1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình công nghiệp hóa của một số nước Đông Á-Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam

120 493 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghiệp hóa là chặng đường phát triển tất yếu của các nền kinh tế chậm phát triển, nhằm chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cấp, tự túc khép kín với lao động thủ công là chủ yếu sang một nền kinh tế công nghiệp, vận hành theo cơ chế thị trường dựa trên sự phân công lao động xã hội phát triển ở trình độ cao. Theo trục thời gian, các nước lần lượt tiến hành công nghiệp hóa nhưng có sự khác nhau về mô hình lựa chọn, nội dung chiến lược, giải pháp thực hiện và các bước đi cụ thể do mỗi nước có những đặc điểm khác nhau, mỗi thời đại có những điều kiện khác nhau nên mô hình công nghiệp hóa mà mỗi nước lựa chọn cũng không giống nhau. Tuy nhiên, những nước đi sau hoàn toàn có thể rút ngắn được thời gian đạt tới mục tiêu công nghiệp hóa so với các nước đi trước nhờ những nước đi sau có thể tiếp cận đến các nguồn lực để tiến hành công nghiệp hóa (vốn, thị trường, công nghệ và nguồn nhân lực) với thời gian ngắn hơn (so với các nền kinh tế đi trước). Đồng thời, các nền kinh tế đi sau còn có khả năng tránh khỏi những sai lầm mà các nước đi trước mắc phải nhờ việc học hỏi kinh nghiệm. Nhưng ‘rút ngắn” quá trình công nghiệp hóa chỉ là một khả năng khách quan, không phải là điều tất yếu, đương nhiên cho mọi nước đi sau. Lịch sử thế giới cho đến nay mới chỉ ghi nhận một số nước tận dụng được cơ may do thời đại tạo ra để bứt lên. Trong thời đại phát triển cổ điển thì đó là những nước như Mỹ cùng với một số nước Tây Âu và Nhật Bản – nhóm các nước công nghiệp hóa theo mô hình cổ điển rút ngắn, đó là những nước đi sau dựa trên khuôn mẫu và kỹ thuật công nghệ của những nước đi trước để rút ngắn thời gian của các giai đoạn trong toàn bộ quá trình công nghiệp hóa của mình. Trong thời đại phát triển hiện đại, khả năng “rút ngắn” tiến trình công nghiệp hóa cũng xuất hiện ở một số nước Đông Á – những nước đã thực hiện được một sự phát triển thích ứng với tiến trình phát triển hiện đại và đạt được một sự thần kỳ trong phát triển mà thế giới vẫn gọi “sự thần kỳ Đông Á”, các nước ở Đông Á đã thành công trong việc tận dụng thời cơ để thực hiện việc bứt phá phát triển, vượt qua bẫy trung bình, đuổi kịp các nền kinh tế đi trước. Vì vậy, việc nghiên cứu “Mô công nghiệp hóa của một số nước Đông Á-Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam” là rất cần thiết nhất nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam cũng đang lựa chọn mô hình công nghiệp hóa – hiện đại hóa rút ngắn, những bài học kinh nghiệm từ sự phát triển của các nước Đông Á sẽ có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc cho việc lựa chọn mô hình công nghiệp hóa-hiện đại hóa của nước ta hiện nay.

Trang 1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA 5

1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA 5

1.1.1 Các quan niệm về công nghiệp hóa, bản chất và nội dung của công nghiệp hóa 5

1.1.2 Các quan niệm và đặc trưng của mô hình công nghiệp hóa 14

1.2 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHIỆP HÓA 16

1.2.1 Tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa của Tổ chức chương trình phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) 16

1.2.2 Tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa của H.Chenery – nhà kinh tế học người Mỹ 17

1.2.3 Tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa của A.Inkeles 17

1.2.4 Tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa ở Việt Nam 18

1.3 MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA TRÊN THẾ GIỚI 23

1.3.1 Mô hình công nghiệp hóa cổ điển 23

1.3.2 Mô hình công nghiệp hóa rút ngắn 25

1.3.3 Mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp 29

1.3.4 Mô hình công nghiệp hóa XHCN 29

1.3.5 Một số đánh giá chung về các mô hình công nghiệp hóa 31

CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 33

2.1 MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á 33

2.1.1 Mô hình công nghiệp hóa của Nhật Bản 33

Trang 2

2.2 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG Á

TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA 69

2.2.1 Những bài học thành công 69

2.2.2 Bài học từ những thất bại của quá trình công nghiệp hóa ở một số nước Đông Á 72

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG NHỮNG KINH NGHIỆM TỪ MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á 74

3.1 MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA VIỆT NAM 74

3.1.1 Công nghiệp hóa của Việt Nam giai đoạn trước đổi mới 74

3.1.2 Công nghiệp hóa của Việt Nam giai đoạn từ đổi mới đến năm 2010 75

3.1.3 Định hướng công nghiệp hóa của nước ta giai đoạn 2011-2020 85

3.2 VẬN DỤNG MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á VÀO VIỆC THỰC THI MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 92

3.2.1 Những điểm tương đồng và khác biệt của Việt Nam và một số nước Đông Á khi bước vào công nghiệp hóa 92

3.2.2 Vận dụng kinh nghiệm của một số nước Đông Á vào việc tổ chức điều hành và thực thi mô hình công nghiệp hóa của Việt Nam trong bối cảnh mới 97

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 3

CNH : Công nghiệp hóa

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

NICs : Các nước công nghiệp mới

MITI : Ministry of International Trade and Industry (Bộ Công nghiệp

và thương mại quốc tế)

R&D : Research & Development (Nghiên cứu và phát triển)

TNCs : Transnational companies (Công ty xuyên quốc gia)

UNIDO : Tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc

Trang 4

Bảng 2.1: Các giai đoạn công nghiệp hóa của Nhật Bản 35

Bảng 2.2: Thương mại công nghệ và chi phí R&D của tất cả các ngành từ năm 1953 cho tới năm 1984 (%) 38

Bảng 2.3: Tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tư nhân (% GNP) 40

Bảng 2.4: Các giai đoạn thực thi công nghiệp hóa ở Hàn Quốc 44

Bảng 2.5: Phát triển công nghiệp và cơ cấu ngành ở Hàn Quốc giai đoạn 1980-1996 49

Bảng 2.6: Mức độ đa dạng hóa của 10 Chaebol hàng đầu (1982) 50

Bảng 2.7: Nhập khẩu công nghệ của Hàn Quốc (1982-1991) 52

Bảng 2.8: Nợ nước ngoài của Hàn Quốc (tỷ USD) 56

Bảng 2.9: Mức phân bổ thu nhập ở Hàn Quốc (1965-1985) 57

Bảng 2.10: Các giai đoạn thực thi công nghiệp hóa của Đài Loan 61

Bảng 2.11: Chi tiêu cho R&D của Đài Loan 66

Bảng 3.1 So sánh quốc tế về tốc độ tăng trưởng kinh tế 78

Bảng 3.2 Tổng hợp số liệu 18 chỉ tiêu thống kê kết quả công nghiệp hóa ở nước ta 84

Bảng 3.3 Tổng quan điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của nền kinh tế 85

Bảng 3.4 Định hướng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam đến năm 2020 90

HÌNH Hình 3.1 Cơ cấu kinh tế Việt Nam phân theo nhóm ngành, 1991-2009 78

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Công nghiệp hóa là chặng đường phát triển tất yếu của các nền kinh tế chậmphát triển, nhằm chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cấp, tự túckhép kín với lao động thủ công là chủ yếu sang một nền kinh tế công nghiệp, vậnhành theo cơ chế thị trường dựa trên sự phân công lao động xã hội phát triển ở trình

độ cao

Theo trục thời gian, các nước lần lượt tiến hành công nghiệp hóa nhưng có

sự khác nhau về mô hình lựa chọn, nội dung chiến lược, giải pháp thực hiện và cácbước đi cụ thể do mỗi nước có những đặc điểm khác nhau, mỗi thời đại có nhữngđiều kiện khác nhau nên mô hình công nghiệp hóa mà mỗi nước lựa chọn cũngkhông giống nhau Tuy nhiên, những nước đi sau hoàn toàn có thể rút ngắn đượcthời gian đạt tới mục tiêu công nghiệp hóa so với các nước đi trước nhờ những nước

đi sau có thể tiếp cận đến các nguồn lực để tiến hành công nghiệp hóa (vốn, thịtrường, công nghệ và nguồn nhân lực) với thời gian ngắn hơn (so với các nền kinh

tế đi trước) Đồng thời, các nền kinh tế đi sau còn có khả năng tránh khỏi những sailầm mà các nước đi trước mắc phải nhờ việc học hỏi kinh nghiệm Nhưng ‘rútngắn” quá trình công nghiệp hóa chỉ là một khả năng khách quan, không phải làđiều tất yếu, đương nhiên cho mọi nước đi sau

Lịch sử thế giới cho đến nay mới chỉ ghi nhận một số nước tận dụng được cơmay do thời đại tạo ra để bứt lên Trong thời đại phát triển cổ điển thì đó là nhữngnước như Mỹ cùng với một số nước Tây Âu và Nhật Bản – nhóm các nước côngnghiệp hóa theo mô hình cổ điển rút ngắn, đó là những nước đi sau dựa trên khuônmẫu và kỹ thuật công nghệ của những nước đi trước để rút ngắn thời gian của cácgiai đoạn trong toàn bộ quá trình công nghiệp hóa của mình Trong thời đại pháttriển hiện đại, khả năng “rút ngắn” tiến trình công nghiệp hóa cũng xuất hiện ở một

số nước Đông Á – những nước đã thực hiện được một sự phát triển thích ứng vớitiến trình phát triển hiện đại và đạt được một sự thần kỳ trong phát triển mà thế giới

Trang 6

vẫn gọi “sự thần kỳ Đông Á”, các nước ở Đông Á đã thành công trong việc tận dụng

thời cơ để thực hiện việc bứt phá phát triển, vượt qua bẫy trung bình, đuổi kịp cácnền kinh tế đi trước

Vì vậy, việc nghiên cứu “Mô công nghiệp hóa của một số nước Đông Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam” là rất cần thiết nhất

Á-nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam cũng đang lựa chọn mô hình côngnghiệp hóa – hiện đại hóa rút ngắn, những bài học kinh nghiệm từ sự phát triển củacác nước Đông Á sẽ có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc cho việc lựa chọn mô hình côngnghiệp hóa-hiện đại hóa của nước ta hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thứ nhất, làm rõ và hệ thống hóa cơ sở lý luận của quá trình công nghiệp

hóa Trong đó, tập trung những vấn đề mang tính lý luận để thực hiện mô hình côngnghiệp hóa rút ngắn ở một số nước

Thứ hai, phân tích mô hình công nghiệp hóa của mốt số nước Đông Á qua

các giai đoạn, trong đó tập trung vào những nội dung cụ thể, giải pháp thực hiện, kếtquả của từng giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa, trên cơ sở đó, đưa ra một số lýgiải cho sự thành công của các nước Đông Á-đồng thời cũng là những kinh nghiệm

có thể học hỏi

Thứ ba, xác định những nội dung quan trọng của mô hình công nghiệp

hóa-hiện đại hóa rút ngắn của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới-giai đoạn côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong môi trường hội nhập và dựa vào hội nhập kinh tếquốc tế, qua đó, chỉ ra khả năng vận dụng những kinh nghiệm từ mô hình côngnghiệp hóa của các nước Đông Á vào Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mô hình công nghiệp hóa của một sốnước Đông Á, những kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam Tuy nhiên,trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu mô hìnhcông nghiệp hóa của ba nước Đông Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và rút ra

