1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sinh thái cảnh quan tỉnh sơn la phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế xã hội tt

27 220 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 738,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nội dung nghiên cứu chính của luận án - Cơ sở khoa học về STCQ và phân loại STCQ - Đặc điểm các yếu tố cấu thành các hợp phần STCQ tỉnh Sơn La: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội -

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

DOÃN THỊ TRƯỜNG NHUNG

NGHIÊN CỨU SINH THÁI CẢNH QUAN TỈNH SƠN LA PHỤC VỤ QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 9 42 01 20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS TSKH Trần Đình Lý

Người hướng dẫn khoa học 2: TS Hà Quý Quỳnh

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Tỉnh Sơn La thuộc vùng Tây Bắc Tỉnh có vị trí địa lí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), bảo đảm quốc phòng an ninh cấp vùng và Quốc gia Đồng thời, với vị trí đầu nguồn của Sông Đà và Sông Mã, đây là địa bàn phòng hộ xung yếu cho vùng Đồng bằng Bắc Bộ và 2 công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam Với địa hình núi thấp, cao nguyên và thung lũng chiếm ưu thế, tài nguyên đất, khí hậu phong phú, kho tàng tri thức bản địa đặc sắc…, tỉnh Sơn La có nhiều triển vọng, để phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp, thương mại và du lịch, đem lại hiệu quả

về KT - XH và môi trường

Tuy nhiên, công tác bảo vệ nguồn tài nguyên ở Sơn La thấp, ảnh hưởng rất lớn đến các địa phương khác thuộc vùng hạ du Sông Đà và Sông Mã Trong 10 năm qua, những biến đổi trong sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Sơn La diễn ra mạnh mẽ Trên địa bàn tỉnh, thoái hóa đất ngày càng trầm trọng, tài nguyên nước suy giảm, ô nhiễm do mất rừng và sử dụng hóa chất nông nghiệp, tai biến thiên nhiên xảy

ra nhiều hơn, gây thiệt hại ngày càng nặng nề [84] Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lâu dài của tỉnh cần xem xét có khoa học sự phát triển theo chức năng từng vùng lãnh thổ theo hướng nhanh và bền vững

Nghiên cứu Sinh thái cảnh quan (STCQ) là phương pháp tiếp cận tổng hợp, đa ngành từ nghiên cứu thành phần loài sinh vật, đặc điểm môi trường sống, điều kiện sinh thái, địa lý, vùng phân bố Nghiên cứu STCQ nhằm hiểu rõ các tài nguyên và điều kiện tự nhiên; mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành phần tự nhiên; đặc điểm và chức năng của từng đơn vị lãnh thổ…làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên bền vững Vì vậy, việc nghiên cứu STCQ tỉnh Sơn La nhằm định hướng khai thác, cải tạo, phục hồi chức năng sinh thái của lãnh thổ tại tỉnh Sơn La là cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Đứng trước thực tế đó nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Nghiên cứu STCQ tỉnh

Sơn La phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội”, góp phần phát triển bền

vững kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là:

2.1 Phân loại được hệ thống STCQ tỉnh Sơn La và thành lập được bản đồ STCQ tỉnh Sơn La

2.2 Làm rõ được sự biến động STCQ tỉnh Sơn La theo thời gian (2005 - 2015) 2.3 Xác lập được cơ sở khoa học dựa trên nghiên cứu STCQ phục vụ định hướng

sử dụng hợp lý lãnh thổ trong nông, lâm nghiệp và bảo tồn

3 Các nội dung nghiên cứu chính của luận án

- Cơ sở khoa học về STCQ và phân loại STCQ

- Đặc điểm các yếu tố cấu thành (các hợp phần) STCQ tỉnh Sơn La: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội - con người và các hoạt động nhân sinh

- Hệ thống STCQ tỉnh Sơn La

- Đánh giá sự biến động của hệ thống STCQ tỉnh Sơn La

- Đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên tỉnh Sơn La

Trang 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ

NGHIÊN CỨU 1.1 Những lĩnh vực khoa học liên quan đến sinh thái cảnh quan

1.1.1 Sinh thái học

Sinh thái học (Ecology) bắt nguồn từ ngôn ngữ Hy Lạp “Oikos” có nghĩa là

nơi sống, nhà ở, “Logos” là môn học, khoa học Theo nghĩa này, sinh thái học có nghĩa là khoa học về nơi ở của sinh vật Cho đến nay, nhiều định nghĩa về sinh thái học ra đời nhưng nhìn chung đều thống nhất: Sinh thái học là khoa học chuyên ngành sinh học nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa các sinh vật với môi trường

