1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vân kiều ở xã trường xuân, huyện quảng ninh, tỉnh quảng bình

99 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại hội nghị về chống nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan 9/1993 đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưở

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC VÂN KIỀU Ở

XÃ TRƯỜNG XUÂN, HUYỆN QUẢNG NINH,

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC VÂN KIỀU Ở

XÃ TRƯỜNG XUÂN, HUYỆN QUẢNG NINH,

TỈNH QUẢNG BÌNH

Sinh viên thực hiện:

Lê Thị Giang Lớp: K47 - KTNN Niên khóa: 2013-2017

Trang 3

Lời Câm Ơn

Qua thời gian học tập và rèn luyện täi trường Đäi học Kinh tế Huế và thời gian thực tập tốt nghiệp täi phòng hỗ trợ Dự án SRDP huyện Quâng Ninh, tỉnh Quâng Bình tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp “Thực träng và giâi pháp giâm nghèo cho đồng bào Dân tộc Vân Kiều ở xã Trường Xuân, huyện Quâng Ninh, tỉnh Quâng Bình” Để đät được kết quâ này tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ cûa các tổ chức, đơn vị và cá nhân

Với lòng biết ơn såu sắc tôi xin gửi lời câm ơn đến Ban giám hiệu trường Đäi học Kinh tế Huế, khoa Kinh tế và Phát triển cùng các quý thæy giáo, cô giáo đã tận tình giâng däy, truyền đät kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập täi trường

Tôi xin chån thành câm ơn cô giáo Tiến sĩ Phäm Thị Thanh Xuân, người đã tận tåm hướng dẫn, giúp đỡ và täo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời câm ơn đến phòng hỗ trợ Dự án SRDP huyện Quâng Ninh, UBND xã Trường Xuån và bà con nông dån täi địa phương đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cçp những thông tin, số liệu cæn thiết để tôi hoàn thành đề tài khóa luận

Cuối cùng tôi xin chån thành câm ơn những người thån trong gia đình và bän bè đã giúp đỡ, động viên và täo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa luận này

Huế, tháng 05 năm 2017 Sinh viên thực hiện

Đại học kinh tế Huế

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp thu thập số liệu 3

4.1.1 Số liệu thứ cấp 3

4.1.2 Số liệu sơ cấp 3

4.2 Phương pháp phân tích số liệu 3

4.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 3

4.2.2 Phương pháp hạch toán tài chính 4

4.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia 4

PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Khái niệm về nghèo đói 5

1.1.1.1 Một số khái niệm liên quan 6

1.1.2 Đặc điểm của nguời nghèo 7

Đại học kinh tế Huế

Trang 5

1.1.2.1 Về thu nhập 8

1.1.2.2 Y tế - giáo dục 9

1.1.2.3 Nguy cơ dễ bị tổn thương 10

1.1.2.4 Không có tiếng nói và quyền lực 11

1.1.3 Các tiêu chí xác định hộ nghèo 12

1.1.3.1 Theo quan niệm Thế giới 12

1.1.3.2 Theo quan niệm của Việt Nam 13

1.1.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích (GO, IC, VA) 15

1.1.4.1 Gía trị sản xuất (GO) 15

1.1.4.2 Chi phí trung gian (IC) 16

1.1.4.3 Gía trị tăng thêm hay giá trị gia tăng 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.2.1 Thực trạng về nghèo đói ở Việt Nam 16

1.2.2 Thực trạng về tình hình nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta những năm qua 18

1.2.3 Các chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam 21

1.2.4 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo 23

1.2.4.1 Kinh nghiệm của các Quốc gia trong khu vực và Thế giới 23

1.2.4.2 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của một số địa phương trong nước 25

1.2.5 Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC VÂN KIỀU Ở XÃ TRƯỜNG XUÂN, HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH 32

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 32

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

2.1.1.1 Vị trí địa lý 32

2.1.1.2 Địa hình 32

2.1.1.3 Thời tiết, khí hậu 32

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34

Đại học kinh tế Huế

Trang 6

2.1.2.2 Tình hình dân số, lao động 36

2.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế 37

2.1.3 Đánh giá chung 38

2.1.3.1 Lợi thế và tiềm năng phát triển 39

2.1.3.2 Khó khăn và hạn chế 39

2.2 Thực trạng đói nghèo của Đồng bào Dân tộc Vân Kiều ở xã Trường Xuân 42

2.3 Tình hình đói nghèo của các hộ điều tra 45

2.3.1 Tình hình cơ bản của hộ điều tra 45

2.3.1.1 Tình hình nhân khẩu và lao động 45

2.3.1.2 Năng lực sản xuất của hộ điều tra 46

2.3.1.2.1 Về đất đai 46

2.3.1.2.2 Về tư liệu sản xuất 48

2.3.1.2.3 Vốn cho sản xuất kinh doanh 50

2.3.1.3 Thực trạng nhà ở và trang thiết bị sinh hoạt của hộ 52

2.3.2 Thực trạng sản xuất của hộ điều tra 54

2.3.3 Tình hình thu nhập và chi tiêu 56

2.3.3.1 Tình hình thu nhập 56

2.3.3.2 Tình hình chi tiêu 58

2.3.4 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo 60

2.3.4.1 Nguyên nhân khách quan 60

2.3.4.2 Nguyên nhân chủ quan 61

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC VÂN KIỀU XÃ TRƯỜNG XUÂN 63

3.1 Định hướng, mục tiêu 63

3.1.1 Định hướng 63

3.1.2 Mục tiêu 64

3.2 Một số giải pháp xóa đói giảm nghèo 65

3.2.1 Các giải pháp trước mắt 65

3.2.1.1 Giải pháp về tổ chức 65

3.2.1.2 Giải pháp về tuyên truyền 66

Đại học kinh tế Huế

Trang 7

3.2.1.3 Giải pháp tập huấn khoa học kỹ thuật và hỗ trợ sản xuất 67

3.2.2 Giải pháp xoá đói giảm nghèo lâu dài nhằm phát triển ổn định và bền vững chống tái nghèo 67

3.2.2.1 Giải pháp về công tác quy hoạch, định hướng phát triển 67

3.2.2.2 Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn 68

3.2.2.3 Chính sách xã hội 68

3.2.2.4 Chính sách tín dụng 69

3.2.2.5 Chính sách hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cho người nghèo 70

3.2.2.6 Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình 70

3.2.2.7 Nâng cao dân trí cho người nghèo, tạo nhiều điều kiện thích hợp cho các hộ nghèo phát triển kinh tế, tự vươn lên xoá đói giảm nghèo 71

3.2.2.8 Giải quyết việc làm 71

PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

3.1 Kết luận 72

3.2 Kiến nghị 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHU LỤC

Đại học kinh tế Huế

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

BẢNG 1 CHUẨN NGHÈO VÀ CẬN NGHÈO Ở VIỆT NAM 14

BẢNG 2: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CỦA XÃ GIAI ĐOẠN 2014 – 2016 34

BẢNG 3 TÌNH HÌNH DÂN SỐ, LAO ĐỘNG CỦA XÃ QUA 3 NĂM 36

BẢNG 4 TÌNH HÌNH NGHÈO ĐÓI CỦA XÃ QUA 3 NĂM 43

BẢNG 5 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 45

BẢNG 6 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 47

BẢNG 7 TÌNH HÌNH TRANG THIẾT BỊ, TƢ LIỆU SẢN XUẤT CỦA HỘ ĐIỀU TRA 49

BẢNG 8 NGUỒN VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC HỘ 50

BẢNG 9 TÌNH HÌNH NHÀ Ở VÀ TRANG THIẾT BỊ SINH HOẠT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 52

BẢNG 10 KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 54

BẢNG 11 TÌNH HÌNH THU NHẬP CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 56

BẢNG 12 TÌNH HÌNH CHI TIÊU CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 58 BẢNG 13 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NGHÈO ĐÓI CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 61

Đại học kinh tế Huế

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Họ và tên sinh viên: Lê Thị Giang Lớp: K47 – Kinh tế nông nghiệp Niên khóa: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Thanh Xuân

Tên đề tài: Thực trạng và giải pháp giảm nghèo cho Đồng bào dân tộc Vân Kiều

ở xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trường Xuân là một xã thuộc vùng núi phía Tây của huyện Quảng Ninh Đây là một xã nhỏ và nghèo, với địa hình chủ yếu là đồi núi và gò đồi nên khí hậu khắc nghiệt, kinh tế chậm phát triển, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống và sản xuất Xã có 2 nhóm dân tộc sinh sống chủ yếu là Dân tộc Kinh và Đồng bào Vân Kiều Trong những năm qua nhờ làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo (XĐGN), tỷ lệ

hộ nghèo trong xã đã giảm Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao (37,87% năm 2015 và 33,82% năm 2016) so với cả nước cũng như các địa phương trong tỉnh Thực trạng đời sống nhân dân vẫn còn quá thấp Các điều kiện về vật chất,

cơ sở hạ tầng như đường xá, văn hóa, giáo dục, y tế đang còn nhiều khó khăn, đặc biệt

là vùng Đồng bào dân tộc thiểu số.Vì vậy XĐGN đang là mối quan tâm to lớn của các cấp Chính quyền và của toàn thể nhân dân xã Trường Xuân

