Thứ nhất, mặc dù Thị xã Cửa Lò có những lợi thế to lớn đế phát triển du lịch biển nhưng kết quả đạt được của du lịch biển vẫn còn nhiều hạn chế, do đó cần có những giải pháp tích cực hơn để phát triển du lịch biển Cửa Lò. Thuộc tỉnh Nghệ An - tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên tuyến giao lưu Bắc - Nam và Đông - Tây, nơi hội tụ đầy đủ các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa; là cầu nối hai miền Bắc Nam và là cửa ngõ thông ra biển Đông của miền Trung Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan qua cảng Cửa Lò. Thị xã Cửa Lò với ba mặt là sông biển, bờ biển dài 10 km chạy từ cảng thương mại quốc tế Cửa Lò đến cảng cá Cửa Hội, trong đó bãi tắm dài 8.3 km. “Cửa Lò có môi trường, thiên nhiên và các khu vực với nhiều cảnh đẹp sinh động và hấp dẫn. Cửa Lò có bãi biển dài và đẹp, môi trường trong lành, có hệ thống sinh thái biển phong phú và đầy đủ các loại hải sản, đặc sản, có nhiều lễ hội cũng như nhiều điểm du lịch hấp dẫn... Đó là nơi thích hợp cho du lịch văn hoá và du lịch phiêu lưu, cũng như du lịch sở thích đặc biệt. Về lâu dài, Cửa Lò có thể là một trong những điềm du lịch thu hút đông khách đến thăm nhất ở Việt Nam”. (Trích đánh giá của Tổ chức Du lịch thế giới” Tuy nhiên, năm 2005 lượng khách du lịch nội địa đến Cửa Lò chỉ đạt 66,8% kế hoạch dự báo, khách du lịch quốc tế chỉ đạt 69% kế hoạch dự báo. Thứ hai, do ranh giới địa lý Thị xã được mở rộng, hình thành thêm một số xã, phường dẫn đến có sự điều chỉnh địa giới, dân cư và phân cấp lại công tác quản lý đất đai, tài nguyên trong đó có tài nguyên du lịch nên cần phải có sự điều chỉnh nhất định để phát triển du lịch biển. Thứ ba, tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam có những thay đổi, tính cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ xảy ra giữa các quốc gia mà còn phải tính đến từng khu vực, địa phương, lãnh thổ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hoạt động du lịch. Do một số biến động khó lường trên thế giới và khu vực như: Khủng hoảng tài chính khu vực, nạn khủng bố, bệnh HIV, dịch cúm Gà… vì thế cũng cần có sự đánh giá thực trạng để nhằm điều chỉnh lại một số giải pháp phát triển du lịch biển.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH BIỂN 4
1.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH BIỂN 4
1.1.1 Khái niệm du lịch biển 4
1.1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống du lịch biển 4
1.1.3 Một số loại hình du lịch biển 7
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN 14
1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về du lịch 14
1.2.2 Cơ hội, thách thức với việc phát triển du lịch biển ở Việt Nam 14
1.2.2.1 Cơ hội phát triển du lịch biển 14
1.2.2.2 Thách thức đối với phát triển du lịch biển 16
1.2.3 Vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch biển 17
1.2.3.1 Vai trò về xã hội 18
1.2.3.2 Vai trò kinh tế 19
1.2.3.3 Vai trò đối với môi trường sinh thái 21
1.2.3.4 Đối với công tác chính trị 22
1.2.4 Một số chỉ tiêu hiệu quả đánh giá phát triển du lịch biển 23
1.2.4.1 Quy hoạch du lịch 23
1.2.4.1 Cơ cấu khách, doanh thu và chi tiêu của du khách 25
1.2.4.3 Cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và thời gian lưu trú .28
1.2.4.4 Nguồn lao động trong ngành du lich 29
1.2.4.5 Công tác bảo vệ môi trường tại khu/vùng du lịch 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ 32
2.1 THỊ XÃ CỬA LÒ - LỊCH SỬ VÀ VĂN HOÁ 32
Trang 22.2.1 Thuận lợi để phát triển du lịch biển Cửa Lò 33
2.2.2 Khó khăn, thách thức đối với du lịch biển Cửa Lò 36
2.2.3 Mô hình du lịch biển nghỉ ngơi, giải trí của Cửa Lò 37
2.3 VIỆC THỰC HIỆN CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN NHỮNG NĂM QUA .38
2 3.1 Công tác kiểm tra và tuyên truyền hoạt động tại địa phương 38
2.3.2 Về quy hoạch du lịch trong vùng 42
2.3.3 Lượng khách du lịch, doanh thu và chi tiêu của du khách 44
2.3.4 Cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch 48
2.3.5 Lao động phục vụ trong ngành du lịch 51
2.3.6 Công tác bảo vệ môi trường 51
2.4 PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN CÁC HẠN CHẾ 53
2.4.1 Trong công tác kiểm tra, tuyên truyền hoạt động tại địa phương .53
2.4.2 Đối với quy hoạch du lịch và giải phóng mặt bằng 54
2.4.3 Đối với các cơ sở lưu trú, điểm vui chơi giải trí 56
2.4.4 Công tác đào tạo tuyển dụng lao động 58
2.4.5 Công tác bảo vệ môi trường 59
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ - NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020 63
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ 63
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch của Thị xã 63
3.1.2 Định hướng các chỉ tiêu phát triển du lịch 64
Trang 33.1.2.2 Về khách du lịch, chi tiêu của du khách và doanh thu 67
3.1.2.2 Cơ sở lưu trú và ngày lưu trú trung bình 72
3.1.2.4 Nhu cầu lao động trong ngành du lịch 74
3.1.2.5 Định hướng công tác bảo vệ môi trường 75
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ
3.2.1 Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, giám sát du lịch 75
3.2.2 Tuyên truyền quảng bá, xúc tiến phát triển du lịch 78
3.2.3 Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và dự án phát triển du lịch 81
3.2.4 Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, bảo vệ môi trường, phát triển du lịch bền vững 84
3.2.5 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực du lịch 90
3.2.6 Phối hợp với phòng Du lịch - Thương mại huyện Nghi Lộc xây dựng tuyến du lịch liên biển Cửa Lò - Mũi Rồng 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 4TT Viết tắt Nội dung
10 VH - TT Văn hoá - Thông tin
12 VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 5Bảng 2.1: Hiện trạng khách du lịch đến Cửa Lò thời kỳ 2000-2006 44
Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động du lịch 46
Bảng 2.3: So sánh cơ cấu chi tiêu giữa dự báo và thực tế 48
Bảng 2.4: Phân tích cơ sở lưu trú và công suất sử dụng phòng 48
Bảng 2.5: Hiện trạng lưu trú trung bình của khách du lịch 49
Bảng 2.6: Số lao động trong các ngành 51
Bảng 3.1: Hình thức đầu tư xây dựng khu du lịch ven biển Cửa Lò 66
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Thứ nhất, mặc dù Thị xã Cửa Lò có những lợi thế to lớn đế phát triển
du lịch biển nhưng kết quả đạt được của du lịch biển vẫn còn nhiều hạn chế,
do đó cần có những giải pháp tích cực hơn để phát triển du lịch biển Cửa Lò
Thuộc tỉnh Nghệ An - tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trêntuyến giao lưu Bắc - Nam và Đông - Tây, nơi hội tụ đầy đủ các tuyến giaothông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường thuỷ nộiđịa; là cầu nối hai miền Bắc Nam và là cửa ngõ thông ra biển Đông của miềnTrung Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan qua cảng Cửa Lò Thị xã Cửa Lò với
ba mặt là sông biển, bờ biển dài 10 km chạy từ cảng thương mại quốc tế Cửa
Lò đến cảng cá Cửa Hội, trong đó bãi tắm dài 8.3 km “Cửa Lò có môi trường, thiên nhiên và các khu vực với nhiều cảnh đẹp sinh động và hấp dẫn Cửa Lò có bãi biển dài và đẹp, môi trường trong lành, có hệ thống sinh thái biển phong phú và đầy đủ các loại hải sản, đặc sản, có nhiều lễ hội cũng như nhiều điểm du lịch hấp dẫn Đó là nơi thích hợp cho du lịch văn hoá và du lịch phiêu lưu, cũng như du lịch sở thích đặc biệt Về lâu dài, Cửa Lò có thể
là một trong những điềm du lịch thu hút đông khách đến thăm nhất ở Việt Nam” (Trích đánh giá của Tổ chức Du lịch thế giới”
Tuy nhiên, năm 2005 lượng khách du lịch nội địa đến Cửa Lò chỉ đạt66,8% kế hoạch dự báo, khách du lịch quốc tế chỉ đạt 69% kế hoạch dự báo
Thứ hai, do ranh giới địa lý Thị xã được mở rộng, hình thành thêm một
số xã, phường dẫn đến có sự điều chỉnh địa giới, dân cư và phân cấp lại côngtác quản lý đất đai, tài nguyên trong đó có tài nguyên du lịch nên cần phải có
sự điều chỉnh nhất định để phát triển du lịch biển
Trang 7Thứ ba, tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam có những thay đổi, tính
cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ xảy ra giữa các quốc gia mà còn phảitính đến từng khu vực, địa phương, lãnh thổ trên nhiều lĩnh vực, trong đó cóhoạt động du lịch Do một số biến động khó lường trên thế giới và khu vựcnhư: Khủng hoảng tài chính khu vực, nạn khủng bố, bệnh HIV, dịch cúmGà… vì thế cũng cần có sự đánh giá thực trạng để nhằm điều chỉnh lại một sốgiải pháp phát triển du lịch biển
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phân tích những lợi thế của Thị xã Cửa Lò để phát triển du lịch biển
- Thống kê, phân tích và đánh giá đúng thực trạng của du lịch biển Cửa
3 Về vấn đề nghiên cứu
- Những cơ sở lý luận chung về du lịch biển cũng như cơ hội và tháchthức để phát triển du lịch biển của Việt Nam
- Những lợi thế để phát triển du lịch biển của Thị xã Cửa Lò
- Thực trạng của du lịch biển Cửa Lò trong những năm qua
- Giải pháp nhằm phát triển du lịch biển Cửa Lò giai đoạn 2006-2020
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tại biển Thị xã Cửa
Lò, tỉnh Nghệ An
- Về thời gian: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu trong giai đoạn
2006-2020
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Khảo sát thực tế, thu thập và tổng hợp các số liệu
- Phân tích, đánh giá các số liệu thu thập thực tế
- Phương pháp so sánh các chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu đề ra
6 Kết cấu của luận văn
Tên luận văn: “Một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển
du lịch biển Cửa Lò - Nghệ An giai đoạn 2006 – 2020”
Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luật, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được chia thành 3 chương, như sau:
Chương 1: Lý luận chung về du lịch biển
Chương 2: Phân tích thực trạng du lịch Cửa Lò những năm qua
Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị nhằm phát triển du lịch Cửa Lò
trong những năm tới
Trang 9CHƯƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH BIỂN
1.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH BIỂN
1.1.1 Khái niệm du lịch biển
Có thể hiểu du lịch biển là hoạt động của con người tại vùng/khu vựcbiển ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu thamquan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
1.1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống du lịch biển
Cũng giống như hệ thống du lịch nói chung, du lịch biển bao gồm 5 bộphận cấu thành chính: Vận chuyển du lịch, lưu trú, ăn uống, các hoạt động vuichơi giải trí, lữ hành và các hoạt động trung gian
Vận chuyển du lịch: Du lịch gắn liền với sự di chuyển, vì vậy mà vận
chuyển du lịch trở nên không thể thiếu được trong ngành du lịch Tham gia vàovận chuyển du lịch có các ngành hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ,mỗi loại phương tiện vận chuyển thường có những ưu, nhược điểm và phù hợpvới từng chuyến đi có khoảng cách, mục đích và chi phí nhất định
Lưu trú: Khi khách du lịch ra khỏi nhà của mình thì nhu cầu ở lại qua
đêm được đặt ra tại nhưng nơi mà họ đến Vì vậy, bộ phận lưu trú luôn giữ vịtrí đặc biệt quan trong trong du lịch Tham gia vào phục vụ lưu trú có các loạihình như khách sạn, nhà khách, nhà trọ … trong đó mỗi loại nhằm thoả mãnnhững nhu cầu có tính đặc trưng, ví dụ khách sạn thường nằm ở trung tâm dulịch nhằm phục vụ tương đối đầy đủ các dịch vụ ăn uống, lưu trú và các hoạtđộng vui chơi giải trí cho khách, là loại hình phục vụ có tính phổ biến nhất,rất đa dạng về quy mô (ở Việt Nam, thu nhập về kinh doanh khách sạn chiếmtới 60 - 70% thu nhập của ngành)
Trang 10Ăn uống: Ăn uống cũng là một loại nhu cầu không thể thiếu được với
khách du lịch và phục vụ ăn uống trở thành một hoạt động kinh doanh đáng
kể trong du lịch Tham gia phục vụ ăn uống trong du lịch có các loại hình nhưnhà hàng, các quán bar, quán cà phê… tồn tại độc lập hoặc có thể là bộ phậntrong khách sạn, trên máy bay, tàu hoả Các cơ sở này vừa phục vụ khách dulịch vừa có thể phục vụ dân cư địa phương Trong phục vụ ăn uống du lịch,các nhà kinh doanh thường khai thác nét ẩm thực truyền thống, đặc trưng chođịa phương nơi khách du lịch đến, chẳng hạn như du lịch Cửa Lò nước mắm,mực trộn tép bưởi, cá gòp bảy món, mực nhảy… Các loại hình kinh doanh ănuống cũng phát triển rất đa dạng theo quy mô, chất lượng phục vụ và chuyênmôn hoá
Các hoạt động giải trí: Cung cấp các hoạt động giải trí là một bộ phận
không kém phần quan trọng trong du lịch vì nó tạo sự hấp dẫn, thu hút và lôikéo khách du lịch Bộ phận kinh doanh giải trí bao gồm hoạt động của cáccông viên giải trí, sở thú, bách thảo, viện bảo tàng, các di tích lịch sử, các lễhội dân gian, các hội chợ, nhà hát… Ngoài ra, các hoạt động mua sắm đặcbiệt là hàng hoá lưu niệm cũng góp phần rất quan trọng trong hấp dẫn du lịch,hoặc các hoạt động văn hoá, các công trình kiến trúc, các nhà thờ mặc dù nókhông mang tính chất thương mại song lại có khả năng hấp dẫn, thu hút khách
du lịch
Lữ hành và các hoạt động trung gian: Các sản phẩm du lịch chủ yếu
được tạo ra bởi các nhà cung ứng thuộc các bộ phận nói trên Tuy nhiên, cácnhà cung ứng này thường không thể bán trực tiếp các sản phẩm của mình chokhách vì nhiều lý do Trong đó phải nói đến những bất lợi vể khả năng đápứng các nhu cầu có tính đồng bộ của khách hàng và cung của các bộ phận nàythường mang tính cố định còn cầu về hàng hoá và dịch vụ du lịch lại phân tán
Trang 11khắp mọi nơi Những hạn chế đó làm nảy sinh sự cần thiết của các tổ chứctrung gian - các tổ chức kinh doanh lữ hành Sự ra đời của các tổ chức này đãthúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển du lịch thông qua các vai trò sau:
+ Thực hiện các hoạt động trung gian nối liền giữa khách du lịch vớicác nhà cung ứng hàng hoá và dịch vụ du lịch Trên cơ sở đó rút ngắn đượckhoảng cách giữa khách du lịch với các nhà cung ứng và nâng cao hiệu quảcung ứng, hiệu quả kinh doanh
+ Có khả năng cung cấp cho khách hàng những sản phẩm đồng bộ, trọngói thông qua việc liên kết các dịch vụ của nhà cung ứng nhằm tạo cho kháchhàng sự chủ động cao và hiệu quả trong các chuyến du lịch
Có hai loại tổ chức kinh doanh lữ hành chủ yếu, là đại lý du lịch vàcông ty lữ hành Đại lý du lịch là tổ chức trung gian thay mặt cho các dukhách sắp xếp với các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch và nhận tiền hoahồng của các đơn vị này Còn công ty lữ hành thường phối hợp các dịch vụ
du lịch riêng lẻ thành một sản phẩm lữ hành hoàn chỉnh thông qua mạnglưới đại lý du lịch để bán cho khách hàng Khác với các đại lý du lịch mangtính phân tán thì các công ty lữ hành có tính tập trung rất cao Mặc dù chỉ
có một số các công ty nhưng lại chiếm phần lớn thị trường sản phẩm dulịch trọn gói và trở thành những bạn hàng lớn của các hãng hàng không vàcác tập đoàn khách sạn
Như vậy, tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm nhiều bộphận (lĩnh vực) kinh doanh khác nhau hợp thành một chuỗi sản phẩm có tínhphong phú, đồng bộ đáp ứng nhu cầu khách du lịch Điều đó cho thấy, để pháttriển du lịch cần phải coi trọng và đầu tư một cách đồng bộ cho tất cả các bộphận tham gia cung ứng hàng hoá và dịch vụ du lịch
Trang 121.1.3 Một số loại hình du lịch biển
Đối với ngành du lịch, mối quan hệ thị trường, sản phẩm là do mốiquan hệ giữa khách du lịch và sự trải nghiệm của du khách Khách du lịchchính là thị trường, khách du lịch thu nhận được những kinh nghiệm trongquá trình du lịch chính là sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là sản phẩmphức hợp gồm: tài nguyên du lịch hấp dẫn, kết cấu hạ tầng, phương tiện giaothông, cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, nơi vui chơi giải trí Song về mặt tiêudùng thì sản phẩm du lịch là sự tổng hoà các trải nghiệm trong thời gian đi dulịch, khách du lịch mua và tiêu pha Khác với các sản phẩm thông thường, cácsản phẩm du lịch chỉ khi du khách đến điểm du lịch (bộ phận chủ yếu của sảnphẩm du lịch) mới có thể thực hiện hành vi mua sản phẩm du lịch không thể
di chuyển Cũng như các sản phẩm khác, sản phẩm du lịch cũng cần biến đổi,phát triển không ngừng để đáp ứng thị hiếu của du khách Đối với việc quihoạch phát triển du lịch của mỗi địa phương, mỗi điểm du lịch, hay của mỗiquốc gia sau khi điều tra đánh giá các nguồn lực phát triển du lịch, phân tíchnghiên cứu điều tra thị trường, dự báo các nhu cầu phát triển du lịch, việc lựachọn sản phẩm du lịch là một nhiệm vụ quan trọng Các sản phẩm du lịchthường được du khách sử dụng bao gồm các loại hình du lịch: tham quan,nghỉ dưỡng, công vụ, mua sắm, triển lãm, hội nghị, du lịch sinh thái, thể thao,
du lịch đặc trưng
Du lịch triển lãm, hội nghị và hội thảo: Du lịch triển lãm, hội nghị, hội
thảo và các tổ chức sự kiện có triển vọng phát triển ở các thành phố lớn và những nơi phong cảnh đẹp, môi trường hấp dẫn, trong lành như hồ, biển, núi Một địa phương hoặc điểm, khu du lịch muốn phát triển thành công du lịch hội nghị, triển lãm cần có: điều kiện tự nhiên cùng nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách; điều kiện giao thông đường không, đường thuỷ, đường bộ tốt; tình hình an ninh chính trị trật tự xã hội tốt; cư dân bản địa có thái độ thân thiện với du khách tới dự
Trang 13hội nghị triển lãm, có mối quan hệ cộng tác tốt về phương diện kinh doanh, chất lượng dịch vụ du lịch như cơ sở lưu trú ăn uống, phòng hội thảo, phương tiện vận chuyển có chất lượng tốt Thông thường tại các khách sạn lớn hiện đại đều có phòng hội nghị với qui mô khác nhau Việc phát triển loại hình du lịch triển lãm, hội nghị vừa có thể tăng thu nhập cho các khách sạn, khắc phục tính mùa vụ, bù đắp sự thiếu vắng khách, vừa nâng cao thanh thế của khách sạn và uy tín của địa phương và nước chủ nhà, tạo nhiều cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội.
Du lịch nghỉ dưỡng: Du lịch nghỉ dưỡng là nhằm nhanh chóng khôi phục
sức khỏe, tăng cường thể chất, tinh thần và khả năng làm việc của khách du lịch sau một thời gian làm việc căng thẳng, vất vả hoặc sau khi điều trị bệnh tật Ở Việt Nam, du lịch nghỉ dưỡng thường được thực hiện dưới các hình thức nghỉ hè, nghỉ mát, an dưỡng Việc phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng thường được lựa chọn phát triển ở những nơi có các điều kiện sau:
Có thời gian dài, khí hậu thích hợp với sức khoẻ của con người, ít nhất
là trên 3 tháng trong năm khí hậu trong lành, mát mẻ, xa nguồn ô nhiễm, khíhậu thích hợp với từng loại nhu cầu điều trị bệnh, đặc biệt như ở miền biển
Có các điều kiện và tài nguyên du lịch hấp dẫn, thuận lợi Có nhiềuphong cảnh đẹp, yên tĩnh, gần nguồn nước khoáng, suối nước nóng, bùn chữabệnh Có nguồn dược liệu phong phú để chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe
Có điều kiện khả năng tổ chức nhiều loại hình du lịch khác như: có điềukiện để tổ chức vui chơi giải trí, câu cá, đi dạo, văn hoá, du lịch, thể thao, có điềukiện tiến hành tham quan du lịch Có điều kiện về các dịch vụ phục vụ cho dukhách như gần nguồn cung cấp thực phẩm tươi sống, phong phú, có điều kiệnchăm sóc y tế và đời sống tinh thần, đảm bảo về thông tin liên lạc và an toàn xãhội, có cơ sở vật chất phục vụ lưu trú ăn uống, đáp ứng nhu cầu của du khách
Có điều kiện đi lại thuận lợi, có cự ly đi lại về đường giao thôngkhông quá lớn, có hệ thống đường sá tốt, thuận lợi, có thể sử dụng nhiều loạiphương tiện khác nhau
Trang 14Du lịch tham quan: Đây là loại hình du lịch thu hút nhiều du khách,
đáp ứng nhu cầu muốn được tìm hiểu, thưởng ngoạn, nâng cao nhận thức vàtình cảm của du khách đối với thiên nhiên, văn hoá và con người tại mỗi khuvực nhất định Để tổ chức và phát triển loại hình du lịch tham quan tại một hệthống lãnh thổ du lịch nhất định, cần đáp ứng các điều kiện sau:
Tài nguyên du lịch phong phú và hấp dẫn, có nhiều điểm tham quanhấp dẫn, có thể đáp ứng việc tổ chức các chuyến đi với thời gian nhất địnhcho du khách ít nhất là 1 ngày
Có tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng, đặc sắc như: các di tích lịch
sử văn hoá, di tích lịch sử nổi tiếng đã được xếp hạng quốc gia, quốc tế; cáclàng nghề, lễ hội cổ truyền nổi tiếng, các phong tục, tập quán đặc sắc
Có thời gian tham quan dài, có thời gian hoạt động dài, thích hợpnhất của điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Có khí hậu phù hợp với điều kiện sức khỏe của con người Có sứcchứa thích hợp: thỏa mãn cho khách tham quan thường xuyên trên 100 người,thỏa mãn cho khách tham quan tập trung trên 500 người
Có cự ly thích hợp và giao thông đi lại thuận tiện Nằm trên mộttuyến du lịch nhất định, có đường đi lại thuận tiện, kết hợp được nhiềuphương tiện; có hệ thống đường trong nội bộ khu vực tham quan
Có các điều kiện dịch vụ và bảo đảm an toàn.Có cơ sở vật chất kĩthuật phục vụ lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi cho du khách phù hợp với qui mô sốlượng và chất lượng tài nguyên, đáp ứng nhu cầu hợp lí của du khách thamquan; có phương tiện giao thông nội bộ (voi, ngựa, xe điện,xe ngựa) đáp ứngnhu cầu đi lại trong khu vực tham quan của du khách; có các dịch vụ du lịch:chụp ảnh, quay phim, bán đồ lưu niệm, hướng dẫn tại điểm có các phươngtiện truyền tin, cấp cứu và bảo đảm an toàn
Trang 15Trong quy hoạch du lịch, khi lựa chọn, phát triển loại hình du lịchtham quan tại một khu, điểm du lịch của một địa phương nên nghiên cứu, khaithác các nguồn lực và điều kiện phát triển loại hình du lịch này của các điểm
du lịch, khu du lịch phụ cận trong và gần địa phương
Du lịch chữa bệnh: Du lịch chữa bệnh là loại hình du lịch đáp ứng
nhu cầu điều trị một số bệnh tật về thể xác và tinh thần cho du khách Mụcđích là làm cho du khách có thể chữa khỏi một số bệnh hoặc làm giảm đau vàhạn chế bệnh tật
Du lịch chữa bệnh được chia làm nhiều loại như:
Chữa bệnh bằng khí hậu: việc chữa bệnh cho du khách nhờ vào điềukiện khí hậu ở nơi du lịch như ở vùng núi hoặc ở vùng biển
Chữa bệnh bằng phương pháp thuỷ lý (biện pháp tắm, ngâm, uống)
sử dụng chủ yếu nước khoáng, bằng phương pháp tắm, ngâm và uống Đây làloại hình du lịch lâu đời nhất, có từ thời la La Mã cổ đại, hiện nay phát triển ởnhiều nước trên thế giới và Việt Nam
Chữa bệnh bằng biển: bao gồm cả các thành phần của phương phápchữa bệnh bằng khí hậu và phương pháp chữa bẹnh bằng thuỷ lý Phươngpháp chữa bệnh này chủ yếu nhờ tắm biển và phơi nắng, nghỉ ngơi hợp lí
Chữa bệnh bằng cách ngâm, đắp bùn của sông, hồ biển, giàu chấtkhoáng và giàu các nguyên tố vi lượng
Trong qui hoạch phát triển du lịch, các hệ thống lãnh thổ được lựachọn phát triển loại hình du lịch chữa bệnh cần đáp ứng các điều kiện như:
Có nguồn tài nguyên du lịch đáp ứng cho việc xây dựng, phát triểncác cơ sở kinh doanh loại hình du lịch này như: có nguồn nước suối khoáng,nước nóng, có khí hậu trong lành, mát mẻ, có bãi biển đẹp, có nguồn khoángbùn, phong cảnh thiên nhiên đẹp, kỳ thú
Trang 16Đối với khu du lịch chữa bệnh bằng liệu pháp biển phải được xâydựng quy hoạch ở nơi có bãi biển, có bãi cát trắng, nước trong xanh, có độtrong suốt cao từ 3 - 5m, độ mặn phù hợp từ 3 - 3,5%, tốc độ dòng chảy nhỏ,tốc độ gió phù họp, nhiều ánh nắng, nước biển trong sạch Một khu vực chữabệnh bằng suối nước khoáng phải được quy hoạch ở khu vực có thiên nhiêntươi đẹp, yên tĩnh, thoáng, xa khu dân cư và sản xuất công nghiệp, có diệntích rộng, nhiều cây xanh, cách biệt với môi trường gây bệnh, khí hậu mát mẻtrong lành.
Nhìn chung đối với loại hình du lịch chữa bệnh, tiêu chuẩn quantrọng là tài nguyên phải có tính năng chữa bệnh và tính năng này phải đượckhoa học công nhận Chẳng hạn như cơ quan y tế xác nhận về hiệu quả chữabệnh; viện vệ sinh dịch tễ kiểm tra nguồn nước, không khí không ô nhiễm, độtrong sạch cao Các tài nguyên này phải đa dạng, phong phú hấp dẫn khách dulịch, đảm bảo cho các cơ sở du lịch chữa bệnh, đầu tư phát triển lâu dài, đảmbảo sẽ có khách, kinh doanh hiệu quả về các mặt
Các khu du lịch chữa bệnh cần có các cơ sở lưu trú ăn uống, vui chơigiải trí, kết cấu hạ tầng đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện sức khoẻcủa du khách
Trong quy hoạch phát triển các loại hình du lịch chữa bệnh còncần phải có kế hoạch tuyển chọn, đào tạo đội ngũ y bác sỹ chuyên ngành,nhân viên phục vụ hiểu biết về y tế, các phác đồ điều trị, hướng dẫn dukhách điều trị
Loại hình du lịch thể thao: Thể thao có mối quan hệ mật thiết đối
với du lịch Du lịch thể thao là một hình thức quan trọng của du lịch lễ hội,đồng thời là sản phẩm du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều doanhnghiệp và hiệu quả về xã hội cho cộng đồng
Trang 17Bộ phận quản lý chính phủ về thể thao và du lịch có trách nhiệm liên
hệ với nhiều trong nhiều trường hợp để phối hợp tổ chức hoạt động, phát triển
du lịch thể thao có nhiều ý nghĩa như mang lại hiệu quả kinh tế trong kinhdoanh du lịch; có ý nghĩa xã hộ như tăng cơ hội việc làm; tăng cường tố chấtdân tộc, hữu nghị giữa các quốc gia; thúc đẩy du lịch phát triển; đặc biệt là ởcác vùng chưa phát triển và mùa vắng khách Có thể làm cho du lịch lễ hộihấp dẫn hơn, gia tăng hứng thú tham gia vào các hoạt động du lịch, thể thao,hoạt động rèn luyện thân thể, thể thao hàng ngày trong thời gian rỗi đángđược chú ý
Trong quy hoạch phát triển du lịch, việc quan tâm phát triển loại hình
du lịch thể thao mang ý nghĩa về nhiều mặt Du lịch thể thao bao gồm hailoại: du lịch thể thao chủ động và du lịch thể thao bị động
Du lịch thể thao chủ động bao gồm các chuyến đi du lịch, du kháchtham gia trực tiếp vào các hoạt động thể thâo hoặc tham gia vào các hoạt độngthể thao hàng ngày tại các cơ sở kinh doanh loại hình du lịch này Du lịch thểthao chủ động gồm: Du lịch leo núi, du lịch bơi thuyền, lướt ván, săn bắn, dulịch câu cá, chơi golf, tenis, bóng chuyền
Du lịch thể thao bị động, bao gồm những cuộc hành trình du lịch đểxem các cuộc thi thể thao, các cuộc biểu diễn, các thế vận hội
Các điều kiện để phát triển loại hình du lịch này gồm:
Các tiêu chuẩn về tài nguyên như: du lịch leo núi thường được tổchức ở những địa hình núi cao trên 2500m, có địa hình hiểm trở nhưng cóđường mòn đảm bảo an toàn cho du khách leo núi, có phong cánh đẹp, khíhậu mát mẻ; du lịch đua thuyền, lướt ván được tổ chức ở những nơi có điềukiện như: hồ, biển có phong cảnh đẹp, nguồn nước chưa bị ô nhiễm, tốc độdòng chảy nhỏ đối với biển, có độ cao của sóng đối với đua thuyền cao dưới
Trang 181m Với du lịch lặn biển: đáy biển nông, nước biển không bị ô nhiễm, độtrong suốt cao từ 3 - 5m, độ mặn tứ 3 - 4%, độ sâu tới đáy biển khoảng 20 -30m, nhiệt độ nước biển từ 19 - 270C, sự đa dạng sinh học cao, có nhìêu loạithực vật, động vật đặc sắc hấp dẫn, có nhiều loại dải san hô không có các loạiđộng vật độc và nguy hiểm.
Du lịch câu cá: Được tổ chức ở những khu vực tự nhiên có nhiều loại
cá, các loại thân mềm và các loại giáp xác có thể câu được
Ngoài những điều kiện về tài nguyên tự nhiên, để tổ chức loại hình dulịch thể thao còn cần có cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị dụng cụ phục vụ chocác việc chơi thể thao như các sân vận động, sân golf, sân bóng chuyền, tenis,sân băng, các đường trượt, xe kéo leo dốc và các phương tiện chơi thể thao,các phòng tập thể thao
Để tổ chức phát triển các loại hình du lịch còn cần có các đội ngũ nhânviên, hướng dẫn viên am hiểu về các loại hình du lịch này để có thể phục vụ vàhướng dẫn du khách tham gia vào các hoạt động thể thao Ngoài ra còn cần các
cơ sở lưu trú, ăn uống giải trí, đap ứng các nhu cầu này cho khách
Loại hình du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là hình thức du lịch
dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia củacộng đồng địa phương thông qua việc giảm áp lực với môi trường đã làm cânbằng lợi ích kinh tế Thông qua bảo vệ tính hoàn chỉnh về văn hoá và tàinguyên, phong cảnh du lịch, bảo vệ tính công bằng và lợi ích chung giữa cácbên tham gia, thông qua việc lôi cuốn cộng đồng địa phương vào hoạt độngbảo tồn và du lịch, chia sẻ lợi ích kinh tế với địa phương Vì vậy du lịch sinhthái những năm gần đây là loại hình du lịch hấp dẫn khách, được chính phủ vàngành du lịch ở nhiều quốc gia quan tâm đầu tư phát triển Theo nhiều nhànghiên cứu du lịch sinh thái bao gồm nhiều loại hình như: thưởng thức động,
Trang 19thực vật hoang dã, du lịch bằng xe đạp, du lịch mạo hiểm, du lịch leo núi, dulịch thám hiểm sa mạc, du lịch hành động bảo vệ môi trường, khảo sát nghiêncứu sinh thái tự nhiên, du lịch thể thao, du lịch miệt vườn, tham quan nghiêncứu văn hoá các tộc người, du lịch nghỉ dưỡng
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN
1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về du lịch
Quản lý nhà nước về du lịch là làm chức năng quản lý vĩ mô về du lịch,không làm chức năng chủ quản, không làm chức năng kinh doanh thay các doanhnghiệp du lịch Việc quản lý đó được thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằmtạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhauhoạt động trên lĩnh vực kinh tế du lịch quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa
du lịch phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển đất nước
1.2.2 Cơ hội, thách thức với việc phát triển du lịch biển ở Việt Nam
1.2.2.1 Cơ hội phát triển du lịch biển
Nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi và nguồn tài nguyên biển phongphú cho phát triển du lịch biển như: Có bờ biển dài 3.260 km, diện tích biểntrên 1 triệu km2, có nhiều đảo và quần đảo với gần 4000 đảo có phong cảnhđẹp, động vật phong phú Nước ta có tới 300 bãi biển, trong đó có 25 bãi biểnđẹp, nhiều vũng, vịnh thuận lợi cho xây dựng hải cảng, tuyến đường sắt,đường bộ Bắc Nam nằm sát ven biển Ven biển nước ta cũng là nơi tập trungđông dân cư từ lâu, nên có tài nguyên du lịch nhân văn, đặc biệt là các di sảnvăn hoá, thuận lợi cho việc kết hợp phát triển các tour, tuyến du lịch Biển củanước ta còn giàu tài nguyên khoáng sản như: Than, dầu khí
Vùng ven bờ biển với các vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, đảo, bãi
Trang 20cát biển, hang động có tiềm năng lớn đối với phát triển du lịch - dịch vụ Hệthống bãi biển (với 125 bãi có giá trị cao, đẹp nổi tiếng như Trà Cổ, Cửa Lò,Lăng Cô, Đà Nẵng ) đã thu hút hàng triệu khách du lịch trong và ngoài nướcmỗi năm Hiện cả nước có trên 40 cảng biển lớn nhỏ (theo quy hoạch đếnnăm 2010 là 104) là lợi thế về vận tải và giao thương trong nước cũng nhưquốc tế Biển còn ẩn chứa trong mình nhiều nguồn lợi về khoáng sản như dầukhí, than đá, sa khoáng titan, zircon, monazit, cát thuỷ tinh Vùng ven biển
có khoảng 100 mỏ khoáng sản, đặc biệt vật liệu xây dựng rất phong phú vềchủng loại và giàu về trữ lượng Dầu khí thềm lục địa có trữ lượng khoảng 3
tỷ tấn, trữ lượng công nghiệp được xác định khoảng 1,2 tỷ tấn, sản lượng khaithác đạt khoảng 20 triệu tấn /năm Các hệ sinh thái ven biển như cửa sông,đầm phá, vũng vịnh, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển có năng suất
và đa dạng sinh học cao Hệ sinh thái nước trồi tạo nên các ngư trường nổitiếng ngoài khơi như Bình Thuận, tây nam Cà Mau, Bạch Long Vỹ, có thềmlục địa nông và rộng, biển ấm, nhiệt động nước biển từ 20 - 250C, độ mặntrung bình từ 3 - 35%, độ trong suốt cao, đặc biệt là ở vùng biển duyên hảiNam Trung Bộ Có sự đa dạng sinh học cao với nhiều hệ sinh thái như hệ sinhthái rừng ngập mặn, hệ sinh thái các bãi triều, hệ sinh thái đáy biển, hệ sinhthái san hô, hệ sinh thái tùng áng Biển của nước ta chiếm tới hơn 1/2 số loàisan hô của vịnh Bắc Bộ và có tới 2.038 loài cá, 650 loài rong biển, 90 loàitôm và 2.500 loại động vật thân mềm Có tới 11.000 loài sinh vật thuỷ sinh và1.300 loài sinh vật trên đảo đã được biết đến ở biển Việt Nam, trong đó cókhoảng 6.000 loài động vật đáy và 2.000 loài cá Có 83 loài sinh vật biểnđược ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (37 loài cá, 6 loài san hô, 5 loài da gai, 4 loàitôm rồng, 1 loài sam, 21 loài ốc, 6 loài động vật hai mảnh vỏ và 3 loài mực)
Nước ta có nhiều khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản thiên nhiên thếgiới và vườn quốc gia ven biển và trên các đảo: VQG Phú Quốc, VQG CônĐảo, VQG Bái Tử Long, và khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, khu dự trữ sinh
Trang 21quyển Xuân Thuỷ, di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, người Pháp đã cho xây dựngnhiều khu nghỉ biển ở nước ta như: Biệt thự Bảo Đại, khu du lịch biển Đồ Sơn(1928), Bạch Dinh và khu nghỉ biển Vũng Tàu (1911), Biệt thự Bảo Đại vàthành phố biển Nha Trang (1935), khu nghỉ biển Sầm Sơn (1936), khu nghỉbiển Cửa Lò (1907)
1.2.2.2 Thách thức đối với phát triển du lịch biển
Vùng ven biển nước ta là nơi phát triển kinh tế năng động và có mật độdân số cao Dọc bờ biển có tới 12 đô thị lớn, 40 cảng, hàng trăm bến cá vàkhoảng 238.600 cơ sở sản xuất công nghiệp Hoạt động du lịch, dịch vụ vàquá trình đô thị hóa đang gia tăng mạnh Sản lượng khai thác cá biển mà 80%
là từ vùng nước ven bờ đã vượt mức cho phép Diện tích hầm nuôi thủy sảnnước mặn, lợ tăng từ 230.000 ha (năm 1998) lên 529.000 ha (năm 2003).Phương tiện giao thông thủy ngày càng nhiều, sản lượng khai thác và vậnchuyển dầu khí trên biển không ngừng tăng, gây nên tình trạng ô nhiễm dầutrên biển rộng Đến nay đã có trên 40 vụ tràn dầu, điển hình như tai nạn tàuNeptune Aries làm tràn 1.865 tấn dầu vào năm 1994 tại cảng Sài Gòn Khaithác khoáng sản ven biển như than, vật liệu xây dựng, sa khoáng đã làm biếndạng cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường và làm tăng xói lở bờ biển Riêng mỏthan Quảng Ninh mỗi năm đã thải ra khoảng 13 - 19 triệu mét khối đất đá vàkhoảng 30 - 60 triệu mét khối chất thải lỏng Với diện tích nông nghiệp trên 7triệu ha, hàng năm một dư lượng đáng kể phân bón hóa học và hóa chất bảo vệthực vật theo sông chảy ra gây ô nhiễm môi trường biển Hoạt động du lịch cũnggây áp lực lớn cho môi trường (chỉ riêng hoạt động này trong năm 2003 đã thải
ra 32.273 tấn rác và 4.817.000 m3 nước thải) Xói lở bờ biển tăng cả về quy mô
và tính chất nguy hiểm Có đến 397 đoạn bờ đã và đang bị xói lở với tổng chiều
Trang 22dài 920 km, tốc độ phổ biến 5 - 10m/năm, cá biệt 30 - 50 m/năm
Rừng bị tàn phá nặng nề do chiến tranh, thiên tai và khai thác quámức của con người Ngoài ra, hệ thống đập - hồ chứa trên lưu vực cũnglàm thay đổi lớn lượng tải, phân bố nước và trầm tích đưa ra biển Sự mất
đi một lượng lớn nước ngọt, trầm tích và dinh dưỡng do đắp đập ngănsông đã gây ra những tác động lớn cho vùng ven biển như xói lở, xâm nhậpmặn, thay đổi chế độ thủy văn, mất nơi cư trú và bãi giống, bãi đẻ của sinhvật, suy giảm sức sản xuất của vùng biển ven bờ, gây thiệt hại về đa dạngsinh học, nguồn lợi thủy sản đánh bắt và nuôi trồng Việt Nam có trên 650đập - hồ chứa cỡ lớn, vừa và hơn 3.500 đập - hồ chứa cỡ nhỏ, tổng sứcchứa các đập - hồ thuỷ điện trên hệ thống sông Hồng bằng 20% tổng lượngdòng chảy năm của hệ thống này Trên thượng lưu sông Mê Kông, TrungQuốc đang phát triển mạnh các đập - hồ chứa, dự kiến đến 2010 sẽ có 8 đập
- hồ chứa lớn với tổng dung tích trên 40 km3 và sẽ ảnh hưởng rất lớn đếnvùng ven biển Việt Nam
Thiên tai, thậm chí khả năng xuất hiện động đất và sóng thần, ảnhhưởng lớn đến khả năng phát triển bền vững vùng biển Mực nước dâng caodẫn tới ngập lụt ven biển, nhiễm mặn, xói lở, sa bồi làm đảo lộn cân bằng tựnhiên và sinh thái Phân bố mưa và bão thất thường, có xu hướng giảm dần ởBắc Bộ, tăng lên ở Trung Bộ và dịch về phía Nam
Như vậy có thể thấy, sự phát triển kinh tế, dân số, diễn biến bất thườngcủa khí hậu và thiên tai đã tác động lớn đến tài nguyên và môi trường biển.Vùng biển Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phát triển thiếu bền vững
1.2.3 Vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch biển
Hoạt động quản lý Nhà nước là rất quan trọng đối với tất cả các lĩnhvực, trong lĩnh vực du lịch quản lý Nhà nước được thể hiện thông qua vai trò
Trang 23của du lịch đối với các lĩnh vực khác nhau:
1.2.3.1 Vai trò về xã hội
Tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới: Nếu quan sát bất kỳ một khu du
lịch nào, nhìn vào số nhân viên đang làm việc trong các khách sạn, các cửahàng bán đồ lưu niệm, các nhà hàng thì rõ ràng du lịch đã tạo ra những côngviệc này Khái niệm hiệu quả bội cũng được áp dụng ở đây vì du lịch còn tạothêm nhiều việc làm cho các ngành, lĩnh vực khác
Du lịch là một ngành tạo ra việc làm nhưng điều quan trọng là phảixem xét một cách thận trọng loại công việc mà nó tạo ra Du lịch tạo ra việclàm có thể mang tính thời vụ hoặc nhất thời Công việc thời vụ, công việctheo ca và công việc vào các ngày nghỉ (cuối tuần, lễ) là những đặc điểm củangành Mọi người phải thừa nhận rằng du lịch là ngành kinh doanh 24h/ngày,
7 ngày/tuần và điều đó có nghĩa là giờ giấc không còn là vấn đề quan trọng
Do công việc chân tay là chủ yếu, theo ca kíp, làm việc vào các ngày nghỉ chonên khi có cơ hội mọi người sẵn sàng đổi sang công việc khác ưa thích hơn
Tạo cơ sở để giúp phát triển các vùng đặc biệt: Du lịch thường được
gọi là ngành công nghiệp sạch bởi vì nó không cần hầm mỏ cũng như các nhàmáy chế biến Ngoài ra nó còn được coi là ngành tăng trưởng nhanh bởi vìmột khi các yêu cầu cơ bản được đáp ứng thì số khách du lịch có thể tăng lênvới một tỷ lệ cao Một khu vực, một vùng có thể là một nơi đến du lịch có lợithế ngay cả khi nó chưa có một số điểm hấp dẫn du khách Ngược lại, nếu khuvực/vùng đó có rất ít các điểm hấp dẫn tự nhiên nhưng vẫn có thể tạo ra điểmhấp dẫn nhân tạo thu hút được một số khách thăm như trung tâm thể thao, khuvui chơi giải trí, trung tâm thương mại với các cửa hàng miễn thuế
Cùng với các lợi ích của mình, du lịch sẽ giúp tạo ra một môi trườngthuận lợi cho các vùng có những vấn đề khó khăn nhất định của một quốc gia,
ví dụ vùng sâu vùng xa, làm cho các vùng này thu hút được sự quan tâm của
Trang 24công chúng trong và ngoài nước.
Mặt khác, do phát triển các khu du lịch làm cho người dân địa phươngtrước đây không muốn đến sinh sống ở những vùng sâu, vùng xa nay nhậnthức được các lợi ích do du lịch mang lại như thu nhập cao hơn, cơ sở hạ tầngđược cải thiện, đời sống văn hoá tinh thần phong phú hơn đã thuyết phục họchuyển đến và yên tâm định cư tại các vùng này
1.2.3.2 Vai trò kinh tế
Cải thiện cán cân thương mại quốc gia: Khách du lịch quốc tế
đến mang theo tiền từ các quốc gia khác Điều này có hiệu quả giống nhưmột ngành xuất khẩu và du khách có “trách nhiệm” mang ngoại tệ vào, do
đó làm cải thiện cán cân thanh toán thương mại quốc gia Du lịch đượccoi như một hàng hoá xuất khẩu có thể có giá trị như khoáng sản hoặcnông sản ở một số nước (và có lẽ có giá trị hơn vì nó không làm cạn kiệtcác tài nguyên thiên nhiên của đất nước như ngành khai thác) Nếu du lịchđược duy trì thường xuyên và phù hợp thì có thể coi nó như là một tácnhân giữ ổn định một khoản thu từ xuất khẩu Điều này đặc biệt quantrọng đối với những nước có các mặt hàng xuất khẩu chính có thể có sựnhạy cảm về giá cả hoặc thị trường của các mặt hàng này có thể đang bịthu hẹp Đặc biệt càng có ý nghĩa đối với các nước bị lệ thuộc vào sảnxuất nông nghiệp sẽ gặp khó khăn về kinh tế nếu mùa màng thất bát dothời tiết không thuận lợi
Du lịch quốc tế làm tăng dự trữ ngoại tệ của một quốc gia: Thiếu
ngoại tệ thường gây ra sự hạn chế chủ yếu về nguồn tài chính cho sự pháttriển kinh tế Bất kỳ một quốc gia nào đều mong muốn cải thiện nền nôngnghiệp, hệ thống giao thông, nguồn năng lượng của mình nhưng phải đốimặt với nhu cầu ngoại tệ khổng lồ để chi trả cho việc nhập khẩu công nghiệp
Trang 25Du khách quốc tế có thể giúp cung cấp khoản ngoại tệ cần thiết đó.
Lợi ích trên có được với điều kiện có được một số lượng đáng kể dukhách quốc tế đến và mang theo ngoại tệ Lượng ngoại tệ thu được không bị
rò rỉ khỏi nền kinh tế Đồng thời, các du khách quốc tế đến và chi tiêu nhiềuhơn công dân quốc gia đó đi du lịch nước ngoài
Nếu người Việt Nam đi nước ngoài trong các kỳ nghỉ và mang theonhiều tiền bạc (dưới dạng ngoại tệ) và chi tiêu tiền bạc ở nước ngoài thì lợiích kinh tế của du lịch sẽ bị ảnh hưởng Các nước đang phát triển như ViệtNam cần nhiều khách du lịch đến hơn số công dân nước mình đi du lịch nướcngoài để đảm bảo có lợi ích kinh tế dương trong cán cân thương mại quốc gia
Làm tăng nguồn thu cho Nhà nước: Khách du lịch cũng có nghĩa vụ
phải nộp các loại thuế Có thể là thuế trực tiếp như thuế khởi hành phải trả ởsân bay, thuế phòng cộng thêm vào các hoá đơn lưu trú tại khách sạn Cũng
có thế là thuế gián tiếp như thuế giá trị gia tăng đối với các hàng hoá dịch vụ
Vì khách du lịch là những “người mới” đối với cộng đồng nên những khoảnthuế họ đóng góp là nguồn thu thêm cho Nhà nước
Tuy nhiên, những lợi ích từ nguồn thu nhập thêm này phải được cânnhắc với những trách nhiệm và chi phí của Nhà nước phải tăng thêm Trongmột số trường hợp chính phủ một quốc gia phải giảm thuế để khuyến khíchđầu tư Trong các trường hợp khác, các thu nhập thu được thực sự có thể bịgiảm do chi phí phát triển du lịch tăng Một quốc gia khuyến khích du lịchphát triển nên hiểu rõ rằng để hấp dẫn khách du lịch một cách thực sự cầnphải phát triển cơ sở hạ tầng của đất nước như đường xá, giao thông côngcộng, sân bay, nhà ga, bến tàu, điện, nước và thông tin liên lạc Việc xây dựngcác tiện nghi này đạt được các tiêu chuẩn cần thiết đòi hỏi khoản đầu tư rấtlớn Tuy nhiên, đây cũng là các tiện nghi bổ sung để cải thiện đời sống dân cư
Trang 26địa phương.
Ngoài ra, Nhà nước còn phải hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động đào tạonguồn nhân lực cho du lịch, cải thiện các điều kiện sinh hoạt của dân cư nóichung, của người lao động trong ngành nói riêng, tuyển dụng thêm các nhânviên hải quan và cửa khẩu, nhân viên y tế, an ninh và vận chuyển khi du lịchphát triển
Khuyến khích nhu cầu nội địa: Người dân địa phương có thể không
có nhu cầu viếng thăm các điểm hấp dẫn trong khu vực địa phương mìnhnhưng dù sao họ vẫn tự hào khi thấy một thực tế là các điểm hấp dẫn này lạithu hút được nhiều người từ khắp nơi thậm chí rất xa đến viếng thăm Khimột khu vực thu hút được khách quốc tế sẽ làm tăng sự quan tâm trong nướcđối với các điểm hấp dẫn ở khu vực đó
Ngoài ra, khi địa phương phát triển các tiện nghi và cơ sở du lịch nhằmthu hút khách quốc tế thì điều này cũng có thể có lợi cho dân chúng địaphương Khi các khách sạn mới, khu giải trí, tiện nghi dịch vụ mới quyến rũcác khách du lịch quốc tế thì cũng làm cho người dân địa phương ở đây thíchnghỉ ngơi tại nhà - địa phương mình hơn
1.2.3.3 Vai trò đối với môi trường sinh thái
Chức năng sinh thái của du lịch được thể hiện trong việc tạo nên môitrường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụngkích thích việc bảo vệ, khôi phục môi trường thiên nhiên xung quanh
Việc tham quan các danh lam thắng cảnh và môi trường thiên nhiên có
ý nghĩa lớn đối với du khách Nó tạo điều kiện cho du khách hiểu biết về tựnhiên và hình thành thói quen bảo vệ môi trường
Du lịch và môi trường có quan hệ mật thiết với nhau, du lịch góp phần
Trang 27bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện để phát triển du lịch.
1.2.3.4 Đối với công tác chính trị
Chức năng chính trị của du lịch thể hiện vai trò của nó như một nhân tốcủng cố hoà bình, thức đẩy giao lưu, mở rộng sự hiểu biết giữa các địaphương, vùng Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở những khu vực khácnhau hiểu biết và xích lại gần nhau, tạo tình hữu nghị
Thông thường các du khách trở về sau một chuyến đi hy vọng cộngđồng của mình cùng chia sẻ các phong tục, tập quán thái độ và lòng tin mà họthu nhận, học tập được
Sự so sánh các nền văn hoá, sự mong muốn bổ sung thêm các yếu tố
“tốt” của nền văn hoá khác, loại bỏ các yếu tố xấu của chính cộng đồng mình
là một phần tích cực và mang tính giáo dục trong kinh nghiệm du khách vàcũng là một phản ứng, một tâm lý rất thông thường của những người sau khi
đi du lịch
Tuy nhiên, không phải tất cả các tác động này đều bổ ích hoặc là sựmong muốn lẫn nhau Có thể nảy sinh sự bất bình của người dân địa phươngđối với du khách do quá chênh lệch về các điều kiện kinh tế, cách ứng xử,dáng vẻ bề ngoài và cả hiệu quả kinh tế thu được Cầu về hàng hoá và dịch vụcủa du khách có thể dẫn đến việc tăng giá cả và tạo nên những cảm giác khóchịu cho người dân địa phương thậm chí ở cả những nơi đã và đang đón tiếp
du khách rất tốt từ nhiều năm nay
Ở các nước phát triển, du khách có thể ít phải tuân theo các tập quánvăn hoá thông thường Trong đó tại một số nước đang phát triển các nhà bảotàng, phòng trưng bày, nhà thờ lại có những sự sắp xếp đặc biệt để phù hợpvới du khách, điều đó có thể gây nên sự bất bình và không hài lòng trong
Trang 28những người dân địa phương
1.2.4 Một số chỉ tiêu hiệu quả đánh giá phát triển du lịch biển
1.2.4.1 Quy hoạch du lịch
Quy hoạch du lịch là tập hợp lý luận và thực tiễn, nhằm phân bố hợp lýnhất trên lãnh thổ của vùng những cơ sở kinh doanh du lịch có tính toán tổnghợp các nhân tố: điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, điềukiện kinh tế-xã hội, môi trường, kiến trúc xây dựng, kỹ thuật công trình,đường lối chính sách Quy hoạch du lịch còn cụ thể hoá trên lãnh thổ vùngnhững dự đoán, định hướng, chương trình và kế hoạch phát triển du lịch củacác tổng thể vùng Đồng thời, quy hoạch du lịch bao gồm cả quá trình quyếtđịnh, thực hiện quy hoạch và bổ sung các điều kiện phát triển nhằm đạt đượccác mục tiêu phát triển du lịch bền vững
Một số nguyên tắc quy hoạch du lịch:
+ Sự tham gia của địa phương: Vì nguồn tài nguyên trong bất kỳ một dự
án quy hoạch nào trước khi quy hoạch đều thuộc sở hữu của người dân bản địa
Vì vậy, sự tham gia của cộng đồng và chính quyền địa phương vào các dự ánquy hoạch sẽ gắn kết quyền lợi của người dân địa phương, thu hút cộng đồngvào hoạt động bảo tồn và phát triển du lịch sẽ giúp cho dự án có hiệu quả hơn
+ Nhu cầu địa phương và bảo tồn là ưu tiên trước mắt: Nguyên tắc nàyđang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, tạo ra sự ủng hộ của cộng đồng địaphương với việc thực hiện các dự án quy hoạch; tạo ra sức hấp dẫn của quyhoạch và phát triển du lịch đối với du khách; và góp phần xoá đói, giảmnghèo, bảo vệ được tài nguyên và môi trường
+ Xây dựng quy hoạch trên quan điểm trao quyền hạn với quy mô rộngcho địa phương Việc trao quyền hạn, chức năng trong tổ chức quản lý cáchoạt động du lịch và dự án quy hoạch sẽ khơi dậy, nâng cao trách nhiệm của
Trang 29cộng đồng địa phương trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên.
+ Sử dụng các nguồn tài nguyên vốn có: trong việc quy hoạch du lịchcần dựa vào những nguồn lực ở địa phương như: kỹ năng, kinh nghiệm củangười dân địa phương, các nguồn tài nguyên, nguồn lao động của địa phương,các sản phẩm hàng hoá của địa phương như: vật liệu xây dựng, đồ dùng, hàngthủ công mỹ nghệ, nông phẩm Nguyên tắc này sẽ góp phần phát triển kinh tếđịa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống của địa phương và tạo sự đặc sắccủa điểm đến
+ Thiết kế mô hình với quy mô thích hợp: việc thiết kế và phát triển các
mô hình phát triển du lịch nên ở quy mô thích hợp dựa trên phong cách sống,
cơ cấu văn hoá xã hội, cách thức tổ chức quần cư của cộng đồng, sức chứacủa nguồn tài nguyên và môi trường
+ Tính đến sự bền vững lâu dài: Các tổ chức, các chuyên gia khi thiếtlập quy hoạch du lịch phải nhận thức được nhu cầu gắn bó lâu dài với tàinguyên để thiết lập định hướng đến việc phát triển hài hoà giữa phát triểncộng đồng và bảo tồn
+ Nhìn chung công tác quy hoạch du lịch biển ở Việt Nam đạt đượcmột số ưu điểm như: có cơ sở vật chất và chất lượng dịch vụ đạt tiêu chuẩnquốc tế từ 3-5 sao; sản phẩm du lịch khá đa dạng và hấp dẫn du khách Phầnnhiều các công trình xây dựng đã có kiểm soát và hạn chế về độ cao và mậtđộ; có kiến trúc mỹ thuật đẹp, kết hợp giữa kiến trúc truyền thống Việt Nam
và các trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu của du khách
Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong phát triển du lịch biển như:
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật được xây dựng không đảm bảo việc phântheo đới cũng như khoảng cách bảo tồn tuyệt đối từ 100 - 500m so với mực
Trang 30nước thuỷ triều lên về phía bờ.
+ Việc xây dựng các công trình chưa đánh giá thấu đáo các hiện tượngđịa mạo ở biển như xâm thực, triều dân có thể làm cho nhiều công trình bịhuỷ hoại
+ Một số khu du lịch xâm chiếm bãi tắm, không đảm bảo yêu cầu tiếpcận bãi tắm và mặt nước tự do của công dân mà nhiều nước trên thế giới đãthực hiện
+ Ở các khu du lịch sinh thái biển, chất lượng nguồn nước sạch, việc xử
lý nước thải và rác thải chưa được thực hiện đúng quy trình kỹ thuật Nguồnnước thải chủ yếu vẫn được xử lý theo phương pháp tự thấm hoặc đổ ra biểngây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước biển, còn nước sạch vẫn được xử lýtại chỗ nên không đảm bảo tiêu chuẩn nước sạch
+ Mức độ tập trung các công trình dây dựng của các khu du lịch cònkhá dày, chưa tạo được cảnh quan môi trường xanh mát của những vùng biểnnhiệt đới và hoạt động du lịch bảo tồn
+ Các khu du lịch được quy hoạch xây dựng chưa quan tâm nhiều đếnviệc quy hoạch cảnh trí, các trang thiết bị và các loại hình du lịch để tạo ra cácsản phẩm độc đáo cho từng khu Vì vậy, nhiều khu du lịch biển tuy có chấtlượng về cơ sở vật chất nhưng lại mang tính tương đồng, nên đã giảm sức hấpdẫn với du khách và không tạo được lợi thế cạnh tranh cho từng khu du lịch
1.2.4.1 Cơ cấu khách, doanh thu và chi tiêu của du khách
Cơ cấu khách du lịch: Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam tại điểm 2,
Chương I:“ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừtrường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến“
Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Trang 31Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tạiViệt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Khách du lịch quốc tế
là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam dulịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nướcngoài du lịch
Hoạt động du lịch thường di chuyển, thay đổi theo không gian Do đónghiên cứu hoạt động du lịch từ đó xác định khu vực nào, quốc gia nào… làthị trường mục tiêu; khu vực nào, quốc gia nào là thị trường tiềm năng để cónhưng giải pháp thu hút du khách
Trong tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2005 có tới88,8% đi bằng đường không, đi bằng đường bộ là 7,1% và đường thuỷ là4,1% Trong đó mục đích khách quốc tế đến Việt Nam gòm 59,9% với mụcđích thương mại, mục đích du lịch thuần tuý chiếm 31,1% và mục đích khác
là 18% Riêng khách du lịch là Việt kiều có mục đích thuần tuý, thăm thânnhân chiếm 76,4%; mục đích thương mại chiếm 2,8%, khách có mục đíchkhác là 20,8%
Theo các nhà nghiên cứu về du lịch, ở các nước đang phát triển và pháttriển thì tỷ lệ du khách được điều tra thích đi du lịch biển hơn là lục địa Dânthành thị có khả năng đi du lịch cao hơn; còn đối với nông thôn thì tỷ lệ dânvùng nội địa có khả năng đi du lịch cao hơn dân vùng biển
Thị trường nguồn khách cũng sẽ thay đổi theo cự ly Thị trườngnguồn khách du lịch của một thành phố đạt 37% ở cự ly 15 km; 24% ởtrong cự ly 15 - 50 km; 21% ở cự ly 50 - 500 km và chỉ khoảng 6% cho cự
ly ngoài 500 km Trong vùng du lịch có khoảng cách từ 50 - 800 km dân cư
từ thành phố đó đi du lịch được gọi là thị trường tạo nguồn cấp I; còn cácnơi khác lấy thành phố đó làm điểm trung chuyển rồi từ đó đi xuống các
Trang 32thành phố khác từ bốn phía thì gọi là thị trường cấp II của thành phố xungquanh vùng du lịch Đối với thị trường cấp II, theo nhiều nghiên cứu chothấy phạm vi toả đi từ trung tâm khoảng 250 km, nhìn chung phạm vị toả đi
từ trung tâm không quá 500 km
Khả năng chi tiêu
- Công thức tính chỉ tiêu chi tiêu bình quân một ngày khách: dt=D/K
Trong đó: dt: Doanh thu bình quân (chi tiêu bình quân khách/ngày)
D: Tổng doanh thu; K: Tổng ngày khách
- Khách quốc tế: Nhìn chung do những hạn chế về số lượng, chủngloại, chất lượng sản phẩm du lịch và dịch vụ nên mức chi tiêu của du kháchđến Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Năm
1995 trung bình mỗi ngày một khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chi tiêu 70USD, đến năm 2005 mức chi tiêu một ngày trung bình của một du khách quốc
tế là 120 USD
Cơ cấu chi tiêu của khách tập trung vào lưu trú tới 50,17%; ăn uống19,6%; mua hàng lưu niệm 12,34%, lữ hành vận chuyển 9,55% và các dịch vụkhác chỉ 8,34% Cơ cấu chi tiêu của khách quốc tế đã phản ánh sản phẩm dulịch nghèo nàn, đơn điệu; hiệu quả kinh doanh hạn chế
- Khách du lịch nội địa: các hình thức đi du lịch chủ yếu của khách dulịch nội địa là du lịch lễ hội, tín ngưỡng (thường tập trung vào mùa xuân), dulịch tham quan (các di tích lịch sử, bảo tàng và công viên) và du lịch nghỉdưỡng (đi biển) Nhìn chung khả năng chi tiêu của khách du lịch nội địa phụthuộc nhiều yếu tố nhưng có hai yếu tố chính là khả năng tài chính của dukhách và khả năng đáp ứng các dịch vụ của cơ sở kinh doanh du lịch, thôngthường chi phí cho lưu trú, ăn uống chiếm 75%, còn lại chi phí cho vận
Trang 33chuyển và các chi phí khác.
1.2.4.3 Cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và thời gian lưu trú
Cơ sở lưu trú, ăn uống và vui chơi giải trí: Cơ sở lư trú là cơ sở kinh
doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch Các cơ sởlưu trú, ăn uống gồm khách sạn Motel, Camping, làng du lịch, biệt thự, nhànghỉ, nhà trọ, nhà hàng Điều tra đánh giá về: số lượng, chất lượng, quy mô,công suất buồng và phòng, mức độ tăng trưởng, số lượng phòng khách sạn,mức độ tiện nghi và hiện đại của trang thiết bị, công suất buồng phòng, côngsuất phải đạt từ 60% hoạt động kinh doanh lưu trú mới có lãi; mức độ hiệnđại, tiện nghi phù hợp hài hoà của các thiết bị, vật liệu xây dựng, kiến trúc mỹthuật, độ cao, mật độ của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch với tài nguyên, cảnhquan du lịch, văn hoá bản địa, kết cấu hạ tầng và nhu cầu của du khách
Điều tra đánh giá về số lượng, chất lượng các thiết bị, chất lượng cácdịch vụ các cơ sở vui chơi giải trí như:
Các công viên giải trí: gồm các loại thiết bị, các trò chơi điện tử, mô tôđiện, cầu trượt, đua ngựa, đu quay
Các công viên đại dương gồm: cơ sở vật chất để nuôi dưỡng, bảo tồncác loại thuỷ sản quý (bảo tàng biển) phục vụ khách tham quan và nghiêncứu; sân khấu biểu diễn nghệ thuật; các thiết bị để tổ chức các trò chơi (tàulượn, đu quay )
Các công viên nuôi dưỡng, bảo tồn các loài thực vật, động vật quýhiếm, gồm cơ sở vật chất kỹ thuật; hệ thống chuồng trại, khu vực chăn thảcùng các trang thiết bị phù hợp với điều kiện sinh thái của các loại động vật,các vườn thực vật và đáp ứng nhu cầu tham quan nghiên cứu của du khách
Các hình thức vui chơi giải trí trên mặt nước, dưới biển: lướt ván, ca
Trang 34nô, thuyền, tàu đáy kính, thiết bị lặn Các sân vận động, sân thể thao.
Sức hấp dẫn, mức độ độc đáo, hiện đại của các thiết bị, cách bố trí hàihoà, tạo ra cảnh quan đẹp giữa các công trình xây dựng, các thiết bị với cảnhquan cây cối, hồ nước, biển, sông, đồi núi và những vấn đề hạn chế của các
cơ sở vui chơi giải trí
Thời gian lưu trú trung bình của du khách: Thời gian lưu trú trung
bình được hiểu là khoảng thời gian trung bình của một khách du lịch ở tạiđiểm mà người đó du lịch
Công thức tính thời gian lưu trú trung bình: TLL=NK/K
Trong đó: TLL: Thời gian lưu lại trung bình của một khách du lịch
NK: Tổng ngày khách; K: Tổng lượt khách
Do có những chính sách quan tâm, ưu tiên phát triển du lịch, nền kinh
tế - xã hội ngày càng phát triển, thu hút nhiều dự án đầu tư, các sản phẩm dulịch của Việt Nam ngày càng phong phú và có chất lượng nên số ngày lưutrú của du khách quốc tế đến Việt Nam tăng đáng kể trong những năm qua.Thời gian lưu trú trung bình của một khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tănglên đáng kể trong các năm qua Năm 1992 là 5,8 ngày và đến năm 1996 là 6,7ngày Tuy nhiên do những hạn chế về quy mô của các điểm tham quan, về sự
mở rộng phát triển các điểm du lịch mới, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dulịch nên số ngày lưu trú trung bình của một khách du lịch quốc tế đến ViệtNam giảm đến năm 2005 chỉ còn 5,36 ngày
1.2.4.4 Nguồn lao động trong ngành du lich
Điều tra, đánh giá nguồn lao động du lịch bao gồm các nội dung sau:các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độngoài ngữ, phẩm chất, mức thu nhập của lao động trong ngành du lịch bao
Trang 35gồm cả những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những mặt hạn chế (dođào tạo, tuyển dụng, sử dụng - quản lý, cơ chế chính sách) Cơ sở khoa học vàthực tiễn của việc điều tra, đánh giá nguồn lao động du lịch; căn cứ vào sốliệu thống kê, điều tra từ các cơ sở kinh doanh du lịch và thông qua điều tra
xã hội học bằng bảng hỏi
Căn cứ vào tiêu chí lao động bình quân trên một phòng khách sạn quốc
tế là 1,7 lao động, 1 phòng khách sạn nội địa là 1,2 lao động, cứ một lao độngtrực tiếp trong hoạt động du lịch có 2,2 lao động gián tiếp (hoặc 2 lao độngcho một phòng khách sạn) để đánh giá mức độ phù hợp của nguồn lao động
Căn cứ vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ phẩm chất,cường độ làm việc của nguồn lao động để đánh giá về chất lượng và khả năngđáp ứng nhu cầu của du khách
Căn cứ vào tiêu chí trình kết cấu lao động theo trình độ chuyên mônnghiệp vụ làm việc của nhà hàng và khách sạn: nhân viên quản lý chiếm 6%;nhân viên giám sát 8%, nhân viên thành thục có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ ngoại ngữ cao 22% Ba nhóm nhân viên này được gọi là tốp thành thạo;64% nhân viên thuộc tốp thao tác (nhóm nhân viên được đào tạo nghiệp vụcho công việc cụ thể)
1.2.4.5 Công tác bảo vệ môi trường tại khu/vùng du lịch
Khái niệm môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên vàyếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, cóảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên“ (Theo Luật bảo vệ môi trường).
Các hoạt động kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động du lịch nói riêng
đề có tác động đến tài nguyên và môi trường Những tác động này có thể là
Trang 36tích cực song cũng có nhiều tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường.Mặt tích cực là tạo hiệu quả tốt đối với việc tiến hành nghiên cứu, xếp hạng,tôn vinh giá trị tài nguyên Nghiên cứu đánh giá, sử dụng hợp lý, bảo tồn phụchồi tài nguyên môi trường, tạo tài nguyên du lịch nhân tạo sẽ tạo ra hiệu quảkinh tế trực tiếp và gián tiếp, nâng cao chất lượng sống cộng đồng, thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia và các địa phương Mặt tác độngtiêu cực gây nên sự lãng phí, tiêu tốn, suy kiệt tài nguyên, suy thoái môitrường, suy giảm chất lượng cuộc sống cộng đồng, suy giảm những ngành sảnxuất truyền thống, gây dịch bệnh tệ nạn xã hội
Sự tác động của hoạt động du lịch trong các dự án phát triển du lịchđến tài nguyên và môi trường, kinh tế xã hội có mối chặt chẽ, qua lại theo quyluật giữa các thành tố trong các hệ thống lãnh thổ du lịch, trong tiến trình pháttriển du lịch và môi trường Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá tác động củacác dự án phát triển du lịch đến tài nguyên môi trường cần phân tích từnguyên nhân chính, hậu quả chính, nguyên nhân trực tiếp đến các nguyênnhân gián tiếp và hậu quả mang tính dây chuyền của nó, từ đó giúp cho việcxác định được các biện pháp để phòng ngừa, tạo lập sự phát triển bền vữngcủa hoạt động du lịch và tài nguyên môi trường du lịch
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ
2.1 THỊ XÃ CỬA LÒ - LỊCH SỬ VÀ VĂN HOÁ
Vùng đất Thị xã Cửa Lò được hình thành từ phù sa của hai cửa sông,cửa biển lớn, nổi tiếng của xứ Nghệ: Cửa Hội Sông Lam và Cửa Lò sôngCấm, với diện tích tự nhiên 2.870 ha (chưa tính đảo Ngư và đảo Mắt) dân sốhơn 50.000 người, gồm 7 phường xã: Nghi Tân, Nghi Thuỷ, Thu Thuỷ, NghiThu, Nghi Hương, Nghi Hoà, Nghi Hải với 71 khối xóm và 2 đảo
Thị xã Cửa Lò với 3 mặt là sông biển nên được gọi là Thị xã biển, có
bờ biển dài 10 km, từ cảng thương mại quốc tế Cửa Lò đến cảng cá Cửa Hội,trong đó bãi tắm dài 8,3 km Mảnh đất này còn gọi là nơi tụ hội của nhiều núi
và đảo, người xưa gọi “nhân sơn quần tụ” Núi Lò (Lô Sơn) đỉnh cao chấtngất trông ra biển Dưới chân núi có chùa Lô Sơn là danh thắng cũng là nơigửi gắm tâm linh của du khách Núi Cờ, Núi Voi, núi Mão, núi Áo (ở NghiQuang, Nghi Hợp), núi Kiếm, hòn Thỏi Mực (Nghi Tân), núi Bảng… đã phátthịnh cho các vị thần linh, tướng tài có công lao với đất nước Núi Cờ (còngọi là Động Đình), ở phía Tây Bắc núi Lò Dưới chân núi có khu mộ NguyễnHội do hổ táng Nguyễn Hội là thân sinh của Cương Quốc Công Nguyễn Xí -Công thần khai quốc triều Lê Nguyễn Hội có công chiêu dân lập ra hai đồngmuối Thượng Xá (Nghi Xã, Nghi Hợp) và Yên Lương (Nghi Thuỷ) Nguyễn
Xí được vua Lê Thái Tổ phong đất một huyện, đã lấy tù binh quân Minh(Trung Quốc) và Cham Pa, Chiêm Thành khai phá đất hoang dọc bờ biển Cửa
Lò, Cửa Hội, lập nên nhiều làng mạc trù phú như Phú Phong (Nghi Phong),Bàu Ổ, Văn Trung (Nghi Hương)… các bia đá còn lại đến ngày nay ở đền thờ
Trang 38Nguyễn Xí (Nghi Hợp), ở nhà thờ họ Chế (Nghi Thu) còn ghi lại công tíchkhai sơ của tướng công Con trai cả của ông là Nguyễn Sư Hồi, đã cùng cha
có công diệt bọn phản nghịch trong triều, phù lạp vị vua Lê Thánh Tông,dựng nên một triều đại cường thịnh nhất triều Lê Sơ Sư hồi được phong làphò mã, Đô ý, Quân Công, Đô Đốc, Trấn thủ thập nhị hải môn (Trấn thủ 12cửa biển từ Sầm Sơn vào đến cửa Tùng) mà căn cứ chính đóng hạm đội thuỷquan lớn nhất là Xá Tấn (đồn Cửa Xá), sau gọi là Lô Tấn (Tấn Cửa Lò).Chính vì vậy, dòng sông Gấm (còn gọi là sông Ngân) được đổi gọi là sôngCấm Ông cho chở đá xây kè dọc bờ phía Nam cửa sông Cấm để bảo vệ căn
cứ và chiêu dân các nơi đến phát triển nghề đánh cá và làm ruộng, lập ra xãHải Giang, nay là phường Nghi Tân Đền thờ Nguyễn Sư Hồi ở làng Vạn Lộc
là điểm khởi đầu cho lễ rước bài vị thần trong Lễ hội sông nước khai trươngmùa du lịch Cửa Lò (tổ chức vào 30/4 và 1/5 hàng năm)
Bờ phía Bắc tả mạn sông Cấm là núi Rồng (còn gọi là rồng Xã Hải) “vệchrâu phu lộc nước”, “nhả ngọc” là hòn Lan Châu (còn gọi là Len Chu ở Hữu ngạntạo nên một danh thắng cho bãi tắm Thu Thuỷ) Sông Lam uốn lượn như conrồng xanh ôm lấy phía Nam Thị xã Cửa Lò, tuôn nước vào biển “phun châu”thành đảo Ngư, đảo Mắt Cửa Hội thời kỳ đại Việt (khoảng thế kỷ thứ X-XIV) làmột cửa bể sầm uất thuyền buôn trong và ngoài nước ra vào tấp nập Cùng vớinúi Hồng Lĩnh (huyện Nghi Xuân) vùng sông biển Cửa Lò tạo thành một đệnhất danh lam thắng của xứ Nghệ và được coi là vùng tú khí “địa linh nhânkiệt”
2.2 MÔ HÌNH DU LỊCH NGHỈ NGƠI, GIẢI TRÍ CỦA THỊ XÃ BIỂN CỬA LÒ
2.2.1 Thuận lợi để phát triển du lịch biển Cửa Lò
Thuộc Nghệ An - trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ, đầu mối giao lưu
Trang 39Đông - Tây, cửa ngõ quốc tế với các nước láng giềng Lào, Đông Bắc Thái Lan,đảo Hải Nam Trung Quốc Với tiềm năng tài nguyên du lịch đa dạng tạo chotỉnh những lợi thế so sánh rõ rệt so với các địa phương khác trong vùng về pháttriển kinh tế nhất là dịch vụ, lương thực thực phẩm phong phú, giá cả hợp lý.Với nguồn lao động dồi dào trình độ dân trí tương đối cao, người dân lao độngcần cù, chịu khó và có nhiều người thành đạt trong và ngoài nước Hệ thốnggiao thông trong vùng đa dạng kết nối với các địa phương và quốc tế Hệ thống
cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ tương đối hoàn chỉnh, nhiều cơ sở đạt tiêuchuẩn quốc tế đủ điều kiện thu hút khách du lịch trong và ngoài nước
Thị xã Cửa Lò cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 16 km, gần sânbay Vinh, cảng biển và ga xe lửa, là vùng kinh tế tương đối phát triển và cóđiều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng như: Giao thông, thủy lợi, điện, mạnglưới bưu chính viễn thông và điều kiện dân trí cao Về tiềm năng tài nguyên
du lịch: Thị xã Cửa Lò chạy dọc theo bãi biễn và nằm giữa hai cửa biển, khu
du lịch biển Cửa Lò nổi tiếng bởi có bãi tắm dài hơn 8 km, cát mịn và phẳng,nước biển trong xanh, độ mặn vừa phải, đáy biển phẳng và nông, biển Cửa Lòlại giàu về hải sản đủ cung cấp cho khách du lịch, xa xa bãi biển có các đảoLan Châu, đảo Song Ngư, đảo Mắt… có thể xây dựng và phát triển các loạihình dịch vụ thương mại, Cửa Lò có nhiều tài nguyên nhân văn như di tíchcác đền, đình, lễ hội và các làng nghề truyền thống thu hút khách du lịch
Một vùng du lịch xanh Cửa Hội khá lý tưởng với 60 ha cây phi lao cótrên 10 năm tuổi đang toả bóng mát rợp cả bờ biển và những hồ cá rộng giữanhững lối cát mịn màng sẽ đáp ứng được nhu cầu du lịch sinh thái của dukhách Tuyến du lịch mới bãi tắm Cửa Lò đi thăm đảo Ngư và chùa đảo Ngư(thờ Phật và sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn, vị thần canh giữ biển Đông)
sẽ là những bí ẩn hấp dẫn cho những ai thích khám phá, tìm chốn tĩnh tâm…
Trang 40Cùng với nhiều di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, lại thuận lợi vềgiao thông, thông tin liên lạc, Thị xã biển Cửa Lò đã trở thành một đô thị dulịch biển hấp dẫn với du khách muôn phương Trong mấy năm qua, khu dulịch Cửa Lò là điểm thu hút khách nhiều nhất trên địa bàn và khu vực BắcTrung Bộ và những năm tới chưa có khu vực du lịch nào trong vùng có thểcạnh tranh nên vẫn còn đầy tiềm năng thu hút khách du lịch
Trong các năm qua, khu du lịch đã đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch vì vậy có thể coi đây là khu du lịch đạt tiêuchuẩn cao trong khu vực Nhưng để trở thành khu đô thị du lịch, khu vực nàycần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo tiêu chuẩn, chỉ tiêu của đô thị loại
2 và đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đạt tiêu chuẩn cao theo quy địnhcủa Luật du lịch Một số trọng tâm đầu tư trong thời kỳ 2006 - 2010 cần tậptrung hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng toàn bộ không gian như: Giao thông,điện nước và hệ thống xử lý nước thải, rác thải… Về cơ sở vật chất kỹ thuật
du lịch nâng cấp các cơ sở lưu trú, ăn uống tương đương đẳng cấp quốc tế,xây dựng cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí để du khách vào trong thời giankhông mùa vụ như sân gôn, sân tenit… Thời kỳ 2011 - 2015 cần xây dựng hệthống cầu cảng Cửa Lò đạt tiêu chuẩn cao với trang thiết bị hiện đại để thuhút loại hình khách du lịch bằng tàu biển vào tham quan du lịch cần có chiếnlược đầu tư khai thác đưa đảo Song Ngư vào dịch vụ du lịch và kêu gọi vốnđầu tư xây dựng đảo thành nơi dịch vụ vui chơi giải trí quốc tế khu vực để thuhút khách du lịch quốc tế Thời kỳ 2016 - 2020 tập trung nâng cấp các dịch vụđạt tiêu chuẩn quốc tế và sáp nhập Thị xã Cửa Lò vào thành phố Vinh để trởthành đô thị và trung tâm du lịch của tỉnh Cửa Lò
Bên cạnh đó, với mục tiêu xây dựng Cửa Lò trở thành đô thị du lịch:Xanh, sạch, đẹp, trong những năm qua, Ủy ban nhân dân Thị xã đã chỉ đạo,