Trang 7

những bài học liên quan đến việc lựa chọn, xác định mô hình công nghiệp hóa, việc

tổ chức và thực hiện mô hình công nghiệp hóa ở những nước này vào Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp đốichứng so sánh để làm rõ mục tiêu nghiên cứu

Khung lý thuyết được sử dụng để phân tích thực tiễn: hệ thống lý luận vềcông nghiệp hóa và những mô hình công nghiệp hóa trên thế giới

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:

Luận văn chủ yếu sử dụng số liệu được thu thập từ nguồn dữ liệu thứ cấp:những số liệu đã được công bố trong các báo cáo nghiên cứu về mô hình côngnghiệp hóa của các nước Đông Á trong nước và nước ngoài, số liệu trên các trangweb quốc tế như IMF, WB, ADB…

Trên cơ sở những dữ liệu thu thập được, luận văn còn sử dụng một số kỹthuật như phân tích, so sánh, tổng hợp, sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu,đưa ra các sơ đồ, biểu mẫu để so sánh, đánh giá trong quá trình phân tích mô hìnhcông nghiệp hóa của các nước Đông Á

5 Tổng quan nghiên cứu

Trong thời gian gần đây, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoàinước nghiên cứu về các mô hình công nghiệp hóa trên cả giác độ lý luận và thựctiễn, đặc biệt là mô hình công nghiệp hóa của các nước Đông Á Đó là các công

trình: Công nghiệp hóa ở NIEs Đông Á và bài học kinh nghiệm với Việt Nam của Lê Bàn Thạch và Trần Thị Tri (2000); Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Những bài học

thành công của Đông Á do Nguyễn Thị Luyến chủ biên (1998); Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Phát huy lợi thế so sánh – Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á của Đỗ Đức Định (1999); Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam của Đỗ Hoài Nam (2004)…Các công trình này chủ yếu đề cập

đến các loại hình chiến lược công nghiệp hóa cùng các chính sách, giải pháp thúcđẩy tiến trình công nghiệp hóa ở các nước NIEs Đông Á Tuy nhiên, việc nghiên

Trang 8

toàn diện về mô hình công nghiệp hóa cũng như những nghiên cứu về khả năng vậndụng, điều kiện vận dụng vào Việt Nam hiện nay vẫn hạn chế

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận sẽ được trìnhbày gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công nghiệp hóa và mô hình công nghiệp hóa Chương 2: Mô hình công nghiệp hóa của một số nước Đông Á

Chương 3: Mô hình công nghiệp hóa ở Việt Nam và khả năng vận

dụng những kinh nghiệm từ mô hình công nghiệp hóa của một số nước Đông Á

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ MÔ HÌNH

CÔNG NGHIỆP HÓA

1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA 1.1.1 Các quan niệm về công nghiệp hóa, bản chất và nội dung của công nghiệp hóa

1.1.1.1 Quan niệm về công nghiệp hóa

Lịch sử công nghiệp hóa thế giới đã trải qua hàng trăm năm, kể từ khi cuộccách mạng công nghiệp Anh diễn ra vào giữa thế kỷ XVIII với nội dung chủ yếu làchuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí Đây được coi là dấu mốc quantrọng cho sự khởi đầu tiến trình công nghiệp hóa của thế giới Tuy nhiên, phải đếnthế kỷ XIX, khái niệm công nghiệp hóa mới được dùng để thay thế cho khái niệmcách mạng công nghiệp

Cho đến nay, đã có nhiều nước tư bản chủ nghĩa đã kết thúc quá trình côngnghiệp hóa - vượt qua thời đại công nghiệp và hướng tới thời đại kinh tế tri thức,trong khi nhiều nước khác mới bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa với nhữngkhoảng thời gian và mức độ khác nhau Do vậy, quan niệm về công nghiệp hóa ởnhững thời kỳ khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định:

Quan niệm về công nghiệp hóa của các học giả phương Tây xuất phát từ thực

tiễn công nghiệp hóa ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ: “ công nghiệp hóa là việc đưa

các đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, mà thực chất là trang bị các nhà máy cho một vùng, hay một nước…” 1 Đây là một quan niệm giản đơn về công nghiệp

hóa, coi việc phát triển công nghiệp là nội dung duy nhất của công nghiệp hóa, sựchuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình pháttriển công nghiệp, mà không phải là đối tượng trực tiếp của công nghiệp hóa Do

đó, quan niệm công nghiệp hóa như vậy không thấy được mục tiêu của quá trìnhcần thực hiện, vì vậy quan niệm này được sử dụng rất hạn chế trong thực tiễn

Trang 10

Theo G.A Cudơlốp và S.P Perơvusin – là các nhà khoa học Liên Xô cho

rằng : “công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là phát triển đại công nghiệp, trước hết

là phát triển công nghiệp nặng, nhằm đảm bảo cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật cơ khí tiên tiến, bảo đảm hình thức kinh tế xã hội chủ nghĩa chiến thắng hình thức kinh tế tư bản chủ nghĩa và hàng hóa nhỏ, bảo đảm cho nước nhà không bị lệ thuộc về kinh tế và kỹ thuật vào thế giới tư bản chủ nghĩa, tăng cường khả năng quốc phòng” 2 Quan niệm này đã đồng nhất công nghiệp hóa với

phát triển công nghiệp nặng, điều này xuất phát từ điều kiện thực tiễn của Liên Xôlúc đó là đất nước bị bao vây, o ép bởi các nước tư bản, công nghiệp đã phát triển ởmức độ nhất định song nhìn chung vẫn lạc hậu hơn các nước tư bản Trong điềukiện đó, việc phát triển thị trường trong nước là nền tảng cho sự phát triển kinh tế,

để tồn tại, phát triển và bảo vệ nền độc lập buộc Liên Xô phải huy động mọi nguồnlực phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp nặng là cơ sở để bảo đảm tiềm lựcquốc phòng của đất nước

Năm 1963, Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đưa

ra quan niệm: “ Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá

trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên

để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại” 3.

Quan niệm này cho rằng công nghiệp hóa là quá trình bao trùm toàn bộ quá trìnhphát triển kinh tế-xã hội nhằm không chỉ đạt tới sự tăng trưởng kinh tế mà cả sự tiến

bộ xã hội Tuy nhiên, quan niệm này mang tính chất một phương hướng thực thi, và

nó phù hợp với những nước phát triển, nơi có điều kiện để ứng dụng các thành tựuhiện đại của khoa học – kỹ thuật

Ở Việt Nam, quan niệm chính thống về công nghiệp hóa được đưa ra tại Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (1960) nhưng quanniệm này dường như đã đồng nhất công nghiệp hóa với cách mạng kỹ thuật Saunăm 1986-dấu mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạchhóa tập trung sang cơ chế thị trường, mở cửa với bên ngoài, với sự tác động ngàycàng mạnh mẽ và trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, của toàn

Trang 11

cầu hóa và của xu hướng chuyển sang phát triển kinh tế tri thức, quan niệm về côngnghiệp hóa được mở rộng hơn Theo đó, các nước công nghiệp hóa muộn đã khôngthể tiến hành công nghiệp hóa đã không thể tiến hành công nghiệp hóa tuần tự nhưcác nước đi trước, mà phải “lồng ghép” hai quá trình cơ khí hóa và tự động hóa đểrút ngắn tiến trình và đuổi kịp thời đại Do đó, khái niệm công nghiệp hóa - hiện đạihóa (CNH-HĐH), mà thực chất là công nghiệp hóa rút ngắn hiện đại, là một quanniệm mới về công nghiệp hóa trong điều kiện phát triển hiện đại Hội nghị đại biểutoàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1994) xác

định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi một cách căn bản

toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ

sử dụng lao động thủ công với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”4 Một cách tổng quát, công nghiệp hóa,

hiện đại hóa là quá trình chuyển đất nước từ trạng thái của nền kinh tế nông nghiệp

và văn minh nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp và văn minh công nghiệp

có chứa đựng những yếu tố nhất định của nền kinh tế tri thức và văn minh trí tuệ

1.1.1.2 Vai trò của công nghiệp hóa trong sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển

Trong tiến trình phát triển của nhiều nước, công nghiệp hóa có vai trò rấtquan trọng, với tư cách là một phương thức phát triển, công nghiệp hóa được khởiđầu từ Châu Âu, sau đó lan tới Bắc Mỹ và Nhật Bản với tốc độ nhanh chóng Bướcsang thế kỷ XX, công nghiệp hóa ngày càng trở nên phổ biến và trở thành conđường tất yếu đưa các nước đang phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu

Vai trò to lớn của công nghiệp hóa được biểu hiện ở quá trình chuyển đổimột cách căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế -

xã hội từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng những công nghệ và phươngpháp hiện đại Việc thực hiện thành công công nghiệp hóa sẽ tạo ra tiền đề vữngchắc và sức mạnh kinh tế dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, mở ra sự biến đổikinh tế - xã hội đất nước trên nhiều phương diện:

Trang 12

 Trang bị và trang bị lại công nghệ cho tất cả các hoạt động trong nềnkinh tế nhằm tạo nên sự chuyển biến căn bản về lực lượng sản xuất dựa trên việctăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ, các tri thức mới trongsản xuất và tổ chức quản lý sản xuất, nâng cao trình độ của người lao động để tăngnăng suất, chất lượng và hiệu quả của các ngành sản xuất, phát triển ngành nghềmới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, cơ cấunội bộ của từng ngành theo hướng hiện đại

 Tạo những chuyển biến cơ bản về thể chế và xã hội; Tạo thêm nhiềuviệc làm mới góp phần giải quyết các vấn đề xã hội

 Tạo thế và lực để chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới và thamgia có hiệu quả vào quá trình phân công lao động quốc tế

Với vai trò như vậy, công nghiệp hóa đã trở thành quá trình phát triển tất yếucủa các nước đang phát triển để tạo ra sự chuyển biến căn bản cho nền kinh tế Sựthành công của quá trình này phụ thuộc trực tiếp vào việc hoạch định đường lốichiến lược đúng đắn và bảo đảm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn nộilực và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài vào phục vụ việc thực hiện các nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.1.1.3 Bản chất và nội dung của công nghiệp hóa

Có thể có nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa và thực tiễn côngnghiệp hóa đã diễn ra ở nhiều nước khác nhau với thời điểm tiến hành và cách thứcthực hiện khác nhau, song nhìn chung bản chất của quá trình công nghiệp hóa làgiống nhau Đó là:

Thứ nhất, công nghiệp hóa là quá trình thực hiện cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế Cơ sở vật

chất – kỹ thuật của một chế độ xã hội là tổng thể những yếu tố vật chất của lựclượng sản xuất xã hội, bao gồm tư liệu lao động, đối tượng lao động, quy trình côngnghệ và tri thức khoa học đã được vật chất hóa, trong đó những thành phần nàyđược sử dụng theo một sự kết hợp xã hội nhất định nhằm sản xuất ra của cải vật

Trang 13

chất và tinh thần Quá trình công nghiệp hóa sẽ giúp nền kinh tế một nước đạt đượctốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cáctầng lớp dân cư, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nướcphát triển khác Đây là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp Đối vớinhững nước đang phát triển, trong bối cảnh xu thế phát triển nhanh chóng của cáchmạng khoa học – công nghệ thế giới, khiến cho tuổi thọ của công nghệ ngày càngngắn lại thì việc đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa là yêu cầu cấp thiết Điều này đòihỏi các nước phải lựa chọn lĩnh vực, lựa chọn ngành nghề, sản phẩm để đi thẳngvào ứng dụng những công nghệ hiện đại nhất.