1.1.2 Hệ sinh thái

Khái niệm của Hệ sinh thái (HST)

Vũ Trung Tạng (2003) [63] đã định nghĩa hệ sinh thái như sau: “HST là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà quần xã ở đó tồn tại, trong đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để tạo nên chu trình vật chất và sự chuyển hoá năng lượng”

Thành phần của Hệ sinh thái

HST gồm hai hợp phần căn bản là quần xã sinh vật và môi trường mà sinh vật tồn tại

Cấu trúc của Hệ sinh thái

Hai hợp phần căn bản của HST là quần xã sinh vật và môi trường sống của nó cùng các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa sinh vật với sinh vật, giữa sinh vật với môi trường và tác động của môi trường lên sinh vật

Chức năng của Hệ sinh thái

Chức năng cơ bản của HST là thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, trao đổi năng lượng và trao đổi thông tin để tái tổ hợp các quần xã sinh vật thích nghi với điều kiện môi trường tạo thế cân bằng động trong quá trình phát triển

Tính chất của Hệ sinh thái: HST có nhiều tính chất, trong đó có ba tính chất

Khái niệm cảnh quan

Trong luận án này nghiên cứu sinh quan niệm cảnh quan là khái niệm loại hình, “cảnh quan là một phần trọn vẹn của bề mặt Trái đất có địa mạo, cấu trúc, hình thái xác định trong quá trình phát triển và các mối quan hệ nhân quả của tổng hợp các

nhân tố tác động” [Error! Reference source not found.]

Nhân tố thành tạo cảnh quan

Đối với tỉnh Sơn La, luận án đã phân tích đặc điểm phân hóa, vai trò của các nhân tố thành tạo CQ và mối quan hệ, tác động giữa chúng, đồng thời, sắp xếp các nhân tố thành tạo CQ thành từng nhóm Nhóm nhân tố vô sinh bao gồm: nền địa chất, địa hình và các quá trình địa mạo, khí hậu, thủy văn Nhóm nhân tố hữu sinh bao gồm thổ nhưỡng và thế giới sinh vật; thời gian và hoạt động của con người

Hệ thống phân loại cảnh quan

Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam ở tỉ lệ bản đồ 1:1.000.000 gồm 7 cấp phân vị: Hệ CQ

- Phụ hệ CQ - Lớp CQ - Phụ lớp CQ - Kiểu CQ - Phụ kiểu CQ - Loại CQ [27]

Trang 5

Cấu trúc, động lực cảnh quan

Cấu trúc đứng, Cấu trúc ngang, Cấu trúc thời gian, Động lực cảnh quan, Biến đổi cảnh quan

Chức năng cảnh quan

Chức năng của cảnh quan có nhiều quan niệm khác nhau

1.1.4 Sinh địa quần học

Sinh địa quần lạc được định nghĩa là “tổng hợp trên một bề mặt nhất định các hiện tượng tự nhiên theo một kiểu chỉnh hợp với dòng trao đổi và chuyển hóa vật chất giữa các điều kiện tự nhiên đó (đá mẹ, thảm thực vật, thế giới động vật, thế giới vi sinh vật, đất và điều kiện khí hậu - thủy văn), có đặc thù riêng về tác động tương hỗ của các bộ phận tổ thành và có kiểu trao đổi vật chất và năng lượng xác định giữa chúng với nhau và với các hiện tượng tự nhiên khác và là một thể thống nhất biện chứng có mâu thuẫn nội tại đang ở trong sự vận động không ngừng” (Sukachev, 1947) [122] Hiểu một cách đơn giản, sinh địa quần lạc bao gồm sinh vật quần lạc và nơi sống Bản chất của mối quan hệ qua lại giữa các thành phần của sinh địa quần lạc

là quá trình tích lũy, chuyển hóa vật chất và năng lượng (Sukachev gọi đó là quá trình sinh địa quần lạc), quyết định cho sự phát sinh, tăng trưởng, phát triển và diễn thế của

hệ sinh thái rừng

1.2 Một số nghiên cứu về Sinh thái cảnh quan

1.2.1 Khái niệm Sinh thái cảnh quan

Các định nghĩa về STCQ chú trọng đến đặc trưng sinh thái học của cảnh quan

Điểm chung nhất của các định nghĩa này là tập trung vào hai khía cạnh quan trọng về quan hệ tương tác giữa sinh vật và môi trường, cho phép xác định được sự khác biệt về nội dung nghiên cứu của STCQ với sinh thái học truyền thống

