí mật quốc gia hay bí mật quân sự Theo Quy
chế xuất khẩu, nhập khẩu, mua sắm hàng quốc phòng (Số 84/2007/QĐ-BQP) thì
nhập khẩu hàng quốc phòng là “nhập khẩu trực tiếp hàng quốc phòng để phục vụnhiệm vụ quân sự của quân đội, bằng các nguồn ngân sách Nhà nước giao cho BộQuốc phòng quản lý” Theo Quy chế này, mặt hàng quốc phòng được nhập khẩu sẽ
là: Thứ nhất, hàng chuyên dùng quân sự là hàng quốc phòng đặc biệt gồm có “a Vũ
Trang 23khí, trang bị kỹ thuật quân sự, đạn dược, vật liệu nổ; b Công nghệ, dây chuyềncông nghệ chế tạo, sửa chữa, cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; c Vật tư,phụ tùng chuyên dùng quân sự để bảo đảm hậu cần, bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm sảnxuất công nghiệp quốc phòng cho quân đội; d Tài liệu chuyên dùng quân sự” (xem
Bảng 1.1 Danh mục hàng quốc phòng đặc biệt) Thứ hai, hàng lưỡng dụng là hàng
quốc phòng gồm có “Các trang thiết bị kỹ thuật, phụ tùng, vật tư, tài liệu kỹ thuật vàhàng quốc phòng khác mang tính phổ thông, lưỡng dụng phục vụ trực tiếp cho cácnhiệm vụ quốc phòng và có thể sử dụng cả trong lĩnh vực kinh tế xã hội”
Bảng 1.1 Danh mục hàng quốc phòng đặc biệt
3 Máy bay chiến đấu, máy bay trực thăng vũ trang Đồng bộ
4 Tên lửa các loại và nguyên, nhiên liệu tên lửa
5 Đạn, bom, mìn, lựu đạn, thủ pháo, thủy lôi, ngư lôi
6 Tàu chiến, tàu có gắn vũ khí các loại Đồng bộ
7 Xe tăng, xe thiết giáp, xe đặc chủng có gắn vũ khí Đồng bộ
8 Súng máy, súng chiến đấu bộ binh, pháo các loại
9 Thuốc nổ quân sự, hỏa cụ phục vụ chiến đấu
10 Nguồn phóng xạ
11 Hàng hóa dễ cháy, nổ, nguy hiểm
12 Dây chuyền công nghệ sản xuất, sửa chữa vũ khí đặc biệt Đồng bộ
13 Theo yêu cầu nhiệm vụ Thủ trưởng Bộ Quốc phòng giao
Nguồn: Cục Kế hoạch và đầu tư/ Bộ Quốc phòng
1.1.2 Vai trò nhập khẩu hàng quốc phòng
Do sự khác biệt về điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên, trình độ phát triểncủa các nền kinh tế, mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, lợi thế so sánh của mỗinước…, mà không một quốc gia nào có thể sản xuất để tự đáp ứng đầy đủ mọi nhucầu tiêu dùng trong nước Nhập khẩu đã trở thành hoạt động thường xuyên, quantrọng của mọi quốc gia, mọi nền kinh tế Nhập khẩu tác động trực tiếp, thậm chí có
ý nghĩa quyết định đến sản xuất, đời sống trong nước Nhập khẩu vừa thể hiện mốiliên hệ chặt chẽ giữa các nền kinh tế của các quốc gia với nền kinh tế thế giới; vừaphản ánh sự phụ thuộc giữa các nền kinh tế với nhau trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế sâu rộng như hiện nay Ngoài mục tiêu lợi nhuận, nhập khẩu còn có nhiều
Trang 24mục đích khác, như: bổ sung các loại hàng hoá, dịch vụ mà trong nước chưa có khảnăng sản xuất, không thể sản xuất; hay trong nước đã sản xuất nhưng không đápứng nhu cầu; hoặc thay thế các loại hàng hoá, dịch vụ mà nếu tiến hành sản xuấttrong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu Với nước ta, do phải chịu hậu quả nặng
nề của nhiều năm chiến tranh, lại đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa, nên còn là nước có thu nhập thấp Vì thế, hoạt động nhập khẩu có vaitrò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội nước ta Vai trò ấy được thể hiện ởcấp quốc gia và cấp độ doanh nghiệp trên mấy vấn đề sau:
- Hoạt động nhập khẩu sẽ làm cho thị trường hàng hoá, dịch vụ trong nướcphong phú, trên cơ sở đó mở rộng khả năng tiêu dùng, cho phép tiêu dùng mộtlượng hàng hoá lớn hơn khả năng sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, góp phần ổn định kinh tế, xã hội, tạo điều kiện để đất nước phát triểnbền vững hơn
- Thông qua nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, tiết kiệm nguồn lực đầu tư trongnước, nhờ tận dụng năng lực sản xuất của quốc gia khác đối với loại hàng hóa, dịch
vụ mà nước ta chưa có khả năng sản xuất, không thể sản xuất, hoặc sản xuất đượcnhưng không có lợi bằng nhập khẩu
- Đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu sẽ là động lực thúc đẩy doanh nghiệp trongnước thường xuyên đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội từ hoạt động sảnxuất, kinh doanh, đặc biệt là nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và dịch vụ
để nâng cao khả năng cạnh tranh
- Nhập khẩu là cầu nối để tiến hành hoạt động chuyển giao công nghệ, kỹthuật hiện đại từ nước ngoài, nhằm thay thế các dây chuyền công nghệ, máy móc,thiết bị kỹ thuật lạc hậu đang tồn tại ở nước ta, góp phần đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hiện đại hoá công nghiệp quốc phòng, trên cơ sở
đó tạo ra bước phát triển nhảy vọt của sản xuất xã hội để nước ta hội nhập nhanhvào nền kinh tế thế giới và hội nhập quốc tế thành công trong đó lĩnh vực quốcphòng là mắt xích đặc biệt quan trọng
- Nhập khẩu góp phần lành mạnh hoá thị trường trong nước và nước ngoàibằng việc xoá bỏ tình trạng độc quyền, tăng tính cạnh tranh Trong lĩnh vực sảnxuất công nghiệp quốc phòng thì lựa chọn nguyên liệu, vật tư chất lượng cao, giáthành phù hợp, công nghệ tiên tiến là một trong những yếu tố quyết định chất lượng