Thứ hai, công nghiệp hóa là quá trình bao trùm toàn bộ mọi ngành, mọi lĩnh vực của nền kinh tế Công nghiệp hóa không chỉ là việc trang bị thiết bị kỹ thuật và

công nghệ hiện đại, phương pháp sản xuất tiên tiến, tạo khả năng khai thác và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế, mà công nghiệp hóa còn là quátrình thực hiện bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm tạo dựng cơ cấu kinh tế hiệnđại, trong đó các ngành, các lĩnh vực được phát triển một cách hợp lý, tức làm thayđổi vị trí của các ngành, các lĩnh vực trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nhu vậy,công nghiệp hóa không chỉ đơn thuần chỉ là sự phát triển công nghiệp, mà còn baohàm cả sự phát triển của các ngành khác, các lĩnh vực khác có liên quan đến côngnghiệp trong toàn bộ cơ cấu kinh tế (những ngành chịu tác động của công nghiệp vàtác động trở lại đối với công nghiệp) Kết quả của quá trình này vừa làm tăng tốc độ

và tỷ trọng của ngành công nghiệp trong nền kinh tế, vừa tạo sự chuyển dịch cơ cấukinh tế gắn với đổi mới căn bản về công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Thứ ba, công nghiệp hóa không chỉ là quá trình kinh tế - kỹ thuật, mà còn là quá trình kinh tế - xã hội Công nghiệp hóa có nội dung cơ bản là ứng dụng các

thành tựu khoa học – kỹ thuật để tăng nhanh năng suất lao động xã hội trong toàn

bộ nền kinh tế quốc dân Do vậy, công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh

tế, trong đó, một bộ phận của cải quốc dân được huy động ngày càng tăng để pháttriển cơ cấu kinh tế nhiều ngành với kỹ thuật hiện đại, nhờ đó mà bảo đảm cho toàn

bộ nền kinh tế quốc dân phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về

Trang 14

kinh tế - xã hội Nhưng cũng phải thấy rằng, công nghiệp hóa nhanh và tăng trưởngcao cũng có mặt trái của nó, đó là dễ dẫn tới tình trạng mất cân đối, thiếu côngbằng, làm tổn hại đến môi trường sinh thái…Vì vậy, công nghiệp hóa cũng là mộtquá trình mang tính xã hội cao, trong đó yếu tố con người và văn hóa được đặt lên

vị trí rất cao, bởi những nhân tố văn hóa là phương tiện có hiệu quả nhất trong việckhắc phục tình trạng lạc hậu Thực tiễn chỉ ra rằng, các quốc gia và vùng lãnh thổnhư Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều là những nước nghèo tài nguyên, nhưngnhờ có nguồn nhân lực chất lượng cao – một trong những nhân tố giúp những nướcnày thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa để trở thành những nước côngnghiệp phát triển Ngày nay, những nước đang tiến hành công nghiệp hóa đều thựchiện hai quá trình: một mặt, ra sức phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệhiện đại, mặt khác thực hiện các chính sách và biện pháp phân phối lại để hạn chếkhoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, nhằm mang lại nhữnglợi ích của công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế cho tất cả mọi người

Công nghiệp hóa ở nhiều nước có những nét riêng biệt, nhưng xét một cáchtổng quát quá trình này có những nội dung chung mang tính phổ biến ở các nước

Cụ thể:

Thứ nhất, đây là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho tất cả các

hoạt động, chuyển từ chỗ sử dụng các công cụ thủ công sang sử dụng máy móc thiết

bị ngày càng hiện đại Đó là quá trình tạo nên sự chuyển biến cơ bản về lực lượngsản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh củanền kinh tế Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay, quá trìnhchuyển biến này phải được thực hiện đồng bộ ở cả phần cứng và phần mềm củakhoa học và công nghệ Theo đó, cùng với việc thực hiện cơ khí hóa, tự động hóa,điện khí hóa, hóa học hóa…, cần chú trọng đổi mới cả tổ chức và không ngừngnâng cao năng lực của người lao động Sự phát triển lực lượng sản xuất trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởngkinh tế - xã hội nhanh, ổn định và beebf vững, cải thiện đời sống vật chất và tinhthần của dân cư, thu hẹp dần sự chênh lệch về trình độ với các nước công nghiệpphát triển

Trang 15

Thứ hai, công nghiệp hóa cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc

dân và cơ cấu nội tại mỗi ngành kinh tế Nền kinh tế của mỗi nước là một thể thốngnhất, bao gồm nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều vùng hoạt động trong mối quan hệ rằngbuộc lẫn nhau Bất cứ một sự thay đổi nào trong một ngành, hay trong một lĩnh vựcnào đó cũng đều kéo theo sự thay đổi của các ngành hay lĩnh vực khác, do đó làmthay đổi cả cấu trúc của nền kinh tế Trong quá trình này, vị trí của mỗi ngành cũng

sẽ thay đổi theo xu hướng có tính quy luật như:

Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, nông nghiệp giữ vị tríquan trọng hàng đầu, là hoạt động kinh tế mang tính chất nền tảng, tạo ra nhữnghàng hóa tiêu dùng thiết yếu nhất cho dân cư và bảo đảm một số điều kiện quantrọng cho phát triển công nghiệp (nguyên liệu, lao động, thị trường tiêu thụ hàngcông nghiệp…) Đến trình độ phát triển nhất định của công nghiệp hóa, khi nhu cầuthiết yếu của dân cư về lương thực, thực phẩm đã được đảm bảo, nông nghiệp sẽdần chuyển xuống vị trí hàng thứ trong cơ cấu kinh tế Lúc này, tuy giá trị sản lượngcủa nông nghiệp vẫn tăng lên, nhưng tỷ trọng giá trị sản lượng trong tổng sản phẩmquốc dân lại ngày càng giảm xuống Chẳng hạn, tại các nền kinh tế chưa côngnghiệp hóa, tỷ trọng giá trị nông nghiệp trong GDP thường chiếm đến trên 70-80%,nhưng trong các nền kinh tế đã công nghiệp hóa, tỷ trọng nông nghiệp chỉ còn dưới10%, thâm chí 1-2%

Trong quá trình công nghiệp hóa, cơ cấu nội tại công nghiệp sẽ dịch chuyểntheo hướng: tỷ trọng công nghiệp khai thác tài nguyên ngày càng giảm, tỷ trọngcông nghiệp chế biến ngày càng tăng; tỷ trọng các ngành công nghiệp kỹ thuật caotăng nhanh trong giai đoạn cuối của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đốivới các nền kinh tế hiện đại hóa, các ngành công nghệ cao, các ngành công nghiệpdựa vào tri thức ngày càng chiếm ưu thế Tại Mỹ và nhiều nước công nghiệp kháchiện nay, tỷ lệ giá trị gia tăng công nghiệp công nghệ cao trong công nghiệp chế tạo,đạt khoảng 25-30%

Việc thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở ứng dụng những thành tựu củakinh tế tri thức đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước theo hướng

Trang 16

tăng nhanh tỷ trọng giá trị ngành dịch vụ trong GDP Xu hướng chung là tỷ trọnggiá trị dịch vụ trong cơ cấu kinh tế quốc dân ngày càng gia tăng, thậm chí ở một sốnước phát triển tỷ lệ này có thể chiếm tới 80% GDP Trong giai đoạn đầu của quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thường mới chỉ có những hoạt động dịch vụđơn giản và chúng chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu kinh tế quốc dân Đến giai đoạnsau, do nhu cầu của các hoạt động kinh tế và đời sống dân cư, sẽ xuất hiện nhiềuloại hình dịch vụ mới và trở thành những lĩnh vực có sự hấp dẫn cao với các nhàđầu tư: ngoài dịch vụ thương mại hàng hóa, còn xuất hiện các loại dịch vụ ngânhàng – tài chính, bảo hiểm, tư vấn, khoa học và công nghệ, y tế, giáo dục và đàotạo… với chất lượng cao hơn hẳn giai đoạn trước đây Với xu hướng đó, tỷ trọnggiá trị các hoạt động dịch vụ trong GDP sẽ ngày càng gia tăng.

Thứ ba, công nghiệp hóa cũng là quá trình tạo ra những chuyển biến cơ bản về

thể chế và xã hội Việc thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

sẽ thủ tiêu tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, đồng thời cũng tạo nền những biến đổi hếtsức sâu sắc về mặt thể chế kinh tế và về mặt xã hội với những biểu hiện cơ bản như:

Phát triển kinh tế thị trường và thể chế thị trường thay cho nền kinh tế sảnxuất hàng hóa nhỏ mang nặng tính chất tự cung tự cấp

Thay đổi sâu sắc cấu trúc xã hội: cấu trúc cổ truyền gắn với nền kinh tếnông nghiệp sẽ được thay thế bằng cấu trúc mới tương ứng với nền kinh tế côngnghiệp được thiết lập

Cấu trúc lao động xã hội và dân số cũng có sự biến đổi theo cấu trúc kinhtế: tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm, tỷ trọng lao động phi nông nghiệp tăng; tỷtrọng lao động giản đơn giảm, lao động kỹ thuật tăng; dân cư nông thôn giảm, dân

cư đô thị tăng…

Sự thay đổi sâu sắc trong tư duy và hành động: tư duy và nếp sống cổ hủ,bảo thủ và trì trệ gắn với nền kinh tế tiểu nông được thay thế bằng tư duy và nếpsống công nghiệp…

Như vậy, sự biến đổi về thể chế và xã hội trong quá trình công nghiệp hóa làquá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp cóchứa đựng những yếu tố nhất định của nền văn minh trí tuệ

Trang 17

Thứ tư, công nghiệp hóa cũng là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

Trong điều kiện ngày nay, toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế khách quan, chiphối trực tiếp sự phát triển kinh tế của các nước Trong hệ thống toàn cầu, nền kinh

tế mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới, tác động tương hỗ ởnhững mức độ khác nhau với nền kinh tế của các quốc gia khác và chịu ảnh hưởngcủa những biến động kinh tế - chính trị - xã hội chung của thế giới Việc mở rộngcác quan hệ kinh tế quốc tế vừa là nội dung, vừa là phương thức thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Những vấn đề cơ bản của quá trình này:

 Song song với việc phát triển sản xuất hàng hóa để thỏa mãn các nhu cầutrên thị trường nội địa là quá trình mở rộng các quan hệ thương mại hàng hóa vàdịch vụ trên thị trường quốc tế Với sự phát triển của toàn cầu hóa và tự do hóathương mại, ranh giới giữa thị trường nội địa và thị trường quốc tế ngày càng mờnhạt và sự cạnh tranh diễn ra ngay tại thị trường nội địa chứ không chỉ ở thị trườngquốc tế

 Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế thông qua việc tăng cường thu hút đầu tưtrực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài Điều này vừa phù hợp với xu thế quốc tếhóa đời sống kinh tế, mà còn là nguồn lực quan trọng để đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hóa, giải quyết khó khăn về vốn đầu tư, tiếp thu công nghệ mới và kinhnghiệm quản lý…

 Tham gia vào các định chế kinh tế quốc tế, các hiệp định đa phương vàsong phương Việc tham gia các định chế kinh tế quốc tế này thể hiện trực tiếp quátrình hội nhập kinh tế quốc tế và tạo cơ hội thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa

Thứ năm, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một

nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là một bộ phậntrong tổng thể quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu cuối cùngcủa quá trình này là phải hướng tới làm cho dân cư nông thôn được phát triển toàndiện, sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị được rút ngắn Với mục tiêu đó, nộidung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn bao gồm:

 Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất phát triển lực

Trang 18

lượng sản xuất ở nông thôn; huy động sự tham gia chủ động, rộng rãi và có hiệu quảcủa mọi lực lượng trong xã hội vào phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.

