Con người là nguồn lực vô cùng quan trọng của một quốc gia nói chung và một doanh nghiệp nói riêng. Con người góp phần vào sự phát triển của xã hội, vào thành công của bất kỳ một doanh nghiệp nào,vì thế cạnh tranh để có vốn con người trở nên gay gắt hơn. Đặc biệt trước sự phát triển mạnh mẽ của thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang không ngừng biển đổi,khẳng định vị thế đất nước trên thị trường thế giới. Nhất là từ khi trở thành thành viên chính thức của WTO-Tổ chức thương mại thế giới,đã, đang và sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước thâm nhập vào thị trường thế giới,có điều kiện khẳng định bản lĩnh tên tuổi của mình.Bên cạnh những cơ hội thuận lợi các doanh nghiệp trong nước còn gặp rất nhiều thách thức, đó là đối mặt với những công ty hùng hậu,có những khoảng cách lớn về khoa học công nghệ kỹ thuật lại còn phải chiều lòng các thị trường khó tính : Châu Âu,Châu Mĩ…mà khó khăn lớn nhất là đội ngũ cán bộ có trình độ cao, hiện tượng chảy máu chất xám ở các doanh nghiệp trong nước đang diễn ra rất nhiều, bài toán đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là gìn giữ được lao động giỏi,lao động có tay nghề cao.Hơn thế nữa trong những năm gần đây, mức sống ngày càng cải thiện , nhu cầu con người đã có biến đổi, họ không còn mong muốn được ăn no mặc ấm nữa mà nhu cầu cao hơn ăn ngon mặc đẹp, người lao động cũng vậy chính sách lương cao, thưởng nhiều không còn trở nên quan trọng trong quyết định gia nhập vào doanh nghiệp của họ, chú ý đến những đãi ngộ, BHXH, điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến,trợ cấp, dịch vụ,…Trở nên có ý nghĩa hơn đối với mỗi người lao động, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không còn là sản phẩm mà quan trọng hơn là gìn giữ và thu hút được lao động có trình độ, góp phần gầy dựng văn hoá doanh nghiệp, tăng uy tín công ty,các chính sách phúc lợi ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong công tác Quản Trị Nhân Lực,thông qua Bảo Hiểm Xã Hội, Bảo Hiểm Y Tế, Bảo Hiểm Thất Nghiệp cùng với hàng loạt các trợ cấp và dich vụ phúc lợi đem lại cho người lao động, cho cả doanh nghiệp và xã hội.Với ích lợi vậy tại sao các doanh nghiệp không xây dựng nhiều chương trình phúc lợi hơn, phải chăng lý do một phần chi phí quá lớn mà không phải bất kỳ tổ chức nào cũng đủ tiềm lực tài chính gánh vác,một lý do khác có thể là quản lý chương trình gặp khó khăn nếu người quản lý thiếu kinh nghiệm, trình độ.Đứng trứơc bức thiết đòi hỏi của thực tế em chọn đề tài " Xây dựng và quản lý chương trình phúc lợi là yếu tố quan trọng trong công tác Quản trị nhân lực hiệu quả".Cùng với mục đích cách nhìn nhận về vai trò quan trọng quản lý một chương trình phúc lợi tốt. · Câu hỏi nghiên cứu: Quản Trị Nhân Lực hiệu quả có nhất thiết cần xây dựng và quản lý chương trình phúc lợi tốt không? · Phương Pháp nghiên cứu: Tra cứu tài liệu: Giáo trình QTNL-THS Nguyễn Vân Điềm,PGS-TS Nguyễn Hồng Quân,QTNL-Vũ Kim Dung,QTNSự-JOHN,QTNSự-Nguyễn Hữu Thân,các trang WEB: Vietnam net.vn.chínhtrị 11/2005(31/12/2004) · Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu các doanh nghiệp hoạt động trong khoảng 10 năm Do các hạn chế không cho phép như về mặt thời gian,…bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự góp ý của thầy và các bạn để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn.Qua đây em xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Thạc Sỹ Nguyễn Đức Kiên, giảng viên khoa Kinh Tế Và Quản trị Nhân Lực đã trực tiếp hướng dẫn cho em và cả nhóm hoàn thành đề án của mình cũng như đóng góp trao đổi của các bạn trong nhóm.
Trang 1M«n : Lý thuyÕt tiÒn tÖ ng©n hµng.
ë ViÖt Nam.
Sinh viªn thùc hiÖn:
NguyÔn Thu Quyªn NguyÔn ThÞ Thanh Thuû
NguyÔn ThÞ Thu Hµ NguyÔn ThÞ ThuÇn
NguyÔn ThÞ ViÖt H¶i NguyÔn Thuú Linh
Lª H¶i V©n
Líp: KTA - K8
Hµ Néi, th¸ng 10 n¨m 2007
Trang 2Mục lục
A.Phần mở đầu Trang 3 B.Nội dung Trang 4 Chơng I Một số vấn đề lý luận Trang 4
I Khái niệm, phân loại đôla hoá .Trang 4
1 Khái niệm .Trang 4
Chơng II Thực trạng đôla hoá ở Việt Nam .Trang 17
I Tình hình đôla hoá ở Việt Nam .Trang 17
1 Những con đờng đôla Mỹ xâm nhập vào Việt Nam Trang 17
2 Những biểu hiện của hiện tợng đôla hoá ở Việt Nam Trang 18
II Nguyên nhân của hiện tợng đôla hoá ở Việt Nam Trang 22
1 Lãi suất tiền gửi ngoại tệ tăng Trang 22
2 Sự gia tăng tỷ giá VND/USD Trang 24
3 Sự yếu kém của đồng tiền Việt Nam Trang 25
4 Tâm lý a chuộng đôla Mỹ của ngời dân Trang 26
Trang 3A Phần mở đầu
Trong thời gian gần đây, xu hớng hội nhập kinh
tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội cho tất cả các nền kinh tế có đẫyđủ các điềukiện để tiếp cận với nhau, hợp tác với nhau; trong đó có lĩnh vực tiền tệ - tíndụng - ngân hàng Hiện tợng các đồng tiền giao lu với nhau trong tất cả cácgiao dịch kinh tế là một trong những biểu hiện tất yếu của kinh tế thị trờng Quagiao lu đó, quan hệ giữa các đồng tiền có điều kiện để gắn bó với nhau hơn, cóthể tự đánh giá vị trí của mỗi đồng tiền trên thị trờng thế giới Việc các đồngtiền có bị đánh mất mình hay không trên thị trờng, có bị các đồng tiền mạnhhơn "đồng hoá" hay không lại tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau từ vaitrò của các nhà chức trách cũng nh từ sự đứng vững của mỗi một đồng tiền trênthơng trờng
Đôla hoá là một hiện tợng kinh tế - xã hội không phải chỉ diễn ra ở nớc
ta mà ở nhiều nớc đang phát triển trên thế giới Riêng ở nớc ta, từ sau khi bắttay vào công cuộc đổi mới nền kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tậptrung, bao cấp sang cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề
"Đôla hoá" đã và đang đợc đặt ra nh một trong những vấn đề rất đáng quan tâmvì những yếu tố tích cực cũng nh tiêu cực của nó trong phát triển kinh tế - xãhội của đất nớc Thực chất Đôla hoá là gì ? ảnh hởng của nó nh thế nào đối với
đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam ? Đây là vấn đề thu hút sự quan tâm đặcbiệt của những ngời làm nghiên cứu khoa học, cũng nh của bất cứ ai quan tâm
đến chính sách tiền tệ của đất nớc Với bài viết này, chúng em hy vọng có thểlàm rõ đợc phần nào thực trạng đôla hoá ở Việt Nam, đồng thời đề ra một sốkiến nghị, giải pháp cho vấn đề này
Trang 4B Nội dung
Ch ơng I Một số vấn đề lý luận.