Do nguồn lực dành cho công tác XĐGN có hạn, ngoài việc xác định số người nghèo và xác định được các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói là những nội dung quan trọng để định hướng chính sách giảm nghèo, thì việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói nhất là các yếu tố đặc điểm của hộ gia đình là một vấn đề cần thiết từ đó có những giải pháp, đầu tư hiệu quả Vì vậy việc nguyên cứu đề tài này là cấp thiết và cấp bách

Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp:

Phương pháp chọn mẫu; phương pháp điều tra, thu thập số liệu; phương pháp phân tích số liệu (phương pháp thống kê mô tả, hạch toán tài chính, tham vấn chuyên gia)

Đại học kinh tế Huế

Trang 11

3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn

- Đề tài đã phân tích và đánh giá thực trạng đói nghèo của Xã Trường Xuân

- Đề tài đã xác định được các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của Đồng bào dân tộc Vân Kiều ở xã Trường Xuân

- Phân tích kinh tế hộ bao gồm: Tổng giá trị sản xuất, chi phí, thu nhập của hộ, tình hình sử dụng đất đai, tình hình trang thiết bị và tư liệu sản xuất của hộ

- Đề tài đã đưa ra một số giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của xã, nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo

Đại học kinh tế Huế

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQ : Bình quân BQC : Bình quân chung CNH – HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa

DT : Diện tích

Đ : Đồng GTSX (GO) : Giá trị sản xuất HĐND : Hội đồng nhân dân HTX : Hợp tác xã

IC : Chi phí trung gian

NN : Nguyên nhân

SL : Số lƣợng TLSX : Tự liệu sản xuất UBND : Uỷ ban nhân dân USD : Đô la Mỹ

VA : Giá trị gia tăng XĐGN : Xóa đói giảm nghèo Đại học kinh tế Huế

Trang 13

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nhiều thập kỷ trở lại đây, sự phát triển về lực lượng sản xuất, của khoa học – kỹ thuật và công nghệ đã mang lại đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao cho con người Bên cạnh đó cũng xuất hiện một thực tế khắc nghiệt là số người nghèo đói chiếm một tỷ lệ còn quá cao “khoảng 1/5 dân số thế giới sống trong cảnh nghèo nàn lạc hậu”

Nghèo đói đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển, từng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, không chỉ ở những quốc gia kém phát triển mà còn ở cả những quốc gia phát triển Vì vậy, việc xóa đói giảm nghèo luôn là mối quan tâm của mọi quốc gia

Ở Việt Nam, xóa đói giảm nghèo được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định công tác xóa đói giảm nghèo là một mục tiêu quốc gia, việc thực hiện chương trình này phải được tiến hành trên quy mô rộng lớn và được thực hiện lồng ghép với các chương trình quốc gia khác Trên thực tế chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, đời sống nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt, bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang hơn, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần, số hộ khá, hộ giàu ngày càng tăng lên Mặc dù vậy, về nhận thức, cách tiếp cận,

sự lựa chọn mục tiêu và giải pháp khắc phục đói nghèo ở nhiều nơi, nhều cấp chưa được nhất quán Vì thế, công tác xóa đói giảm nghèo giữa các cấp các ngành, đoàn thể

ở một số nơi đặc biệt là các nơi miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số chưa được đồng bộ và thống nhất

Trường Xuân là một xã thuộc vùng núi phía Tây của huyện Quảng Ninh Đây là một xã nhỏ và nghèo, với địa hình chủ yếu là đồi núi và gò đồi nên khí hậu khắc nghiệt, kinh tế chậm phát triển, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống và sản xuất Xã có 2 nhóm dân tộc sinh sống chủ yếu là Dân tộc Kinh và Đồng bào Vân Kiều Trong những năm qua nhờ làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo (XĐGN), tỷ lệ

hộ nghèo trong xã đã giảm Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao (37,87% năm 2015 và 33,82% năm 2016) so với cả nước cũng như các địa phương

Đại học kinh tế Huế

Trang 14

trong tỉnh Thực trạng đời sống nhân dân vẫn còn quá thấp, các điều kiện về vật chất,

cơ sở hạ tầng như đường xá, văn hóa, giáo dục, y tế đang còn nhiều khó khăn, đặc biệt

là vùng Đồng bào dân tộc thiểu số.Vì vậy XĐGN đang là mối quan tâm to lớn của các cấp Chính quyền và của toàn thể nhân dân xã Trường Xuân

Do nguồn lực dành cho công tác XĐGN có hạn, ngoài việc xác định số người nghèo là một nội dung quan trọng để định hướng chính sách giảm nghèo, thì việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói nhất là các yếu tố đặc điểm của hộ gia đình là một vấn đề cần thiết từ đó có những giải pháp, đầu tư hiệu quả Xuất phát từ những đòi

hỏi mang tính thời sự như đã nêu trên nên tối quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và

giải pháp giảm nghèo cho Đồng bào Dân tộc Vân Kiều ở xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát Phân tích đánh giá thực trạng nghèo đói, xác định các nguyên nhân nghèo đói, từ

đó đề xuất các giải pháp xóa đói giảm nghèo cho Đồng bào Dân tộc Vân Kiều ở xã Trường Xuân huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản có tính chất lý luận và thực tiễn về nghèo đói

- Phân tích đánh giá thực trạng nghèo đói, tìm hiểu những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói của các hộ gia đình ở địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của huyện, nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này liên quan đến các vấn đề nghèo đói, về thu nhập của người dân, do đó đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hộ gia đình nông dân

Trang 15

- Về thời gian: Điều tra tình hình của các hộ năm 2017, đánh giá số liệu từ năm

2014 – 2016 và đưa ra giải pháp đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu 4.1.1 Số liệu thứ cấp

Số liệu sử dụng để phân tích đánh giá trong bài là số liệu thứ cấp được lấy từ các văn bản, báo cáo tổng kết năm 2014 – 2016 của Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân xã, các nguồn số liệu ở phòng Thống kê, phòng Công tác văn hóa và xã hội, các số liệu thống

có 35 hộ nghèo, 15 hộ trung bình và 10 hộ khá, tất cả các hộ điều tra đều là dân tộc Vân Kiều Các hộ được chọn theo phương pháp chọn ngẫu nhiên

Thông tin điều tra: bao gồm các vấn đề liên quan đến hộ sản xuất như:

- Thông tin chung về chủ hộ (giới tính, trình độ văn hóa)

- Thông tin về nhân khẩu của hộ

- Thông tin về ruộng đất, lao động, nhà cửa, tài sản

- Thông tin về thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ

- Thông tin về chi tiêu và cơ cấu chi tiêu

- Thông tin về vốn, vay nợ của hộ

- Những nguyên nhân nghèo đói theo suy nghĩ của hộ

- Những nguyện vọng cần trợ giúp của hộ nghèo 4.2 Phương pháp phân tích số liệu

4.2.1 Phương pháp thống kê mô tả

Sử dụng số tương đối, số tuyệt đối để thấy được sự biến động các chỉ tiêu của hộ qua các năm

Đại học kinh tế Huế

Trang 16

4.2.2 Phương pháp hạch toán tài chính

Sử dụng các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế (GO, IC, VA …) để đánh giá hiệu quả hoạt động của hộ

4.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia

Để thu thập thông tin, tham khảo ý kiến của các cán bộ huyện, xã, trưởng thôn, chủ hộ có trình độ văn hóa, nhiều kinh nghiệm về các vấn đề nghèo đói, nguyên nhân đói nghèo của hộ để phân tích đưa ra các giải pháp phù hợp

Đại học kinh tế Huế

Trang 17

PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận 1.1.1 Khái niệm về nghèo đói

Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng quốc gia, khu vực địa lý và là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nước và các tổ chức quốc tế Vì vậy, có rất nhiều khái niệm về nghèo đói khác nhau

- Theo báo cáo phát triển Việt Nam tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam năm 2003 đã nêu rõ: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có đủ các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng Mức sống tối thiểu bao gồm: Ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, nghỉ ngơi ” Hay “Nghèo đói là tình trạng thua kém về nhiều mặt, từ thu nhập đến tính dễ bị tổn thương khi bị rủi ro và ít có khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định chung”

- Hội nghị thượn đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra định nghĩa như sau: “Người nghèo là tất cả những ai thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”

- Ngân hàng thế giới năm 1998 đã đưa ra khái niệm: “Nghèo không chỉ là thu nhập mà còn có đời sống, sức khỏe, giáo dục, điều kiện vệ sinh ở mức thấp không có quyền lực và nghề nghiệp”

- Ông Abapia Sen – chuyên gia hang đầu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) quan niệm rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”

- Bên cạnh đói khái niệm nghèo đói còn được tách riêng ra nghèo và đói:

Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn về nhiều phương diện như: Thu nhập thấp do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dung và dễ bị tổn thương trước những mất mát