 Xây dựng nền kinh tế thị trường văn minh thay thế cho nền kinh tế sản xuấthàng hóa nhỏ mang nặng tính chất tự cung tự cấp Trên cơ sở đó, phát triển thể chếthị trường văn minh, chủ động sử dụng các quan hệ thị trường phù hợp với nhữngquy luật khách quan trong quản lý quá trình phát triển ở nông nghiệp và nông thôn

 Xây dựng nông thôn mới có cơ sở hạ tầng hiện đại đủ điều kiện đáp ứngcác nhu cầu của sản xuất và đời sống vật chất – văn hóa của dân cư, có thuần phong

mỹ tục, lối sống với bản sắc nông thôn được hài hòa với nền văn minh công nghiệp

 Xây dựng con người mới ở nông thôn bảo đảm được các yêu cầu: có trithức là chủ quá trình hoạt động của mình; có tính cộng đồng cao; năng động đổimới và tiếp thu cái mới; tư duy, lối sống văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được bảnsắc văn hóa riêng

Các nội dung về kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội có quan hệ tương hỗ lẫnnhau Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn được coi là hoànthành khi thực hiện được đồng bộ các nội dung đó, nhưng ở mỗi giai đoạn với sựhạn chế về nguồn lực, cần phải có sự lựa chọn các nội dung trọng tâm có ảnh hưởnglôi kéo việc thực hiện các nội dung khác

1.1.2 Các quan niệm và đặc trưng của mô hình công nghiệp hóa

1.1.2.1 Các quan niệm về mô hình công nghiệp hóa

Để tìm hiểu về mô hình công nghiệp hóa, trước hết cần hiểu khái niệm môhình và mô hình kinh tế Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong nhiềungành khoa học, như triết học, kinh tế học, tin học, toán học và các khoa học khác

Theo Từ điển Wikipedia, “ Mô hình là một cấu trúc có tính lý thuyết đại diện

cho các quá trình kinh tế thông qua một tập hợp các biến số và một tập hợp các mối quan hệ lô-gic hoặc quan hệ định lượng giữa chúng”1 Như vậy, theo quan niệmnày, mô hình chỉ là sự mô phỏng giản đơn về các quá trình phức tạp của đời sốngkinh tế trên cơ sở một tập hợp các biến số

Từ điển Bách khoa Việt Nam đề cập mô hình với hai nghĩa: nghĩa hẹp và

1 Nguồn: http:// en.wikipedia.org.wiki/Model_(economic).

Trang 19

nghĩa rộng theo nghĩa hẹp, mô hình là “mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo

ra sản phẩm hàng loạt” Còn theo nghĩa rộng, mô hình là “hình ảnh (hình tượng, sơ

đồ, sự mô tả…) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng)”2

Từ các quan niệm về mô hình như trên, có thể đưa ra một số khía cạnh về môhình kinh tế như sau:

Mô hình kinh tế là sự diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố củamột hệ thống thực tế trong tự nhiên, xã hội

Mô hình kinh tế là đại diện của một quá trình kinh tế, diễn tả các mối quan

hệ đặc trưng giữa các yếu tố của quá trình đó

Mô hình kinh tế được thể hiện ở nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau,như: mô hình kinh doanh, mô hình sản xuất, mô hình doanh nghiệp, mô hình côngnghiệp hóa, v…v

Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thống thế nào là mô hìnhcông nghiệp hóa Song, trên cơ sở các khái niệm về mô hình, mô hình kinh tế vàcông nghiệp hóa, có thể đưa ra một cách hiểu về mô hình công nghiệp hóa như sau:

Mô hình công nghiệp hóa là một tổng thể bao gồm nhiều thành phần, nhiều mối quan hệ lô-gic (mục tiêu, bước đi, cách thức thực hiện…) được kết hợp trong một cấu trúc nhất định đại diện cho một quá trình công nghiệp hóa trên thực tế.

Với cách hiểu như vậy thì mô hình công nghiệp hóa khác với chiến lượccông nghiệp hóa Chiến lược công nghiệp hóa là có thể hiểu là cách thức (phương

án , biện pháp) để thực hiện thành công mô hình công nghiệp hóa Sự khác nhaugiữa hai khái niệm này là trong khi mô hình công nghiệp hóa ít bị được đổi, thìchiến lược công nghiệp hóa lại luôn được điều chỉnh để phù hợp hơn với hoàn cảnhthực tế, nhằm thích ứng với những thay đổi của hoàn cảnh

1.1.2.2 Đặc trưng của mô hình công nghiệp hóa

Mô hình công nghiệp hóa có tính lịch sử và không có một mô hình côngnghiệp hóa chung cho tất cả các nước, cho tất cả các thời kỳ khác nhau Như vậy, sẽ

có nhiều mô hình công nghiệp hóa chứ không phải một mô hình Từ đó, có thể thấy

2 Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2002, t.2, tr.932

Trang 20

rằng, vấn đề quan trọng nhất là phải lựa chọn mô hình nào là đúng đắn, phù hợp đểđạt hiệu quả cao.

Mô hình công nghiệp hóa có thể điều chỉnh, kiểm soát được Tức là, khi điềuchỉnh một hay toàn bộ các “thành phần”, các “mối quan hệ” tạo nên “cấu trúc” của

mô hình công nghiệp hóa, hay các đầu vào của mô hình thì kết quả đầu ra sẽ thayđổi theo Tuy nhiên, những sự thay đổi đầu vào và đầu ra đó có thể kiểm soát được

Vì thế, quá trình xây dựng mô hình công nghiệp hóa cũng là quá trình nghiên cứu,tìm tòi, sáng tạo để làm sao tạo được một mô hình công nghiệp hóa phù hợp vớiđiều kiện thực tiễn, nhằm rút ngắn nhất thời gian hoàn thành công nghiệp hóa

1.2 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHIỆP HÓA

Công nghiệp hóa là một quá trình làm thay đổi to lớn, sâu sắc và toàn diệnnền kinh tế, vì vậy, mức độ hoàn thành công nghiệp hóa cũng phải được đo lườngbằng một hệ thống tiêu chí toàn diện, phản ánh những đặc trưng để xác định trình

độ đạt được trong tiến trình công nghiệp hóa của mỗi nước Việc xác lập hệ thốngtiêu chí công nghiệp hóa là hết sức cần thiết, nó giúp cho mỗi nước nhận biết đượcnước mình đang ở điểm nào trong quá trình công nghiệp hóa, sẽ phải làm những gìnữa và trong khoảng thời gian bao lâu nữa để hoàn thành quá trình này

1.2.1 Tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa của Tổ chức chương trình phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO)

Tổ chức chương trình phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) vàonhững năm 60 của thế kỷ XX đã đưa ra các ngưỡng số liệu đánh giá một nước hoànthành công nghiệp hóa theo hình thức cổ điển chỉ gồm có 3 ngưỡng số liệu cho 3tiêu chí sau:

 Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp chế biến phải đạt từ 3.000 đến4.000 USD trở lên

 Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến phải đạt từ 25% tổng giá trịxuất khẩu trở lên

 Tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến trong tổng GDP phải đạt từ 35% trở lên.Cách đánh giá do UNIDO đưa ra như vậy là quá sơ sài và chưa thể hiện được

Trang 21

đầy đủ nội dung công nghiệp hóa.

1.2.2 Tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa của H.Chenery – nhà kinh tế học người Mỹ

H.Chenery đã đề xuất các ngưỡng số liệu tối thiểu phải đạt được khi hoànthành công nghiệp hóa là:

 GDP bình quân đầu người từ 5760-10810 USD

 Cơ cấu kinh tế: Ngành nông lâm nghiệp, thủy sản chiếm dưới 10%, còn lạicông nghiệp – xây dựng phải chiếm lớn hơn dịch vụ

 Tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến trong ngành công nghiệp phải chiếm

1.2.3 Tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa của A.Inkeles

A.Inkeles là một nhà xã hội học người Mỹ, ông cho rằng những ngưỡng côngnghiệp hóa của H.Chenery mới chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế, nó chỉ phù hợp vớicông nghiệp hóa theo hình thức cổ điển, còn với hiện tại các nước đang thực hiệncông nghiệp hóa theo hình thức mới thì không đáp ứng được, nhất là các vấn đề về

xã hội và môi trường chưa được đề cập đến Vì vậy, ông đưa ra các ngưỡng số liệu

về công nghiệp hóa khi hoàn thành như sau:

 GDP bình quân đầu người phải lớn hơn 3000 USD

 Tỷ trọng ngành Nông lâm nghiệp thủy sản từ 12-15% trở xuống (tùy đặcđiểm mỗi nước)

 Tỷ trọng dịch vụ: lớn hơn 45%

 Tỷ trọng công nghiệp-xây dựng lớn hơn 42%

Trang 22

 Lao động phi nông nghiệp lớn hơn 75%

 Tỷ lệ người biết chữ lớn hơn 80%

 Tỷ lệ sinh viên đại học từ 12-15 người/10000 dân

 Số Bác sỹ/1000 dân lớn hơn 1

 Tuổi thọ trung bình trên 70 tuổi

 Tốc độ tăng dân số nhỏ hơn 1%

 Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh: nhỏ hơn 3%

 Tỷ lệ đô thị hóa: lớn hơn 50%

Những ngưỡng số liệu của A.Inkeles đưa ra có phần hạ thấp các chỉ tiêu vềkinh tế và đưa vào nhiều hơn các ngưỡng số liệu về xã hội, nhưng vẫn chưa có cácngưỡng chỉ tiêu về môi trường

1.2.4 Tiêu chí đánh giá công nghiệp hóa ở Việt Nam

Những ngưỡng số liệu của một số chỉ tiêu thống kê kết quả công nghiệp hóa

ở Việt Nam được đề xuất thể hiện vào 4 mục tiêu công nghiệp hóa và 18 chỉ tiêuthống kê cơ bản sau:

 Bốn mục tiêu công nghiệp hóa là:

Mục tiêu về kinh tế

Mục tiêu về khoa học kỹ thuật công nghệ

Mục tiêu về xã hội

Mục tiêu về môi trường

 Mười tám chỉ tiêu thống kê cơ bản đánh giá tiến trình công nghiệp hóa là:

(1) GDP bình quân đầu người: là thước đo phản ánh mức độ thỏa mãn nhu

cầu vật chất và tinh thần của người dân do công nghiệp hóa mang lại Mức đề ra củachỉ tiêu GDP bình quân đầu người theo giá thực tế của một số nước trong khu vựckhi hoàn thành công nghiệp hóa ở mức 3500 USD – 5000 USD (Hàn Quốc là 4895USD, Đài Loan: 3500 USD, Singapore: 5100 USD…) Xuất phát từ thực tiễn nước

ta thì ngưỡng số liệu GDP bình quân đầu người khi hoàn thành công nghiệp hóakhoảng 2500-3000 USD hoặc tính theo sức mua tương đương khoảng 10.500 USD

là hợp lý

(2) Cơ cấu kinh tế: nhìn chung thỉ cả về lý thuyết và thực tế đều cho thấy

Trang 23

một nước công nghiệp thường tỷ trọng Nông lâm nghiệp thủy sản chiếm không quá12% (nhiều nước dưới 10%), công nghiệp xây dựng chiếm trên dưới 50%, còn lại làdịch vụ Đối với những nước khởi đầu công nghiệp hóa từ một nước nông nghiệpthì khi hoàn thành công nghiệp hóa thường tỷ trọng nông lâm nghiệp lớn hơn ở cácnước xuất phát từ nền kinh tế tiền công nghiệp Chẳng hạn, Hàn Quốc, Ấn Độ,Malaixia tỷ trọng Nông lâm nghiệp thủy sản chiếm từ 10-12%, nhưng ở Singapore,Hồng Kông thì tỷ trọng này chỉ là 1,2-2,0% Đối với Việt Nam khởi đầu côngnghiệp hóa từ một nước nông nghiệp lạc hậu, khi hoàn thành công nghiệp hóa thìcác ngưỡng số liệu của những chỉ tiêu gắn nhiều với nông nghiệp, nông thôn như:

cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tỷ lệ đô thị hóa…sẽ còn giữ tỷ trọng cao hơn so vớinhững nước xuất phát từ nền kinh tế tiền công nghiệp Cơ cấu kinh tế hợp lý vớiViệt Nam khi trở thành nước công nghiệp là:

Tỷ trọng Nông lâm nghiệp thủy sản chiếm từ 12% trở xuống

Tỷ trọng công nghiệp-xây dựng từ 48% trở lên

Tỷ trọng dịch vụ từ 40% trở lên

(3) Cơ cấu lao động: điểm xuất phát công nghiệp hóa của nước ta là từ một

nước nông nghiệp lạc hậu với trên 90% lao động ở nông thôn, vì vậy đường lốicông nghiệp hóa của Đảng đề ra là đưa công nghiệp vừa và nhỏ về nông thôn, dovậy tỷ trọng lao động trong nông nghiệp còn phải chấp nhận ở tỷ lệ cao và nó sẽđược giảm nhanh ở thời kỳ hậu công nghiệp Với thực tiễn trên và thực tế lao độngnông nghiệp của một số nước công nghiệp vẫn còn ở mức trên dưới 20%, thìngưỡng số liệu hợp lý cho cơ cấu lao động khi nước ta hoàn thành công nghiệphóa là:

 Tỷ trọng lao động đang làm việc trong các ngành Nông lâm nghiệp, thủysản so với tổng số lao động xã hội đang làm việc trong các ngành kinh tế chiếm từ30% trở xuống

 Tỷ trọng lao động ngành công nghiệp-xây dựng chiếm từ 30% trở lên

 Tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 40%

(4) Tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến trong tổng GDP: mục tiêu công

Trang 24

nghiệp hóa là chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế côngnghiệp và dịch vụ, trong đó công nghiệp giữ vai trò quan trọng, trong công nghiệpthì vai trò của công nghiệp chế biến sẽ có ý nghĩa quyết định cả về quy mô giá trị vàtrình độ kỹ thuật công nghệ Tổ chức chương trình phát triển công nghiệp Liên HợpQuốc (UNIDO) đã đưa ra tiêu chuẩn nước công nghiệp phải có tỷ trọng ngành côngnghiệp chế biến chiếm từ 35% GDP trở lên Nhiều nước công nghiệp tỷ trọng nàyđạt từ 32-40% Ở Việt Nam, ngưỡng số liệu cho chỉ tiêu này đặt ra ở mức 32-35%

là hợp lý

(5) Tỷ trọng các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, công

nghệ trung bình, công nghệ thấp: đây là chỉ tiêu đo lường trình độ kỹ thuật công

nghệ của nền kinh tế nói chung và của ngành công nghiệp nói riêng Một nước côngnghiệp mà các ngành công nghiệp chế biến có hàm lượng công nghệ cao chiếm tỷtrọng càng lớn thì ngành công nghiệp nước đó có trình độ tiên tiến hiện đại và cóhiệu quả chế biến cao hơn là các nước có các ngành công nghiệp chế biến có hàmlượng công nghệ cao chiếm tỷ trọng nhỏ Ở nước ta, trong tình trạng phát triểnnhanh các ngành công nghiệp khai thác và các ngành công nghiệp chế biến có hàmlượng công nghệ thấp nhằm thu hút lao động chưa có việc làm đang rất lớn, songkhông vì thế mà coi nhẹ phát triển các ngành công nghiệp chế biến có hàm lượngcông nghệ cao Bởi vậy, chỉ tiêu này cần được quan tâm nhiều hơn và ngưỡng sốliệu đo lường đánh giá cho chỉ tiêu trên phải đặt ra ngang tầm với một số nước trongkhu vực như: Malayxia, Thái Lan, Hàn Quốc…Cụ thể: Tỷ trọng các ngành côngnghiệp chế biến có hàm lượng công nghệ cao chiếm trên 30% trở lên, các ngànhcông nghiệp chế biến có hàm lượng công nghệ trung bình chiếm 35% và các ngànhcông nghiệp chế biến có hàm lượng công nghệ thấp từ 35% trở xuống và cần giảmnhanh ở thời kỳ hậu công nghiệp hóa

(6) Điện năng bình quân đầu người: thông thường thì các nước công nghiệp

đều có mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người khá cao so với các nước đangphát triển Nhìn chung, các nước đã hoàn thành công nghiệp hóa đều có mức tiêudùng điện bình quân đầu người tối thiểu từ 2500 KWh trở lên, ở Việt Nam chỉ tiêu

Trang 25

này phấn đấu ở mức 2200 KWh/người.

(7) Tỷ lệ chi phí cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ so với

GDP: để áp dụng mạnh mẽ và có hiệu quả kỹ thuật công nghệ hiện đại trong quá

trình công nghiệp hóa, thì phải đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và nghiên cứu ứngdụng trên nền tảng đầu tư tài chính thỏa đáng cho hoạt động này Đối với các nướccông nghiệp hóa xuất phát từ nền kinh tế tiền công nghiệp thì mức đầu tư chonghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ thường chiếm từ 3-4% GDP, các nướcxuất phát điểm từ nền kinh tế nông nghiệp thường có mức cao hơn từ 3,5-4,5%, ởViệt Nam tỷ lệ tối thiểu cần đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ từ3,5% GDP trở lên

(8) Diện tích nhà ở bình quân đầu người: nhà ở là một nhu cầu thiết yếu đối

với người dân, với người dân ở một nước đã hoàn thành công nghiệp hóa thì bắtbuộc phải có điều kiện nhà ở tốt, vì thế ngưỡng số liệu tối thiểu cho chỉ tiêu diệntích nhà ở bình quân đầu người phải từ 15m2 trở lên

(9) Mức chênh lệch thu nhập của dân cư: mức chênh lệch thu nhập của dân

cư là chỉ tiêu phản ánh công bằng xã hội, một trong những đặc trưng của hình thứccông nghiệp hóa mới mà công nghiệp hóa cổ điển không đặt ra Mức chênh lệch thunhập của dân cư trong các nước công nghiệp trước đây và các nước mới hoàn thànhcông nghiệp hóa trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đều theo xuhướng ngày càng giảm dần khoảng cách độ chênh lệch, nay chỉ còn từ 5-7% Ở ViệtNam, khoảng cách này ngày càng tăng, đã có năm lên đến 7,2 lần nhưng đang códấu hiệu giảm xuống, song so với mục tiêu công bằng xã hội trong thời kỳ côngnghiệp hóa thì phải phấn đấu quyết liệt nhằm đạt được mức từ 4-5 lần

(10) Tỷ lệ dân số đã qua trình độ tiểu học cơ sở: công nghiệp hóa đòi hỏi

phải đi đôi với nâng cao dân trí nói chung và trình độ học vấn của người lao độngnới riêng Từ trước đến nay, nước ta đang dùng tiêu chỉ tiêu số người biết đọc biếtviết, nhưng với sự tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật của thời đại hậu côngnghiệp, thì yêu cầu biết đọc biết viết không còn phù hợp và phải nâng trình độ phổcập lên mức cao hơn là đã học hết tiểu học cơ sở Ngưỡng tối thiểu đặt ra cho chỉ

Trang 26

tiêu số người đã qua trình độ tiểu học cơ sở phải đạt trên 90% so với tổng dân số từ

11 tuổi trở lên

(11) Tỷ lệ sinh viên trong tổng dân số: số sinh viên của mỗi quốc gia so

với tổng dân số là thể hiện mức độ và quy mô đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật củaquốc gia đó, là chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật ở trình độcao của người lao động Tỷ lệ số sinh viên trong tổng dân số ở nhiều nước thườngtrong khoảng 3,5-4,5% Ở Việt Nam, ngưỡng tối thiểu của chỉ tiêu này cần đạtkhoảng 3,5%

(12) Số Bác sỹ/1000 dân: số Bác sỹ tính trên 1000 dân biểu hiện mức độ

chăm sóc sức khỏe cho người dân và cộng đồng Đó cũng là một trong những nhucầu thiết yếu để nâng cao chất lượng cuộc sống Ở các nước có nền kinh tế phát triểncao thường có từ 1,5-2, có nước trên 2 bác sỹ cho 1000 người dân Ở nước ta đến khihoàn thành công nghiệp hóa cần phấn đấu đạt mức tối thiểu 1,5 bác sỹ/1000 dân

(13) Tuổi thọ bình quân: tuổi thọ bình quân ngày càng cao là biểu hiện trực

tiếp của chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, đó cũng là mục tiêu của côngnghiệp hóa theo hình thức mới phải hướng tới Đến nay, hầu hết các nước côngnghiệp đều có tuổi thọ bình quân của người dân trên 70 tuổi Ở nước ta đã đạt trên

72 tuổi, vậy ngưỡng tối thiểu đặt ra cho tuổi thọ bình quân khi nước ta hoàn thànhcông nghiệp hóa phải từ 74 tuổi trở lên

(14) Tỷ lệ người dân sử dụng Internet: nhu cầu thông tin và đáp ứng nhu

cầu thông tin bằng công nghệ hiện đại (Internet) là đặc trưng của thời đại công nghệthông tin và cũng là tiêu chí của một nước công nghiệp Trên thế giới đã có nhiềunước công nghiệp và hậu công nghiệp có tỷ lệ người dân sử dụng internet đạt tớitrên 60%, các nước đang phát triển ở mức 20-40% Nước ta cần đạt tới mức tốithiểu 30% dân số có sử dụng internet khi công nghiệp hóa đã hoàn thành

(15) Tỷ lệ dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh: đảm bảo nguồn nước

sinh hoạt hợp vệ sinh cho người dân là một mục tiêu quan trọng để nâng cao chấtlượng cuộc sống Đã có nhiều nước phát triển, tỷ lệ dân số được sử dụng nướcsinh hoạt hợp vệ sinh đạt tới 100% Nhưng ở nước ta do đặc thù có nhiều vùng