Trang 25giá thành sản phẩm đầu ra, cạnh tranh được với sản phẩm công nghiệp quốc phòngcủa các nước trong khu vực theo đó sẽ hạn chế được tình trạng độc quyền, thịtrường sẽ từng bước được lành mạnh hóa
- Với quá trình toàn cầu hoá, liên kết kinh tế diễn ra ngày càng nhanh và sâurộng, hoạt động nhập khẩu càng được quan tâm hơn giữ vai trò quan trọng trongnền kinh tế, đặc biệt hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng được Bộ Quốc phòng
và các bộ ngành đặt vào vị trí trọng yếu, có vai trò then chốt trong phát triển nềncông nghiệp quốc phòng của quốc gia
- Dưới góc độ doanh nghiệp, tham gia vào hoạt động nhập khẩu sẽ tạo điềukiện cho đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp tiến hành hoạt động nhập khẩu nângcao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng giao dịch, đàm phán trongquan hệ quốc tế, để trên cơ sở đó tích lũy kinh nghiệm và thực hiện tốt hơn côngviệc của mình ở những cương vị khác Nếu thực hiện thành công, có hiệu quả hoạtđộng nhập khẩu một lĩnh vực nào đó, không chỉ mang lại lợi nhuận, mà có thể tạo
cơ hội kinh doanh mới để các chủ thể kinh doanh nhập khẩu mở rộng thị trường,lĩnh vực kinh doanh của mình
1.1.3 Đặc thù của hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
Một là, ngoài văn bản Nhà nước về nhập khẩu như: Luật dân sự 2005, Luật
thương mại 2005 và Nghị định liên quan, Luật và Nghị định liên quan về thuế, LuậtHải quan và Nghị định liên quan, Luật đấu thầu (sửa đổi, bổ sung năm 2009) vàNghị định liên quan; còn có văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Quốc phòng như:Quy chế 84/2007/QĐ-BQP xuất khẩu, nhập khẩu, mua sắm hàng quốc phòng;Thông tư 71/2009/TT-BQP (9/2009), Thông tư 75/2010/TT-BQP (6/2010), Thông
tư 140/2011/TT-BQP (8/2011), Thông tư 83/2013/TT-BQP (7/2013) cùng một sốvăn bản, hướng dẫn, quy định của Bộ Quốc phòng và cơ quan về nhập khẩu hàngquốc phòng
Hai là, hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng thực hiện theo kế hoạch đã
được phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Với đặcđiểm này thì doanh nghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng chủ động về giá sản phẩm,không phải lo đầu ra vì nhập khẩu theo hợp đồng ủy thác nên ít rủi ro, mạo hiểmhơn về tài chính
Ba là, chủ hàng là cơ quan chủ trì lựa chọn đối tác nhập khẩu hàng quốc
Trang 26phòng (tùy theo từng mặt hàng quốc phòng cần nhập khẩu mà tổ chức đấu thầuquốc tế) Như vậy, doanh nghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng Việt Nam có thể phảicạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.
Bốn là, hợp đồng nhập khẩu hàng quốc phòng chỉ có hiệu lực khi hợp đồng
đã được cấp có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng phê duyệt Nếu áp dụng hình thứcthông tin điện tử, thương mại điện tử trong ký kết hợp đồng phải được cấp có thẩmquyền chấp thuận
Năm là, nhập khẩu hàng quốc phòng đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ
quốc phòng là mục tiêu chủ yếu, nên không hạn chế thị trường nhập khẩu hàngquốc phòng (trừ trường hợp Bộ Quốc phòng có chỉ đạo cụ thể)
Sáu là, có nhiều chủ thể tham gia hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng.
Ngoài chủ hàng, các doanh nghiệp có chức năng nhập khẩu hàng quốc phòng trong
và ngoài quân đội, trong nước và nước ngoài, còn có cơ quan của Bộ Quốc phòng,hoặc Văn phòng Chính phủ
Bảy là, hàng quốc phòng nhập khẩu là đối tượng không chịu thuế VAT, được
xét miễn thuế nhập khẩu Ngoài ra, tùy theo mặt hàng quốc phòng và yêu cầu nhiệm
vụ mà áp dụng hình thức hải quan đặc biệt
Từ các đặc điểm trên đây cho thấy, có nhiều yếu tố ảnh trực tiếp đến quytrình nhập khẩu hàng quốc phòng Trong nhiều trường hợp, nó đã hạn chế hiệu quả,thậm chí làm mất cơ hội của đất nước nhập khẩu
1.1.4 Một số yêu cầu đối với hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
Xuất phát từ đặc thù của đối tượng tiêu dùng đối với hàng quốc phòng, nhất làmục đích và yêu cầu sử dụng hàng quốc phòng, nên ngoài việc phải tuân thủ yêu cầuđối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nói chung, hoạt động nhập khẩu hàngquốc phòng còn có những yêu cầu nghiêm ngặt, chặt chẽ hơn Cụ thể yêu cầu đó gồm:
- Hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng thực hiện theo kế hoạch và dự toán
đã được Chính phủ hoặc Bộ Quốc phòng phê duyệt;
- Tuân thủ pháp luật, các quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, quản lýchặt chẽ quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng;
- Doanh nghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng phải có giấy phép của Bộ Quốcphòng cho từng hợp đồng nhập khẩu hàng quốc phòng Một số mặt hàng quy địnhnước sản xuất phải cung cấp giấy phép xuất khẩu cho người sử dụng
Trang 27- Một số trường hợp nếu là hàng hoá đặc biệt phải có chứng chỉ người sửdụng cuối cùng hoặc văn bản xác nhận tư cách giao dịch của doanh nghiệp để thựchiện nhập khẩu hàng quốc phòng.