Đại học kinh tế Huế

Trang 18

Đói là một bộ phận của những nguời nghèo, không những không đủ những nhu cầu cơ bản tối thiểu mà không đủ lương thực để duy trì cuộc sống hàng ngày

Bản thân nghèo đói cũng bao hàm mức độ nghèo khác nhau, vì trong nhóm dân

cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa phải là nghèo nhất trong xã hội bị rơi và tình trạng đói kém Do đó với cách tiếp cận khác nhau về tình trạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau Nghèo được nhận diện trên 2 khía cạnh:

+ Nghèo tuyệt đối (Absolute Poverty): là tình trạng của một bộ phận dân cư không có

có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống

+ Nghèo tương đối (Relative Poverty): là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng

Tại hội nghị về chống nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (9/1993) đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” Có thể xem đây là một định nghĩa chung nhất về nghèo đói Tuy nhiên, Nghèo đói là một khái niệm có tính thay đổi theo thời gian và không gian

1.1.1.1 Một số khái niệm liên quan

 Hộ nghèo

Là những hộ có thu nhập bình quân đầu người nằm dưới giới hạn nghèo được gọi

là hộ nghèo Theo Nghị quyết số 79/NQ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2015, Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2015; Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020

 Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng

và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

 Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

Đại học kinh tế Huế

Trang 19

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng

và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

 Hộ cận nghèo

 Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

 Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

 Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ nghèo mà sau một quá trình

thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở

trên chuẩn mực nghèo đói

 Hộ tái nghèo đói: Là số hộ vốn dĩ trước đây thuộc diện nghèo và đã vượt qua

nghèo, nhưng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào hoàn cảnh nghèo đói lại

 Khái niệm về vùng nghèo

Vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận tiện, cơ

sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sản xuất đảm bảo cuộc sống và là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao

Đặc điểm của nguời nghèo

Những người nghèo phân bố hầu hết ở khắp ở các vùng trong cả nước nhưng sự phân bố này không đồng đều mà chủ yếu ở các vùng ven thành thị và nông thôn, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Tuy nhiên đặc trưng của những người nghèo đói ở nông thôn và thành thị lại không giống nhau

Ở thành thị thì những người nghèo phải bán sức lao động của mình với giá rẻ mạt để duy trì sự sống của bản thân và gia đình Còn ở nông thôn, những người nghèo lại phụ thuộc vào sản phẩm của ngành nông nghiệp, chủ yếu là chăn nuôi và trồng trọt, các sản phẩm từ tự nhiên Nhưng do thiên tai, dịch họa mà họ phải gánh chịu quá cao nên

Đại học kinh tế Huế

Trang 20

đời sống của họ bấp bênh Bên cạnh đó, do không có điều kiện để sản xuất nên năng suất của các loại cây trồng, vật nuôi thấp

1.1.2.1 Về thu nhập

Đa số những người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ Họ có mức thu nhập thấp Điều này do tính chất công việc của họ đem lại Người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhưng thu nhập chẳng được là bao Hơn thế nữa, những công việc này lại thường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn như mưa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất ) Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu cho cuộc sống của những người nghèo là rất hạn chế Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ Nhiều người rơi vào cảnh thiếu ăn liên miên: chưa nói đến vấn đề đủ dinh dưỡng, riêng việc đáp ứng lượng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con người để có thể duy trì hoạt động sống bình thường

họ cũng chưa đáp ứng được, hoặc đáp ứng một cách khó khăn Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ của người nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà

người nghèo rất khó thoát ra được

Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản ở những người nghèo Tài sản ở đây có thể là tài sản vật chất, tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài sản tài chính, tài sản xã hội Tài sản con người thể hiện ở khả năng có được sức lao động cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt Như đã trình bày ở trên, do thu nhập thấp nên người nghèo không thể đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu về lương thực thực phảam Ăn uống cực

kì thiếu thốn cộng với lao động nặng nề đã làm giảm sức khoẻ của người nghèo do đó cũng không đảm bảo được các kỹ năng cũng như sức lao động cơ bản Tài sản tự nhiên như đât đai, thiếu tài sản tự nhiên có nghĩa là thiếu, không có hoặc có nhưng đất đai quá cằn cỗi, không thể canh tác được Tài sản vật chất ở đây như nhà ở, phương tiện sản xuất - người nghèo có rất ít hoặc hầu như không có các phương tiện sản xuất Điều này đã hạn chế khả năng lao động của họ, làm họ khó khăn hơn nhiều so với những

Đại học kinh tế Huế

Trang 21

người có đủ phương tiện sản xuất nó cũng làm giảm thu nhập của họ Còn về nhà ở, đại đa số người nghèo sống trong những căn nhà tạm bợ, dột nát, chật chội Nhiều căn nhà không đủ đảm bảo an toàn, không bảo đảm sức khoẻ cho những người sống trong

đó Do không có những tài sản giá trị để bảo đảm nên người nghèo cũng có rất ít khả năng tiếp cận với các tổ chức cho vay vốn, do thu nhập thấp nên người nghèo cũng không có khả năng tiết kiệm nhiều Đó chính là thiếu hụt tài sản tài chính Còn tài sản

xã hội, như các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ cậy và ảnh hưởng chính trị đối với các nguồn lực, đối với người nghèo điều này cũng rất hạn chế, do thu nhập thấp, lúc nào cũng phải lo chạy ăn đủ bữa nên người nghèo không quan tâm hoặc không có khả năng tham gia nhiều vào các mối quan hệ xã hội Một điều cản trở nữa là, hầu hết khi tham gia vào các nhóm, tổ chức nào đó cũng đều phải đóng một khoản phí nhất định, người nghèo lo ăn còn chưa đủ, nói gì đến việc bỏ tiền tham gia nhóm, hội nào đó Điều này đã làm cho người nghèo dần bị cô lập và do đó khó nhận được sự giúp đỡ từ các nhóm, hội khi gặp khó khăn

1.1.2.2 Y tế - giáo dục

Những người nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thường cao như ốm đau, các bệnh về đường giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không được tốt do ăn uống không đảm bảo, lao động cực nhọc Người nghèo thường sống ở những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ không được sử dụng nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, điều này cũng làm giảm đáng kể sức khoẻ của họ Nó đã dẫn đến tình trạng tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh trong nhóm hộ nghèo,

số trẻ bị suy dinh dưỡng và số bà mẹ mang thai thiếu máu rất cao Có điều này là do người nghèo có thu nhập thấp, không đủ trả khoản tiền viện phí lớn cũng như các chi phí thuốc men khác, thêm vào đó có thể do đối xử bất bình đẳng trong xã hội, người nghèo không được quan tâm chữa trị bằng người giàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ y

tế của người nghèo là rất thấp Bên cạnh đó, do nhận thức của người nghèo, họ thường không quan tâm lắm bệnh tật của mình, khi bị bệnh họ thường cố tự chạy chữa bằng mọi biện pháp rẻ tiền, chỉ đến khi bệnh trở nên trầm trọng họ mới vào viện vì vậy việc điều trị đem lại hiệu quả không cao mà còn tốn thêm nhiều khoản tiền không đáng có

Đại học kinh tế Huế

Trang 22

Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng thất vọng Hầu hết những người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn Tỷ lệ thất học, mù chữ

ở hộ nghèo, đói cao Có tình trạng như vậy là do các gia đình này không thể trang trải được các chi phí về học tập của con cái họ như tiền học phí, tiền sách vở đi học, họ

sẽ mất đi một lao động trong gia dình Những người nghèo cũng đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của học thức với nghèo đói nhưng vấn đề học phí của con em họ quả là vấn đề quá khó khăn với tình hình tài chính của gia đình Một phụ nữ đã nói: “Các con tôi đã sẵn sàng tới trường vào tháng 9, nhưng tôi không biết làm thế nào để có thể cho

cả ba đứa tới trường” Ở một số nước, trẻ em phải thôi học bởi lỡ hạn nộp học phí đến đúng vào lúc mà gia đình không có khả năng thanh toán nhất

Tóm lại, y tế - giáo dục là vấn đề được nhiều người nghèo quan tâm, họ cũng đã hiểu rõ tầm quan trọng của các yếu tố này tới bản thân họ cũng như tương lai của họ

và gia đình nhưng do thu nhập thấp, không đủ trang trải, học phí, viện phí, họ đành phải để con cái thôi học, người bệnh không được khám và chữa chạy đúng mức, kịp thời, hầu hết các người nghèo không được tiếp cận với các dịch vụ y tế Điều này đã làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ, giảm sức khoẻ cũng như hạn chế cơ hội phát triển của các thế hệ sau

3 Nguy cơ dễ bị tổn thương

Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm với sự khốn cùng về vật chất và con người Vậy nguy cơ dễ bị tổn thương là gì? Nó chính là nguy cơ mà người nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học Nói cách khác, những rủi ro mà người nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của họ chính là nguyên nhân khiến họ rất

dễ bị tổn thương Những người nghèo do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải hạn chế, tối thiểu các nhu cầu thiết yếu nhất của cuộc sống Vì vậy, khi rủi ro xảy

ra họ rất dễ bị tổn thương và rất khó vượt qua được các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính tạm thời mà những người có nhiều tài sản hơn dễ dàng vượt qua được Do thu nhập thấp, người nghèo có rất ít khả năng tiếp cận với các cơ hội tăng trưởng kinh

tế, vì thế họ thường phải bỏ thêm các chi phí không đáng có hoặc giảm thu nhập ở các

hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra như mất cắp hay có người bị ốm đau thì họ dễ bị rơi vào