Theo hướng này, các định nghĩa tập trung vào luận điểm STCQ là khoa học tổng hợp và liên ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và cảnh quan

Theo các nhà cảnh quan học Xô Viết, STCQ là một chuyên ngành mới của cảnh quan học, trong đó con người được bao hàm như một bộ phận hợp thành của cảnh quan dưới dạng các sản phẩm của hoạt động kinh tế và là yếu tố ngoại cảnh hình thành cảnh quan [72]

Ở Việt Nam, tất cả các định nghĩa quan trọng nhất về STCQ đều được đưa ra bởi các nhà địa lý học STCQ là một hướng nghiên cứu cảnh quan học ứng dụng, trong đó chú trọng đặc biệt đến khía cạnh các đặc trưng sinh thái của các địa tổng thể Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị STCQ cụ thể, có nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu riêng và đặc biệt có quy luật phân hóa các đối tượng đó theo không gian lãnh thổ [27]

STCQ có hai khía cạnh cơ bản là: lãnh thổ CQ và HST của cảnh quan Hai khía cạnh này độc lập với nhau nhưng liên kết chặt chẽ với nhau trong cùng lãnh thổ thống nhất Những vấn đề lý thuyết STCQ cũng chính là sự thống nhất các lý thuyết

CQ và lý thuyết HST Như vậy, STCQ là khoa học nghiên cứu, giải thích các mối quan hệ tác động qua lại của hệ thống gồm các yếu tố vô sinh và hữu sinh trong không gian xác định của CQ

Nghiên cứu cảnh quan học xem xét hai hướng là các bộ phận cấu tạo cảnh quan

và tổng thể của cảnh quan Trong khi đó, STCQ chú trọng nhiều tới đặc điểm sinh thái học của các hợp phần cảnh quan Từng hợp phần cảnh quan được xem xét cụ thể

Trang 6

ở khía cạnh là môi trường thành phần của sinh vật, tương tác với sinh vật theo các quy luật sinh thái học [72]

1.2.2 Cấu trúc và chức năng của Sinh thái cảnh quan

Cấu trúc của STCQ bao gồm cấu trúc của CQ (các thành phần địa lý tự nhiên của cảnh quan) và cấu trúc của HST (vật chất vô cơ - hữu cơ, sinh vật cung cấp, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy) lồng vào nhau trong một thể thống nhất

Chức năng của STCQ là đa chức năng, bao gồm chức năng tự nhiên của CQ và chức năng sinh thái của các HST Sự thay đổi của bất kỳ một thành phần cấu trúc nào của cảnh quan sẽ làm cho các thành phần khác biến đổi, làm cho cảnh quan và toàn bộ chức năng của cảnh quan thay đổi

1.2.3 Phân biệt khái niệm “Sinh thái cảnh quan” và “Cảnh quan sinh thái”

“Sinh thái cảnh quan” là môn khoa học trung gian giữa sinh thái và cảnh quan

mà nội dung thuộc về sinh thái được chú trọng hơn về các vấn đề sinh thái cụ thể trong cảnh quan, trung tâm của sự phản ánh là các hệ sinh thái bên trong lãnh thổ của cảnh quan [87]

“Cảnh quan sinh thái”: Trong các tài liệu nước ngoài mà chúng tôi đã tham

khảo, chỉ tìm thấy thuật ngữ STCQ (Landscape Ecology, Landschafts Oekologie) mà chưa tìm thấy thuật ngữ Cảnh quan sinh thái (Ecological Landscape, Oekologische Landschaft)

Cách giải thích hai khái niệm mà tác giả Nguyễn Thế Thôn (1993) [74] đã trình bày cũng chưa thể hiện sự khác biệt rõ ràng, nội dung hai khái niệm khó có thể tách biệt rõ ràng Vì vậy, nghiên cứu sinh đề nghị dùng thuật ngữ STCQ (STCQ) mà không sử dụng thêm thuật ngữ Cảnh quan sinh thái