- Không nhập khẩu hàng không rõ xuất xứ, hàng gian lận thương mại;
- Không nhập khẩu mặt hàng do công nghiệp quốc phòng trong nước đã sảnxuất đáp ứng yêu cầu sử dụng cho mục đích quốc phòng;
- Đối với những lô hàng cần được bảo đảm an toàn cao hoặc có yêu cầu bảomật đặc biệt (Tối mật, tuyệt mật) thì được áp dụng hải quan đặc biệt, miễn kiểm trathực tế và miễn hải quan theo luật hải quan hiện hành
- Bảo đảm giữ bí mật quân sự, bí mật quốc gia, bảo mật thông tin về hoạtđộng nhập khẩu hàng quốc phòng, bảo đảm an toàn và hiệu quả;
- Phải bảo đảm kịp thời yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
Một số nội dung của các yêu cầu trên phần nào phản ánh tính đặc thù củahoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng Những đặc thù vừa là thuận lợi, vừa là khókhăn của hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng Ví dụ, hoạt động nhập khẩu hàngquốc phòng tiến hành theo kế hoạch, nghĩa là doanh nghiệp nhập khẩu chủ động vềgiá sản phẩm, không phải lo đầu ra vì nhập khẩu theo hợp đồng ủy thác nên ít rủi ro,mạo hiểm hơn, đó là thuận lợi; ngược lại, vì yêu cầu bảo mật cao (liên quan đến bímật quân sự, bí mật quốc gia), phải bảo đảm phục vụ kịp thời nhiệm vụ quốc phòng,quá trình thực hiện liên quan tới nhiều cấp phê duyệt, đó là khó khăn của doanhnghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng
1.1.5 Trách nhiệm của doanh nghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng
Từ yêu cầu đối với hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng, trách nhiệm củadoanh nghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng như sau:
Thứ nhất, phối hợp với chủ hàng là đơn vị quân đội có nhu cầu nhập khẩu
hàng quốc phòng theo nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao và cơ quan chức năng nghiêncứu, khảo sát thị trường hàng quốc phòng, khả năng đối tác, giá cả và các điều kiện
để tiến hành nhập khẩu hàng quốc phòng;
Thứ hai, phải cung cấp thông tin chính xác về thị trường, đối tác, nguồn
hàng, giá cho chủ hàng và cơ quan chức năng làm căn cứ xây dựng kế hoạch nhậpkhẩu cũng như triển khai đơn hàng của chủ hàng
Trang 28Thứ ba, xác định nhu cầu nhập khẩu hàng quốc phòng với các đối tác nước
ngoài trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ Bộ Quốc phòng giao, hoặc yêu cầu của chủ hàng,
đề nghị đối tác chào hàng, đàm phán, thương thảo
Thứ tư, ký hợp đồng ủy thác nhập khẩu hàng quốc phòng hoặc hợp đồng
kinh tế với chủ hàng; ký hợp đồng ngoại thương với đối tác nước ngoài;
Thứ năm, cùng với chủ hàng báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt hợp đồng
ngoại thương và cấp phép nhập khẩu hàng quốc phòng;
Thứ sáu, phối hợp với chủ hàng và cơ quan của Bộ Quốc phòng theo quy
định, tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng quốc phòng đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng, hoặc yêu cầu ủy thác của chủ hàng về chủng loại,quy cách, số lượng, chất lượng, đồng bộ và tiến độ thực hiện;
Thứ bảy, đảm bảo bí mật, an toàn, chấp hành đúng quy định của Bộ Quốc phòng,
pháp luật Việt Nam, cam kết của Việt Nam với các nước, phù hợp thông lệ quốc tế;
Thứ tám, chịu trách nhiệm trước pháp luật về an toàn tiền hàng thanh toán
cho đối tác nước ngoài Được hưởng phí nhập khẩu hàng quốc phòng do cấp cóthẩm quyền quyết định và tính vào giá thành hàng nhập
Thứ chín, kịp thời thanh lý hợp đồng, thanh quyết toán với chủ hàng theo
quy định Đồng thời báo cáo kết quả và tạo điều kiện cho cơ quan chức năng giámsát, kiểm tra hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng của doanh nghiệp mình
1.2 Quy trình hoạt động nhập khẩu hàng hóa
1.2.1 Phân loại hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương Hoạt động nàydiễn ra ở cả trong và ngoài lãnh thổ quốc gia Đó là hoạt động mua hàng hóa haydịch vụ nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái sản xuấttrong nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc gia, phù hợp với luật pháp và thông lệquốc tế Theo lý luận thương mại quốc tế, thì nhập khẩu là việc quốc gia này muahàng hóa hay dịch vụ của quốc gia khác phục vụ nhu cầu tiêu dùng của quốc gia mình
Nói cách khác, hoạt động xuất khẩu của nước này sẽ là hoạt động nhập khẩu của nước
kia và ngược lại, nó là một mặt không thể tách rời của nghiệp vụ ngoại thương.
Từ khái niệm trên cũng như từ thực tế tiến hành hoạt động nhập khẩu củadoanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu cho thấy, hoạt động này có mấy đặc điểm cơbản sau:
Trang 29- Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh mang tính quốc tế Là hoạt độngmang tính quốc tế, nên hoạt động nhập khẩu diễn ra ở cả trong và ngoài lãnh thổquốc gia, vừa phải tuân thủ luật pháp của cả quốc gia nhập khẩu và quốc gia xuấtkhẩu cũng như luật pháp và thông lệ quốc tế.
- Nhập khẩu là hoạt động rất phức tạp Vì tham gia vào hoạt động nhập khẩuđối với một loại hàng hóa hay dịch vụ nhất định thường có nhiều chủ thể với cácquốc tịch khác nhau (hai hay nhiều quốc gia) Vì thế khi xảy ra tranh chấp sẽ rất khógiải quyết, thường kéo dài, nhiều tốn kém Với đặc điểm này các doanh nghiệp nhậpkhẩu cần thận trọng ngay từ khâu nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác, bạn hàng
- Thị trường nhập khẩu rất đa dạng, vì mỗi quốc gia có lợi thế nhất định vềsản xuất một loại hay một số loại hàng hoá, dịch vụ Từ đặc điểm này doanh nghiệpnhập khẩu có cơ hội lựa chọn đối tác phù hợp để đem lại lợi nhuận cao nhất chodoanh nghiệp mình
- Nhu cầu nhập khẩu phụ thuộc vào khả năng tài chính và tiêu dùng trongnước, bao gồm cả nhu cầu tiêu dùng ở phạm vi quốc gia và tiêu dùng cá nhân.Ngoài ra, nhu cầu nhập khẩu còn phụ thuộc vào khả năng sản xuất thay thế hàngnhập khẩu
- Hiệu quả kinh tế của hoạt động nhập khẩu phụ thuộc chủ yếu vào quy trìnhhoạt động nhập khẩu Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với các doanh nghiệp kinhdoanh nhập khẩu phải thường xuyên đổi mới, hoàn thiện quy trình hoạt động nhậpkhẩu của mình
Để tiến hành hoạt động nhập khẩu, các chủ thể kinh doanh nhập khẩu có thểtiến hành bằng các hình thức khác nhau Thực tế hoạt động ngoai thương hiện naycho thấy, khi tham gia hoạt động nhập khẩu, các chủ thể kinh doanh nhập khẩuthường sử dụng hai hình thức nhập khẩu chủ yếu là: nhập khẩu trực tiếp và nhậpkhẩu gián tiếp (hay còn gọi là nhập khẩu uỷ thác) Nhập khẩu hàng quốc phòngthường được tiến hành dưới hình thức nhập khẩu ủy thác, theo đó một số doanhnghiệp quân đội có chức năng nhập khẩu hàng quốc phòng, là các đơn vị ký hợpđồng ủy thác nhập khẩu hàng quốc phòng cho chủ hàng, chủ dự án (gọi chung làchủ hàng) là các đơn vị quân đội
Ở nước ta hiện nay, hình thức nhập khẩu trực tiếp được hiểu là việc các chủthể kinh doanh nhập khẩu, bằng tư cách pháp nhân và chi phí của mình, trực tiếptiến hành hoạt động nhập khẩu để nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài vào
Trang 30Việt Nam, sau đó tiến hành bán hàng hoá, dịch vụ ấy cho khách hàng trong nước cónhu cầu để thu hồi vốn và lợi nhuận Đối với các chủ thể kinh doanh nhập khẩu, hìnhthức nhập khẩu trực tiếp vừa có ưu điểm, nhưng cũng chứa đựng không ít hạn chế, rủi
ro Thứ nhất, về ưu điểm: giảm chi phí trung gian; hạn chế nhiều sai sót; lợi nhuận bán
hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu lớn hơn chi phí uỷ thác nhập khẩu; trực tiếp tiếp cận thịtrường (cả thị trường đầu vào và đầu ra) nên chủ động về nguồn hàng và khách hàng
tiêu dùng, vì thế mà hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn Thứ hai, về hạn chế, rủi ro, các chủ
thể kinh doanh nhập khẩu phải có tiềm lực tài chính mạnh, đội ngũ cán bộ tham giahoạt động thương mại quốc tế có nghiệp vụ ngoại thương giỏi; nắm chắc pháp luậtquốc gia và quốc tế; phải có thông tin chính xác về thị trường và đối tác, nếu không rất
dễ bị ép giá; thậm chí sau khi nhập khẩu, hàng hóa, dịch vụ không có khách hàng,hoặc bán với giá thấp, do đó hình thức này có tính rủi ro, mạo hiểm cao
Vì nhiều lý do như: hạn chế về tiềm lực tài chính, không đủ điều kiện vềnhân lực, cơ sở vật chất, không có chức năng kinh doanh nhập khẩu, hoặc vì cácđiều kiện kinh doanh nhập khẩu khác, mà các chủ thể kinh tế, hay chủ đầu tư (bên
ủy thác) không thể tiến hành nhập khẩu trực tiếp mà phải thông qua vai trò trunggian là các chủ thể kinh doanh nhập khẩu để tiến hành nhập khẩu loại hàng hóa,dịch vụ mà bên ủy thác cần Cũng có thể hiểu, chủ thể kinh doanh nhập khẩu đóngvai trò trung gian, cầu nối giữa khách hàng có nhu cầu sử dụng hàng hóa, dịch vụnhập khẩu và các đối tác là đơn vị sản xuất, hay chủ thể kinh doanh xuất khẩu loạihàng hóa, dịch vụ mà bên ủy thác có nhu cầu Cơ sở pháp lý ràng buộc giữa bên uỷthác và bên nhận uỷ thác, cũng như căn cứ pháp lý để bên được uỷ thác tiến hànhđàm phán ký kết hợp đồng nhập khẩu với đối tác ở nước ngoài là hợp đồng ủy thácđược hai bên ký kết, cùng với tài liệu, giấy tờ liên quan mà bên uỷ thác chuyển chochủ thể kinh doanh nhập khẩu
Với cách tiếp cận trên thì, nhập khẩu gián tiếp được hiểu là việc các chủ thể
kinh doanh nhập khẩu (bên nhận uỷ thác thông qua hợp đồng ủy thác nhập khẩu),bằng tư cách pháp nhân của mình, thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ
từ nước ngoài vào Việt nam theo hợp đồng uỷ thác và chi phí của bên uỷ thác Vớihình thức nhập khẩu ủy thác, đối với các chủ thể kinh doanh nhập khẩu, ngoài chiphí nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác - bạn hàng, không phải huy động vốncủa mình, mà sử dụng vốn của bên uỷ thác để nhập khẩu; vừa không phải lo đầu ra
do hàng hoá, dịch vụ được nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác (có thể gọi là
nhập khẩu theo hợp đồng đặt hàng) Tuy hình thức nhập khẩu gián tiếp mang lại lợi
Trang 31nhuận không cao cho các chủ thể kinh doanh nhập khẩu, nhưng rủi ro thấp, ít mạohiểm, nhất là với các chủ thể kinh doanh nhập khẩu chưa nhiều kinh nghiệm.
1.2.2 Quy trình hoạt động nhập khẩu hàng hóa
1.2.2.1 Nghiên cứu thị trường
Việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho các nhà nhập khẩu biết được nhữngthông tin cần thiết để ra quyết định lựa chọn hàng hóa, nguồn cung và nơi tiêu thụ.Thật vậy, trong kinh doanh nhập khẩu hàng hóa, hoạt động nghiên cứu thị trườngcần được tiến hành trên cả hai thị trường : thị trường trong nước và quốc tế
Nghiên cứu thị trường trong nước : Hoạt động nghiên cứu thị trường tiêu thụ
trong nước bao gồm: Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hóa nhập khẩu;Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu; Chính sách của Nhà nước đối với mặt hàng đó;Nghiên cứu giá cả hàng hóa đó trong nước; Nghiên cứu khách hàng và đối thủ cạnhtranh Đối với hàng hóa thông thường, việc nghiên cứu thị trường thường được thựchiện thông qua điều tra, khảo sát hoặc các tài liệu báo cáo thị trường Đối với hànghóa quốc phòng, việc đánh giá thị trường và nhu cầu trong nước phải dựa trên các
kế hoạch và các chương trình, chiến lược quốc phòng
Nghiên cứu thị trường nước ngoài: Nghiên cứu thị trường nước ngoài phải
xác định được : nguồn cung ứng hàng hóa phù hợp; Giá cả nhập khẩu; Đối tác nhậpkhẩu Đối với hàng hóa thông thường, việc nghiên cứu thị trường ngoài nướcthường dễ dàng thực hiện được dựa vào các chương trình xúc tiến thương mại, hộichợ, thông tin quảng bá sản phẩm của các nhà sản xuất trên thế giới Đối với hànghóa quốc phòng, ngoài các thông tin công khai, việc nghiên cứu lựa chọn thị trườngnhập khẩu còn phụ thuộc vào nhiều luồng thông tin chuyên biệt và đặc biệt phải chú
ý tới môi trường chính trị và các quan hệ quân sự của quốc gia mà doanh nghiệpđịnh nhập khẩu Các doanh nghiệp nhập khẩu hàng quốc phòng phối hợp với cơquan sử dụng hàng nhập khẩu khảo sát thị trường, khả năng đối tác nước ngoài,nguồn hàng nhập khẩu, đề nghị chào hàng, trên cơ sở đó đưa ra quyết định lựa chọnđối tác cung cấp hàng quốc phòng để đàm phán, thương thảo số lượng, chủng loại,các chỉ tiêu kỹ thuật và các điều kiện thương mại
1.2.2.2 Lập kế hoạch kinh doanh nhập khẩu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, doanh nghiệp tiếnhành lập phương án kinh doanh nhập khẩu Muốn lập một phương án kinh doanhsát với thực tế và có tác dụng chỉ đạo cụ thể cho hoạt động kinh doanh, nhà kinh
Trang 32doanh phải thực hiện tốt công việc nghiên cứu, tiếp cận thị trường Phương án kinhdoanh sẽ là cơ sở cho các cán bộ nghiệp vụ thực hiện các nhiệm vụ được giao, nóphân đoạn các mục tiêu lớn thành các mục tiêu cụ thể để lãnh đạo doanh nghiệpquản lý và điều hành công việc được liên tục, chặt chẽ Phương án kinh doanh đượclập một cách đầy đủ và chính xác sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể lường trước đượcnhững rủi ro và đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.