I Khái niệm, phân loại đô la hoá
1.Khái niệm
Đô la hoá là việc sử dụng ngoại tệ thay cho đồng bản tệ để thực hiện một phần hoặc toàn bộ các chức năng của tiền tệ.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại thì tiền tệ có 3 chức năng :
ph-ơng tiện trao đổi, đơn vị tính toán giá trị và phph-ơng tiện tích luỹ giá trị Vì vậykhi ta nói nền kinh tế bị đô la hoá có nghĩa là ngời c trú của nớc đó sử dụngngoại tệ (không chỉ đồng đô la Mỹ) thay cho đồng bản tệ trong việc dự trữ,thanh toán hay tính toán, định giá hàng hoá
Mỗi quốc gia, Nhà nớc đều phát hành đồng tiền riêng của mình để nắm giữquyền quản lý lu thông tiền tệ trong phạm vi đất nớc đó Tuy nhiên, cùng với xuhớng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, hàng hoá đợc sản xuất tại một nớc cóthể đợc dân chúng ở các nớc khác sử dụng và vì thế cần có sự trao đổi về tiền tệgiữa các quốc gia, các tổ chức kinh tế cũng nh dân chúng Hiện tợng ngời dâncủa nớc này sử dụng đồng tiền của nớc khác đợc coi là một hiện tợng kinh tếkhách quan ở các nớc chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trờng, mở cửa nềnkinh tế để ra nhập nền kinh tế thế giới
Trong hầu hết các hoạt động thơng mại, tài chính, dự trữ trên thế giới hiện
nay, đồng USD là đồng tiền đợc a chuộng và sử dụng nhiều nhất nên thuật ngữ
“đô la hoá” đã ra đời và về bản chất nó đợc coi là đồng nghĩa với “ngoại tệhoá” Hiện tợng các nớc không sử dụng đồng bản tệ của nớc mình trong cácchức năng của tiền tệ đợc coi là hiện tợng đô la hoá nh trờng hợp một số nớc sử
dụng đồng Rand của Nam Phi hay một số nớc Châu Âu sử dụng đồng EURO.
Những phân tích trên đây cho thấy đô la hoá vừa là hiện tợng cạnh tranhgiữa các đồng tiền về vị thế và vai trò của nó trong thanh toán và dự trữ quốc tế,vừa là một dấu hiệu cho sự phát triển kinh tế quốc tế, vừa mang tính chất tiền tệ,vừa mang tính lịch sử Ngoài ra, hiện tợng đô la hoá toàn phần cũng có thể đợcxem là một loại hình cơ chế tỷ giá hay là một sự thống nhất về tiền tệ Vì vậy,
để hiểu rõ hiện tợng đô la hoá, chúng ta cần xem xét thêm các hình thái đô lahoá, biểu hiện, nguyên nhân và bản chất của từng loại đô la hoá
2 Phân loại
Để hiểu một cách toàn diện về hiện tợng này, chúng ta cần phân loại đô
la hoá Việc phân loại đô la hoá còn giúp các nhà kinh tế và hoạch định chínhsách xác định chính xác nguyên nhân của đô la hoá
Các nhà phân tích thờng sử dụng 3 tiêu chí sau để phân loại đô la hoá:
Trang 5 Tiêu chí về tính hợp pháp: Đô la hoá chính thức (official dollarization)
và đô la hoá không chính thức ( Unofficial dollarization) Một hình tháichung gian của hai loại đô la hoá này là đô la hoá bán chính thức
Tiêu chí về quy mô sử dụng đồng ngoại tệ trong nền kinh tế : đô la hoátoàn phần (full dollarization) và đô la hoá một phần (partialdollarization)
Tiêu chí dựa vào chức năng tiền tệ : đô la hoá thay thế tài sản (assetsubstitution) và đô la hoá thay thế thanh toán (currency substitution) 2.1) Đô la hoá không chính thức, bán chính thức và chính thức
a Đô la hoá không chính thức
Là việc ngoại tệ đợc ngời c trú của một nớc sử dụng để thực hiện một,hai hoặc cả ba chức năng của tiền tệ nhng không đợc phép hoặc không đợc sựcông nhận của pháp luật nớc đó
Thị trờng ngoại hối phi chính thức đợc hình thành gắn liền với hiện tợng
đô la hoá không chính thức của một nớc, là nơi diễn ra các hoạt động thanhtoán, mua bán ngoại tệ phục vụ cho các mục đích bất hợp pháp nh buôn lậu, cấttrữ, thanh toán ngoại tệ bất hợp pháp của cá nhân và tổ chức của nớc đó
Đi kèm với hiện tợng đô la hoá bán chính thức là sự tồn tại song songhai thị trờng: ngoại hối chính thức và phi chính thức Hoạt động của hai thị tr-
Trang 6ờng này nh bình thông nhau, đôi lúc lấn át nhau tuỳ thuộc vào mức độ và bảnchất đô la hoá của nớc đó.
2.2) Đô la hoá một phần và đô la hoá toàn phần
Là việc ngoại tệ đợc sử dụng trong một phạm vi nào đó của nền kinh
tế Đô la hoá một phần có thể là đô la hoá chính thức hoặc không chính thức
Hiện tợng đô la hoá một phần và không chính thức thờng phản ánhmong ớc của ngời dân muốn đa dạng hoá tài sản để đảm bảo tài sản của họkhông bị mất giá trị do sự giảm giá của đồng bản tệ trong bối cảnh nền kinh tếbất ổn định và mức lạm phát cao
Thực tế cho thấy hiện tợng đô la hoá không phải là một sự kiện tứcthời mà là kết quả của cả một quá trình lâu dài Có nhiều lý do để giải thích chohiện tợng đo la hoá nhng các nhà kinh tế học hiện đại đều thống nhất là con đ-ờng tiến tới đô la hoá thờng bắt đầu từ không chính thức đến chính thức, từ mộtphần lên toàn phần
2.3) Đô la hoá tài sản và đô la hoá thay thế thanh toán
a Đô la hoá tài sản
Là việc ngời c trú sử dụng ngoại tệ thay cho đồng nội tệ trong chứcnăng dự trữ giá trị Điều này thể hiện cả việc doanh nghiệp và ngời dân nắm giữngoại tệ tiền mặt và duy trì tài khoản ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng
Nếu ta xét theo chức năng dự trữ giá trị thì một đồng tiền mạnh làmột đồng tiền ổn định và các tài sản tài chính bằng đồng tiền đó đảm bảo đợcgiá trị cho ngời nắm giữ Do vậy, các chủ thể nắm giữ các tài sản tài chính sẽlựa chọn các ngoại tệ mạnh, hấp dẫn hơn đồng bản tệ về chi phí cơ hội (có tính
đến yếu tố mất giá của đồng bản tệ) để thực hiện chức năng cất trữ
Tuy nhiên, phải cho rằng yếu tố tâm lý cũng góp phần tạo nên đô
la hoá thay thế tài sản ngoài yếu tố chi phí cơ hội cho việc nắm giữ tiền nêutrên Hiện tợng đô la hoá thay thế tài sản ở một số nớc cho thấy kể cả khi đồngbản tệ đã trở nên hấp dẫn đồng ngoại tệ ( lãi suất tiền gửi của đồng bản tệ caohơn lãi suất tiền gửi của ngoại tệ (USD) cộng thêm mức độ mất giá của đồngbản tệ) nhng dân chúng vẫn gửi ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng với tỉ lệ ổn
định
Ngoài ra các quy định về quản lý ngoại hối, chính sách mở cửa nềnkinh tế, mức độ hội nhập nền kinh tế thế giới sẽ có ảnh hởng đến quy mô đô la
Trang 7hoá thay thế tài sản Tại một nớc, có nền kinh tế mở, chính sách quản lý ngoạihối tự do (nhất là tự do hoá cán cân vãng lai), mức độ hội nhập nền kinh tế toàncầu lớn, dân chúng và tổ chức đợc tự do mua bán, nắm giữ ngoại tệ thì quy mô
đô la hoá thay thế tài sản sẽ lớn khi ngoại tệ trở nên hấp dẫn hơn đồng bản tệ vềchi phí nắm giữ tiền ( có tính đến khả năng mất giá của đồng bản tệ ) Ng ợc lạivới các nớc áp dụng chính sách quản lý ngoại hối chặt, kinh tế đóng hoặc mởcửa thấp thì ngay cả khi đồng ngoại tệ hấp dẫn hơn nhng mức độ đô la hoá thaythế tài sản vẫn hạn chế
b.Đô la hoá thay thế thanh toán
Là việc ngời c trú sử dụng ngoại tệ thay cho nội tệ trong phơng tiệnthanh toán và đơn vị tính toán Đô la hoá thay thế thanh toán và đô la hoá thaythế tài sản có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Đô la hoá thay thếtài sản là tiền đề của đo la hoá thanh toán nhng nó có thể tồn tại độc lập với
đôla hoá thay thế thanh toán Đô la hoá thay thế thanh toán là yếu tố kích thích
đô la hoá thay thế tài sản phát triển nhng nó không thể tồn tại độc lập không đikèm với đô la hoá thay thế tài sản
Một đồng tiền mạnh đợc lựa chọn là đồng tiền thay thế chức năngthanh toán là đồng tiền của một quốc gia mà quốc gia đó có thể sản xuất ranhiều loại hàng hoá đợc ngời tiêu dùng của quốc gia đó và của quốc gia khác achuộng Ngoài một số đồng tiền chủ chốt trên thế giới, các chủ thể kinh tế cóthể vẫn nắm giữ các đồng tiền không phải là đồng tiền mạnh, có lãi suất khôngcao nhng có thể dễ dàng thanh toán cho hàng hoá và dịch vụ mà họ cần Điềunày thờng xảy ra ở những khu vực biên giới của một quốc gia tiếp giáp với mộtquốc gia khác mà hàng hoá do nớc đó sản xuất ra đợc a chuộng hơn
Cũng giống nh phân tích ở trên, quy mô còn phụ thuộc vào cácquy định về quản lý ngoại hối, khả năng giám sát việc thực thi các chính sách
về quản lý ngoại hối, khả năng thanh toán nhanh chóng, tiện lợi của hệ thốngngân hàng, mức độ hội nhập nền kinh tế thế giới Tại một nớc, có nền kinh tế
mở, chính sách quản lý ngoại hối tự do cho phép dân chúng đợc thanh toánbằng ngoại tệ hoặc việc giám sát việc thực thi các văn bản về quản lý hối phiếu,thanh toán qua hệ thống ngân hàng không thuận lợi, thì quy mô sẽ tăng khi cóbiến động tỷ giá hoặc môi trờng kinh té vĩ mô không ổn định Ngợc lại với cácnớc áp dụng chính sách quản lý ngoại hối chặt, việc giám sát thực thi chínhsách quản lý ngoại hối tốt, việc thanh toán qua hệ thống ngân hàng tiện lợi, nềnkinh tế đóng hoặc mở cửa thấp thì ngay cả khi có biến động tỷ giả hoặc môi tr-ờng vĩ mô không ổn định mức đô la hoá vẫn bị hạn chế
II Các tiêu thức lợng hoá mức độ đô la hoá trong một nền kinh tế
Trang 8Để đánh giá đợc các tác động của đô la hoá, xem xét trờng hợp nào là tựnhiên, trờng hợp nào là đáng báo động, trờng hợp nào có lợi, trờng hợp nào cóhại, chúng ta phải lợng hoá đợc mức độ đô la hoá của nền kinh tế.
Về mặt định tính, mức độ đô la hoá thê hiện ở cả ba chức năng của tiền
tệ đều có thể nhận thức hoặc quan sát đợc Để đo lờng chính xác tỉ lệ đô la hoácủa một nền kinh tế đòi hỏi ta phải đánh giá theo cả ba chức năng của tiền tệ,nghĩa là :
Tỷ lệ dự trữ ngoại tệ của nền kinh tế trên tổng dự trữ của nền kinh tế
Tỷ lệ thanh toán bằng ngoại tệ trên tổng khối lợng thanh toán
Tỷ lệ các giao dịch đợc niêm yết, định giá bằng ngoại tệ trên tổng khối ợng thanh toán
l-Tuy nhiên, việc lợng hoá đợc thành phần thứ hai và thứ ba là rất khókhăn ở các nớc đang phát triển khi các nớc này hiện tợng thanh toán bằng tiềnmặt diễn ra khá phổ biến Trong các trờng hợp này, hầu hết các nhà kinh tế vàchuyên gia kinh tế mới chỉ dừng lại ở việc lợng hoá tỷ lệ tièn gửi ngoại tệ trêntổng tiền gửi và so với tổng phơng tiện thanh toán (hay lợng cung ứng tiền mởrộng) ở nớc đó để thấy đợc mức độ thay thế chức năng cất trữ trong hệ thốngngân hàng và vai trò của ngoại tệ trong tổng giao dịch của nền kinh tế
Với việc tiếp cận này, IMF đã đa ra cách tính mức độ đô la hoá của mộtnền kinh tế bằng tỷ lệ giữa lợng tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng so với lợngcung ứng tiền mở rộng (M2) Tiêu thức này đợc nhiều chuyên gia sử dụng và cóthuận lợi đối với các nớc có hệ thống ngân hàng phát triển ở trình độ cao, hoạt
động hiệu quả, lợng tiền mặt do các chủ thể kinh tế nắm giữ không đáng kể sovới tiền gửi ngân hàng Theo cách tính này, một nền kinh tế có tỷ lệ tiền gửingoại tệ so với tổng phơng tiện thanh toán lớn hơn 30% thì nền kinh tế đó đợccoi là bị đô la hoá cao
Các chuyên gia của IMF cho rằng nếu tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ so vớilợng tiền cung ứng M2 lớn hơn 30% thì có nghĩa là hiện tợng đô la hoá đã cótác động ở một mức độ nào đó đến chính sách tiền tệ của một quốc gia và cần
đợc các nhà hoạch định chính sách lu ý Tuy nhiên, các chuyên gia cũng thừanhận là cụm từ “ở một mức nào đó” cũng cha rõ ràng do ở nhiều nớc có tỷ lệ
đô la hoá cao hơn nhng chính sách tiền tệ vẫn tỏ ra vững vàng
Để đánh giá mức độ a chuộng loại tiền trong chức năng thay thế tài sản,ngời ta thờng quan sát tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng số tiền gửi của các chủthể kinh tế tại ngân hàng Phơng pháp này tuy đơn giản nhng không chính xác
đối với những có tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao,việc tính toán lợng tiền mặt do cácchủ thể kinh tế nắm giữ để dự trữ giá trị và để thanh toán chiếm tỷ trọng lớn
Đối với các nớc đang phát triển, mặc dù khó có thể lợng hoá đợc ngoại tệ
đợc sử dụng nh thế nào trong chức năng thanh toán, cất trữ tiền mặt hay định
Trang 9giá nhng các nhà kinh tế cũng cho rằng để đánh giá mức đô la hoá thực tế củacác nớc này, cần phải lợng hoá đợc khối lợng tiền mặt ngoại tệ trôi nổi trên thịtrờng ngoại tệ phi chính thức hay còn gọi là thị trờng ngoại hối phi chính thức
và các đặc trng của thị trờng này để thấy đợc vai trò của thị trờng này so với thitrờng chính thức và thấy đợc các chức năng thay thế thanh toán, tính toán giá trịcủa đồng ngoại tệ
Do vậy, ngoài tiêu thức tiền gửi ngoại tệ trên tổng phơng tiện thanh toáncao hơn 30%, có thể đa ra một số dấu hiệu bổ trợ khi nhận dạng một nền kinh
tế đợc coi là bị đô la hoá cao nh:
Số ngoại tệ trôi nổi ngoài lu thông là tơng đối lớn so với tổng phơng tiệnthanh toán
Hiện tợng định giá bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ diễn ra phổbiến
Hoạt động thanh toán bằng ngoại tệ của các nớc có cùng biên giới diễn rasôi động và ít dùng bằng đồng bản tệ
Cũng giống nh các nớc đang phát triển khác, mặc dù theo quy định, các
tổ chức và cá nhân không đợc phép mua bán, thanh toán, cho vay bằng ngoại tệ,
đặc biệt là ngoài hệ thống ngân hàng nhng thực tế cha kiểm soát đợc vì nhiều lý
do vì vậy, ở Việt Nam vẫn có hiện tợng sử dụng ngoại tệ tiễn mặt để phục vụviệc thanh toán và sử dụng trong buôn lậu, nên ngoài việc đánh giá mức độ đô
la hoá tiền gửi và tiền vay tại hệ thống ngân hàng, thì phải đề cập đến việc dựbáo, tính toán khối lợng tiền mặt ngoại tệ trôi nổi ngoài thị trờng phi chính thức
và các đặc trng của thị trờng này
III Nguyên nhân dẫn đến nền kinh tế bị đô la hoá
Đô la hoá là hiện tợng phổ biến tại các nớc đang phát triển và các nớc cónền kinh tế chuyển đổi Tuy nhiên, do có hoàn cảnh khác nhau, điều kiện khácnhau nên tại các nớc này, các nguyên nhân gây nên tình trạng đô la hoá cũngkhác nhau Xác định đợc đúng nguyên nhân gây ra tình trạng đô la hoá là điềukiện tiên quyết để có thể đa ra những giải pháp đúng đắn về vấn đề này
1) Nguyên nhân khách quan
a Sự yếu kém của nền kinh tế
Xét về mặt lý thuyết và học thuật thì nguyên nhân căn bản nhất của tìnhtrạng đô la hoá là đồng bản tệ đã không thể cạnh tranh đợc với đồng ngoại tệtrong việc thực hiện một, hai hoặc cả ba chức năng của tiền tệ Nói chung, cácquốc gia đều khuyến khích (hoặc bắt buộc) ngời dân nớc mình sử dụng đồngbản tệ Tuy nhiên,khi lựa chọn giũa đồng bảng tệ và đồng ngoại tệ, các chủ thểkinh tế sẽ lựa chọn đồng tiền nào thực hiện đợc tốt hơn các chức năng của tiềntệ
b Yếu tố chính trị
Trang 10Kinh tế không phải là yếu tố duy nhất quyết định sức mạnh của một
đồng tiền Do ngay từ khi ra đời, tiền tệ đã mang trong mình yếu tố chính trịnên sức mạnh của một đồng tiền còn phụ thuộc vào sức mạnh chính trị củaquốc gia phát hành ra nó Điều này đợc minh chứng rõ ràng nhất là vai trò của
đồng JPY và USD trong những thập kỷ 60, 70 Lúc này xét về mặt kinh tế thìNhật Bản có nhiều triển vọng hơn Mỹ nhng đồng JPY thì còn lâu mới có thểganh đua với USD trên thị trờng ngoại hối quốc tế, vì Nhật còn quá phụ thuộcvào Mỹ về vấn đề chính trị và quân sự Sự phụ thuộc chính trị vào Mỹ (hay nớcphát hành đồng ngoại tệ) cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy nhanh quátrình đô la hoá của một quốc gia thành đô la hoá toàn phần Đây chính là trờnghợp của Panama và gần đây là Ecuado
c Đồng tiền bản tệ cha tự do chuyển đổi
Khi ở một nớc, đồng tiền bản tệ cha đợc tự do chuyển đổi, đặc biệt là
tự do chuyển đổi cán cân vãng lai thì đồng tiền bản tệ trở nên kém hấp dẫn sovới ngoại tệ và cất trữ ngoại tệ sẽ xẩy ra với lý do khó có thể mua lại trong tơnglai do cung ngoại tệ cha đáp ứng cầu ngoại tệ và kết quả là đồng ngoại tệ sẽ lấn
át đồng bản tệ trong chức năng cất trữ và hiện tợng đô la hoá sẽ tồn tai nh mộthiện tợng kinh tế khách quan
d Lạm phát cao và kéo dài
Trong những nền kinh tế của các nớc kém phát triển, giá trị đồngbản tệ có xu hớng giảm giá so với USD và các đồng tiền mạnh khác trên thếgiới thì trong ba chức năng của tiền tệ, chức năng dự trữ giá trị của tiền tệ luôn
đợc xem xét đầu tiên khi quyết định danh mục đầu t tài sản tài chính Một nềnkinh tế mở với các chính sách ngoại hối cho phép dân chúng đợc phép mua bán
và cất trữ ngoại tệ, khi có tỷ lệ lạm phát cao, kéo dài đặc biệt là do nhà nớc pháthành quá nhiều tiền giấy để khắc phục thâm hụt ngân sách, giá cả hàng hoá vàdịch vụ tăng cao, đồng nội tệ bị mất giá, sức mua giảm sút thì dân chúng sẽkhông dự trữ bằng đồng bản tệ mà thờng đầu t bằng ngoại tệ mạnh để đảm bảogiá trị tài sản của họ
đề phòng những biến động kinh tế nên vẫn duy trì tài sản của họ bằng đồngngoại tệ để đảm bảo an toàn và phòng tránh rủi ro
Trang 112) Nguyên nhân chủ quan
a Việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái và chính sách lãi suất thiếu
đồng bộ
*Đối với tình trạng đô la hoá thay thế thanh toán
Khi các chủ thể kinh tế đã có một dự trữ khá lớn đồng ngoại tệ, giá trị
đồng bản tệ vẫn không ổn định thì chức năng đơn vị tính toán và phơng tiệnthanh toán của đồng nội tệ cũng sẽ dần đợc đồng ngoại tệ chiếm lĩnh Bắt đầu là
từ các hoạt động kinh tế đối ngoại nh xuất khẩu, nhập khẩu, đầu t, vay nợ.Trong bối cảnh tỷ giá hối đoái biến động, các doanh nghiệp khin doanh hàngnhập khẩu có xu hớng định giá hàng hoá bán trong nớc (công khai hoặc ngầmquy đổi tuỳ thuộc chính sách quản lý ngoại hối) bằng ngoại tệ để tránh rủi ro về
tỷ giá hối đoái Từ lĩnh vực này, ngoại tệ sẽ dần chiếm lĩnh vai trò tiền tệ trongcác lĩnh vực khác của nền kinh tế
* Đối với đô la hoá thay thế tài sản
Xét trong giai đoan tỷ giá ổn định, nếu mức lãi xuất đồng đô la (USD) bằngmức lãi suất của đồng bản tệ(IVNĐ) thì chủ tài sản cũng vẫn muốn giữ tài sảndới hình thức USD do khả năng thanh toán quốc tế, khả năng chuyển đổi Chínhvì vậy các chủ tài khoản chỉ ngừng các nỗ lực chuyển đổi hình thức tài sản sangUSD khi mức chênh lệch lãi xuất giữa đồng bản tệ và USD là dơng và đủ bù đắp
sự mất mát lợi ích về khả năng thanh toán quốc tế (hệ số rủi ro của đồng bản tệ
b Chính sách quản lý ngoại hối lỏng
Chính sách về quản lý ngoại hối ở các nớc cho phép dân chúng đợc cấttrữ, nhận, thanh toán, gửi rút ra bằng ngoại tệ một cách tự do sẽ góp phần làmgia tăng mức đô đô la hoá Cụ thể, ở các nớc có chính sách ngoại hối cho phépcác doanh nghiệp đợc nhân ngoại tệ quá rộng rãi, cho phép các ngân hàng mởcác bàn thu đổi ngoại tệ tràn lan, hay các chính sách kiều hối cho phép dânchúng nhận , gửi, rút ra bằng ngoại tệ một cách dễ dàng thì ở nớc đó các chínhsách nêu trên sẽ làm thuận tiện việc thanh toán,cất trữ ngoại tệ của dân chúng
và các tổ chức kinh tế, góp phần làm phát triển thị tròng ngoại hối phi chínhthức và tạo điều kiện thuận lợi cho hiên tợng đô la hoá gia tăng Đặc biệt khicác chính sách quản lý ngoại hối nêu trên không đợc kiểm soát để thực thi đúngquy định, hiện tợng lạm dụng các giấy phép thu đổi ngoại tệ để kinh doanh
Trang 12ngoại tệ trên thị trờng sẽ xảy ra, tạo điều kiện phát triển thị trờng đô la hoá phichính thức.
c Hệ thống thanh toán ngân hàng kém phát triển
Tại một số nớc, thanh toán bằng đồng bản tệ đôi khi còn gặp khó khăn
do hệ thống ngân hàng kém phát triển, hoạt động thanh toán chủ yếu đợc thựchiện bằng tiền mặt và với các nớc có mệnh giá nhỏ thì hoạt động thanh toán tiềnmặt bằng ngoại tệ sẽ phát triển làm gia tăng hiện tợng đô la hoá thay thế thanhtoán
Ngoài ra hoạt động buôn lậu, mua bán bất hợp pháp cũng là một trongnhững nguyên nhân quan trọng tao điều kiện cho thị trờng ngoại hối bất hợppháp phát triển, làm trầm trọng thêm tình trạng đô la hoá
IV- Các tác động của đô la hoá
1) Tác động tích cực
Quá trình đô la hoá có thể có một số tác động đợc coi là tích cực:
Việc sử dụng đồng đô la sẽ tạo cho nền kinh tế “một cái van giảm sứcép” của những mất cân đối, kết quả của tính không hiệu quả dới cơ chế kếhoạch hoá tập trung, đồng thời cung cấp cho các tác nhân kinh tế một công cụ
tự bảo vệ chống lại lạm phát và phơng tiện để mua hàng hoá ở thị trờng phichính thức
Hạ thấp chi phí giao dịch: ở những nớc đô la hoá chính thức, các chiphí nh chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang
đồng tiền khác đợc xoá bỏ Đô la hoá chính thức cũng loại bỏ những giao dịchvới các nớc khác Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết,
điều này giúp thúc đẩy thơng mại và đầu t giữa các nớc
Giảm chi phí còn giúp cho các ngân hàng có thể hạ thấp lợng dự trữ, vìthế giảm đợc chi phí kinh doanh Việc tồn tại hai đồng tiền buộc các ngân hàngphải tiến hành danh mục đầu t tách biệt giữa nôi tệ và ngoại tệ
Hạ thấp lạm phát hiện tại và rủi ro lạm phát trong tơng lai thấp hơn.Bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, các nớc đô la hoá chính thức bảo đảm duy trì
tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp ở các nớc phát hành đồng ngoại tệ.Lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản t nhân, khuyến khích tiếtkiệm và cho vay dài hạn Lạm phát thấp giúp cho những ngời nghỉ hu, nhữngngời có thu nhập ổn định và những ngời nghèo có các tài khoản tại ngân hàng
và đảm bảo rằng tiết kiệm của họ đợc duy trì giá trị
Lãi suất thấp hơn khuyến khích phát triển kinh tế, ở các nớc đô la hoáchính thức, ngời ta sẽ thực hiện so sánh và tiếp nhận đồng tiền nào có giá trịhơn, có mặt bằng lãi suất thấp hơn Mặt bằng lãi suất thấp sẽ cho phép tăng tr-
Trang 13ởng kinh tế cao hơn và sẽ tạo điều kiện để thu hẹp khoảng cách so với các n ớccông nghiệp.
Đô la hoá ở mức độ lớn sẽ thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trờngchính thức và phi chính thức
Mức độ mở cửa lớn hơn, minh bạch hơn.Các nớc thực hiện đô la hoáchính thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát muangoại tệ, khuyến khích tự do thơng mại và đầu t quốc tế Đặc biệt là khi mộtnền kinh tế bị đô la hoá hoàn toàn thì NHTW sẽ không còn khả năng phát hànhnhiều tiền và gây lạm phát, đồng thời NSNN sẽ không trông chờ vào nguồnphát hành này để trang trải thâm hụt, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách đ ợc thắtchặt Do vậy, các chơng trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn
2) Tác động tiêu cực
a Xét về góc độ tài chính
Đô la hoá làm yếu kém hoạt động và hiệu quả chính sách tài chính Nóhạ thấp doanh thu từ phát hành tiền và làm trầm trọng hơn tác động lạm phát từviệc tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua hệ thống ngân hàng ( ở Achentinanhững năm sau khi tiến hành đô la hoá, doanh thu từ phát hành tiền giảm 0,3%GDP ) Đô la hoá cho phép một bộ phận nhất định các hoạt động kinh tế trốnthuế Đô la hoá làm yếu kém hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh nôngnghiệp vì nó đã góp phần làm chệch hớng sản xuất sang thị trờng không chínhthức
b Xét về góc độ tiền tệ
Đô la hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ Đô la hoá không chínhthức có thể khiến cho cầu về nội tệ không ổn định Nếu mọi ngời bất ngờchuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳlạm phát Khi ngời dân giữ một khối lợng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, nhữngthay đổi về lãi suất trong nớc hay nớc ngoài có thể gây ra sự dịch chuyển lớn từ
đòng tiền này sang đồng tiền khác Những thay đổi này sẽ gây khó khăn choNHTW trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nớc và có thể gây ra những bất
ổn định trong hệ thống ngân hàng
Trong trờng hợp đô la hoá chính thức, chính sách tiền tệ và chính sáchlãi suất của đồng tiền lúc này sẽ đợc quyết định ở Mỹ , trong khi một nớc đangphát triển và một nớc công nhiệp phát triển nh Mỹ không có những chu kỳ tăngtăng trởng kinh tế giống nhau Giả sử, nếu có xảy ra một quá trình điều chỉnhcho phù hợp thì quá trình này cũng phải kéo dài nhiều năm Sự khác biệt về chu
kỳ tăng trởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế đòi hỏi phải có những chính sáchtiền tệ khác nhau Với doanh thu thuế lạm phát thấp hơn và những tác động bấtlợi của đô la hoá đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc khiến cho chính
Trang 14sách tiền tệ ở một mức độ nào đó, phải cung cấp những nhu cầu tài chính lớnhơn cần thiết cho khu vực nhà nớc.
Đô la hoá cũng làm giảm hiệu lực của chính sách tỷ giá.Đô la hoá tác
động đến cơ chế chuyền dẫn của tỷ giá hối đoái Tác động khuếch đại của phágiá tiền tệ sẽ trở nên yếu kém do phá giá tiền tệ chỉ tác động đến một bộ phậnnhỏ hơn các tài khoản có tính thanh khoản Sự yếu kém chính sách tỷ giá xuấthiện bất kể có tồn tại hay không chênh lệch trên thị trờng phi chính thức
Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi NHTW và chức năng của nó làngời cho vay cuối cùng của các ngân hàng Là ngời cho vay cuối cùng, NHTWsẵn sàng cung cấp các khoản cho vay thanh toán đối với hệ thống ngân hàng khi
có hiện tợng rút tiền ồ ạt NHTW thực hiện chức năng này chủ yếu bằng cách
sử dụng nguồn vốn tự có của mình để tạo ra khả năng thanh toán – một nghiệp
vụ không thể có đợc trong hệ thống đô la hoá Hoặc nh NHTW có thể tạo ranguồn tiền cơ bản trong phạm vi số ngoại tệ đã đợc tích luỹ dự phòng
Trong một nền kinh tế đô la hoá, Nhà nớc chỉ có thể huy động nguồntín dụng từ bên ngoài trong trờng hợp có khủnh hoảng Tuy nhiên, xét ở cấp độChính phủ thì điều này là không khả thi, mà thay vào đó, Chính phủ các nớcnày sẽ buộc phải tận dụng các quỹ dự trữ có nguồn thu từ thuế để đối phó vớitình trạng khẩn cấp của khu vực tài chính
Đô la hoá mang lại sự hội nhập thị trờng sâu sắc hơn và thêm nhiềucơ hội cho các nhà kinh doanh suất nhập khẩu, nhng đồng thời cũng đặt họ trớcnhững rủi ro lớn hơn Đó chính là vấn đề cạnh tranh, vấn đề cạnh tranh càng trởnên khốc liệt khi sự hội nhập đó xuất phát từ đô la hoá Mất khả năng phá giátiền tệ là một bất lợi khác đối với các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Không cókhả năng phá giá tiền tệ, các nhà kinh doanh mất đi một công cụ để thâm nhập,chiếm lĩnh hay làm chủ thị trờng Thêm vào đó, với t cách là một bộ phận củanền kinh tế, ngời kinh doanh xuất nhập khẩu không thể thoát ly khỏi nền kinh
tế quốc gia để có thể không chịu những ảnh hởng tiêu cực của nền kinh tế đó
Đồng thời do đặc thù của hoạt động xuất nhập khẩu, ngời kinh doanh xuất nhậpkhẩu không chỉ bị tác động của nền kinh tế trong nớc mà cả nền kinh tế của cácquốc gia khác một cách trực tiếp.Việc nhất thể hoá đồng tiền một cách tự phát
nh trờng hợp đô la hoá khiến các quốc gia đô la hoá khó có thể có một cơ chế
đủ mạnh để hỗ trợ lẫn nhau những lúc khó khăn, nhng lại khiến các biến độngtiêu cực ở từng quốc gia có ảnh hởng trực tiếp đến các quốc gia khác trong cùngmột khu vực tiền tệ Điều này đặt các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, cũng nhnhững ngời kinh doanh tài chính tiền tệ ở các quốc gia này dới những tác độngkép ở cả ngay trong nớc lẫn nớc ngoài
Nh vậy ta có thể thấy, đô la hoá chỉ mang lại lợi ích cho các quốc gia có
sự hội nhập toàn diện với Hoa Kỳ về thơng mại và tài chính, có nghĩa là những
Trang 15nớc có cơ cấu kinh tế giống Hoa Kỳ, chu kỳ kinh tế khớp với chu kỳ kinh tế củaHoa Kỳ với tỷ lệ lạm phát và lãi suất ở mức tơng đơng Bên cạnh đó, các quốcgia này phải có quan hệ mật thiết về thơng mại, đầu t với Hoa Kỳ thì mới có thểkhai thác tối đa những lợi ích của đô la hoá và nhờ vậy mà có thể bỏ qua những
ảnh hởng tiêu cực của nó, cũng nh những rủi ro mà nó mang lại
Riêng đối với các quốc gia hiện đang bị đô la hoá không chính thức,không nên nghĩ đén việc đô la hoá toàn bộ nền kinh tế mà nên chăng tìm phơngpháp đối phó với đô la hoá trớc khi quá muộn Ta có thể thấy rằng đại bộ phậnnhững nền kinh tế quan tâm đến vấn đề đô la hoá trong thời gian gần đây đều lànhững nớc đã để đô la hoá không chính thức tràn lan đến mức không thể cứuvãn nổi Đây là điều mà các nớc khác nên tránh Bởi suy cho cùng, nếu mộtquốc gia không thể đáp ứng đợc các tiêu chí đã nêu ở trên thì quốc gia đókhông nên thực hiện đô la hoá Không thể dự đoán trớc phải mất bao nhiêu thờigian quốc gia đó mới đợc hởng lợi từ đô la hoá, nhng lại có nguy cơ phải đốimặt với những bất ổn không chỉ trong kinh tế mà còn trong cả chính trị- xã hộibởi sự phụ thuộc về kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự phụ thuộc vềchính trị
Trang 16ơng II Thực trạng đôla hoá ở Việt Nam
I- Tình hình đôla hoá ở Việt Nam
1.Những con đ ờng đôla Mỹ xâm nhập vào Việt Nam.
Thời kì trớc năm 1975, đôla Mỹ tham gia vào nền kinh tế Việt Nam dớidạng những khoản viện trợ của Chính phủ Mỹ cho chính quyền miền Nam ViệtNam
Sau năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, cuộc chiến tranh lạnhkhiến thế giới chia thành hai cực, nửa này đóng cửa với nửa kia; vì vậy, ở ViệtNam, đồng đôla Mỹ không còn đóng một vai trò đáng kể
Từ sau Đại hội Đảng 6 năm 1986, Việt Nam bớc vào giai đoạn mở cửanền kinh tế, đồng đôla Mỹ bắt đầu trở lại và ngày càng có vai trò quan trọnghơn trong nền kinh tế Việt Nam
Xét trên phơng diện giao dịch thơng mại, vai trò của đồng đô la Mỹ đợcthể hiện rất rõ ràng qua việc hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ ngàycàng tăng Từ năm 2000, khi Hiệp định Thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ đợc kíkết, Mỹ đã trở thành một bạn hàng quan trọng, một trong những thị trờng xuấtkhẩu lớn nhất của Việt Nam Năm 2000, Mỹ là thị trờng xuất khẩu lớn thứ 6của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu trên 730 triệu USD, chiếm 5,14% tổngkim ngạch xuất khẩu Trong năm 2001, xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm 6,59%tổng kim ngạch xuất khẩu đa Hoa Kỳ trở thành thị trờng xuất khẩu lớn thứ t củaViệt Nam Năm 2006, xuất khẩu sang Mỹ đạt 8 tỷ USD, chiếm 20,2% tổng kimngạch xuất khẩu; năm 2007, con số này dự kiến sẽ là 10 tỷ USD Nh vậy, cho
đến nay, Hoa Kỳ đã trở thành đầu bảng xuất khẩu của Việt Nam, vợt qua EU(6,8 tỷ USD), Nhật (5,2 tỷ USD)
Không chỉ trong giao dịch thơng mại với Mỹ, mà trong các hoạt độngkinh tế khác, các giao dịch với các quốc gia khác, đồng đôla cũng đóng vai tròhết sức quan trọng Năm 2002, đồng đôla Mỹ chiếm 80% giao dịch ngoại th-
ơng của Việt Nam Năm 2007, con số này là 89%, trong khi đồng euro chiếm7%, đồng yên Nhật chiếm 3%, còn lại 1% cho các đồng tiền khác Đôla Mỹ đợc
sử dụng trong giao dịch với các nớc châu Âu, Nhật Bản, ASEAN… Thêm vào
đó, đại bộ phận các khoản vay nợ, viện trợ và đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
đều đợc thực hiện bằng đôla Mỹ
Xét trên phơng diện đời sống dân c, sự có mặt của đồng đô la ngày càngtăng lên Thu nhập bằng đồng đôla của các tầng lớp dân c tăng lên Việt Namgia nhập WTO đồng nghĩa với việc các công ty nớc ngoài, ngời nớc ngoài đếnViệt Nam làm ăn, sinh sống, học tập, du lịch… tăng, họ sử dụng đôla Mỹ để trảlơng, để thanh toán… Hơn nữa, nhằm thu hút nguồn ngoại tệ từ nớc ngoài,trong những năm qua Chính phủ đã ban hành các văn bản: Quyết định số78/2002/QĐ- TTg ngày 17/6/2002 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định số
Trang 17170/1999 về việc thu hút nguồn ngoại tệ kiều hối từ nớc ngoài vào Việt Nam.Các chính sách trên cho phép ngời thụ hởng đợc nhận kiều hối bằng ngoại tệ, đ-
ợc gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tại ngân hàng đợc rút ra cả gốc lẫn lãi bằng ngoại
tệ, đợc sử dụng số ngoại tệ này chuyển ra nớc ngoài Ngoại tệ kiều hối không bịhạn chế về số lợng và không bị đánh thuế Riêng nguồn kiều hối hàng năm đạtkim ngạch 2-3 tỷ USD Đó là cha kể những khoản kiều hối "chui", những khoản
đôla nhập lậu, những vụ rửa tiền… mà Nhà nớc ta cha kiểm soát hết đợc
Nh vậy, bằng những con đờng khác nhau, đôla Mỹ đã và đang thâm nhậpsâu vào Việt Nam, cả trong hoạt động kinh tế lẫn đời sống dân c Điều này làmột lẽ tất nhiên trớc xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng và đôla
Mỹ lại là đồng tiền chủ đạo của nền kinh tế thế giới
2.Những biểu hiện của đôla hoá ở Việt Nam.
Phần này sẽ nêu lên mức độ đôla hoá ở Việt Nam cũng nh những biểuhiện của hiện tợng đôla hoá trong dân c và trong hệ thống ngân hàng
2.1 Đôla hoá trong dân c.
Trong đề án Nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam và khắc phụchiện tợng đôla hoá của nền kinh tế mà Ngân hàng Nhà nớc (NHNN) vừa đa ra,mặc dù NHNN không đa ra đợc con số cập nhật về lợng ngoại tệ (chủ yếu làUSD) đang lu hành ngoài hệ thống ngân hàng, nhng một số nghiên cứu gần đâycho thấy, con số này đã có thời điểm đạt tới 1/3 kim ngạch nhập khẩu của ViệtNam, và số lợng ngoại tệ trôi nổi ngoài thị trờng lên tới 4-6 tỷ USD
Nh phần trên đã đề cập, đôla Mỹ có thể xâm nhập vào đời sống dân cqua việc nhận lơng, kiều hối, từ xuất khẩu tại chỗ nh thu về du lịch, khách sạn,bán hàng cho khách nớc ngoài đến du lịch tại nớc ta…
Trong những năm trở lại đây, nhu cầu sử dụng đôla Mỹ trong thanh toánrất cao Hàng năm, số ngời đi xuất khẩu lao động, đi du học, đi du lịch rất cao
và họ rất cần đôla Mỹ để chi trả, thanh toán
Không chỉ ở nớc ngoài, mà trong nớc, việc mua bán cũng đợc thực hiệnbằng đôla Mỹ Theo quy định về quản lý ngoại hối, chỉ có tổ chức, cá nhân đợcphép thu ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam mới đợc thông báo, quảng cáo, niêmyết giá hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ Tuy nhiên, dạo một vòng ở nhữngtrung tâm thơng mại lớn ở Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội, dễ dàng nhận thấy hầuhết các cửa hàng đều niêm yết giá hàng hoá và giao dịch mua bán bằng USD,nhất là những hàng hoá dịch vụ có giá trị lớn Bất cứ ngời dân nào cũng có thể
sử dụng ngoại tệ mọi lúc, mọi nơi một cách thoải mái Đồng đôla Mỹ đợc sửdụng phổ biến để định giá và thanh toán trong các giao dịch mua bán; đặc biệt
là các hàng hoá có giá trị lớn nh ôtô, nhà cửa và các bất động sản khác, thậmchí ở các cửa hàng trang sức hay các khách sạn, các cửa hàng linh kiện máytính Vào bất kì cửa hàng máy tính nào trên phố Lê Thanh Nghị (Hà Nội), có
Trang 18thể thấy chỉ một chiếc USB cũng đợc niêm yết giá bằng đôla Mỹ Bên cạnh
đồng Việt Nam, đôla Mỹ cũng thực hiện chức năng đơn vị đo lờng giá trị
Thêm vào đó, ngời ta có thể dễ dàng mua bán đôla ở hầu hết các cửahiệu kinh doanh vàng bạc Thậm chí, muốn có một triệu USD tiền mặt, có thểtìm đến thị trờng chợ đen (ví dụ phố Hà Trung - Hà Nội) để mua dễ nh mua một
mớ rau
Nhìn chung, rất khó có thể đánh giá mức độ đôla hóa thông qua tỷ lệgiao dịch bằng đồng đôla trong đời sống dân c Tuy nhiên, có thể nhận ra rằng
đôla Mỹ chủ yếu đợc sử dụng trong những giao dịch có giá trị lớn (đóng vai trò
là phơng tiện thanh toán) Ngoài ra, do lãi suất tiết kiệm bằng đồng đôla trongthời gian qua tăng cao hơn so với VNĐ và do tâm lý cất trữ ngoại tệ đề phòngrủi ro thì nhiều ngời dân sử dụng đôla Mỹ nh một phơng tiện cất trữ
2.2.Đôla hoá trong lĩnh vực ngân hàng.
Những biểu hiện của đôla hoá đợc thể hiện rõ ràng nhất trong lĩnh vựcngân hàng Dới đây, ta xét trên hai nghiệp vụ: huy động và cho vay của cácngân hàng
a Đôla hoá trong lĩnh vực tiền gửi
Nếu chỉ nhìn vào mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh toán thì ai cũng
có thể hiểu tại Việt Nam, mức độ đôla hoá là khá cao Nhng về mặt học thuật,mức độ đôla hoá đợc đo bằng tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phơng tiện thanh toán(FCD/M2) Theo quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), một quốc gia có tỷ lệ trên vợt mức30% là bị đôla hoá trầm trọng
Theo cách phân loại đã nêu ở phần trớc, Việt Nam là nền kinh tế đôlahóa một phần trong đó hệ thống tiền tệ sử dụng song song cả VNĐ và USD
Sự biến động mức đôla hoá ở Việt Nam:
Năm 1988 khi các ngân hàng đợc phép nhận tiền gửi bằng đồng đôla,hiện tợng nền kinh tế Việt Nam sử dụng rộng rãi đồng đôla Mỹ tronggiao dịch buôn bán…bắt đầu đợc chú ý đến
Đỉnh cao của mức độ đôla hoá tại Việt Nam là vào năm 1991 khi tỷ lệFCD/M2 lên tới 41,2%, nguyên nhân là do giai đoạn trớc đó, nền kinh tếrơi vào tình trạng lạm phát phi mã khiến ngời dân mất lòng tin vào đồngnội tệ
Đến năm 1992, tình trạng đôla hoá đã tăng lên mạnh với hơn 41% lợngtiền gửi vào các ngân hàng là bằng đôla Mỹ
Trớc tình trạng này, Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam đã cố gắng đảo ngợcquá trình đôla hoá nền kinh tế và đã khá thành công khi giảm mạnh mứctiền gửi bằng USD vào các ngân hàng xuống còn 20% vào năm 1996 Tỷ
Trang 19lệ FCD/M2 giảm xuống 22,9% năm 1997 Nhng tiếp theo đó, cuộckhủng hoảng tài chính đã khiến cho đồng tiền Việt Nam giảm giá trị, vàViệt Nam lại tiếp tục chịu sức ép của tình trạng đôla hóa
Đến cuối năm 2001, tỷ lệ đồng USD đợc gửi vào các ngân hàng tăng lên
đến 31,7% Tỷ lệ này có xu hớng giảm đáng kể trong những năm tiếptheo, đến năm 2003 còn 23,6% và 9 tháng đầu năm 2004 là 24% vàtrong thời gian gần đây đang dao động trong khoảng 25 - 30%
Đây là xu hớng tích cực, cho thấy tình trạng đôla hoá tài sản nợ trong hệthống ngân hàng thơng mại đang đợc kiềm chế một cách có hiệu quả Ngời dân
đã có niềm tin vào đồng nôi tệ nhiều hơn Tuy nhiên về số tiền gửi tuyệt đốibằng đồng đôla thì không ngừng tăng lên Nếu nh năm 1995, chỉ có khoảng 1,5
tỷ USD tiền gửi từ khu vực dân c thì đến năm 2006, con số này là 9 tỷ USD.Việc ngời dân ít "găm" đôla hơn cũng cho thấy niềm tin của họ với ngân hàng.Tuy tình trạng đôla hoá của nớc ta hiện nay chỉ ở mức trung bình chứ khôngphải là "trầm trọng" nhng cũng rất đáng quan tâm vì ở các nớc láng giềng nhTrung Quốc, Thái Lan, tỷ lệ này chỉ là 1-9%
Bảng thống kê tỷ lệ tiền gửi bằng đồng đôla trên tổng phơng tiện thanh toán (%)
Việc xác định tình trạng đôla hoá theo công thức FCD/M2 đợc đánh giá
là khá chính xác ở những nớc mà phần lớn giao dịch thanh toán đều thực hiệnqua ngân hàng Còn ở Việt Nam, nơi mà tỷ lệ sử dụng tiền mặt vẫn còn rất lớn,
tỷ lệ FCD/M2 không phản ánh đầy đủ thực trạng đôla hoá trong toàn bộ nềnkinh tế Về phía các doanh nghiệp, trong một thời gian dài tiền gửi ngoại tệ củacác tổ chức kinh tế vào các ngân hàng đã giảm xuống do một số thay đổi trong
Trang 20chính sách quản lý ngoại hối nh quy định các doanh nghiệp không đợc thanhtoán trực tiếp với nhau bằng ngoại tệ, quy định về kết hối cũng nh quy định vềgiới hạn lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp Ngoài ra, từ năm
1990 đến 1998, Việt Nam luôn ở trong tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai,nhập siêu liên tục Điều này cũng đã có tác động làm giảm tiền gửi ngoại tệ củacác tổ chức kinh tế Từ năm 1999, do cán cân vãng lai đựơc cải thiện và tỷ lệkết hối giảm từ 80% xuống còn 30% nên tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh
tế đã có chiều hớng gia tăng và dẫn đến hệ quả là đô la hoá không chỉ diễn ra ởkhu vực tiền gửi tiết kiệm của dân c, mà xuất hiện ở cả khu vực các tổ chứckinh tế-xã hội Trong khoảng thời gian giữa năm 2007, lãi suất huy động đôla
Mỹ của các ngân hàng tăng lên khiến cho tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ tăng lên dẫn
đến tình trạng các ngân hàng thừa ngoại tệ
b.Đôla hoá trong lĩnh vực cho vay
Trái với xu hớng biến đổi của cơ cấu tiền gửi, tỷ trọng d nợ cho vay bằng
đôla Mỹ so với tổng d nợ và đầu t của hệ thống ngân hàng thơng mại có xu ớng tăng lên, cao hơn cả tiền gửi đôla Từ năm 1994 đến năm 2000, cơ cấu chovay ngoại tệ trong tổng d nợ của hệ thống ngân hàng nh sau:
h-Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000Ngoại tệ 38,6 38,7 36,6 31,2 25,2 22,6 18,6
Thời kì sau năm 2000, các ngân hàng tích cực cho doanh nghiệp vaybằng đôla để sinh lời Tính đến cuối năm 2003, khoản tiền đợc các ngân hàngcho vay bằng đôla đã chiếm tới 28% Đặc biệt, tại Tp Hồ Chí Minh, d nợ chovay bằng đôla Mỹ cuối tháng 9 năm 2004 đã tăng gấp 2 lần số d cuối năm
2002 Trong thời gian gần đây, tốc độ cho vay USD ngày càng tăng Tốc độ chovay đôla Mỹ tại ngân hàng hiện nay tăng nhanh hơn tốc độ cho vay tiền đồngkhoảng 50% Đó là do lãi suất cho vay trong ngắn hạn mà các ngân hàng đang
áp dụng từ 10,8%-13,8%/năm, dài hạn từ 12,4-15,5%/năm, còn lãi suất cho vayUSD ngắn hạn chỉ ở mức 6,6-7,5%/năm và dài hạn 6,8-7,4%/năm, các doanhnghiệp thích vay bằng USD hơn Không những nhu cầu vay USD thanh toánnhập khẩu tăng cao mà nhu cầu vay USD phục vụ các mục đích khác của cácdoanh nghiệp cũng tăng Tính đến thời điểm hiện nay (cuối năm 2007), so vớicuối năm 2006, tốc độ tăng d nợ ngoại tệ của hệ thống ngân hàng cũng cao hơn
d nợ VND (tơng ứng 19% và 13%) Lợng vốn huy động bằng ngoại tệ của cácngân hàng hiện chiếm gần 27% tổng vốn huy động nhng d nợ cho vay bằngngoại tệ thì chiếm gần 31% tổng d nợ