1.2.4 Tình hình nghiên cứu Sinh thái cảnh quan

Trên thế giới

Việc sinh thái hoá cảnh quan bắt đầu thực hiện từ nửa cuối thập kỷ 60 ở Viện Sinh học Cảnh quan thuộc viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc (1967) Hội nghị lần thứ V (1974) đã nảy sinh ý đồ thành lập Hiệp hội Quốc tế về STCQ IALE (International Association Landscapes Ecology), hội thảo đầu tiên tổ chức ở Đan Mạch vào năm 1984 Như chúng ta thấy, sinh thái hoá cảnh quan là xác định các đặc

tính, chỉ tiêu sinh thái của cảnh quan nhằm bảo vệ và làm cho môi trường tốt lên [72]

Nội dung nghiên cứu STCQ thực sự trở nên rõ ràng kể từ thời điểm Việt Nam gia nhập Hiệp hội STCQ Quốc tế vào năm 1992 Các nghiên cứu trong thời kỳ này theo định hướng và quy mô nghiên cứu phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế và bảo

vệ môi trường ở các cấp lãnh thổ Hầu hết các nghiên cứu STCQ tại Việt Nam được thực hiện theo hướng phân tích cấu trúc cảnh quan, đánh giá cảnh quan, xác định các

mô hình kinh tế sinh thái

1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án tại tỉnh Sơn La

Nhiều công trình đi trước liên quan tới nội dung của luận án, thuộc nhiều lĩnh vực, được thực hiện trong những thời gian khác nhau Các tác giả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Sơn La và nhóm các công trình thực hiện trên lãnh thổ tỉnh Sơn La

1.4 Cơ sở lý luận

Dựa trên các công trình khoa học đã được công bố về Hệ sinh thái, cảnh quan, luận án xây dựng cơ sở lý luận để nghiên cứu STCQ tại Sơn La Các nội dung khoa học và lý luận nền tảng cho tiếp cận của luận án bao gồm:

Trang 7

- Thuật ngữ Sinh thái cảnh quan hay Sinh thái học cảnh quan có cùng một nội dung định nghĩa về đối tượng tự nhiên, luận án sử dụng thuật ngữ Sinh thái cảnh quan (STCQ)

- Quan điểm: “STCQ là khoa học nghiên cứu các mối tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường và các sinh vật với nhau trên một vùng nhất định được giới hạn bởi khoanh vi cảnh quan” (Schubert, 1986, tr.447) [121] được sử dụng trong nghiên cứu này Các đơn vị STCQ là các hệ sinh thái

- STCQ có sự phân chia cấp bậc, đơn vị phân loại rõ ràng như sau: Hệ STCQ - Phụ hệ STCQ - Lớp STCQ - Phụ lớp STCQ - Kiểu STCQ - Hạng STCQ - Loại STCQ Đối tượng nghiên cứu của STCQ chính là Hệ sinh thái trong cảnh quan Đối tượng nghiên cứu cụ thể trong luận án được đề cập đến là phụ hệ STCQ nhiệt đới gió mùa, có mùa đông hơi lạnh và một mùa khô ở Sơn La

Do chưa có khung phân loại riêng cho STCQ của tỉnh Sơn La, luận án dựa vào khung phân loại cảnh quan của Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [27] làm cơ sở để sắp xếp các bậc của hệ thống STCQ tỉnh Sơn La Từ cơ sở lí luận, cơ sở khoa học, hệ thống tiêu chí để áp dụng phân loại STCQ tại Sơn La, luận án xây dựng bảng tiêu chí phân loại cho vùng nghiên cứu theo thứ bậc là Hệ STCQ - Phụ hệ STCQ - Lớp STCQ -Phụ lớp STCQ - Kiểu STCQ - Hạng STCQ - Loại STCQ

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở khoa học về STCQ và phân loại STCQ

- Đặc điểm các yếu tố cấu thành (các hợp phần) STCQ tỉnh Sơn La: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội - con người và các hoạt động nhân sinh

- Hệ thống STCQ tỉnh Sơn La

- Đánh giá sự biến động của hệ thống STCQ tỉnh Sơn La

- Đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên thiên nhiên tỉnh Sơn La

2.2 Quan điểm nghiên cứu

2.2.3 Quan điểm lãnh thổ

Để quá trình đánh giá đạt được hiệu quả, nghiên cứu cần phải xác lập các vấn

đề lí luận và thực tiễn có liên quan tới tổ chức, quy hoạch dựa trên cách thức tiếp cận của quan điểm lãnh thổ Điều này không chỉ bảo đảm lãnh thổ nghiên cứu được đánh giá trong mối quan hệ với các lãnh thổ kề cận, mà còn cho phép bảo đảm các đặc trưng riêng của tỉnh Sơn La