Xác định đối tượng giao dịch để tiến hành nhập khẩu: trong kế hoạch, doanhnghiệp phải xác định được nhà cung cấp phù hợp nhất với mình Phải nêu đượccác vấn đề sau: quan điểm, thái độ kinh doanh của đối tượng giao dịch, lĩnh vựckinh doanh, khả năng tài chính và cơ sở vật chất của họ, trình độ tư cách củangười đại diện cho đối tác trong giao dịch và phạm vi quyền hạn, trách nhiệmcủa họ… Đồng thời, cũng phải xác định phương thức giao dịch cụ thể: giao dịchtrực tiếp, qua trung gian…
Xác định thị trường và khách hàng tiêu thụ : dựa trên thông tin tổng hợp quanghiên cứu thị trường trong nước, doanh nghiệp phải xác định đúng đắn thị trường
và khách hàng tiêu thụ Cụ thể doanh nghiệp phải trả lời được các câu hỏi sau : Bánhàng ở thị trường nào ? Khách hàng là những ai ? Đâu là đối tượng tiêu thụ chính ?Bán hàng vào thời điểm nào và khối lượng là bao nhiêu ? ở đây cần có sự hỗ trợ củacác công cụ marketing, đặc biệt là trong việc xác định được đâu là người tiêu thụchính đối với những đối tượng này
Xác định giá cả mua bán trong nước : giá cả buôn bán trong nước phải đượcdựa trên cơ sở phân tích giá cả quốc tế, giá chào hàng, điều kiện thanh toán hoặc giácủa hàng hóa cùng loại trước đây đã nhập hay đang bán trên thị trường Giá bántrong nước phải đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận đã đề của doanh nghiệp, đồngthời đảm bảo tính cạnh tranh về giá cho sản phẩm trên thị trường nội địa Nếu nhưhàng mà doanh nghiệp định nhập dã từng xuất hiện ở thị trường trong nước thì việcđặt giá cao hơn giá cũ là một bất lợi cho doanh nghiệp Còn nếu là hàng khan hiếmthì việc đặt giá hơi cao một chút để tăng lợi nhuận là điều có thể chấp nhận được
Đề ra các biện pháp thực hiện : trong kế hoạch kinh doanh, doanh nghiệpphải đề ra các biện pháp cụ thể để thực hiện các mục tiêu về giá cả, lợi nhuận, thịtrường …đã được đề ra Biện pháp thực hiện phải dựa trên cơ sở những thông tin đãđược phân tích ở những bước trước đó Đồng thời phải dựa vào đặc điểm của hànghóa và khả năng của doanh nghiệp cũng như theo từng giai đoạn cụ thể mà đề ra
Trang 33biện pháp thực hiện cho phù hợp, tránh việc đưa ra các biện pháp thiếu tính thực tế,không sát với tình hình cụ thể của thị trường và khả năng thực hiện của doanhnghiệp Cụ thể các biện pháp được đề ra ở bước này như : các chiến lược về quảngcáo sản phẩm, kế hoạch nhập hàng, kế hoạch và phương thức tiêu thụ sản phẩm, bảoquản và gia cố lại sản phẩm, các chương trình chăm sóc khách hàng…
Một kế hoạch kinh doanh chặt chẽ, đầy đủ và có tính thực tế sẽ là cơ sở tốt
để thực hiện công tác chuẩn bị về vốn, thời gian huy động các nguồn lực, mức huyđộng cần thiết và là cơ sở để các phòng ban thực hiện một cách nhất quán, cơ sở đểquản lý và giám sát quá trình thực hiện đó
1.2.2.3 Chào hàng Đàm phán, Thương thảo và ký kết hợp đồng
Chào hàng là bước đầu tiên trong hoạt động xuất nhập khẩu Bên nhập khẩuđưa ra nhu cầu về hàng hóa nhập khẩu, bên cung ứng đưa ra các thông tin giới thiệu
về hàng hóa mình có thể cung cấp Hai bên trao đổi thông tin để tìm hiểu rõ hơn vềnhu cầu và khả năng cung cấp
Giao dịch là bước đầu tiên tìm hiểu về điều kiện mua và bán giữa hai bên baogồm các bước chủ yếu : hỏi giá, chào hàng, đặt hàng, hoàn giá, chấp nhận và xácnhận Giao dịch là quá trình để hai bên thăm dò, nắm được những đòi hỏi, yêu cầucủa đối tác, tạo cơ sở cho quá trình đàm phán thuận lợi
Đàm phán là quá trình trao đổi ý kiến của các chủ thể trong một xung độtnhằm đi tới sự thống nhất cách nhận định, quan niệm, thống nhất cách xử lý nhữngvấn đề nảy sinh trong quan hệ buôn bán giữa hai hay nhiều bên Trong thương mạiquốc tế, nội dung của cuộc đàm phán thường xoay quanh những vấn đề : tên hàng,phẩm chất, số lượng, bao bì đóng gói, giao hàng, giá cả, bảo hiểm, bảo hành, khiếunại, phạt và bồi thường thiệt hại, trọng tài, trường hợp bất khả kháng Để kết quảđàm phán tốt đẹp, doanh nghiệp cần phải có một kế hoạch cụ thể cho đàm phán nhưmục tiêu, cách thức đạt mục tiêu, xác định đầy đủ thông tin về đối tác, chỉ địnhngười đại diện tham gia đàm phán thích hợp…
Ký kết hợp đồng là bước cuối cùng và là kết quả của khâu giao dịch đàmphán đồng thời là tiền đề căn cứ cho việc triển khai các hoạt động thực hiện nhậpkhẩu hàng hóa Hợp đồng được ký kết dựa trên các văn bản xác định đơn đặt hàngcủa người mua và văn bản xác nhận của người bán cũng như các điều kiện hai bên
đã trao đổi thống nhất Hợp đồng không chỉ là cơ sở để hai bên thực hiện mà còn làcăn cứ để mỗi bên ký kết thực hiện các hợp đồng triển khai công việc với các bên
Trang 34thứ 3 Hợp đồng được coi như ký kết chỉ khi những người tham gia ký có đủ thẩmquyền ký vào các văn bản đó, nếu không thì hợp đồng không được công nhận làmột văn bản có cơ sở pháp lý Nội dung cơ bản của hợp đồng bao gồm:
Tên hàng: Nêu rõ đối tượng mua bán, trao đổi Tên hàng phải đảm bảo chínhxác để các bên mua, bán đều hiểu và thống nhất; phải gắn với ký hiệu, mã hiệu hoặcđịa danh, tên hàng
Đặc tính phẩm chất: phẩm chất hàng hóa là tổng hợp các chỉ tiêu về tínhnăng (lý tính, hóa tính, cơ lý tính), công suất, hiệu suất,…để phân biệt giữa hànghóa này với hàng hóa khác
Số lượng, quy cách: kích thước, dung tích; trọng lượng; chiều dài; đơn vị;đơn vị đóng kiện
Đóng gói, bao bì: gồm những vấn đề về yêu cầu chất lượng của bao bì,phương hướng cung cấp bao bì và giá cả của bao bì
Thỏa thuận giao hàng: đề cập chi tiết các điều kiện giao hàng như: địa điểmgiao hàng và các yếu tố cấu thành giá; các nguyên tắc của việc giao nhận hàng hóagiữa bên bán với bên mua
Giá cả và phương thức thanh toán : bao gồm mức giá, đồng tiền tính giá,mức giá, phương pháp quy định giá, điều kiện cơ sở giao hàng có liên quan đến giá
cả và việc giảm giá Điều kiện thanh toán tiền: đồng tiền thanh toán, thời hạn trảtiền, phương thức trả tiền, điều kiện bảo đảm hối đoái
1.2.2.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Sau khi ký kết hợp đồng nhập khẩu, đơn vị nhập khẩu tiến hành các côngviệc triển khai thực hiện hợp đồng đã ký kết Nội dung công việc triển khai thựchiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm: Xin giấy phép nhập khẩu (nếu hàng hóa thuộcdiện phải cấp phép nhập khẩu); Mở L/C (nếu thanh toán bằng L/C); Thuê phươngtiện vận chuyển và mua bảo hiểm hàng hóa (nếu nhập hàng theo thảo thuận FOB);Làm thủ tục hải quan; Giao hàng cho bên đặt hàng; Làm thủ tục thanh quyết toán vàthanh lý hợp đồng; Khiếu nại về hàng hóa (nếu có)
Giấy phép nhập khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiếnhành các khâu khác trong quá trình nhập khẩu hàng hóa Tùy thuộc điều kiện đượcghi trong hợp đồng, trách nhiệm xin giấy phép nhập khẩu có thể thuộc về bên muahoặc bên bán Theo quy tắc, muốn được cấp giấy phép nhập khẩu, nhà kinh doanh
Trang 35nhập khẩu phải làm theo mẫu in sẵn đính kèm với bản sao hợp đồng nhập khẩu vàbản sao của thư tín dụng L/C (nếu có); một phiếu hạn ngạch (nếu mặt hàng nhậpkhẩu thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch) hoặc bản trích sao kế hoạch nhập khẩu đãđược đăng ký và gửi đến bộ phận cấp giấy phép Ngoài ra, doanh nghiệp phải xingiấy phép của các cơ quan chuyên ngành nếu hàng hóa nhập khẩu thuộc diện quản
lý của bộ, cơ quan chuyên ngành theo quy định của chính phủ
Nếu trong hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán bằng phương thức tíndụng chứng từ thì nhà nhập khẩu phải tiến hành mở L/C Ngoài phương thức tíndụng chứng từ, hoạt động thanh toán có thể được thực hiện bằng các hình thứckhác như : phương thức chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu
và thời gian thanh toán có thể trả trước, trả sau Tùy theo điều kiện trong hợpđồng nhập khẩu mà doanh nghiệp tiến hành thanh toán theo các phương thức vàthời gian phù hợp
Dựa vào những thỏa thuận về điều kiện nhập khẩu và đặc tính hàng hóa nhànhập khẩu sẽ xác định được phương tiện vận chuyển và phương thức thuê phù hợpvới các điều khoản của hợp đồng và với tính chất hàng hóa chuyên chở Thôngthường, đơn vị nhập khẩu ủy thác việc thuê phương tiện vận chuyển cho một công
ty vận tải chuyên nghiệp Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, phần lớn các hợp đồngnhập khẩu đều quy định cơ sở giao hàng là CIF, trong trường hợp này, nhà nhậpkhẩu không có trách nhiệm thuê phương tiện vận chuyển
Tùy thuộc vào các điều khoản được quy định trong hợp đồng nhập khẩu, giátính hàng nhập khẩu (giá CIF, FOB, CFR…) trách nhiệm mua bảo hiểm hàng hóa
có thể thuộc về bên mua hoặc bên bán, và mức độ mua bảo hiểm là bao nhiêu.Thông thường, các doanh nghiệp Việt Nam thường nhập khẩu theo giá CIF và do
đó, trách nhiệm mua bảo hiểm hàng hóa thuộc về người xuất khẩu
Theo quy định của Nhà nước, hàng nhập khẩu khi về qua cửa khẩu phải đượccác cơ quan chức năng kiểm tra kỹ lưỡng Đây là một bước quan trọng, đảm bảoquyền lợi cho các bên tham gia và là cơ sở làm giấy tờ thông quan cho hàng hóađược phép vào biên giới quốc gia
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng phát hiện thấyhàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát…thì cần lập hồ sơ khiếu nạingay Hồ sơ khiếu nại phải kèm theo những giấy tờ của cơ quan chức năng xác nhận
Trang 36việc tổn thất hàng hóa, vận đơn, chứng từ hải quan và các chứng từ khác Nếu việckhiếu nại không được giải quyết thỏa đáng, hai bên có thể kiện lên hội đồng trọngtài (nếu có thỏa thuận trọng tài) hoặc tòa án.
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến quy trình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng ở GAET
1.3.1 Yếu tố khách quan
Thực tiễn cho thấy, hoạt động nhập khẩu nói chung, quy trình hoạt độngnhập khẩu hàng quốc phòng nói riêng có thể bị ảnh hưởng, chi phối của một số yếu
tố cơ bản sau:
1.3.1.1 Sự bất ổn về kinh tế, chính trị, an ninh thế giới và khu vực
Hiện nay và trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễnbiến nhanh, phức tạp, rất khó lường, khó ứng phó hơn Chủ nghĩa đế quốc đang ráoriết đẩy mạnh chiến lược toàn cầu phản cách mạng, làm gia tăng nguy cơ đe dọahoà bình, chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang
do tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên; xung đột dân tộc, tôn giáo; hoạt động can thiệplật đổ, ly khai, khủng bố… có xu hướng gia tăng Nền kinh tế thế giới đang phụchồi sau khủng hoảng sẽ tác động đến nước ta, trực tiếp là tác động đến kinh tế - xãhội, đồng thời có thể nảy sinh nhiều thách thức mới về quốc phòng, an ninh, nhất làcác thách thức an ninh phi truyền thống Nói chung, tình hình trên tiềm ẩn nhiềunguy cơ làm gay gắt thêm các mâu thuẫn hiện tại, hoặc nảy sinh mâu thuẫn mớigiữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, hay mâu thuẫn giữa các khu vực trên thế giới
1.3.1.2 Chế độ, chính sách, luật pháp trong nước và quốc tế
Chế độ, chính sách, luật pháp trong nước và quốc tế là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến hoạt động nhập khẩu Như trên đã đề cập, tham gia hoạt động
nhập khẩu có nhiều chủ thể với quốc tịch khác nhau (hai hay nhiều quốc gia) Vìthế, hoạt động nhập khẩu không chỉ chịu sự tác động của cơ chế, chính sách, luậtpháp của các quốc gia đó, mà còn phải tuân theo luật pháp quốc tế Nếu chế độ,
chính sách, luật pháp quốc gia là thể hiện lợi ích quốc gia và bảo vệ lợi ích của quốc
gia, thì luật pháp quốc tế thể hiện sự thống nhất lợi ích quốc tế và buộc các nước khitham gia hoạt động thương mại quốc tế phải thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ củamình để bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng quốc tế Đối với các chủ thể kinhdoanh nhập khẩu, ảnh hưởng của yếu tố này rất rõ khi các chủ thể này không được
tự chủ, mà phải chịu sự can thiệp của nhà nước, không phát huy tính chủ động, sángtạo của họ trong kinh doanh nhập khẩu, thì hoạt động nhập khẩu sẽ khó phát triển
Trang 371.3.1.3 Trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân, năng lực kinh doanh của các chủ thể kinh doanh nhập khẩu
Đây là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu Trong đótrình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân, cũng như năng lực của doanh nghiệpthương mại trong và ngoài nước là yếu tố có ý nghĩa chi phối đối với hoạt độngnhập khẩu Tuy nhiên, chỉ khi nền kinh tế quốc dân có trình độ phát triển tươngđương hoặc cao hơn trình độ phát triển của các nước thì mới có ý nghĩa chi phối.Khi sản xuất trong nước phát triển sẽ tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cùng loại
có khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu, khi đó nhu cầu hàng nhập khẩugiảm sẽ làm hạn chế hoạt động nhập khẩu; ngược lại, khi sản xuất trong nước kémphát triển sẽ không sản xuất được hàng hóa, dịch vụ thay thế hàng hóa, dịch vụnhập khẩu, nhất là hàng hóa, dịch vụ đòi hỏi kỹ thuật và công nghệ cao, thì nhucầu đối với hàng nhập khẩu sẽ tăng, theo đó hoạt động nhập khẩu có cơ hội pháttriển Tuy nhiên, không phải khi sản xuất trong nước phát triển thì hoạt độngnhập khẩu bị thu hẹp, mà để tránh độc quyền, tăng tính cạnh tranh, thì hoạt độngnhập khẩu vẫn được khuyến khích; hoặc để bảo vệ sản xuất, khi hàng hóa, dịch
vụ nhập khẩu có tính cạnh tranh cao, ảnh hưởng đến sản xuất trong nước thì hoạtđộng nhập khẩu sẽ bị thu hẹp, bị kiểm soát chặt chẽ hơn Mặt khác, sự phát triểncủa các chủ thể kinh doanh nhập khẩu đóng vai trò quan trọng quyết định đến sựchu chuyển, lưu thông hàng hoá, đối với giữa các quốc gia trong nền kinh tế thếgiới Vì vậy, sự phát triển của các chủ thể này là yếu tố quyết định hiệu quả củahoạt động kinh doanh nhập khẩu
1.3.1.4 Sự biến động thị trường trong nước, khu vực và thế giới.
Hoạt động nhập khẩu vừa là cầu nối, gắn kết thị trường trong nước với thịtrường khu vực và thị trường thế giới; vừa phản ánh sự tác động qua lại giữa chúng,hay sự biến động của mỗi thị trường Hoạt động nhập khẩu phản ánh tương đốichính xác biến động của cung - cầu về một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định Theo
đó, khi cầu của một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó ở thị trường trong nước biếnđộng, thông qua hoạt động nhập khẩu, mà cung về loại hàng hóa, dịch vụ đó ở thịtrường nước ngoài sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với biến động của cầu hàng hóa,dịch vụ đó ở trong nước; Ngược lại, khi cung của một loại hàng hóa, dịch vụ cầnnhập khẩu ở thị trường ngoài nước biến động, thì mức độ thoả mãn nhu cầu hàng
Trang 38hóa, dịch vụ đó ở thị trường trong nước được thực hiện thông qua hoạt động nhậpkhẩu Hoặc sự biến đổi của thị trường ngoài nước về khả năng cung ứng, về sự đadạng hay khan hiếm của hàng hoá, dịch vụ cần nhập khẩu sẽ được phản ánh quahoạt động nhập khẩu để tác động đến thị trường trong nước.
1.3.1.5 Hệ thống tài chính, ngân hàng
Hệ thống tài chính, ngân hàng là kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật rất quantrọng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, đối với hoạt động nhập khẩu nóiriêng Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, trước yêu cầu phát triểncủa nền kinh tế quốc dân, hệ thống tài chính, ngân hàng thế giới cũng như của nước
ta không chỉ phát triển nhanh, hiện đại, mà ngày càng có vai trò chi phối đối vớihoạt động của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, dưới mọi hình thức, quy mô, thành phầnkinh tế Đặc biệt là trong hoạt động quản lý, cung ứng vốn, vai trò thanh toán trongnước và quốc tế Đối với hoạt động nhập khẩu, vai trò của hệ thống tài chính, ngânhàng lại càng quan trọng hơn Có thể thấy, hoạt động nhập khẩu sẽ không thể thựchiện nếu không có sự phát triển của kết cấu hạ tầng tài chính, ngân hàng Hệ thốngtài chính, ngân hàng là sự bảo đảm chắc chắn cho các chủ thể kinh doanh nhập khẩu
về lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội trong hoạt động nhập khẩu Chỉ có trên cơ sở hỗ trợ,giúp đỡ và bảo đảm của hệ thống tài chính, ngân hàng, các chủ thể kinh doanh nhậpkhẩu mới có thể tiến hành, hoặc mở rộng hoạt động nhập khẩu
1.3.1.6 Tỷ giá hối đoái
Ảnh hưởng của yếu tố này thể hiện ở chỗ, nó là một trong các căn cứ để cácchủ thể kinh doanh nhập khẩu quyết định lựa chọn thị trường, bạn hàng, loại hànghóa, dịch vụ cần nhập khẩu, chiến lược kinh doanh nhập khẩu Yếu tố này khôngchỉ có ý nghĩa đối với các chủ thể kinh doanh nhập khẩu, mà cả các chủ thể kinhdoanh xuất khẩu Khi tỷ giá hối đoái biến động thì tỷ trọng xuất - nhập khẩu biếnđộng theo, theo đó, nếu tỷ giá hối đoái của đồng tiền thanh toán có lợi cho nhậpkhẩu, thì lại bất lợi cho xuất khẩu và ngược lại Có nhiều loại tỷ giá hối đoái mà mỗiquốc gia sử dụng, như: tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá hối đoái thả nổi, tỷ giá hốiđoái thả nổi tự do và tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý Việc ấn định và sử dụng loại
tỷ giá hối đoái sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động thương mại nói chung, hoạt độngnhập khẩu nói riêng Vì vậy khi tiến hành hoạt động nhập khẩu, sự quan tâm hàng
Trang 39đầu của chủ thể kinh doanh nhập khẩu là nghiên cứu, xem xét quốc gia mà mình dựkiến tiến hành hoạt động nhập khẩu đang áp dụng loại tỷ giá nào.
1.3.1.7 Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, thương mại, thông tin
Cũng như nhiều nhiều lĩnh vực khác, hoạt động nhập khẩu phụ thuộc rấtnhiều vào hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, trong đó hạ tầng giao thông, hạtầng thương mại, hạ tầng thông tin là các yếu tố có ý nghĩa quyết định hiệu quả củahoạt động nhập khẩu Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (1/2012) hạ tầng giao
thông, hạ tầng thương mại và hạ tầng thông tin là 3 trong 10 nội dung của Định
hướng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ Đặc biệt, hạ tầng giao thông
được xác định là một trong bốn lĩnh vực trọng tâm nhằm “bảo đảm kết nối các trungtâm kinh tế lớn với nhau và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giaothông đồng bộ, năng lực vận tải được nâng cao, giao thông được thông suốt, antoàn” Đồng thời trong định hướng phát triển hạ tầng thông tin nêu “Phát triển mạnh
hệ thống kết nối đa dạng với quốc tế, hình thành siêu xa lộ thông tin trong nước vàliên kết quốc tế”; đối với hạ tầng thương mại, Đảng ta chủ trương “Phát triển nhanh
hệ thống thương mại điện tử”
1.3.2 Yếu tố chủ quan
Ngoài các yếu tố khách quan trên đây, hoạt động nhập khẩu nói chung, quytrình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng nói riêng, còn bị chi phối, ảnh hưởngcủa một số yếu tố chủ quan Cụ thể các yếu tố như:
1.3.2.1 Chiến lược, uy tín và mạng lưới khách hàng của nhà nhập khẩu
Trước sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh của những cường quốc kinh tếtrên thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt và buộc phải thích ứng với
"cuộc chơi", trong đó mỗi một doanh nghiệp là nhân tố tạo nên sự thành công củakinh tế Việt Nam cũng như tự khẳng định mình và bảo vệ sự tồn tại của chínhdoanh nghiệp
Thương hiệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinhdoanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng, làm cho khách hàng tin tưởngvào chất lượng, yên tâm khi sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp Uy tín cao củanhãn hiệu đem lại lợi thế cạnh tranh và phát triển thị trường của một doanh nghiệpnhất là khi nhãn hiệu trở thành nổi tiếng và được đông đảo người tiêu dùng biết đến
Trang 40Đơn cử: Khi nói đến Elextrolux chúng ta nghĩ đến sản phẩm nổi tiếng là máy giặt;Cũng như nhắc đến Kodak, không ai không biết đó là nhãn hiệu của phim tráng ảnh
và máy ảnh nổi tiếng… Hoạt động nhập khẩu vật tư, khí tài phục vụ nhiệm vụ quân
sự, quốc phòng ở Việt Nam, cũng cần có uy tín đối với các nhà cung cấp
1.3.2.2 Bộ máy quản lý và chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: phẩm chất chính trị, trình độ chuyênmôn, năng lực quản lý, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ và người lao động.Các yếu tố này tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh nói chung, quytrình hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng nói riêng Nếu bộ máy quản lý tinh,gọn với chất lượng nguồn nhân lực tốt sẽ huy động tối đa và sử dụng hiệu quả cácnguồn lực tham gia quy trình hoạt động nhập khẩu, tiết kiệm các loại chi phí… nhờ
đó nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu hàng quốc phòng
1.3.2.4 Nguồn lực tài chính
Khả năng tài chính gồm: vốn chủ sở hữu, vốn tự có và các nguồn lực tàichính khác có thể huy động (như các khoản vay, các khoản thu nhập sẽ có trongtương lai) Theo Luật doanh nghiệp, nguồn lực tài chính là một trong các điều kiệncần phải có để hình thành doanh nghiệp Hàng quốc phòng là loại hàng hóa phục vụtiêu dùng đặc biệt, đối tượng tiêu dùng hạn chế, không sử dụng sản phẩm loại 2.Với yêu cầu như vậy đòi hỏi công nghệ sản xuất rất đặc thù, phải tuân theo quytrình kỹ thuật nghiêm ngặt nên chi phí thường rất cao, theo đó là giá cả đắt Vì vậy,
để nhập khẩu hàng quốc phòng, ngoài giá thành sản phẩm, còn nhiều chí khác phục
vụ cho quy trình hoạt động nhập khẩu, nên doanh nghiệp phải có nguồn lực tàichính đủ mạnh Thực tế cho thấy rằng, đối với mọi loại hình doanh nghiệp thuộc