Đại học kinh tế Huế

Trang 23

tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn cuộc sống của cả gia đình mà một thời gian lâu sau mới có thể phục hồi được Cũng có khi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể làm trầm trọng thêm sự khốn cùng của họ trong dài hạn Chẳng hạn, ví dụ trên, do thiếu tài sản nên để chạy chữa cho một người bị ốm, gia đình đã buộc phải quyết định cho một đứa con nghỉ học hay họ phải bán trâu, bò, ngựa những phương tiện lao động cần thiết của gia đình Cũng có thể người bệnh thì không khỏi được còn gia đình từ cảnh khá giả rơi vào cảnh khốn cùng Như vậy, nếu có thêm một vài sự kiện nghiêm trọng nữa xảy ra thì sự suy sụp đến cùng kiệt là điều khó tránh khỏi với người nghèo

Nguy cơ dễ bị tổn thương đã tạo nên một tâm lý chung của người nghèo là sợ phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi ro cao,

kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành công (ví dụ đầu tư vào giống lúa mới, áp dụng phương thức sản xuất mới ) chính điều này đã làm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập dần với guồng quay của thị trường và do vậy cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng hơn

1.1.2.4 Không có tiếng nói và quyền lực

Những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xã hội

do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ Trong cuộc sống những người nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, chịu sự thô bạo, nhục mạ, họ

bị tước đi những quyền mà những người bình thường khác nghiễm nhiên được hưởng Người nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự

ti, không kiểm soát được cuộc sống của mình Đó chính là kết quả mà nguyên nhân không có tiếng nói và quyền lực đem lại Một người nghèo ở Trà Vinh nói họ chẳng được gọi đi họp vì nhà ở xa, khi nào phải đi lao động thì mới được gọi tới Kể cả khi

họ tham gia được các cuộc họp của cộng đồng thì họ cũng không thể quyết định được vấn đề gì dù rằng vấn đề đó liên quan đến lợi ích của chính họ

Không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những người phụ nữ bị đối

xử bất bình đẳng trong chính gia đình của họ Người phụ nữ không có quyền quyết

Đại học kinh tế Huế

Trang 24

3 Các tiêu chí xác định hộ nghèo 1.1.3.1 Theo quan niệm Thế giới

- Thu nhập bình quân tính theo đầu người

Dựa theo tiêu chí này Ngân hàng thế giới (WB) đã đánh giá mức độ giàu nghèo của các Quốc gia bằng hai cách tính: theo phương pháp Atlas tức là theo tỷ lệ giá hối đoái và tính theo USD; theo phương pháp PPP (Purchasing Power Pairty) là phương pháp sức ma tương đương cũng tính bằng USD

Theo phương pháp Atlas được phân ra làm 6 loại về sự giàu nghèo của các nước (lấy mức thu nhập năm 1999)

+ TNBQ đầu người > 25.000 USD/năm là nước cực giàu + Từ 20.000 USD đén duới 25.000 USD/năm là nước giàu + Từ 10.000 USD đến duới 20.000 USD/ năm là nước khá giàu + Từ 2.500 USD đến duới 10.000 USD/năm là nước trung bình + Từ 500 USD đến duới 2.500 USD/ năm là nước nghèo

+ Dưới 500 USD là nước cực nghèo Ngân hàng thế giới còn đưa ra khuyến nghị thang đo đói nghèo như sau:

+ Đối với nước kém phát triển là 1USD/ngày + Các nước thuộc Châu Mỹ La tinh và Caribee là 2 USD/ngày + Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày

+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày

- Chỉ số phát triển con nguời (HDI)

Khi đánh giá nước giàu, nghèo trên thế giới, giới hạn đói nghèo được biểu hiện bằng chỉ tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GDP) Tuy nhiên, một

số nhà nghiên cứu cho rằng chỉ căn cứ vào thu nhập thì chưa đủ căn cứ để đánh giá, vì vậy bên cạnh chỉ tiêu này tổ chức hội đồng phát triển Hải ngoại (ODC) đưa ra chỉ số chất lượng cuộc sống (PQLI) để đánh giá, bao gồm 6 chỉ tiêu cơ bản sau:

+ Tuổi thọ + Tỷ lệ xoá mù chữ + Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh + Tuổi thọ

Đại học kinh tế Huế

Trang 25

+ Thu nhập + Tình trạng biết chữ của người lớn Như vậy chỉ tiêu đánh giá nước giàu, nước nghèo của các quốc gia vẫn căn cứ vào chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân đầu người là chính Khi kết hợp với các chỉ

số PQLI hay HDI thì chỉ bổ sung cho việc nhìn nhận các nước giàu, nước nghèo chính xác hơn, khách quan hơn Quan niệm của nhiều nước cho rằng hộ nghèo có mức thu nhập bình quân dưới 1/3 mức thu nhập bình quân của toàn xã hội Với quan niệm này, hiện nay trên thế giới có 1,3 tỷ người đang sống trong tình trạng nghèo khổ, tức là

sống dưới 420USD/người/năm mà Ngân hàng thế giới đã ấn định

Để đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia, ngoài chỉ số tính theo thu nhập bình quân/người thì trên Thế giới từ năm 1990, Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra chỉ tiêu và chỉ số nhân bản HDI

HDI được tính trên cơ sở tổng hợp về nhiều mặt:

+ HDI đạt > 0,799: mức độ phát triển con nguời cao + HDI đạt 0,5 đến 0,799: mức độ phát triển con nguời trung bình + HDI đạt < 0,5: mức độ phát triển con nguời thấp

Theo mức chia như trên thì hiện nay có 55/177 nước đạt mức phát triển con người cao Số quốc gia đạt mức độ phát triển con người trung bình là 86/177 và 36/177 nước ở mức độ phát triển thấp Việt Nam chúng ta nằm trong nước có mức độ phát triển con nguời trung bình (0,691) đứng thứ 112/177 nước (Theo số liệu UNDP năm 2004)

HDI là chỉ số tiêu biểu cho ta cái nhìn tổng quát nhất để đánh giá chung trình độ phát triển của cộng đồng Bởi vậy đây là chỉ số rất quan trọng để hiểu về trình độ phát triển KH – KT và mối tương quan giữa yếu tố kinh tế và xã hội của một cộng đồng, một quốc gia

1.1.3.2 Theo quan niệm của Việt Nam

Xác định chuẩn nghèo đói phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng quốc gia, từng địa phương, song trong đó có một phần của yếu tố chủ quan của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách

Đại học kinh tế Huế

Trang 26

Khi nói đến nghèo đói là nói đến cá nhân con người Nhưng khi xây dựng chuẩn nghèo đói thì lại phải đặt con người trong khuôn khổ hộ gia đình để xem xét, vì vậy chuẩn mực nghèo đói đưa ra là chuẩn nghèo cho hộ gia đình, lấy hộ là đơn vị áp dụng chuẩn

Ở Việt Nam, nghèo đói được phân theo chuẩn nghèo quốc gia, nghĩa là dựa vào thu nhập bình quân khẩu/tháng

BẢNG CHUẨN NGHÈO VÀ CẬN NGHÈO Ở VIỆT NAM

Giai đoạn Văn bản quy

định

Chuẩn nghèo (đồng người tháng)

Chuẩn cận nghèo (đồng người tháng)

Nông thôn Thành thị Nông

thôn Thành thị

2006 -

2010

170/2005/QĐ- TTg ngày 08/07/2005

Dưới 200.000

Dưới 260.000

270.000 đến 400.000

350.000 đến 500.000

2011 -

2015

09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011

Dưới 400.000

Dưới 500.000

401.000 đến 520.000

501.000 đến 650.000

2016 -

2020

76/2014/QH13 ngày 24/06/2014

Dưới 700.000

Dưới 900.000

1.000.000 1.300.000

Nguồn: Văn bản pháp luật của Nhà nước

Theo Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 là dưới 200.000 đồng/người/tháng đối với hộ sống ở vùng nông thôn và duới 260.000 đối với thành thị Chuẩn cận nghèo ở vùng nông thôn từ 270.000 đồng/người/tháng đến 400.000 đồng/người/tháng, đối với thành thị từ 350.000 đến 500.000 đồng/người/tháng

Giai đoạn 2016-2020 đã có sự thay đổi rõ rệt, ở nông thôn dưới 700.000 đồng/người/tháng là thuộc hộ nghèo ở vùng nông thôn, dưới 900.000 đồng/người/tháng ở thành thị Hộ chuẩn nghèo ở vùng nông thôn là hộ có 1.000.000 đồng/người/tháng, ở thành thị từ 1.300.000 đồng/người/tháng

Đại học kinh tế Huế

Trang 27

 Chỉ tiêu về đồ dùng sinh hoạt Nhìn chung đồ dung sinh hoạt của các hộ nghèo đói không có gì ngoài giường

gỗ, tre, chõng và vài thứ khác dưới mức trung bình về lượng và tồi tàn về chất, đơn sơ hậm chí là hỏng Tuy nhiên có một số người tuy đói nghèo vẫn có thể ở nhà xây, có vài đồ dùng khác, đó là tài sản do cha ông để lại hoặc là dấu tích của một thời khá giả còn lại trước khi rơi vào nghèo khổ

 Chỉ tiêu về nhà ở và giá trị tài sản Những nguời nghèo đói thường không có ở nhà; phải đi ở nhà thuê hoặc nếu có chỉ là những ngôi nhà tồi tàn, nhà tranh vách đất hoặc là đồ thừa kế của các thế hệ trước để lại, một số ít có nhà tạm, nhà bán kiên cố

Tư liệu sản xuất (TLSX), đất đai là tư liệu sản xuất chính của nhóm hộ này Nhưng một thực tế cho thấy là diện tích đất ở các hộ này rất ít, chất lượng đất không tốt gây nên khó khăn cho sản xuất Các công cụ sản xuất phần lớn là thô sơ; các thứ khác như vường tược, ao chuồng thường ít hoặc không có để làm phương tiện sản xuất, làm ăn sinh sống Chỉ có một số rất hạn hữu có tư liệu sản xuất khá nhưng do kém hiểu biết, không có kinh nghiệm hoặc luời nhác dẫn đên đói nghèo

 Chỉ tiêu về vốn: thông thường những người đã lâm vào cảnh nghèo đói không

có vốn để dành Họ thường phải vay mượn để đầu tư cho sản xuất, mua lương thực, y

tế, giáo dục… việc này thường có nghĩa hoặc là phải bán hoặc cầm cố tài sản: Đất đai, gia súc, cây cối, công cụ và trang bị, hoa màu chưa thu hoạch… thường bị ép phải bán giá thấp hoặc vay nặng lãi

Trong bốn chỉ tiêu trên chỉ có chỉ tiêu về thu nhập và chi tiêu là có định lượng cụ thể; còn 3 chỉ tiêu còn lại về đồ dùng sinh hoạt, giá trị tài sản, chỉ tiêu về vốn đều không có định lượng cụ thể Nếu chỉ dựa trên 3 chỉ tiêu này để phân định đói nghèo thì

Trang 28

kinh tế thị trường sản xuất nhằm mục đích tiêu thụ chứ không đơn thuần là tiêu dùng cho nên tổng giá trị sản xuất cũng là tổng doanh thu của các hộ

GO = ∑Q i P i (i = 1, n) Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm loại i

Pi: Giá sản phẩm loại i

1.1.4.2 Chi phí trung gian (IC)

Là bộ phận cấu thành chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và dịch

vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp (không tính khấu hao) Chi phí hoạt động sản xuất gồm chi phí vật chất và dịch vụ thuê ngoài

- Chi phí vật chất trực tiếp bao gồm: Nguyên vật liệu (chính phụ bán thành phẩm), nhiên liệu, chi phí bảo vệ, chi phí dịch vụ trả ngân hàng, tín dụng bảo hiểm và một số chi phí dịch vụ khác

- Chi phí dịch vụ thuê ngoài, bao gồm: cước vân tải, chi phí dịch vụ làm đất, thu hoạch, chi phí bảo vệ, chi phí dịch vụ trả ngân hàng, tín dụng bảo hiểm và một số chi phí dịch vụ khác…

Chi phí trung gian (IC) = Chi phí + chi phí dịch vụ thuê ngoài

1.1.4.3 Giá trị tăng thêm hay giá trị gia tăng

Giá trị gia tăng (VA): là chỉ tiêu phản ánh những phần giá trị do lao động sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định Đó chính là một bộ phận của giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi chi phí trung gian (IC)

Giá trị gia tăng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả cuối cùng của các hoạt động giản xuất trong một kỳ nhất định Đó là nguồn gốc của mọi khoản thu nhập , là cơ sở để thực hiện tái sản xuất mở rộng và tái sản xuất theo chiều sâu , là cơ sở quan trọng để tính các chỉ tiêu khác

VA = GO - IC Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng về nghèo đói ở Việt Nam

Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác XĐGN là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng hang đầu, mục tiêu kinh tế - xã hội cấp thiết Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nên phải đến năm 1998 Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo và chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã

Đại học kinh tế Huế

Trang 29

đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và niềm núi mới chính thức ra đời và được duy trì, liên tục phát triển từ đó cho đến nay Theo tạp chí Kinh tế và Dự báo số 19 xuất bản năm 2008 thì thực tế ở nước ta, tỷ lệ đói nghèo ở thành thi đã giảm nhanh hơn khu vực nông thôn, nhưng lại không ổn định Khu vực đồng bào dân tộc tốc độ giảm nghèo còn chậm và còn ở mức cao (75,2% xuống 69,3%) cho thấy công tác XĐGN ở các vùng đồng bào dân tộc còn khó khăn hơn nhiều so với vùng dân cư người Kinh Hơn nữa, sự phân bố hộ nghèo giữa các vùng, miền là không đều Có vùng chỉ có 1,7% hộ nghèo như vùng Đông Nam Bộ, trong khi đó có vùng số hộ nghèo chiếm 12% tổng số hộ nghèo trong cả nước như Tây Bắc

Nhìn chung trong cả nước, hộ nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi và những khu vực có điều kiện tự nhiên khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung

Bộ và Nam Trung Bộ, còn các vùng đồng bằng như Đồng bằng song Hồng, Đông Nam

Bộ tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kê so với giai đoạn trước

Theo nghị quyết kỳ họp thứ hai Quốc Hội khóa XII đặt ra là làm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo của cả nước xuống còn 14,7% Tuy nhiên chênh lệch về thu nhập giữa các vùng, nhóm dân cư đang có xu hướng tăng lên là nguyên nân tạo ra một bộ phận nguời nghèo và ảnh hưởng xấu tới kết quả chung của công tác XĐGN

Tỷ lệ nghèo chung của dân tộc Kinh là 23,1%, nhưng ở nhóm dân tộc ít nguời là 69,3% Khoảng cách giàu nghèo của dân tộc Kinh là 4,7 lần, dân tộc ít người là 22,1 lần Những vùng có tỷ lệ nghèo nhiều nhất cũng là những vùng có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống

Nguời nghèo hiện nay tập trung vào những nhóm dân cư rất đặc thù, bao gồm: Những người sống ở những vùng sâu, vùng xa; người dân tộc thiểu số, người dễ

bị tổn thương, khả năng XĐGN đối với họ khó khăn hơn nhiều so với hộ nghèo khác Giảm đối nghèo đối với nhóm người này khó hơn nhiều so với nhóm dân cư thuộc dân tộc Kinh và những nhóm người nghèo sống ở vùng đồng bằng, gần đô thị Việc triển khai các biện pháp hỗ trợ để giúp họ giảm nghèo đói, đòi hỏi phải rất đa dạng, mang tính đặc thù, phù hợp với đặc trưng văn hóa, tập quán của từng nhóm người

Mặc khác, tình trạng nghèo về lương thực, thực phẩm đã được cải thiện rất đáng

Đại học kinh tế Huế

Trang 30

hộ nghè về lương thực thực phẩm còn rất cao, xấp xỉ mức 40% trong cả nước Nghèo đói về lương thực thực phẩm phản ánh mực độ trầm trọng của đói nghèo ở một bộ phận dân cư trong việc tiếp cận lương thực thực phẩm để duy trì cuộc sống của họ Đồng thời cho thấy một nghich lý, trong khi Việt Nam đã sản xuất dư thừa lương thực thực phẩm xuất khẩu hàng triệu tấn gạo hằng năm nhưng vẫn tồn tại một bô phận dân

cư không đủ ăn và lại tập trung chủ yếu ở nông thôn và bộ phận đồng bào dân tộc

1.2.2 Thực trạng về tình hình nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước

ta những năm qua

Chính sách đổi mới của Đảng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay và nhất là từ khi có nghị quyết 22/TƯ ngày 27-11-1989 của Bộ chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh - tế xã hội miền núi và quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của Chính phủ về một số chủ trương biện pháp tiếp tục phát triển kinh

tế xã hội miền núi nhằm cụ thể hóa việc phát triển kinh tế - xã hội vùng cao, miền núi ngày càng đạt được nhiều thành tựu Có thể nói chưa bao giờ các chinh sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước lại có tác động mạnh mẽ đến như vậy đối với vùng cao, miền núi, vùng đồng bào dân tọc thiểu số vốn quen với một cuộc sống có nhu cầu thấp

về tiêu thụ và hưởng thu

Trong tình hình đó sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét Một nhóm nhỏ đã năng động sáng tạo biết cách làm ăn để vượt lên Một nhóm lớn vẫn còn loay hoay chưa dam mạnh dạn thay đổi, kiếm tìm nguồn lực, phương sách tăng thu nhập nhóm

đa số thực sự chỉ trong vào hạt ngô hạt lúa, hứng chịu nhiều hơn sự rủi ro, thất bát mùa màng Không có lương thực cũng có nghĩa là không thể chăn nuôi để tăng thu nhập không có tiền để đầu tư vào vật tư, giống cây trồng để sản xuất nên năng suất thấp, thu hoạch ít hơn, trong khi số người trong gia đình ngày càng tăng lên Phương sách đơn giản và đỡ tốn kếm nhất là đốt pahs rừng làm nương rẫy để tăng thêm lương thực, thậm chí một số đồng bào dân tộc Thái, Dao và Mông quay sang trồng cây thuốc phiện

để tạo thu nhấp cho cuộc sống

Sự giàu nghèo giữa các dân tộc thiểu số là một vấn đề cần được quan tâm để đề

ra chính sách phù hợp

Đại học kinh tế Huế

Trang 31

Trong việc phân chia mức độ nghèo đói có thể phân chia ra các nhóm như sau: Nhóm thứ nhất: Một số hộ đói nghèo chủ động tìm kiếm cơ hội thoát ra cảnh nghèo đói Họ tìm đến các nhóm dân tộc có trình độ sản xuất cáo hơn, giỏi làm kinh tế

để học tập kinh nghiệm, tìm tòi các địa điểm, địa phương có điều kiện làm việc để có thu nhập cao hơn Họ mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất, tìm kiếm để mở rộng sản xuất ngoài trồng trọt và chăn nuôi

Nhóm thứ hai: Nhóm này ít năng động hơn, có thể khá lên thoát khỏi đói nghèo nhờ vào các chương tình phát triển giao thông, có đường sá tốt để giao lưu buôn bán, trao đổi hang hóa và nhờ vào được hưởng các dự án kinh tế, văn hóa, xã hội Nhưng nhóm này tỏ ra kém năng động hơn nhóm thứ nhất và cũng dễ bị đẩy xuống diện đói nghèo nếu các chương trình, dự án trên địa bàn kết thúc Đó là nhóm thiếu bền vững Nhóm thứ ba: Đây là nhóm chiếm đa số là những người không hoặc rất ít khả năng tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển

Họ chỉ biết trông chờ vào ruộng nương hoặc phát đồi, rừng làm nương để hi vọng có lương thực khá hơn, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi về giao thông, chợ, tín dụng ưu đãi mà họ vẫn không nghĩ ra hoặc không dám mạnh dạn tìm cơ hội thay đổi cuộc sống Tâm lý dân tộc thiểu số quen sống vào điều kiện tự nhiên an phận thủ thường, dễ thoả mãn vào các nhu cầu cũng là một yếu tố đáng quan tâm một phần số

họ là những người neo nơi, bệnh tật, già nua, độc thân, họ sẽ bị tụt hậu mãi về phía sau khi nền kinh tế không ngừng tăng trưởng

3 Quan điểm của Đảng ta về xóa đói giảm nghèo

Thấy được sự cần thiết của công tác XĐGN, ngay khi nước ta giành được độc lập; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến nhiệm vụ chống đói nghèo Người coi đói nghèo là một thứ “giặc” như “giặc dốt, giặc ngoại xâm” Nguời chủ trương “làm cho người nghèo thì đủ ăn, nguời đủ ăn thì khá giàu Người khá giàu thì giàu thêm”

Tư tưởng này của Người đã được Đảng ta quán triệt trong quá trình xây dựng Xã hội chủ nghĩa nhất là thời kỳ đổi mới Trong chiến lược ổn định và phất triển Kinh tế -

xã hội đến năm 2000 của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã

có chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn là phải: “ kết hợp chặt chẽ với…

Đại học kinh tế Huế

Trang 32

quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công tác XĐGN, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hóa giàu nghèo quá giới hạn cho phép” Do đó từ năm 1992, các hoạt động xóa đói giảm nghèo được thực hiện như một mục tiêu quốc gia

Đại hội VIII của Đảng (6/1996) trong phương hương, nhiệm vụ, mục tiêu hủ yếu cuat kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996-2000 đã có “Chương trình về XĐGN”; Đại hội xác định: “ XĐGN là một trong những chương trình phát triển kinh

tế - xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài” và nhấn mạnh “Phải thực hiện tốt chương trình XĐGN, nhất là vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc Xây dựng và pháp triển quỹ XĐGN bằng nhiều vốn trong và ngoài nước, quản lý chặt chẽ đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả” Cùng với 14 chương trình quốc gia và dự án đã được thực hiện có nội dung gắn với XĐGN thì từ năm 1996 còn lồng thêm chương trình quốc gia giải quyết việc làm và chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc làm nồng cốt thêm vào đó từ năm 1996 còn bổ sung các chính sách giúp cho người nghèo,

hộ nghèo, xã nghèo … Rút kinh nghiệm từ sau nhiều năm chủ đạo thực hiện, để tập trung nguồn lực, hỗ trợ trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo tạo điều kiện và môi trường XĐGN bền vững, ngày 14/1/1998, thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 5/1998/QĐ-TTg về quản lý các Chương trình mục tiêu quốc gia, theo đó XĐGN được nâng lên thành một trong bảy mục tiêu quốc gia

Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005 Từ đây các hoạt động XĐGN được lồng ghép thêm hương tình hỗ trợ việc làm, trở thành chương trình XĐGN và hỗ trợ việc làm Mục tiêu của chương trình này là: “Có bản xóa hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% vào năm 2005 không để tái đói kinh niên; đảm bảo cho các xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu”

Tại Đại hội X, báo cáo chính trị của Đảng khẳng định: “Khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chương trình XĐGN… phấu đấu không còn hộ đói; giảm mạnh hộ nghèo; tăng nhanh số hộ giàu, từng bước xây dựng gia đình, cộng đồng và xã hội phồn vinh”

Đại học kinh tế Huế

Trang 33

Để tiếp tục thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà nước ta đã cam kết Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 –

2010 theo Quyết định số 20/2007/QĐ- TTg ban hành ngày 5/2/2007 Mục tiêu cụ thể của chương trình là: “giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn 10% - 11% năm 2010; thu nhập của nhóm hộ nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005 và 50% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn”

Nhìn lại các năm qua, các chương trình, các dự án bổ sung, các hoạt động đã góp phần to lớn trong công cuộc XĐGN của cả nước Tuy còn một số hạn chế nhưng thời gian qua các chương trình XĐGN ở Việt Nam đã làm giảm rất lớn số hộ nghèo vafmootj số lượng lớn đối tượng hộ đói; nâng cao đời sống bà con các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa

1.2.3 Các Chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, XĐGN luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm nhằm thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh" Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách XĐGN như: Xây dựng chính sách phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, thực hiện chiến lược phát triển kinh

tế cho từng vùng, miền, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, ưu tiên tín dụng các nguồn vốn cho XĐGN, thiết lập nguồn vốn vay cho người nghèo … Nhờ sự quan tâm đầu tư trên, tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam giảm có xu hướng giảm qua các năm Từ năm 1992-1998 tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam giảm trung bình hàng năm từ 2-3% Năm 1992

số người thuộc diện đói nghèo là 20 triệu người chiếm 30% thì đến 14 cuối năm 1998 con số này còn khoảng 12 triệu người bằng 15,7% Thực tế cho thấy, trong những năm qua công cuộc XĐGN của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên

tỷ lệ đói nghèo ở nông thôn Việt Nam, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa còn khá cao

Để giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, tháng 7/1998 Chính phủ chính thức phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN cho giai đoạn 1998-2000 Không những vậy, để đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ đói nghèo của cả nước xuống còn 10% vào năm 2000 Nhà nước đã triển khai hàng loạt chương trình: định canh, định cư và kinh tế mới, phát triển

Đại học kinh tế Huế

Trang 34

khuyến nông-lâm ngư, trợ giúp đồng bào dân tộc khó khăn, tín dụng và tiết kiệm cho người nghèo Cùng với việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN, tháng 7/1998 Chính phủ phê duyệt chương trình 135 hỗ trợ phát triển 1715 xã nghèo đặc biệt khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Đây là chương trình lớn tác động mạnh mẽ đến công tác XĐGN Sau hơn một năm thực hiện hai chương trình 134 và 135 đã tạo ra được kết quả bước đầu tích cực, cả nước đã định canh định cư cho gần 5.000 hộ, khai hoang mở rộng diện tích được hơn 1.000 ha, trồng thêm được 2.300 ha rừng mới và 1.738 ha cây ăn quả và cây công nghiệp Về tín dụng đã có 1.010 ngàn hộ được vay vốn phát triển sản xuất với tổng doanh số đạt trên 2.000 tỷ đồng Bên cạnh đó, hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng nông thôn, đặc biệt ở miền núi, vùng sâu, vùng xa được xây dựng phục vụ sản xuất kinh doanh của nhân dân

Trong 5 năm (2006-2010), Việt Nam đã có nhiều nỗ lực quan trọng nhằm thực hiện các chương trình giảm nghèo: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo; chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã vùng đồng bào dân tộc và miền núi (chương trình 135); chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (chương trình 134); chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao

Trong đó, Chương trình mục tiêu quốc gia đạt được nhiều kết quả quan trọng: Cả nước có khoảng 6,2 triệu hộ nghèo được vay vốn với mức vay bình quân 7-8 triệu đồng/lươt/hộ; 150 nghìn lao động nghèo được dạy nghề miễn phí, trong số đó trên 60% đã tìm được việc làm, tự tạo việc làm, góp phần atwng thu nập để giảm nghèo; 2,8 triệu lượt học sinh nghèo được hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa; 500.000 hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở

Chương trình 135 đã hỗ trợ các địa phương xây dựng 8.237 công trình cơ sở hạ tầng, trong đó 5.465 công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng; tổ chức được những lớp học cho hơ 231.000 lượt người dân phổ biến các kiến thức khoa học kỹ thuật, nâng cao nhận thức và vận dụng vào phát triển kinh tế hộ gia đình, hỗ trợ dạy nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số

Đại học kinh tế Huế

Trang 35

Chương tình 134 đã hỗ trợ: 373.400 nhà ở cho hộ nghèo dân tộc thiểu số; hỗ trợ 198.702 hộ về nước sạch sinh hoạt phân tán; đa xây dựng 4.663 công trình nước sinh hoạt tập trung

Bên cạnh đó, thông qua triển khai Nghị quyết 30a, từ các cấp Bộ, ngành ở trung ương đén các cấp chính quyền địa phương đã nhận thức rõ hơn về hệ thống các chính sách giảm nghèo hiện hành, qua đó cân đối lại nguồn lực đầu tư của nhà nước từ các chuơng trình, dự án, chính sách trên địa bàn để tổ chức lồng ghép, phối hợp hiệu quả hơn Bước đầu, Nghị quyết đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: tỷ lệ hộ nghèo của

cả nước đã giảm từ 22% (năm 2005) xuống còn 9,45% (năm 2010), hoàn thành kế hoạch trước 1 năm so với mục tiêu đề ra

Đối với 62 huyện nghèo, sau hai năm thực hiện Nghị quyết 30a, tỷ lệ hộ nghèo trung bình đã gaimr từ 47% (năm 2008) xuống còn 37% (cuối năm 2010), bình quân giảm 5%/năm Đạt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nhèo xuống dưới mức 40% như Nghị quyết

đã đề ra Đến cuối tháng 10/2010, các huyện đã hoàn thành hơn 77 nghìn căn nhà cho

hộ nghèo

Những con số trên đã khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong công tác an sinh xã hội, góp phần cải thiện và nâng cáo đời sống vật chất cũng như tinh thần của nâng dân miền núi, đặc biệt là các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn

1.2.4 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo 1.2.4.1 Kinh nghiệm của các Quốc gia trong khu vực và Thế giới

* Trung Quốc: Có thể nói Trung Quốc là nước thành công nhất trong công tác

xóa đói giảm nghèo Tuy là nước đông dân nhất thế giới nhưng Trung Quốc có tỷ lệ dân số nghèo khổ thấp nhất Một trong những kinh nghiệm của Trung Quốc trong công cuộc chống đói nghèo là: đã thực hiện chính sánh “Tam nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân); trợ cấp thực phẩm cho dân cư đô thị cho vay ưu đãi giáo dục đối với người nghèo; giảm thiểu đóng góp cho nông dân, kể cả miễn học phí cho con cái nông dân Trung Quốc đã tiến hành cải cách ruộng đất một cách có hệ thống vào năm 1979, đất đai được chia một cách bình đẳng cho nông dân, từ bỏ chính sách lương thực hàng đầu để nhằm đa dạng hóa sản phẩm, hướng đầu tư chủ yếu vào nông nghiệp

Đại học kinh tế Huế

Trang 36

Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chương trình “Đốm lửa” nhằm chuyển giao công nghệ khoa học kỹ thuật vào các vùng nông thôn, trên cơ sở kết hợp giữa vấn đề khoa học kỹ thuật vào các vùng nông thôn, trên cơ sở kết hợp giữa vấn đề khoa học với kinh tế nhằm huy động mọi tiềm năng sẵn có ở nông thôn vào việc sản xuất ra các sản phẩm hang hóa, để không ngừng nâng cao mức sống của người dân Đồng thời coi trọng phát triển các doanh nghiệp nông thôn vừa và nhỏ nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải tạo kinh tế thuần nông, thực hiện khẩu hiệu “Ly nông bất ly hương” với chủ trương này Trung Quốc đã thu được nhiều thành tựu rất lớn Trong thời gian từ năm 1978 –

1985 giá trị sản lượng lương thực thực phẩm tăng bình quân trên 10% mỗi năm Giải quyết việc làm cho hơn 20% lao động nông thôn Tỷ lệ nghèo đói giảm , đến năm

1991 còn lại 87 triệu người sống dưới mức nghèo khổ Giải quyết song song vấn đề ăn

no, mặc ấm cho những người nghèo đói

* Thái Lan: Từ những năm 80 đến nay, Thái Lan áp dụng mô hình phát triển

chính sách quốc gia gắn liền với chính sách phát triển nông thôn thông qua việc hình thành và phát triển xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ,

mở rộng trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm bớt nghèo khổ với sự hoạt động của: Ban phát triển nông thôn (IBIRD), Tổ chức hiệp hội dân số và phát triển cộng đồng (CDA) Theo báo cáo trình Chính phủ tháng 6/2003 của Uỷ ban quốc gia phát triển kinh tế - xã hội (NESDP) năm 2001 Thái Lan vẫn còn 8,2 triệu người nghèo, 80% số này sống ở nông thôn Tháng 11/2003 Chính phủ Thái Lan công bố kế hoạch 6 năm xoá đói nghèo, theo đó Thái Lan hướng quan tâm vào nông nghiệp, nông thôn và thị trường nội địa Thực hiện chương trình "Mỗi làng một sản phẩm" Chính phủ đang tìm kênh phân phối, lưu thông hàng hoá giúp nông dân tiệu thụ sản phẩm Theo kế hoạch này, bước đầu 8 trong 76 tỉnh được chọn để thí điểm, người dân tại đó được yêu cầu đăng ký và trình bày hoàn cảnh để các cơ quan chức năng xem xét, hỗ trợ Tạm thời, việc giải quyết dự kiến phân theo bảy nhóm: 22 nông dân không có đất, người không

có nhà ở, người làm ăn bất chính, nạn nhân từ những vụ bị lừa đi lao động nước ngoài, sinh viên hoàn cảnh gia đình khó khăn, người vị vỡ nợ và người thu nhập thấp thiếu nhà ở

Đại học kinh tế Huế

Trang 37

* Ấn Độ: Một chương trình nổi bật trong việc XĐGN của Ấn Độ là xây dựng

các làng sinh học trên cơ sở tư tưởng: "Thay vì ban phát lương thực cho người nghèo, Chính phủ và các tổ chức hãy tạo điều kiện cho mọi người có thể kiếm được miếng bánh hàng ngày của họ" Chương trình này được thực hiện từ năm 1994 tại 19 làng của PONDICHERI bang TAMIL NUDU và hiện nay thu hút được 24.000 người (mục tiêu của chương trình này đến năm 2007 thu hút được 375.000 người), một trong những phương hướng của chương trình là nông nghiệp sinh thái, nghĩa là các hoá chất vốn là trụ cột của nền nông nghiệp hiện đại được thay thế bằng kiến thức và các tài nguyên sinh học và thuốc diệt trừ sâu bệnh sinh học Những hoạt động này góp phần tạo ra những việc làm có nội dung sinh học, cũng như việc buôn bán các sản phẩm Các gia đình lựa chọn những nguồn thu nhập mới tuỳ theo hoàn cảnh của họ, những người không có đất thì lựa chọn việc trồng nấm, nuôi cá cảnh hoặc các loài nhai lại nhỏ, hay bện thừng sợi dừa Những gia đình có chút đất đai thì sản xuất các loại giống lai, làm vườn, sản xuất sữa, chăn nuôi gia cầm, phụ nữ nuôi trong cá trong các ao làng Tất cả các hoạt động này được lên kế hoạch thật sát với nhu cầu của mỗi người và được hỗ trợ bằng khoản tín dụng nhỏ bé Việc có nhiều hoạt động như vậy đã giúp người dân ở các làng sinh học nâng cao thu nhập hàng tháng, trung bình 23USD/người Giáo dục

và đào tạo, tổ chức xã hội và thương mại đều có phương hướng hỗ trợ người sản xuất

và đó là những yếu tố quan trọng bậc nhất để chương trình thành công Các nhóm tương trợ mở những ngân hàng nhỏ ở cấp xã với chi phí giao dịch thấp và lãi xuất tiền gửi ngân hàng cao Một điều chủ yếu là các làng sinh học được tổ chức theo nguyên tắc thu nạp chứ không theo nguyên tắc loại trừ Những ai trở thành cán bộ đào tạo được đưa vào nhóm chuyên môn của làng Phần lớn những người này không biết chữ hoặc chỉ biết chút ít, thế nhưng họ đều là những nhân vật chính của phong trào Họ cho thấy người nghèo vẫn có thể làm chủ kỹ thuật mới, một khi họ có cơ hội học tập qua công tác thực tế

1.2.4.2 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của một số địa phương trong nước

* Lâm Đồng: Công tác XĐGN ở Lâm Đồng được đặt ra từ rất sớm trước tình

hình đời sống của đồng bào dân tộc còn gặp rất nhiều khó khăn Hàng năm, phải cứu

Đại học kinh tế Huế

Trang 38

cả các hộ là người Kinh cũng ít có cơ hội vượt lên cảnh đói nghèo do thiếu vốn, thiếu đất sản xuất hoặc do thiếu kinh nghiệm làm ăn, tổ chức cuộc sống Ngày 13/5/1993, Thường vụ tỉnh uỷ Lâm Đồng đã ra Nghị quyết số: 07 đề ra nhiệm vụ XĐGN trên phạm vi toàn tỉnh; từ đó các cấp, các ngành đã tiến hành điều tra, xác định hộ nghèo, phân tích nguyên nhân và đưa ra nhiều giải pháp tác động, hỗ trợ hộ nghèo đói vươn lên làm giàm Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 07 của tỉnh uỷ, số hộ đói nghèo của tỉnh từ 31.495 hộ năm 1993 chiếm 20,64% số hộ dân toàn tỉnh giảm xuống còn 21.900

hộ bằng 12,73% năm 2000 còn 15.000 hộ bằng 8,3% Kết quả đó đã nói lên sự cố gắng lớn của Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng trong việc nâng cao mức sống cho hộ nghèo Song song với việc khuyến khích và tạo điều kiện làm giàu chính đáng thì việc nâng cao mức sống các hộ nghèo đã góp phần ngăn chặn sự phân hoá làm cho khoảng cách giàu nghèo hẹp lại để mọi người trong xã hội đều có cơ hội tham gia xây dựng cuộc sống, xây dựng quê hương

* Kỳ Anh - Hà Tĩnh: Huyện Kỳ Anh nằm ở phía Nam tỉnh Hà Tĩnh, trước đây

được nhiều người biết đến bởi sự nghèo nàn, lạc hậu Gần đây đã có những chuyển biến đáng mừng Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 10-12%, bình quân thu 24 nhập đầu người đạt 3,1 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn 20,4%, không còn hộ đói Khi nhìn lại những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước tỷ lệ đói nghèo trên địa bàn chiếm hơn 70% số dân Thời đó, với nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong khi diện tích canh tác ít, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng thấp kém, để đưa nhân dân thoát khỏi đói nghèo thực sự là một thử thách lớn đối với Đảng

bộ, chính quyền địa phương Cuộc sống mới được đánh dấu bằng một mốc son khi Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện thống nhất đề ra Nghị quyết về công tác XĐGN vào năm 1993 Bắt tay vào công việc với đầy khó khăn, huyện tiến hành tổng mức điều tra mức sống của dân, tổ chức cho cán bộ đi tham quan, học tập kinh nghiệm các mô hình phát triển kinh tế hiệu quả trên cơ sở đó vận dụng vào thựuc tiễn của địa phương Huyện từng bước tiếp cận người nghèo, xây dựng một số mô hình XĐGN và đã tạo được sự ủng hộ của Trung ương, của tỉnh và của các tầng lớp nhân dân Từ những kinh nghiệm đúc rút được, huyện tập trung nhiều nguồn lực, tạo điều kiện về vốn, nâng cao kiến thức làm ăm cho nhân dân, nhất là các hộ nghèo, đồng thời đẩy mạnh việc nhân

Đại học kinh tế Huế

Trang 39

rộng mô hình, biểu dương các tập thể, cá nhân làm kinh tế giỏi trong huyện Với những kinh nghiệm và bài học có được từ hơn 10 năm nay chính quyền huyện đã nhận thức sâu sắc công cuộc XĐGN là phải biết phát huy nội lực, khai thác tiềm năng, mở rộng ngành nghề, đồng thời tranh thủ tốt sự hỗ trợ, đầu tư từ các ngùôn lực bên ngoài Xuất phát từ quan điểm đó, huyện đã xây dựng cụ thể các chương trình, mục tiêu, xác định rõ các vùng kinh tế trọng điểm trên cơ sở thế mạnh của từng vùng, đồng thời tập trung thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Theo đó, vùng đồng bằng ven quốc lộ 1A tập trung thâm canh lúa, phát triển dịch vụ sau thu hoạch và chăn nuôi lợn, vùng núi phát triển kinh tế vườn đồi, 25 cải tạo vườn tạp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày kết hợp với chăn nuôi trâu bò, vùng ven biển khai thác thế mạnh nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các tổ hợp, cơ sở chế biến, vùng trung tâm phát triển các ngành nghề, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp gắn với khu công nghiệp cảng biển Vũng áng Với những cố gắng nỗ lực của cán bộ và nhân dân huyện Kỳ Anh, trong 2 năm (2001-2002) huyện đã xét miễn giảm thuế nông nghiệp cho gần 17.000 lượt hộ nghèo, miễn giảm học phí cho 8.150 học sinh là con em các hộ nghèo, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 7.000 hộ Năm 2003 thu nhập bình quân đầu người đạt gần 3,7 triệu đồng, các hoạt động văn hoá, giáo dục có nhiều chuyển biến, an ninh quốc phòng được giữ vững ổn định

* Thọ Xuân - Thanh Hoá: Huyện Thọ Xuân là một trong 4 huyện của vùng mía

đường Lam Sơn, trước đổi mới đời sống của nhân dân hết sức khó khăn Từ khi có đường lối đổi mới của Đảng cùng với sự mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi nên kinh tế và đời sống của nhân dân trong huyện ngày càng khởi sắc Có được kết quả ấy là do huyện xác định đúng lợi thế tiềm năng của vùng là: - Vùng đồng bằng tập trung thâm canh cây lương thực dựa trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, phát triển các ngành nghề truyền thống gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ - Vùng trung du, miền núi ngoài việc phát triểm mạnh mẽ cây công nghiệp, tập trung phát triển cây mía đồi tạo thành vùng nguyên liệu lớn cung cấp cho nhà máy đường,

Đại học kinh tế Huế

Trang 40

phục vụ công nghiệp chế biến 26 Sau khi thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đời sống nhân dân được nâng lên một cách rõ rệt lương thực bình quân đầu người đạt 425kg/năm, ngoài ra chăn nuôi và các ngành nghề cũng rất phát triển

* Lục Ngạn - Bắc Giang: Là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, có diện

tích đất tự nhiên lớn nhất tỉnh (101.000 ha), trong đó đất nông nghiệp chỉ có 15%, đất lâm nghiệp 54% còn lại là đất khác Trước những năm 1992 chưa có chính sách giao đất đến hộ, đời sống nhân dân cự kỳ khó khăn, trình độ dân trí thấp, lương thực không

đủ ăn, trong khi đó tỷ lệ tăng dân số vẫn giữ ở mức 3,6%/năm, trình độ sản xuất thấp, phong tục tập quán lạc hậu, tỷ lệ nghèo đói cao Sau những năm đổi mới, ruộng đất và rừng được giao đến hộ và Lục Ngạn đã xác định được cây trồng nên đã mạnh dạn chuyển từ cây lương thực là chính sang cây ăn quả và cây lâm nghiệp Vì vậy tỷ lệ XĐGN trong huyện có tốc độ nhanh hơn, từ 52% năm 1992 xuống còn 27% năm

1997, đến năm 1998 còn 17,1% Sau mỗi vụ thu hoạch vải thiều nhân dân có tiền, ngoài việc đầu tư lại cho mở rộng sản xuất và thâm canh, còn đầu tư xây dựng nhà cửa, mua sắm ô tô, xe máy và các trang thiết bị cho gia đình Đến năm 1999 toàn huyện chỉ còn 9-10 hộ nghèo, ước đến năm 2000 chỉ còn 3% hộ nghèo

1.2.5 Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói

Nghèo đói là nguyên nhân của hàng loạt những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế xã hội và phát triển con người Để đánh giá chính xác thực trạng của vấn

đề nghèo đói, trên cơ sở đó xác định được xu hướng vận động biến đổi của nó, đồng thời tìm ra những giải pháp thích hợp để giải quyết Vì vậy chúng ta phải tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản gây nên sự nghèo đói Từ đó giải quyết dứt điểm những nguyên nhân này, là chúng ta ngăn chặn được một vấn đề của xã hội đang trở thành mối quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành và của toàn xã hội

Nguyên nhân khách quan là do điều kiện tự nhiên: Địa hình dốc, chia cắt phức

tạp; giao thông đi lại khó khăn; thời tiết, khí hậu khắc nhiệt ảnh hưởng lớn tới quá trình sản xuất của người dân (Lũ quét, hạn hán…)

Nguyên nhân chủ quan là do người nghèo thiếu kiến thức, kinh nghiệm là chủ

yếu chiếm tỷ lệ cao Thiếu kiến thức, kinh nghiệm sản xuất là hậu quả của trình độ học

Đại học kinh tế Huế

Ngày đăng: 11/07/2018, 00:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w