Trang 8

2.2.4 Quan điểm lịch sử

Mỗi đơn vị lãnh thổ, thực thể địa lí bất kì đều phải trải qua các quá trình hình thành, phát triển và tiến hóa theo thời gian Do đó, quá trình đánh giá và nhìn nhận lãnh thổ trên quan điểm Lịch sử là tiếp cận đầy đủ mọi phương diện của lãnh thổ trong quá khứ và dự đoán những biến đổi của chúng trong tương lai

2.2.5 Quan điểm Liên ngành và phát triển bền vững

Phát triển bền vững (PTBV) là khía cạnh toàn diện, mới được quan tâm khi nền kinh tế phát triển gây ảnh hưởng nhiều tới môi trường sống của con người và nguồn tài nguyên thiên nhiên Nghiên cứu, đánh giá STCQ trên quan điểm PTBV được hiểu là đánh giá cho mỗi cấp phân vị phải dựa trên cơ sở đánh giá tổng hợp các nhân tố thành tạo và cấu trúc, chức năng của các đơn vị STCQ, việc định hướng sử dụng đơn vị STCQ sao cho đảm bảo yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội khi ứng dụng trong thực tiễn

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp khảo sát ngoài thực địa

Phương pháp khảo sát ngoài thực địa được tiến hành dựa trên việc khảo sát chi tiết các nhân tố thành tạo và theo lát cắt cảnh quan

Các tuyến khảo sát chính và thời gian thực hiện bao gồm:

- Tuyến 1: thành phố Sơn La - Bắc Yên - Phù Yên: Thời gian từ ngày 15 đến ngày

22 tháng 4 năm 2014

- Tuyến 2: thành phố Sơn La - Thuận Châu - Mường La - Quỳnh Nhai: Thời gian từ

ngày 20 đến ngày 27 tháng 5 năm 2015

- Tuyến 3: thành phố Sơn La - Mai Sơn - Yên Châu - Mộc Châu: Thời gian từ ngày

01 đến ngày 08 tháng 03 năm 2016

2.3.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Tài liệu, dữ liệu có liên quan tới hướng nghiên cứu, khu vực nghiên cứu được thu thập, sàng lọc, xử lí và hệ thống hóa

2.3.3 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lí

Bản đồ là ngôn ngữ thứ 2 của khoa học địa lí, vì chúng có khả năng thể hiện rõ nhất, trực quan nhất các đặc trưng không gian của các đối tượng nghiên cứu Bản đồ

số có đầy đủ thông tin không gian và thuộc tính của các đối tượng địa lí cần quan tâm, giúp quá trình phân tích liên hợp các bản đồ thành phần được thực hiện chính xác, khách quan Phương pháp Bản đồ và Hệ thông tin địa lí được sử dụng tại nhiều nội dung khác nhau trong quá trình nghiên cứu

2.3.4 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh đã tham vấn ý kiến của các Chuyên gia, các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành ở Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Viện Địa lí - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn La; Chi cục kiểm lâm Sơn La, Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên tỉnh Sơn La, Trường Đại học KHTN - ĐHQGHN, Trường Đại học Tây Bắc…

2.3.5 Nhóm phương pháp nghiên cứu, đánh giá sinh thái cảnh quan

Nhóm phương pháp này bao gồm:

- Phương pháp phân tích liên hợp các bản đồ thành phần

- Phương pháp phân tích nhân tố trội

- Phương pháp xây dựng bản đồ STCQ

- Phương pháp phân vùng CQ

Trang 9

2.4 Các bước nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo các bước chính sau:

Bước 1 Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn tỉ lệ và nội dung nghiên cứu

của đề tài luận án

Bước 2 Thu thập, tổng luận các vấn đề nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến

đề tài luận án đồng thời, khảo sát thực địa, xác định đặc điểm phân hoá của nhân tố thành tạo và vai trò của chúng đối với STCQ tỉnh Sơn La

Bước 3 Nghiên cứu các hệ thống phân loại cảnh quan, phân loại hệ thống

STCQ, thành lập Bản đồ STCQ tỉnh Sơn La tỉ lệ 1:100.000

Bước 4 Tính diện tích từng loại STCQ tỉnh Sơn La theo thời gian, từ đó, tính

được biến động từng loại STCQ

Bước 5 Đưa ra các đinh hướng khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ phục vụ

phát triển kinh tế - xã hội

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, các yếu tố sinh thái nhân văn - nhân tố hình thành sinh thái cảnh quan