Trang 27

cao, vùng sâu, vùng xa và một số dân tộc ít người còn lạc hậu, vì vậy, mục tiêu tỷ

lệ người dân được sử dụng nước hợp vệ sinh phải đạt từ 95% trở lên khi côngnghiệp hóa hoàn thành

(16) Tỷ lệ đô thị hóa: tỷ lệ đô thị hóa ngày càng cao là đặc trưng của công

nghiệp hóa và cũng là đặc trưng của nước công nghiệp Nhìn chung, tỷ lệ đô thị hóacủa các nước đều ở mức 50% trở lên Ở Việt Nam, tỷ lệ đô thị hóa khi hoàn thànhcông nghiệp hóa cũng phải từ 50% trở lên

(17) Độ che phủ rừng: độ che phủ của rừng là chỉ tiêu rất quan trọng nhằm

thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường, chống suy thoái hệ sinh thái Tùy theo mỗiquốc gia có diện tích rừng và đất tự nhiên khác nhau mà có tỷ lệ độ che phủ rừngkhác nhau Ở nước ta, để giữ cho môi trường sinh thái ổn định, thì độ che phủ phảiđảm bảo mục tiêu từ 42% trở lên

(18) Hệ số co giãn môi trường: hệ số co giãn môi trường là chỉ tiêu biểu

hiện mối quan hệ tỷ lệ % giữa phát triển kinh tế đo bằng chỉ tiêu GDP bình quânđầu người với biến đổi tình trạng môi trường Nói cách khác, hệ số co giãn môitrường phản ánh 1% GDP bình quân đầu người tăng lên, thì tình trạng môi trườngbiến đổi là bao nhiêu % Hệ số co giãn môi trường mang dấu dương, thì phát triểnkinh tế không làm suy thoái môi trường, ngược lại mang dấu âm, nghĩa là phát triểnkinh tế đã làm suy thoái môi trường, cần phải có biện pháp hạn chế dần mức độ suythoái của môi trường Ở các nước thường xuyên tính hệ số co giãn môi trường, thì

hệ số này luôn luôn mang dấu âm từ -0,015 – 0,035%; đối với nước ta khi hoànthành công nghiệp hóa hệ số co giãn môi trường phấn đấu ở mức -0,020% và cầnđược giảm xuống ở mức -0,01%

1.3 MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1 Mô hình công nghiệp hóa cổ điển

Mô hình công nghiệp hóa cổ điển là mô hình công nghiệp hóa diễn ra trongthời đại phát triển cổ điển, được các nước tư bản cổ điển phương Tây, điển hìnhnhất là nước Anh, thực hiện vào khoảng giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX Về

cơ bản, mô hình công nghiệp hóa cổ điển mang những đặc trưng cơ bản:

Mục tiêu tiến hành công nghiệp hóa:

Trang 28

Những nước tiến hình công nghiệp hóa theo mô hình cổ điển đều hướng tớimục tiêu trở thành một nước công nghiệp, với cơ cấu tự tái sản xuất, trong đó côngnghiệp nhẹ có vị trí đặc biệt quan trọng Nguồn vốn tích lũy cho công nghiệp hóatheo mô hình cổ điển chủ yếu được lấy từ cướp bóc thuộc địa và phát triển nôngnghiệp, công nghiệp nhẹ trong nước Vì vậy, có thể nói rằng, quá trình công nghiệphóa cổ điển gắn liền với quá trình thực dân hóa, quá trình xâm chiếm thuộc địa bằngbạo lực.

Cách thức thực hiện, bước đi: Mô hình công nghiệp hóa cổ điển diễn ra một cách tuần tự, từ từ theo lịch trình:

Về cơ cấu ngành: Xuất phát điểm bắt đầu từ công nghiệp nhẹ (cụ thể là

công nghiệp dệt da, dệt len và vải bông), rồi lan truyền sang công nghiệp nặng (cơkhí, luyện kim, điện lực, hóa chất); kéo theo sự phát triển của giao thông vận tải(đường sắt, đường thủy, ô tô, máy bay); thiết bị máy móc kỹ thuật cho nông nghiệp

và cuối cùng là hiện đại hóa các ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ

 Trong phạm vi các ngành sản xuất vật chất, lịch trình này có thể được phânchia theo các cách khác là: Từ các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng chuyển sang cácngành sản xuất tư liệu sản xuất Khi quá trình công nghiệp hóa càng tiến triển và càng

có kết quả thì các ngành công nghiệp nặng (hay công nghiệp sản xuất tư liệu sảnxuất) càng chiếm tỷ trọng lớn hơn so với các ngành công nghiệp nhẹ, sản xuất ra tưliệu tiêu dùng trực tiếp Tương ứng với tiến trình chuyển dịch cơ cấu ngành là quátrình đổi mới dần dần trang thiết bị kỹ thuật – đó là sự phát triển của máy móc từ thủcông lên cơ khí, từ lĩnh vực máy công tác đến máy truyền lực và máy phát lực

Về tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất cũng phát triển một

cách dần dần, tuần tự từ kinh doanh một chủ, đến kinh doanh chung vốn và cuốicùng là công ty cổ phần Cùng với sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuấtnêu trên là sự phát triển của phương thức huy động vốn, từ sự tích tụ chậm chạmđến các hình thức tập trung vốn qua tín dụng và phát hành trái phiếu, cổ phiếu đểhuy động nguồn vốn lớn trên thị trường

Vai trò của nhà nước trong việc thực thi mô hình:

Trang 29

Công nghiệp hóa theo mô hình cổ điển diễn ra dưới tác động của “bàn tay vôhình”, nhà nước với tư cách là lực lượng điều hành, tuy có tác dụng to lớn đối với

sự ra đời của nền kinh tế phát triển, song lại không can thiệp vào các quá trình kinh

tế Nền kinh tế là một thể chế thống nhất, không cấm đoán, không có rào cản…, vìthế, các nhà sản xuất được tự do đầu tư, tự do phát huy năng lực cá nhân Nói cáchkhác, sự tụ do kinh doanh dưới sự điều tiết của quy luật thị trường là phương thứctất yếu, khách quan để phát huy mọi tiềm năng và óc sáng tạo của những ngườitham gia thị trường

Thời gian hoàn thành công nghiệp hóa:

Mô hình công nghiệp hóa cổ điển là quá trình mò mẫm, tự vận động, vì vậy,phải mất một khoảng thời gian tương đối dài mới hoàn thành được Anh, Pháp -những nước đi đầu và là mẫu điển hình của công nghiệp hóa cổ điển, tiến hành côngnghiệp hóa vào giữa thế kỷ XVIII, và phải đến nửa cuối thế kỷ XIX mới hoànthành Phương thức tiến hành công nghiệp hóa cổ điển là dựa hoàn toàn vào cơ sởkhoa học và kỹ thuật của chính mình, và đó cũng là lý do tại sao những nước nàyđều trở thành những quốc gia đi đầu trong tiến bộ khoa học và kỹ thuật Tuy nhiên,vào thời kỳ đó do nhu cầu của thực tiễn sản xuất nên cuộc cách mạng kỹ thuật sảnxuất thường đi trước, còn những kiến giải khoa học và lý thuyết lại diễn ra sau, dẫnđến việc đổi mới công nghệ - kỹ thuật diễn ra rất chậm trong một thời gian dài Vídụ: máy dệt xuất hiện từ năm 1785, nhưng phải đến tận những năm 1920-1930 mớiđược sử dụng một cách phổ biến

1.3.2 Mô hình công nghiệp hóa rút ngắn

Mô hình công nghiệp hóa rút ngắn là mô hình công nghiệp hóa cho phép bỏqua hoặc rút ngắn một số bước đi và quá trình trong thời kỳ hiện đại so với thời kỳ

cổ điển Mục tiêu của công nghiệp hóa rút ngắn là đưa nền kinh tế từ trạng thái khépkín, kém phát triển đạt tới trình độ tương đương hoặc vượt các nước đã phát triển.Như vậy, công nghiệp hóa rút ngắn là quá trình tạo ra và duy trì tốc độ tăng trưởngcao, liên tục trong một thời gian dài để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ

so với các nước đi trước trên cơ sở lựa chọn và áp dụng mô hình công nghiệp hóa,

Trang 30

hiện đại hóa cho phép bỏ qua, hay rút ngắn một số bước đi trong mô hình côngnghiệp hóa cổ điển.

Việc thực hiện công nghiệp hóa rút ngắn không có nghĩa là đốt cháy giaiđoạn, mà nó là kết quả của sự phát huy tính năng động của các quốc gia đi sau, vậndụng mọi tiềm năng quốc gia để tiếp nhận các kinh nghiệm và thành quả tiên tiếncủa các nước đi trước, thực hiện những bước “nhảy vọt cơ cấu” để đẩy nhanh tiếntrình công nghiệp hóa, nhờ đó rút ngắn thời gian đạt được trình độ phát triển hiệnđại so với các nước đi trước

Thực tế, đã có nhiều nước thực hiện thành công mô hình công nghiệp hóa rútngắn, trong đó, những nước thực hiện mô hình công nghiệp hóa rút ngắn cổ điểnnhư Mỹ, Đức và Nhật Bản đã có sự khác biệt rất lớn cả về cách thức thực hiện vàthời gian hoàn thành so với những nước tiến hành mô hình công nghiệp hóa rútngắn hiện đại như các nước NICs, gần đây là một số nước ASEAN, Trung Quốc,

Ấn Độ,…

Mô hình công nghiệp hóa rút ngắn cổ điển

Mô hình này phổ biến ở những nước tư bản như Đức, Mỹ, Nhật Bản, ĐanMạch, Phần Lan, Hà Lan, Thụy Điển, Áo, Bỉ, Thụy Sĩ…là những nước tiến hànhcông nghiệp hóa muộn hơn so với Anh và Pháp Với mô hình này, quá trình côngnghiệp hóa về cơ bản vẫn dựa trên những tiền đề tương tụ như mô hình cổ điển,nhưng thời gian của các giai đoạn trong toàn bộ quá trình công nghiệp hóa được rútngắn nhờ “lợi thế của nước đi sau” Tức là, các nước này có điều kiện để dựa vàokhuôn mẫu và kỹ thuật, công nghệ của các nước đi trước để chuyển biến nền kinh tếnông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, thông qua cách tiếp cận tổng hợp vàđồng bộ về cơ cấu ngành cũng như về các thể chế kinh tế thị trường Như vậy, môhình công nghiệp hóa rút ngắn cổ điển có những khía cạnh nội bật sau:

Thông qua nhiều con đường khác nhau, các nước đi sau đã nhanh chóng tiếp cận với công nghệ - kỹ thuật sản xuất tiên tiến Trên cơ sở đó, phát triển nền

công nghiệp nặng đồng thời với công nghiệp nhẹ và nông nghiệp, rút ngắn giai đoạnphát triển công nghiệp nhẹ như một tiền đề kinh tế và kỹ thuật cho sự phát triển

Trang 31

công nghiệp nặng

Các hình thức hiện đại của thể chế kinh tế thị trường như công ty cổ phần,

hệ thống tài chính – ngân hàng hiện đại…, phát triển rất nhanh chóng đã hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển rút ngắn của các nước này Các nước đi sau trong

mô hình cổ điển không chỉ tiếp thu được của các nước đi trước về công nghệ - kỹthuật, mà còn cả thể chế: tổ chức tín dụng – ngân hàng, các hình thái công ty, cácphương thức hoạt động ngoại thương, kỹ năng quản lý…Chính hệ thống ngân hàngtín dụng và các công ty cổ phần phát triển mạnh mẽ ở Mỹ, Đức và Nhật Bản đã gópphần quyết định vào việc sớm hình thành các ngành công nghiệp nặng, đặc biệt làngành vận tải đường sắt cũng như đường biển Do đó, cùng với London và Paris,New York, Tokyo, Franfukt…, đã nhanh chóng trở thành những trung tâm tài chínhlớn của thế giới

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc khởi động quá trình công nghiệp hóa Cả ở Mỹ và Đức, công nghiệp hóa đều được kết hợp chặt chẽ với quá

trình hình thành nhà nước mang tính chất đế quốc chủ nghĩa thông qua những cuộcchiến tranh nhằm hợp nhất các vùng lãnh thổ rộng lớn lại thành quốc gia Ở Mỹ,hình thái điển hình của quá trình công nghiệp hóa mang tính chất thực dân, trong đónhà nước đóng vai trò quan trọng Còn với Đức, sự hình thành đế chế Đức (1871)

đã đánh dấu mốc rất quan trọng đối với sự phát triển công nghiệp do có sự can thiệpmạnh mẽ của nhà nước vào các chính sách bành trướng lãnh thổ, ngoại thương, mởmang cơ sở hạ tầng Nhưng đặc biệt hơn cả vẫn là trường hợp của Nhật Bản, nơi màvai trò của nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa in dấu ấn khá đậm nét VớiNhật Bản, “chính phủ là người tham gia tích cực vào phát triển kinh tế - như làngười đầu tư, nhà kế hoạch và là người đổi mới”3

Mô hình công nghiệp hóa rút ngắn hiện đại

Mô hình này nổi lên vào giữa thế kỷ XX tại các nền kinh tế mới công nghiệphóa (NICs) Châu Á và gần đây là Ấn Độ và Trung Quốc Các nước và vùng lãnhthổ như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông bắt đầu công nghiệp hóa vào

3 Yoshihara kunio, Sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, Nxb KHXH, 1991, tr.227

Trang 32

cuối những năm 50 và hoàn thành vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX Các nướcnày tiến hành công nghiệp hóa trong bối cảnh mới với sự phát triển của cách mạngkhoa học – kỹ thuật và xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ; các lýthuyết kinh tế và quản lý kinh tế mới đã thay thế cho các lý thuyết cổ điển trướcđây, trong đó nổi lên là lý thuyết về vai trò nhà nước trong kinh tế thị trường Trongbối cảnh đó, NICs đã biết phát huy lợi thế của nước đi sau để đẩy nhanh tiến trìnhcông nghiệp hóa Mô hình công nghiệp hóa mà họ áp dụng là phát huy sức mạnhcủa thị trường với sự dẫn dắt của nhà nước Trong mô hình này, thị trường vai tròkích thích các doanh nghiệp đầu tư kỹ thuật, công nghệ mới và lựa chọn ngành nghềkinh doanh có nhiều lợi thế, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi và

hỗ trợ doanh nghiệp Như vây, nhà nước tại các nước này đều đưa ra một mô hìnhcông nghiệp hóa khá mềm dẻo và năng động

Với mô hình công nghiệp hóa rút ngắn hiện đại, các bước đi được thực hiện

từ nhỏ đến lớn, từ thị trường trong nước đến thị trường nước ngoài, từ công nghệ sửdụng nhiều lao động sang công nghệ có hàm lượng khoa học – công nghệ cao.Trong việc trang bị kỹ thuật – công nghệ mới, các nước này đã ban hành nhiềuchính sách nhằm phát huy tối đa nội lực, thu hút mạnh mẽ và có hiệu quả các nguồnlực từ nước ngoài

Đặc trưng cơ bản của mô hình công nghiệp hóa rút ngắn hiện đại:

 Bối cảnh thế giới đã có những thay đổi, xu hướng toàn cầu hóa diễn ra hếtsức mạnh mẽ; khoa học – công nghệ phát triển ở trình độ cao hơn hẳn so với đầuthế kỷ XX; trình độ phát triển kinh tế đã vượt hơn hẳn so với giai đoạn trước

 Phương thức tiến hành công nghiệp hóa: các nước đều áp dụng chính sáchhỗn hợp, trong đó hướng ra xuất khẩu là trọng tâm, thay thế nhập khẩu đóng vai trò

bổ sung

 Hoạt động trao đổi khoa học, kỹ thuật giữa các nước diễn ra mạnh mẽ.Phần lớn các nước đều lựa chọn cách thức: giai đoạn đầu là nhập khẩu công nghệ,rồi thích nghi, rồi tiến đến cải tiến chúng dựa trên cơ sở phát triển khoa học – côngnghệ thế giới và đặc điểm riêng của từng quốc gia

 Nguồn lực khoa học – công nghệ được xác định là quan trọng, nguồn lực

Trang 33

con người là ưu tiên Vốn và tài nguyên thiên nhiên không còn giữ vị trí hàng đầunhư trước nữa

1.3.3 Mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp

Mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp hay mô hình công nghiệp hóa theo hướnghội nhập quốc tế được xây dựng trên cơ sở kết hợp hài hòa hai chiến lược: chiếnlược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và chiến lược công nghiệp hóa hướng raxuất khẩu Mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp đã và đang trở thành xu hướng pháttriển mạnh ở các nước đang phát triển từ những thập niên 70 của thế kỷ XX cho đếnnay Đây không phải là một mô hình mới, mà chỉ là sự điều chỉnh trọng tâm trongviệc xác định chiến lược thực thi, tránh sự cực đoan trong xác định thị trường vàphương hướng phát triển các ngành kinh tế

Về cơ bản, mô hình công nghiệp hóa theo hướng hội nhập quốc tế có đặctrưng là một cơ cấu công nghệ theo hướng hội nhập quốc tế có tính mềm dẻo và linhhoạt, đặt toàn bộ nền kinh tế đối mặt với thị trường thế giới, có một thể chế kinh tế -

xã hội theo hướng hội nhập quốc tế và một nguồn nhân lực hội nhập quốc tế Môhình này dựa trên nền tảng tư tưởng xuyên suốt đó là việc nâng cao năng lực cạnhtranh quốc tế ở thị trường trong nước và quốc tế là nguyên tắc chung chi phối vàquyết định sự thành bại của quá trình công nghiệp hóa Thực tế, mô hình côngnghiệp hóa hỗn hợp đang được thực hiện ở một số nước trong khu vực Đông Á vàcũng cho thấy sự phù hợp với xu thế phát triển của thế giới hiện nay

1.3.4 Mô hình công nghiệp hóa XHCN

Công nghiệp hóa XHCN diễn ra vào đầu thế kỷ XX, trước hết là Liên Xô,sau đó lan tỏa sang các nước Đông Âu Đặc trưng cơ bản của mô hình này:

Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng ngay từ thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa Cơ sở lý luận của cách tiếp cận

này có nguồn gốc sâu xa từ học thuyết tái sản xuất tư bản xã hội trong kinh tế họcMacsxit Quan điểm cơ bản của học thuyết này được V.I.Lênin tóm tắt lại như sau:

“Sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất; sau đó đến

sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng; và chậm nhất là sự phát triển

Trang 34

của sản xuất tư liệu tiêu dùng” Về thực tiễn, việc ưu tiên phát triển công nghiệp

nặng ngay từ đầu không những do yêu cầu phải nhanh chóng đuổi kịp các nướccông nghiệp hóa trước Liên Xô, mà còn do yêu cầu của xây dựng và phát triển quốcphòng để bảo vệ và phòng thủ đất nước trong thế bị các nước tư bản bao vây, o ép.Các nước XHCN lúc đó đều dành 70-80% tổng số vốn đầu tư từ ngân sách nhànước cho khu vực sản xuất vật chất để phát triển công nghiệp nặng

 Mô hình công nghiệp hóa được tiến hành trong cơ chế kế hoạch hóa tậptrung Công nghiệp hóa được tiến hành trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất, lấy chỉ tiêu hiện vật là cơ sở quan trọng nhất để duy trì các cân đối trong từngngành và giữa các ngành của nền kinh tế, loại bỏ quan hệ thị trường, quan hệ hànghóa – tiền tệ Vì vậy, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được đề ra thường xarời thực tiễn

 Công nghiệp hóa diễn ra trong thời gian tương đối ngắn Nếu ở Anh, Pháp,Đức và Mỹ, quá trình công nghiệp hóa phải cần đến thời gian trên dưới 100 năm, thì

ở Liên Xô và Trung Quốc chỉ cần đến khoảng 15 năm để hoàn thành về cơ bảnnhiệm vụ công nghiệp hóa Với Liên Xô, chỉ trong một thời gian ngắn, Liên Xô đãthực hiện được một bước nhảy vọt to lớn về mặt công nghiệp hóa: xây dựng đượcmột nền công nghiệp nặng tương đối hoàn chỉnh, tiềm lực công nghiệp tương đươngtrình độ các nước công nghiệp Châu Âu (xét về cơ cấu ngành, trang bị kỹ thuật vàcông suất); một đội ngũ các nhà khoa học – kỹ thuật hùng hậu; tiềm lực quốc phòngkhá mạnh; Liên Xô có thể giúp đỡ nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác xây dựng cơ

sở vật chất – kỹ thuật cho nền kinh tế và quân sự…

Tuy nhiên, xét về lâu dài, mô hình công nghiệp hóa XHCN bộc lộ nhiều mặthạn chế và nếu so với các mô hình công nghiệp hóa trong lịch sử thì mô hình côngnghiệp hóa này là mô hình kém hiệu quả nhất Mô hình này quá coi nhẹ vai trò củanông nghiệp và công nghiệp nhẹ, thêm vào đó việc biến nhà nước XHCN thành mộtnhà nước toàn trị đã khiến cho tính độc lập, chủ động sáng tạo của cá nhân cũngnhư tập thể lao động bị bào mòn và dẫn đến triệt tiêu Những điều đó dẫn đến hiệuquả đầu tư thấp; nền kinh tế tăng trưởng chậm lại; không đảm bảo được nhu cầu

Trang 35

thiết yếu của dân cư.

1.3.5 Một số đánh giá chung về các mô hình công nghiệp hóa

Từ việc xem xét các mô hình công nghiệp hóa diễn ra qua các thời kỳ lịch

sử, có thể rút ra một số nhận xét:

Thứ nhất, mỗi mô hình công nghiệp hóa đều ra đời và tồn tại trong những bối

cảnh kinh tế, chính trị và xã hội nhất định Chính những hoàn cảnh khách quan ấy

đã quy định toàn bộ tiến trình công nghiệp hóa cùng những thành công cũng nhưhạn chế của chúng

Mô hình công nghiệp hóa cổ điển là mô hình mở đường, tự vận động và pháttriển, nên thời gian hoàn thành công nghiệp hóa tương đối dài Còn mô hình côngnghiệp hóa rút ngắn lại được tiến hành trong điều kiện thuận lợi hơn nhiều do thếgiới đã có những thay đổi to lớn về chính trị, kinh tế, xã hội do sự tác động của cáchmạng khoa học – công nghệ và sự phát triển của lực lượng sản xuất tạo ra, vì vậythời gian hoàn thành công nghiệp hóa đã được rút ngắn lại

Mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp có lẽ là sự lựa chọn chiến lược cho nhữngnước tiến hành công nghiệp hóa muộn Thực tế, dưới góc độ của những bài họckinh nghiệm thành công của nhóm NICs Đông Á, mô hình công nghiệp hóa theokiểu kết hợp hai chiến lược thay thế nhập khẩu và chiến lược hướng ra xuất khẩunhư vậy đã từng diễn ra ở những nước này Nhưng trong bối cảnh hiện nay, chắcchắn không thể áp đặt nguyên xi những chính sách, biện pháp mà các nước Đông Á

đã từng thực thi thành công trong ba, bốn thập niên qua bởi không chỉ khác nhau vềđiều kiện lịch sử cụ thể của từng nước mà những điều kiện kinh tế, chính trị quốc tế

và khu vực đã có nhiều thay đổi

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, nội dung công nghiệp hóa cũng đã

có sự khác biệt, theo đó, hội nhập quốc tế là mở cửa và thực hiện tự do hóa thịtrường Do đó, một nước khi tham gia đầy đủ vào hội nhập kinh tế quốc tế sẽ khôngcòn sự tách biệt giữa thị trường trong nước và ngoài nước Công nghiệp hóa tiếnhành trong điều kiện đó bắt buộc không thể chỉ tập trung hướng về xuất khẩu với tất

cả những nguồn lực bên trong và bên ngoài huy động được mà phải chú trọng phát

Trang 36

triển thị trường trong nước cho công nghiệp hóa

Thứ hai, mỗi mô hình công nghiệp hóa đều có những khía cạnh hợp lý, nên

cách thức để sử dụng được các yếu tố hợp lý của mỗi mô hình là hết sức cần thiết đểđẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa của các nước đi sau

Trên thực tế, trong số các mô hình công nghiệp hóa nêu trên thì mô hìnhcông nghiệp hóa kiểu cổ điển và mô hình công nghiệp hóa theo cơ chế kế hoạch hóatập trung đã không còn tồn tại trên thực tế nữa Nhưng đối với con đường cổ điển,chẳng những điều kiện hiện tại không cho phép những nước đi sau có thể lặp lại cácnước đã đi trước, mà với quãng thời gian dài hàng trăm năm, bất kỳ quốc gia nàohiện đang tiến hành công nghiệp hóa cũng đều mong muốn và nỗ lực tìm ra nhữngphương cách để rút ngắn thời gian Nhưng điều quan trọng nhất mà mô hình này để

lại là một lịch trình thứ tự mang tính khuôn mẫu, “một quá trình lịch sử tự nhiên”,

trong sự rằng buộc chặt chẽ của những điều kiện lịch sử lúc đó

Thứ ba, dù tiến hành công nghiệp hóa theo mô hình nào, những nước đi sau

đều thực hiện công nghiệp hóa có hiệu quả hơn các nước đi trước Điều đó một mặt

do quá trình công nghiệp hóa ngày nay không còn mang tính tự phát như đã từngdiễn ra tại các nước đi trước mà ngược lại, nhà nước đã sử dụng các công cụ kinh tế

vĩ mô để thúc đẩy quá trình này tiến triển nhanh hơn, đúng hướng hơn, thậm chítrong một số lĩnh vực, nhà nước còn đưa ra các chính sách cụ thể để điều hành quátrình công nghiệp hóa

Mặt khác, thời gian tiến hành công nghiệp hóa của các nước đi sau ngày càngđược rút ngắn hơn so với các nước đi trước Quá trình công nghiệp hóa tại nướcAnh phải mất tới trên 100 năm, đối với Mỹ (nước công nghiệp hóa sau) thời gian đểthực hiện gần 60 năm, Nhật rút xuống còn khoảng 30 năm Và Hàn Quốc chỉ cần 11năm Như vậy, những nước đi sau có nhiều co hội để rút ngắn thời gian quá trìnhcông nghiệp hóa của mình

CHƯƠNG 2

Trang 37

MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA MỘT SỐ NƯỚC

ĐÔNG Á VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

2.1 MÔ HÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á

2.1.1 Mô hình công nghiệp hóa của Nhật Bản

2.1.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Hàn Quốc giai đoạn bước vào công nghiệp hóa

Về điều kiện tự nhiên: Nhật Bản là một quốc đảo ở Châu Á Đất nước Nhật

Bản trải dài theo hình cánh cung gồm 4 đảo chính: Hônshu, Hôkkaiđô, Kyushu,Shikôku Diện tích khoảng 374.000 km2, Nhật Bản nằm ở vòng cung núi lửa và luônxảy ra chấn động Đất nước nhiều núi, ít sông, vùng đồng bằng trồng trọt chỉkhoảng 15% Nhìn chung, đất đai ở Nhật Bản cằn cỗi, ít tài nguyên, người dân NhậtBản phải vật lộn rất vất vả để tồn tại và phát triển

Về kinh tế - chính trị - xã hội: Vào giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Nhật

Bản Tôkugawa sau mấy thể kỷ thống trị đã rơi vào tình trạng bế tắc, suy thoái,không thể đáp ứng được sự phát triển, không đủ sức chống lại sự xâm nhập của đếquốc phương Tây Trước sức ép của những cuộc đấu tranh, Shôgun Keiki đã xintrao trả quyền lực chi Thiên hoàng Mutsuhitô Như vậy, quyền lực Shôgun của dòng

họ Tôkugawa kéo dài 265 năm đã kết thúc, lịch sử Nhật Bản sang một trang mới

Nhà nước Meiji được thành lập và được điều hành bởi các samurai trẻ tuổi,vua được đưa lên đứng đầu nhà nước chính thống và như một biểu tượng của thốngnhất của chế độ mới Nhà nước Meiji có một mục tiêu chính sách rõ ràng và kiênđịnh đó là phương Tây hóa và hiện đại hóa nhanh chóng Nhật Bản

Sau “một giấc ngủ dài và yên bình” (cô lập với quốc tế), Nhật Bản nhận ra

rằng người Châu Âu và người Mỹ đã có những tiến bộ vĩ đại về kỹ thuật và côngnghệ trong khi Nhật Bản vẫn còn là một nước nông nghiệp lạc hậu Việc thừa nhận

sự lạc hậu của mình cùng khát vọng đuổi kịp các nước phương Tây chính là sứcmạnh tinh thần thúc đẩy đằng sau quá trình công nghiệp hóa của Nhật Bản trong

Trang 38

thời kỳ Meiji.

Khẩu hiệu của quốc gia fukoko kyuhei nghĩa là “nước giàu, quân đội hùng

mạnh” Để thực hiện hiện đại hóa Nhật Bản, nhà nước Meiji có 3 mục tiêu lớn:

Công nghiệp hóa (hiện đại hóa nền kinh tế)

Đưa ra hiến pháp đất nước và giới thiệu chế độ nghị viện (hiện đại hóa nềnchính trị)

Mở rông ra nước ngoài (hiện đại hóa quân sự)

2.1.1.2 Mô hình công nghiệp hóa của Nhật Bản

Gần một thế kỷ phát triển kinh tế của Nhật Bản sẽ được được thảo luận với

hy vọng đóng góp vào việc làm rõ những vấn đề của các nước đang phát triển Thế

kỷ ấy được phân chia thành các giai đoạn nhằm để hiểu rõ mô hình công nghiệp hóa

và quá trình phát triển kinh tế dài hạn trong lịch sử Sự đa dạng của các điều kiệnlịch sử ban đầu, đặc biệt là thể chế chính trị, là những yếu tố ảnh hưởng đến việchình thành nên mô hình và cơ chế thực thi trong giai đoạn công nghiệp hóa

Mỗi giai đoạn được xác định như là một khoảng thời gian của quá trình pháttriển, được đặc trưng bởi một chiến lược và một cơ chế nhất định để phân biệt nóvới các giai đoạn khác Việc phân chia các giai đoạn như vậy hướng tới mục tiêuchính là xem xét việc chuyển giai đoạn này sang giai đoạn kia diễn ra như thế nào,những điều kiện và cơ chế cần thiết của sự phát triển trong từng giai đoạn

Theo cách tiếp cận thương mại, quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản có thểđược phân định thành hai giai đoạn cơ bản :

Trang 39

Bảng 2.1: Các giai đoạn công nghiệp hóa của Nhật Bản

Giai đoạn Nội dung chủ yếu từng

Giai đoạn đầu

(1868-1919)

1868-1900: Xuất khẩu

sản phẩm truyền thống vàthay thế nhập khẩu hàng công nghiệp thông thường

 Phát triển các ngành truyền thống: CN tơ sợi, CN dệt bông,Nông nghiệp

 Mở rộng xuất khẩu các sản phẩm truyền thống: tơ tằm, chè, sảnphẩm nông nghiệp

Tỷ phần công nghiệp chếtạo/GDP là 10,8% (1870)đến 17,4% (1900)

 Khuyến khích các hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân

 Xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp thông thường trên cơ sởđổi mới công nghệ

Tỷ phần công nghiệp chếtạo/GDP tăng từ 17,4%(1900) lên 23,4% (1919)

Giai đoạn thứ hai

(1920-1970)

1920-1960: thay thế

nhập khẩu hàng công nghiệp chế tạo

 Công nghiệp nặng và hóa chất được mở rộng mạnh mẽ: thép,hóa chất, điện máy, máy móc nói chung…việc thay thế nhập khẩunhanh chóng được thực hiện

 Nhà nước thực hiện bảo hộ thuế quan đối với các ngành côngnghiệp nặng và hóa chất

 Khuyến khích sự hình thành các Các – ten công nghiệp

Tốc độ tăng trưởng của Nhậtgiai đoạn (1956-1960): 9,7%

Tỷ trọng của CN chếbiến/GDP là 16,8% (1956-1960)

Bảng 1: Các giai đoạn công nghiệp hóa của Nhật Bản

Giai đoạn Nội dung chủ yếu từng

Trang 40

 Nhanh chóng hấp thụ công nghệ thông qua đầu tư trực tiếpnước ngoài

 Tạo dựng các mối liên kết công nghiệp – đánh dấu sự ra đờimột hình thức mới của các tập đoàn lớn (Zaibatsu) vào nhữngnăm 1920

1960-1970: Xuất khẩu

hàng công nghiệp chế tạo

 Tìm kiếm và phát triển công nghệ phù hợp nhằm tăng khảnăng cạnh tranh

 Trợ giúp các ngành sản xuất mũi nhọn nhằm nâng cao khảnăng cạnh tranh trên thị trường quốc tế: điện tử, đóng tàu, chếtạo máy, xe hơi, thiết bị điện…

 Đẩy mạnh các hoạt động R&D

 Chú trọng đầu tư cho KH-KT và GD-ĐT

 Duy trì chế độ tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu

 Khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân, các DNvừa và nhỏ

 Chính sách công nghiệp của MITI

 Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu: gia nhập IMF và WB(1952), LHQ (1956), OECD (1964)…

Tốc độ tăng trưởng kinh tếtăng cao: (1961-1965) là9,3%, (1966-1970) là 13,3%

Tỷ trọng CN chế biến cũngtăng nhanh: từ 13,4% (1961-1965) lên 18% (1966-1970)

Nguồn:Kazushi Ohkawa và Hirohisa Kohama: Kinh nghiệm công nghiệp hóa của Nhật Bản và sự thích dụng của nó đối với các nền kinh tế đang phát triển

Ngày đăng: 12/07/2018, 00:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w