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Sơn La là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 280 km về phía Đông Nam, có tổng diện tích đất tự nhiên là 14.125,0 km2, nằm trên hai lưu vực sông lớn là trung lưu sông Đà và thượng lưu sông Mã

Sơn La là tỉnh nằm sâu trong lục địa, có tọa độ địa lý từ 20°39’ đến 22°02’ vĩ

độ Bắc, 103°11’ đến 105°02’ kinh độ Đông Phía bắc giáp tỉnh Yên Bái, Lào Cai, phía đông giáp tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, phía nam giáp tỉnh Thanh Hóa và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía tây giáp tỉnh Lai Châu

Địa chất: Sơn La thuộc đới địa máng sông Đà, nằm giữa 2 phức hệ kiến tạo

Hoàng Liên Sơn và Sông Mã với trầm tích biển sâu đá vôi, phiến thạch biến chất và nhiều khối xâm nhập macma siêu bazơ và axit

Địa hình: Sự sắp xếp của các hướng núi, các kiểu địa hình cộng với chế độ

nhiệt đới gió mùa đã chia Sơn La ra thành các vùng tự nhiên: Vùng cao, vùng giữa và vùng thấp với những nét đặc trưng riêng về khí hậu Dải núi đá vôi lớn nhất miền Bắc chạy qua Sơn La theo hướng Tây Bắc - Đông Nam xen vào các trầm tích sét đã tạo thành hệ thống cao nguyên Sơn La - Mộc Châu Đây là dạng địa hình có những nét đặc biệt riêng của tỉnh

Khí hậu - thủy văn

Khí hậu: Khí hậu có tác động mạnh mẽ đến các quá trình phong hoá lý, hoá,

sinh vật học trong đất, đá Sơn La có khí hậu vùng núi kiểu nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông hơi lạnh và một mùa khô

Thủy văn: Đặc điểm của địa hình lãnh thổ đã tạo cho Sơn La có một mạng lưới

sông, suối dày đặc, song đều tập trung lưu lượng vào 2 sông Đà và sông Mã Bởi vậy đặc điểm thuỷ văn của Sơn La nói chung hai hệ thống sông này đồng thời cũng là đặc điểm thuỷ văn của Sơn La chung với ranh giới tự nhiên là đường phân thuỷ khổng lồ của dãy Xu Xen Chao Chai

Trang 10

Thổ nhưỡng

Kết quả phúc tra, chỉnh lý, biên tập, xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 (theo

hệ thống phân loại 1976-1984) năm 2004 của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cho thấy tài nguyên đất tỉnh Sơn La gồm 7 nhóm đất với 24 loại đất (đơn vị chú dẫn bản đồ) với 1.329.644,1 ha, chiếm 94,61% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh

Thảm thực vật

Do vị trí địa lí, đặc điểm địa hình, khí hậu và đất đai nên tỉnh Sơn La có các khu hệ sinh thái khác nhau rất rõ rệt Tại các khu bảo tồn, rừng đặc dụng, rừng sản xuất và các loài thực vật được gieo trồng cũng có sự khác biệt nhất định so với các tỉnh Vùng Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ và nhiều nơi khác Trải qua thời gian, diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng diễn biến theo nhu cầu của từng thời kì phục vụ chiến đấu, xây dựng kinh tế và dân sinh Nhìn chung, rừng tự nhiên ở tỉnh Sơn La đã bị thu hẹp đáng kể, diện tích đất trống, đồi núi trọc khá lớn Tuy đã có sự đầu tư của tỉnh, nhằm phục hồi rừng, tạo ra nguồn nguyên liệu đáp ứng các nhu cầu thiết yếu, nhưng sự tác động cả tích cực và tiêu cực của con người đã làm thay đổi diện mạo của rừng núi tỉnh Sơn La

Rừng tự nhiên đã lùi xa vào các khu vực có địa hình hiểm trở, ít người ở, hoặc chỉ được bảo vệ tại các khu bảo tồn thiên nhiên, thay vào đó là rừng tái sinh, rừng trồng, cây công nghiệp, cây ăn quả, nương rẫy Công tác trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ, phục hồi đã có nhiều cố gắng song vẫn còn diện tích đồi núi trọc khá lớn, phân bố rộng khắp trên tất cả các kiểu, dạng địa hình

Thảm thực vật tỉnh Sơn La được xếp vào 4 lớp quần hệ theo khung phân loại của UNESCO 1973

Lớp quần hệ I: Lớp quần hệ rừng kín Nó được xác định bởi độ che phủ của

lớp cây gỗ > 60%, chiều cao của cây gỗ từ 5m trở lên

Lớp quần hệ II: Lớp quần hệ rừng thưa

Rừng thưa được xác định bởi độ tàn che (k) của cây gỗ từ 0.3 - 0.6 Một số tác giả cho rằng loại rừng này tồn tại ở một số khu hẹp ở Mộc Châu, Thuận Châu, Yên Châu (Sơn La) Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng, loài rừng trên ở Sơn La đã bị khai

thác gần hết hoặc bị chặt đốt đã biến thành các thảm cây bụi hoặc thảm cỏ

Lớp quần hệ III: Lớp quần hệ cây bụi

Chúng bao gồm các thảm cây thân gỗ có chiều cao từ 0.5 - 5m, có thể có cây gỗ mọc rải rác nhưng độ che phủ của cây gỗ < 0.3 Thảm cây bụi ở đây đều có nguồn gốc thứ sinh Nó được hình thành sau khi rừng bị khai thác kiệt hoặc rừng bị đốt làm nương rẫy rồi bỏ hoang Chỉ thảm cây bụi ở núi cao có tính chất nguyên sinh

Lớp quần hệ IV: Lớp quần hệ cỏ

Hầu hết các trảng cỏ dạng lúa ở Sơn La có nguồn gốc thứ sinh, nó được hình thành sau khi rừng hay cây bụi bị chặt, đốt tạo thành các khoảng trống thì cỏ mới xuất hiện

3.1.2 Các yếu tố sinh thái nhân văn

Về dân số, dân tộc

Sơn La có 12 dân tộc chính cùng chung sống, trong đó dân tộc dân tộc Thái có

số lượng đông nhất Các dân tộc có số dân đông tiếp theo là dân tộc Kinh; dân tộc Mông; dân tộc Mường; dân tộc Dao; dân tộc Khơ Mú; các dân tộc khác (Kháng, La

Ha, Lào, hoa, Xinh Mun )

Về tình hình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm

Trong những năm qua với chương trình Quốc gia xoá đói giảm nghèo, các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội như chương trình 135; 134; chương

Trang 11

trình định canh định cư; chương trình nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường cùng với các chính sách như chính sách 120; chính sách trợ cước, trợ giá

Về cơ cấu kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) năm 2014 cao hơn so với mức tăng của năm 2013 (năm 2013 tăng 10,26%, năm 2014 tăng 11,28%) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: chiếm tỷ trọng cao và tiếp tục đóng góp nhiều nhất cho nền kinh tế là khu vực dịch vụ tăng từ 40,92% năm 2013 lên 42,3% năm 2014; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 24,92% năm 2013 lên 26,65% năm 2014; khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 34,16% năm 2013 xuống 31,05% năm 2014

Môi trường nước: Nguồn nước mặt và nước ngầm trong tỉnh Sơn La bị ô nhiễm chủ yếu là do các hoạt động canh tác nông nghiệp, nước thải đô thị và khu công nghiệp, suy giảm rừng đầu nguồn và do quá trình di dân, tái định cư

Môi trường không khí: Các hoạt động nhân sinh gây ô nhiễm môi trường không khí bao gồm xây dựng, giao thông, sản xuất công nghiệp, cháy rừng và khai thác mỏ

Môi trường đất: Môi trường đất ở tỉnh Sơn La đang bị ô nhiễm và suy thoái do quá trình di dân, tái định cư, sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, do thiên tai

và các sự cố môi trường

3.2 Hệ thống phân loại sinh thái cảnh quan tỉnh Sơn La

Trên cơ sở phân tích các yếu tố cấu thành hệ thống STCQ tỉnh Sơn La, chúng tôi xây dựng hệ thống phân loại STCQ tỉnh Sơn La như sau: Sơn La nằm trong Hệ STCQ nhiệt đới gió mùa, phụ hệ STCQ nhiệt đới gió mùa có mùa đông hơi lạnh và một mùa khô Hình thành 4 lớp STCQ, 5 phụ lớp STCQ, 13 kiểu STCQ, 33 hạng STCQ và 63 loại STCQ (Bảng 3.2)

Bảng 3.2 Thống kê các đơn vị STCQ tỉnh Sơn La

Phụ lớp

Diện tích (ha)

núi (SLI)

Phụ lớp STCQ núi cao (SLI -1)

1 Kiểu STCQ rừng thường xanh ôn đới và

á nhiệt đới trên núi cao, tổng nhiệt độ năm < 5.500 o

C, nhiệt

độ trung bình năm <

10 oC, mưa vừa - nhiều, mùa lạnh ≥ 8 tháng, mùa khô 3 - 4 tháng, 0 - 1 tháng hạn (SLI-1-K1)

1 Hạng STCQ rừng trên mùn alít, phát triển trên đá macma, gồm loại STCQ 1a, 1b

2.172,56

2 Kiểu STCQ thảm cây bụi ôn đới và á nhiệt đới núi cao Tổng

2 Hạng STCQ thảm cây bụi trên đất mùn alit, gồm loại STCQ 2g

35,21

Trang 12

mùa

khô

nhiệt độ năm < 5.500

oC, nhiệt độ trung bình năm nhỏ hơn 10 o

C, mùa lạnh 8 tháng (SLI-1-K2)

Phụ lớp STCQ núi trung bình (SLI-2)

3 Kiểu STCQ rừng thường xanh ôn đới trên núi trung bình, tổng nhiệt độ năm <

5.500 oC, nhiệt độ trung bình năm 10 -15

oC, mưa vừa - nhiều, mùa lạnh ≥ 8 tháng, mùa khô 5 - 6 tháng, 0

- 3 tháng hạn (SLI-2-K1)

3 Hạng STCQ rừng kín thường xanh trên đất mùn alit, gồm loại STCQ 3c

745,90

4 Hạng STCQ rừng trên đất mùn đỏ vàng trên đá macma axit, gồm loại STCQ 4c

21.925,52

4 Kiểu STCQ thảm cây bụi và thảm cỏ á nhiệt đới Tổng nhiệt năm < 5.500 oC, nhiệt

độ trung bình năm

10 - 15 oC, mưa vừa

Mùa lạnh ≤ 8 tháng, mùa khô 5 - 6 tháng

Thành phần thực vật chủ yếu là các taxon

á nhiệt đới K2)

(SLI-2-5 Hạng STCQ thảm cây bụi, thảm cỏ trên đất feralit mùn trên núi, gồm loại STCQ 5g

1.189,71

6 Hạng STCQ thảm cây bụi, thảm cỏ trên đất feralit vàng đỏ trên

đá macma, gồm loại STCQ 6g

852,37

Phụ lớp STCQ núi thấp (SLI-3)

5 Kiểu STCQ rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên núi, tổng nhiệt độ năm 5.500 - 7.300 oC, nhiệt độ trung bình năm 15 - 20 oC, mưa nhiều, mùa lạnh 4 - 7 tháng, mùa khô từ 3 -

7 Hạng STCQ rừng trên đất feralit vàng đỏ trên đá vôi, gồm loại STCQ 7c

172.591,01

8 Hạng STCQ rừng kín nhiệt đới thường xanh mưa mùa trên đất feralit đỏ vàng trên đá macma, gồm loại

96.940,17

Trang 13

4 tháng, 0 - 1 tháng hạn

(SLI-3-K1)

STCQ 8c

9 Hạng STCQ rừng kín nhiệt đới thường xanh mưa mùa trên đất feralit vàng đỏ trên đá phiến thạch sét, gồm loại STCQ 9c, 9e, 9f, 9k

63.845,74

10 Hạng STCQ rừng kín nhiệt đới thường xanh mưa mùa trên đất feralit được hình thành trên các loại đá khác nhau, gồm loại STCQ 10c

18.553,47

11 Hạng STCQ rừng hỗn giao tre nứa trên đất feralit được hình thành trên các đá khác nhau, gồm loại STCQ 11e

5.341,79

6 Kiểu STCQ rừng kín nhiệt đới mưa mùa rụng lá và nửa rụng lá vào mùa khô (SLI-3-K2)

12 Hạng STCQ rừng kín nhiệt đới mưa mùa rụng lá và nửa rụng lá vào mùa khô trên đất feralit đỏ vàng trên đá macma, gồm loại STCQ 12d

4.376,52

7 Kiểu STCQ thảm cây bụi, thảm cỏ nhiệt đới (SLI-3-K3)

13 Hạng STCQ thảm cây bụi, thảm cỏ trên đất feralit đỏ vàng trên đá macma, gồm các loại STCQ 13g, 13i, 13k

43.383,45

14 Hạng STCQ thảm cây bụi, thảm cỏ trên đất feralit vàng đỏ trên

đá phiến thạch sét,

103.482,64

Ngày đăng: 12/07/2018, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm