KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN ------KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC CÁT, SỎI Ở KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG BỒ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ PHAN THỊ THU THỦY
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC CÁT, SỎI Ở KHU VỰC
HẠ LƯU SÔNG BỒ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
PHAN THỊ THU THỦY
Niên khóa: 2014 – 2018
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC CÁT, SỎI Ở KHU VỰC
HẠ LƯU SÔNG BỒ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện:
Phan Thị Thu Thủy
Trang 3Thực tập cuối khóa là dấu mốc quan trọng đối với mỗi sinh viên Trong suốt
4 năm trên giảng đường ĐH đây là cơ hội để sinh viên được tiếp xúc với công việc thực tế, ứng dụng những kiến thức đã được học vào thực tiễn, tạo tiền đề để sau khi ra trường, có thể đáp ứng tốt các yêu cầu của công việc được giao.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của Qúy Thầy Cô giáo ở Khoa Kinh tế và Phát triển và tập thể các anh chị tại đơn vị Phòng Tài Nguyên
và Môi Trường huyện Quảng Điền.
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Bùi Dũng Thể người đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho em để hoàn thành thật tốt bài khóa luận này Bên cạnh đó em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Quảng Điền cùng với các anh chị phụ trách trong Phòng Tài Nguyên
-và Môi Trường huyện Quảng Điền, đặc biệt là anh Võ Văn Thiện đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại đơn vị.
Mặc dù em đã cố gắng để hoàn thành bài báo cáo một cách tốt nhất Nhưng
do hạn chế về mặt kiến thức cũng như thời gian nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý từ Qúy Thầy Cô
để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin kính chúc Quý Thầy Cô Trường Đại học Kinh tế Huế luôn luôn dồi dào sức khỏe, thành công trên con đường sự nghiệp trồng người.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 4 năm 2018 Sinh viên thực hiện Phan Thị Thu Thủy
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4Trong bối cảnh xã hội nước ta ngày nay, là nước đang phát triển, nền kinh tế - xãhội phát triển theo hướng CNH – HĐH đã kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của hoạtđộng xây dựng Các hoạt động này đòi hỏi một lượng rất lớn về các loại vật liệu xâydựng Chính điều này đã thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ hoạt động khai thác cát, đặcbiệt là hoạt động khai thác cát trên các con sông ở nước ta Ngoài đáp ứng nhu cầu vềcát xây dựng, giải quyết công ăn việc làm cho lao động, đóng góp ngân sách cho Nhànước thì việc khai thác cát quá mức, kinh doanh cát, sỏi và thiếu quy hoạch đã gây ranhiều hệ lụy, gây nên các tác động tiêu cực cực đối với môi trường và cuộc sống củangười dân ven sông Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong nhữngđiểm nóng về hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi trái phép Hoạt động này đã gây
ra nhiều tác động xấu như hiện tượng sạc lở đất đai, gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễmbụi,… ảnh hưởng đến các công trình ven sông Đó chính là lý do tôi quyết định chọnthực hiện đề tài: “Quản lý hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm khóa luận tốt
nghiệp của mình
- Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu thực trạng khai thác cát, sỏi ở hạ lưu sông Bồ,công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, kinh doanh cát trên sông vànhững tác động tiêu cực của hoạt động này đến người dân ở đây Trên cơ sở đó đề xuấtmột số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động khaithác, kinh doanh bến, bãi tập kết cát, sỏi và giảm thiểu những tác động tiêu cực ảnhhưởng đến môi trường của người dân sống ven sông Bồ
- Tổng quan tài liệu:
Số liệu được thu thập từ phòng TN&MT, UBND huyện, xã,…những tài liệu sẵn
có liên quan đến cơ sỏ lý luận, cơ sở thực tiễn của đề tài thông qua các sách báo và tạpchí trên internet
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5nhiên, khí tượng thuỷ văn, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội khu vực khảo sát;thông tin liên quan đến công tác quản lý hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi trênđịa bàn, từ các cơ quàn quản lý nhà nước như: UBND huyện Quảng Điền, PhòngTN&MT huyện, UBND xã, chính quyền thôn và các hộ dân nhằm xác định nhữngthông tin cần bổ sung cho việc thực hiện đề tài.
+ Số liệu sơ cấp: Để có đầy đủ thông tin phục vụ cho nghiên cứu đề tài tôi đã tiếnhành tìm hiểu, điều tra phỏng vấn 60 hộ dân, bao gồm 22 hộ có hoạt động khai tháccát, sỏi và 38 hộ sống ven sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền)
từ hoạt động này như sạc lở đất, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm bụi,… đến môi trường tựnhiên và đời sống của con người 2 bên bờ sông Bồ
Thông qua những kết quả đó, đề tài cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng caohiểu quả quản lý và giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động này gây ra.Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp thu thập số liệu 3
4.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Khái niệm và phân loại tài nguyên khoáng sản 5
1.1.2 Hoạt động khoáng sản và quản lý hoạt động khoáng sản 5
1.1.2.1 Hoạt động khoáng sản 5
1.1.2.2 Quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản 6
1.1.2.3 Nguyên tắc hoạt động khoáng sản 6
1.1.2.4 Quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác 7
1.1.2.5 Những hành vi bị cấm trong hoạt động khoáng sản 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 8
1.2.1 Tình hình khai thác cát ở một số quốc gia trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình khai thác cát ở Việt Nam 10
1.2.3 Tình hình khai thác cát ở tỉnh Thừa Thiên Huế 13
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7HOẠT ĐỘNG NÀY 15
2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 15
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 15
2.1.1.1 Vị trí địa lý 15
2.1.1.2 Địa hình, đất đai 16
2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 16
2.1.1.4 Tài nguyên 17
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17
2.1.2.1 Tình hình về dân số, lao động 17
2.1.2.2 Tình hình kinh tế 18
2.1.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng 20
2.2 Tình hình khai thác cát sỏi ở hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền 21
2.2.1 Tình hình chung về hoạt động khai thác, kinh doanh cát sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền 21
2.2.1.1 Công tác cấp phép, thăm dò khai thác cát sỏi 22
2.2.1.2 Số lượng thuyền, đò khai thác cát, sỏi trên địa bàn huyện Quảng Điền 23
2.2.1.3 Số lượng bến bãi kinh doanh cát sỏi trên địa bàn huyện 24
2.2.2 Công tác quản lý hoạt động khai thác cát, sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền 27
2.2.2.1 Khung pháp lý về quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi trên sông Bồ, huyện Quảng Điền 27
2.2.2.2 Kết quả thực hiện công tác quản lý hoạt động khai thác cát, sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền 31
2.2.2.3 Những tồn tại, hạn chế trong quản lý hoạt động khai thác cát ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền 32
2.2.3 Kết quả khảo sát các hộ khai thác cát sỏi lòng sông trên địa bàn huyện Quảng Điền .33
2.2.3.1 Thông tin chung về mẫu điều tra 33
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 82.2.3.3 Thời gian, địa điểm khai thác cát, sỏi của các hộ điều tra trên địa bàn huyện
Quảng Điền 35
2.2.3.4 Khối lượng khai thác của các đò hoạt động trên địa bàn huyện 36
2.2.3.5 Chi phí và lợi nhuận của các hộ điều tra 37
2.3.2 Ý kiến của người dân về mức độ ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh, khai thác cát, sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền 41
2.3.2.1 Hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi gây sạt lở đất .42
2.3.2.2 Hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi gây ô nhiễm tiếng ồn 45
2.3.2.3 Hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi gây ô nhiễm nguồn nước 47
2.3.2.4 Hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi gây ô nhiễm bụi, gây hư hỏng đường xá, mất an toàn giao thông đường bộ 48
2.3.2.5 Ý kiến của người dân về công tác quản lý khai thác, kinh doanh cát, sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền 50
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC KHAI THÁC, KINH DOANH CÁT SỎI Ở HẠ LƯU SÔNG BỒ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ .53
3.1 Định hướng của huyện Quảng Điền nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi trên địa bàn huyện 53
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi trên địa bàn huyện Quảng Điền 54
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
TN&MT : Tài nguyên và môi trường
UBND : Uỷ ban nhân dân
UBTVQH :Uỷ ban thường vụ Quốc hội
UNEP : Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
LVH – LVT : La Vân Hạ - La Vân Thượng
LVH : La Vân Hạ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Bảng 2.1: Cơ cấu lao động hoạt động kinh tế trong các ngành huyện Quảng Điền 18Bảng 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất huyện Quảng Điền theo giá so sánh giai đoạn 2013-
2015 19Bảng 2.3: Thống kê số lượng bến, bãi tập kết, kinh doanh cát, sỏi ở lưu vực sông Bồ,huyện Quảng Điền 25Bảng 2.4: Địa điểm quy hoạch bến, bãi kinh doanh vật liệu xây dựng cát, sỏi tại xãQuảng Thọ và xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền 26Bảng 2.5: Các văn bản liên quan đến quản lý hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi ởkhu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền 27Bảng 2.6: Các văn bản liên quan đến quản lý hoạt động khai thác cát sỏi trái phép trênsông Bồ, thuộc địa bàn huyện Quảng Điền 30Bảng 2.7: Thông tin chung về chủ đò hành nghề hoạt động khai thác cát, sỏi trên địabàn huyện Quảng Điền 33Bảng 2.8: Tình hình khai thác cát của các đò vào các tháng cao điểm trong năm 37Bảng 2.9: Các loại chi phí của đò khai thác vào những tháng cao điểm trên địa bànhuyện 38Bảng 2.10: Lợi nhuận của đò khai thác vào những tháng khai thác 39Bảng 2.11: Thông tin chung về các hộ dân sống ven sông Bồ 40Bảng 2.12: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của hiện tượng sạt lở đất đối với người dânven sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền 43Bảng 2.13: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của tiếng ồn đối với người dân ven sông Bồtrên địa bàn huyện Quảng Điền 46Bảng 2.14: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước đối với người dânven sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền 47Bảng 2.15 : Đánh giá mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm bụi, với người dân ven sông Bồtrên địa bàn huyện Quảng Điền 48Bảng 2.16: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của hư hỏng đường xá đối với người dân vensông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền 49Bảng 2.17: Đánh giá của người dân bị ảnh hưởng trực tiếp của hiện tượng sạt lở đất vềviệc cơ quan chức năng có giải quyết những thiệt hại đó không 51
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11Hình 2.1: Sơ đồ vị trí huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 15Hình 2.2: Sự phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý hoạt động khai thác, kinh doanhcát, sỏi ở hạ lưu sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền 29Hình 2.3: Biểu đồ về tỷ lệ ý kiến của người dân về mức độ hoạt động khai thác, kinhdoanh cát, sỏi trên sông Bồ thuộc địa bàn huyện Quảng Điền 41Hình 2.4: Những ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát lòng sông trên địa bàn huyệnQuảng Điền 42Hình 2.5: Ý kiến của người dân về nguyên nhân dẫn đến hậu quả từ hoạt động khaithác trái phép cát, sỏi trên sông 50
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản khá đa dạng và phongphú với trên 5000 mỏ, điểm quặng của 60 loại khoáng sản khác nhau Theo điều 53Hiến pháp năm 2013 khẳng định, tài nguyên khoáng sản là “tài sản công: thuộc sở hữutoàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Tài nguyên khoáng sản nước ta có thể chialàm 3 nhóm khoáng sản đó là: nhóm khoáng sản năng lượng, nhóm khoáng sản phikim loại và vật liệu xây dựng, nhóm các loại khoáng sản kim loại quý hiếm; trong đó,
“cát” thuộc nhóm tài nguyên khoáng sản phi kim loại và vật liệu xây dựng Trung bìnhmỗi năm ngành công nghiệp khai khoáng nước ta cung cấp cho nền kinh tế gần 100triệu m3 cát xây dưng, cát san lấp; giá trị sản lượng ngành khai khoáng (không kể dầukhí) chiếm khoảng 4 – 5% tổng GDP hằng năm; đóng góp trực tiếp cho ngân sách từtiền cấp quyền khai thác khoáng sản, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường từ năm
2014 đến nay trung bình mỗi năm từ 16 – 20.000 tỷ đồng và cung cấp nhiên liệu chocác ngành công nghiệp khác, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội và góp phần thúc đẩy sựphát triển của các địa phương vùng mỏ
Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp to lớn thì ngành công nghiệp khoáng sảncũng còn tồn tại những mặt hạn chế và bất cập như: Tình trạng khai thác tài nguyênkhoáng sản tràn lan và vô tổ chức ở nhiều nơi và làm thất thoát nguồn tài nguyên, thấtthu thuế cho nhà nước, cùng với đó công tác quản lý và khai thác khoáng sản khônghiệu quả, gây lãng phí tài nguyên Các hoạt động khai thác khoáng sản là nguyên nhânchính gây ra các tác động tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái Do đó, việc chiếmdụng đất và hủy hoại môi trường từ hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang tácđộng nghiêm trọng tới đời sống của người dân địa phương Trong đó, hoạt động khaithác cát trên sông là thể hiện rõ nhất cho điều này
Trong bối cảnh xã hội nước ta ngày nay, nền KT – XH phát triển theo hướng CNH– HĐH nên hệ thống cơ sở hạ tầng nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu xây dựngngày càng tăng cao; với nhu cầu đó cần rất nhiều nguyên vật liệu để đáp ứng quá trìnhphát triển đó Do nhu cầu về cát sỏi xây dựng ngày càng tăng cao dẫn đến hoạt độngkhai thác cát sỏi trên dòng sông cũng trở nên phổ biến
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc miền Trung nơi thường xuyên xảy ra các đợt lũlụt nên lượng cát bồi đắp cho các con sông thường rất lớn, người dân nhận thấy nguồntài nguyên này khá dồi dào, có thể tạo được công ăn việc làm cho họ, đồng thời tạođược nguồn thu nhập ổn định nên họ khai thác ngày một nhiều Nhưng từ khi có cácđập, hồ thủy điện điều tiết lượng nước thì lũ ít khi xảy ra hơn, dẫn đến lượng cát, sỏibồi đắp cho con sông cũng ít đi Trong khi đó nhu cầu về cát sỏi xây dựng ngày càngmột tăng cao dẫn đến tình trạng hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép trên sông baogồm cả sông Bồ là vấn đề nhức nhối hiện nay và đáng báo động Để giải quyết tìnhtrạng này, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản liên quan đến công tácquản lý hoạt động khai thác cát trên sông Vì lý do đó nên tôi quyết định thực hiện đề
tài: “Quản lý hoạt động khai thác cát sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng khai thác, kinh doanh cát, sỏi và tác động tiêu cực của nóđến người dân trong khu vực Công tác quản lý của nhà nước đối với các hoạt độngnày Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả côngtác quản lý và giảm thiểu những tác động tiêu cực đến người dân
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống cơ sở lý luận trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên, cơ sởthực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng khai thác cát, sỏi trên sông, cơ chế quản lý, công tác kiểm
tra các hộ, gia đình có hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi trên địa bàn huyệnQuảng Điền
- Đánh giá những ảnh hưởng của hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi đếnmôi trường, sinh hoạt dọc hai bên bờ sông Bồ thông qua ý kiến của người dân
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và giảm thiểu các tácđộng của hoạt động này đến môi trường và xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động khai thác cát, sỏi và công tác quản lý hoạt động khai thác cát, sỏi trênsông Bồ thuộc địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động khai thác cát,sỏi ở lưu vực sông Bồ trên địa bàn huyện Quảng Điền
Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu và thông tin trên cơ sở điều tra hoạt động khaithác cát sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ trong năm 2018
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
a) Số liệu thứ cấp
Thu thập và tổng hợp các tài liệu, số liệu có liên quan từ nhiều nguồn khác nhaucủa các cơ quan ban ngành cấp huyện, xã trên địa bàn như UBND xã, phòng TNMT.Ngoài ra đề tài còn tổng hợp nhiều tài liệu từ các báo cáo, nghiên cứu khoa học, sách,báo, internet và các tài liệu có liên quan khác
b) Số liệu sơ cấp
Tiến hành thu thập số liệu sơ cấp phản ánh thực trạng hoạt động khai thác cát, sỏi
ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền và những ảnh hưởng, tác động của nóbằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và thu thập thông tin thông qua phiếu điều tra,
đề tài này chọn 60 hộ (trong đó 22 hộ hoạt động khai thác cát và 38 người dân sốngven sông khu vực gần các địa điểm khai thác, các bến bãi kinh doanh)
Thực hiện trao đổi với chính quyền các xã, các cán bộ ở phòng TNMT nhằm giảiquyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện đề tài
4.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Sau khi thu thập được những số liệu và tài liệu liên quan, tiến hành phân loại, sắpxếp thông tin theo những thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin
Số liệu điều tra được nhập vào máy tính bằng phần mềm spss, excel, để tiến hànhthống kê mô tả, tổng hợp và xử lý
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15- Phương pháp phân tích kinh tế: Các số liệu sau khi thu thập được nhập vào phầnmềm excel để thực hiện tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu như khối lượng khai thác, lợinhuận của thuyền khai thác,…
- Phương pháp so sánh: So sánh số lượng thuyền, đò khai thác và các bến, bãi kinhdoanh cát, sỏi qua các năm từ đó đưa ra những nhận xét và kết luận
- Phương pháp thống kê mô tả: Nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin, mô tả thựctrạng khai thác, công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động khai thác, kinh doanhcát, cũng như tác động của hoạt động này đối với môi trường và đời sống người dânven sông, Biểu diễn dữ liệu thành các bảng biểu, đồ thị
- Phương pháp kế thừa các tài liệu liên quan: Phương pháp này thực hiện trên cơ
sở tìm hiểu, thu thập và kế thừa kế các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tiếnhành phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quanmột cách có chọn lọc.Từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Sốliệu được thu thập từ các nguồn: các bài báo, khóa luận đã có, thư viện trường, phòngđọc khoa, từ các cơ quan, internet,…
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm và phân loại tài nguyên khoáng sản
a) Khái niệm
Tài nguyên khoáng sản: là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong
vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố cóích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hằng ngày
Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế Việckhai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường.[2]
b) Phân loại
Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách:
- Theo dạng tồn tại: rắn; khí (khí đốt, Acgon, He); lỏng (Hg, dầu, nước khoáng)
- Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh ( sinh ra trên bềmặt trái đất)
- Theo thành phần hóa học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu Kimloại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng),khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy).[2]
1.1.2 Hoạt động khoáng sản và quản lý hoạt động khoáng sản
Tại khoản 7, điều 2, luật khoáng sản 2010, khai thác khoáng sản là hoạt độngnhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu
và các hoạt động khác có liên quan Đó là việc khai thác các vật liệu địa chất từ lòngđất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vìa than Các vật liệu được khai thác từ mỏ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17khoáng sản như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đáphiến dầu, đá muối và cacbonat Khai thác khoáng sản ở nghĩa rộng hơn bao gồm việckhai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu mỏ, khí thiên nhiên hoặc thậmchí là nước).[1]
1.1.2.2 Quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản
Theo quy định tại điều 3, luật khoáng sản 2010 về chính sách của Nhà nước vềkhoáng sản[1]
1 Nhà nước có chiến lược, quy hoạch khoáng sản để phát triển bền vững kinh tế
-xã hội, quốc phòng, an ninh trong từng thời kỳ
2 Nhà nước đảm bảo khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm
và hiệu quả
3 Nhà nước đầu tư và tổ chức thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sảntheo chiến lược, quy hoạch khoáng sản; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứukhoa học, ứng dụng, phát triển công nghệ trong công tác điều tra cơ bản địa chất vềkhoáng sản và hoạt động khoáng sản
4 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, hợp tác với các tổchức chuyên ngành địa chất của Nhà nước để điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản
5 Nhà nước đầu tư thăm dò, khai thác một số loại khoáng sản quan trọng để phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
6 Nhà nước khuyến khích dự án đầu tư khai thác khoáng sản gắn với chế biến, sửdụng khoáng sản để làm ra sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm khác có giátrị và hiệu quả kinh tế - xã hội
7 Nhà nước có chính sách xuất khẩu khoáng sản trong từng thời kỳ phù hợp vớimục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội trên nguyên tắc ưu tiên bảo đảm nguồnnguyên liệu cho sản xuất trong nước
1.1.2.3 Nguyên tắc hoạt động khoáng sản
1 Hoạt động khoáng sản phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch khoáng sản,gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự,
1.1.2.4 Quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác
Tại điều 5, luật khoáng sản 2010 quy định như sau:[1]
1 Địa phương nơi có khoáng sản được khai thác được Nhà nước điều tiết khoảnthu từ hoạt động khai thác khoáng sản để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội theo quyđịnh của pháp luật về ngân sách nhà nước
2 Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có trách nhiệm:
a) Hỗ trợ chi phí đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật sử dụng trongkhai thác khoáng sản và xây dựng công trình phúc lợi cho địa phương nơi có khoángsản được khai thác theo quy định của pháp luật;
b) Kết hợp khai thác với xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ, phục hồi môi trườngtheo dự án đầu tư khai thác khoáng sản; nếu gây thiệt hại đến hạ tầng kỹ thuật, côngtrình, tài sản khác thì tùy theo mức độ thiệt hại phải có trách nhiệm sửa chữa, duy tu,xây dựng mới hoặc bồi thường theo quy định của pháp luật;
c) Ưu tiên sử dụng lao động địa phương vào khai thác khoáng sản và các dịch vụ
Trang 193 Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho tổ chức, cá nhân đang sử dụng đất bịthu hồi để thực hiện dự án khai thác khoáng sản được thực hiện theo quy định củapháp luật về đất đai và các quy định khác có liên quan.
1.1.2.5 Những hành vi bị cấm trong hoạt động khoáng sản
Theo điều 8, luật khoáng sản 2010 về những hành vi bị cấm sau đây:[1]
1 Lợi dụng hoạt động khoáng sản xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
2 Lợi dụng thăm dò để khai thác khoáng sản
3 Thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, hoạt động khoáng sản khichưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép
4 Cản trở trái pháp luật hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, hoạtđộng khoáng sản
5 Cung cấp trái pháp luật thông tin về khoáng sản thuộc bí mật nhà nước
6 Cố ý hủy hoại mẫu địa chất, khoáng sản có giá trị hoặc quý hiếm
7 Các hành vi khác theo quy định của pháp luật
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình khai thác cát ở một số quốc gia trên thế giới
Vấn nạn khai thác cát đang là đề tài nhức nhối trên khắp thế giới, từ Mỹ cho tớiTrung Quốc, châu Âu hay Châu Phi Hầu như tất cả các nước trên thế giới đều đangđối mặt với vấn nạn khai thác cát Nhu cầu sử dụng đất cát trên toàn cầu đang tăngchóng mặt Cát, sỏi được cho là nguyên liệu khá dồi dào trên thế giới Theo UNEP, cát
và sỏi chiếm tới 85% các loại khoáng sản được khai thác trên toàn cầu hằng năm Donhu cầu về cát, sỏi trong xây dựng, làm đường, lấn biển,… ngày càng tăng, việc khaithác quá mức khiến hai vật liệu này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt
Trong bài viết A looming tragedy of the sand commons, đăng trên tạp chí chuyênngành Science số ra ngày 8/9/2017, các nhà khoa học đã cho biết việc khai thác cátquá mức đang ở mức báo động trên toàn cầu đang gây ra nhiều tác động xấu tới môitrường, làm nguồn tài nguyên này bị cạn kiệt và đẩy nhiều cộng đồng vào tình thếnguy hiểm cũng như dẫn đến xung đột.[14]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Singapore là nước mua hầu hết lượng khai thác xuất khẩu của Campuchia Theo sốliệu của Liên hiệp quốc, từ năm 2007 đến nay Singapore đã nhập khẩu 72 triệu tấn cátcủa Campuchia Hãng tin Reuters cho biết trước đây, Singapore chủ yếu mua cát củaIndonesia nhưng từ năm 2007 vì lý do môi trường, Indonesia đột ngột dừng bán cátcho Singapore Kể từ đó, Singapore phải tìm nguồn cát mới của các nước nhưMyanmar, Campuchia, Trung Quốc và cả Việt Nam.[15]
Ở Châu Phi, những bờ biển Ghana và Kenya cũng như Cape Verde và Zanzibarvới những bãi cát tuyệt đẹp giờ đây ngày càng có ít cát Bộ trưởng nguồn tài nguyênthiên nhiên Hamad Rashid Mohammed nói: Nguyên nhân do sử dụng cát quá độ chocác dự án xây dựng trong quần đảo của Tanzania Những số liệu chính thức từ Vănphòng Rừng và nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo chỉ ra rằng khoảng 3triệu tấn cát đã bị khai thác trên bờ biển này trong vòng 10 năm từ 2005 tới 2015
Ở Trung Quốc, hành vi này khiến mực nước hồ Bà Dương – hồ nước ngọt lớnnhất đại lục nhưng trên hồ luôn có tới hàng trăm tàu hút cát và sà-lan khổng lồ, nhữngchiếc tàu thép đáy bằng nặng nề với cần trục nhô ra từ trên boong Khối lượng cát lớnnhất có thể kéo được từ lòng sông là khoảng 10 nghìn tấn một giờ Một nghiên cứugần đây ước tính rằng 236 triệu m3 cát được lấy từ trong lòng sông này mỗi năm – việckhai thác này chính là nguyên nhân chính gây ra sự sụt giảm nhanh chóng mực nước
hồ Điều đó khiến hồ này trở thành mỏ cát lớn nhất hành tinh, lớn hơn nhiều so với ba
mỏ cát lớn nhất ở Mỹ gộp lại
Sông Mê Kông là nguồn cung cấp cát tiếp theo phục vụ công nghiệp xây dựng tạiTrung Quốc Nạo vét cát dọc con sông Mê Kông đã diễn ra nhiều năm nhưng hoạtđộng khai thác quy mô công nghiệp còn tương đối mới Mặc dù các hoạt động nạo vétcát sông ảnh hưởng xấu đến nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia như Trung Quốc,Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam có chung con sông Mê Kông nhưnghiện nay chưa có quy định quốc tế cụ thể nào về việc khai thác tài nguyên cát sông.Theo ước tính của Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên chỉ riêng năm 2011, 50 triệu tấn cát
đã bị khai thác ở hạ nguồn sông Mê Kông nơi giáp danh giữa Lào và Việt Nam, số cátnày nhiều hơn lượng cát sông có thể tạo ra trong một năm Hoạt động khai thác cát
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21sông được các chuyên gia cảnh báo sẽ mang lại hậu quả xấu cho chính khu vực thượngnguồn và hạ nguồn sông Mê Kông.
Tại Dubai, Ấn Độ các dự án lấn biển quy mô lớn và hoạt động xây những tòa cao
ốc chọc trời đã làm cạn những nguồn các gần đó Hoạt động xây dựng bùng nổ cáchnay một thập kỷ và đó cũng là lúc những tên mafia cát xuất hiện Ấn Độ là một quốcgia rộng lớn với hớn 1 tỷ dân Ấn trong đất nước này hàng ngày vẫn là hàng nghìnđiểm khai thác cát trái phép khó có thể kiểm soát, cùng với đó là tình trạng bạo lực vàtham nhũng khiến cuộc chiến chống “mafia cát” chẳng hề dễ dàng Gần đây nhất đápứng kiến nghị của nhiều nhà hoạt động, toàn án tối cao bang Uttarakhand đã tuyên bốsông Hằng và Yamuna là các thực thể sống nhằm ngăn chặn nạn khai thác cát trái phépquanh khu vực Hardwar Theo tuyên bố này, toàn án đã ban hành lệnh cấm khai tháccát tại khu vực trong vòng 4 tháng và yêu cầu Chính phủ lên kế hoạch ngăn chặn khaithác trái phép Hậu quả từ khai thác cát ở Ấn Độ đã được thấy rõ, sạt lỡ bờ sông ngàycàng tăng khiến một trong những cây cầu bắc qua sông Ganga bị sập vì cát và bùnquanh chân cầu đã bị khai thác.[16]
Với tình trạng cát ngày càng khan hiếm cộng với việc các chính phủ siết chặt quytrình khai thác, xuất khẩu khiến giá cát tăng cao Nhiều quốc gia đã phải sử dụng cácphương pháp xây dựng hạn chế tối đa sử dụng cát hay đặc biệt hơn sử dụng cát nhântạo (cát nghiền là sản phẩm được tạo ra từ đá) sẽ là vật liệu thay thế cát tự nhiên
1.2.2 Tình hình khai thác cát ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có nhiều mỏ cát có trữ lượng khác nhau Theo số liệu điềutra từ năm 2016 – 2020, tổng nhu cầu về cát xây dựng của cả nước dự tính khoảng 2,3
tỷ m3 Khi nhu cầu cát xây dựng tăng mạnh sẽ gây áp lực lên cát dòng sông ở ViệtNam Hiện nay, trữ lượng cát cả nước chỉ còn khoảng 2 tỷ m3 Với tốc độ tiêu thụ nhưvậy thì nguồn tài nguyên cát sẽ cạn kiệt sau khoảng một thập kỷ nữa Lượng cát tựnhiên bị khai thác quá độ Cát bị lấy đi nhưng không có nguồn bù đắp do các đập thủyđiện lớn, nhỏ chặn hết các sông, suối Đây là tình trạng chung của các tỉnh miền Bắc
và miền Trung, còn miền Nam nguồn cát được cung cấp chủ yếu từ phía Campuchia,nhưng nay nước này hạn chế xuất khẩu nên thiếu cát Điều này dẫn đến tình trạng khai
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22thác cát trái phép trên các con sông ở Việt Nam diễn ra phức tạp hơn, dẫn đến hiệntượng sạt lỡ bờ sông và hệ thống đê kè, cầu, cống , dẫn đến mất đất nông nghiệp,thiệt hại về nhà ở, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của người dân, tác động xấuđến hệ sinh thái và môi trường.[17]
Năm 2016, tình trạng sạt lở bãi bồi ven sông Hồng, đoạn qua xã Quy Mông(huyện Trấn Yên, Yên Bái) đang ở mức nghiêm trọng Vị trí sạt lở cách mặt đườngnhựa chỉ khoảng 1m, ảnh hưởng đến việc lưu thông tỉnh lộ 166 và canh tác hoa màucủa hơn 20 hộ dân Đoạn tỉnh lộ 166 chạy song song với sông Hồng cũng sắp bị sôngHồng “nuốt trôi” Tại vị trí Km16+400, một đoạn đường có chiều dài khoảng 350mđang bị sạt lở nghiêm trọng, có những điểm sạt lở chỉ cách mặt đường nhựa khoảnggần 1m Tuyến tỉnh lộ 166 có chiều dài 52km, nối quốc lộ 37 từ thành phố Yên Báichạy song song với sông Hồng qua huyện Trấn Yên, Văn Yên và đầu nối với tỉnh lộ
163 tại Đông An là đoạn đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, các xe cỡ lớn chở vật liệuchạy liên tục ngày đêm, giờ đây lại tiếp tục xuống cấp trầm trọng Nghiêm trọng hơn ởkhu vực giữa sông Hồng thuộc địa phận xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, thời gian quahoạt động khai thác sa khoáng của các tàu cuốc càng khiến cho tuyến tỉnh lộ 166 bị sạt
lở, teo dần, có nguy cơ đứt tuyến trong mùa mưa lũ.[9]
Nạn khai thác bừa bãi, chưa kiểm soát tốt dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng Cụthể đầu năm 2017, tại xã Đôn Nhân (huyện Sông Lô) đã bị “nuốt” hơn 6.000 m2 đấtruộng, được xác định do nạn khai thác cát bừa bãi liên tục nhiều năm Tháng 5/2017,tại đoạn sông Lô thuộc các khu 8, 9 xã Tử Đà, huyện Phù Ninh, Phú Thọ có ba tàuphao của doanh nghiệp Thái Sơn ngày càng khai thác lấn sâu vào đất canh tác củangười dân trong đó diện tích đất khu 8 bị sạt lở xuống sông làm mất trên 384m2; còntại khu 9 bị mất 55m2 đất nông nghiệp Xã Tử Đà đã yêu cầu Doanh nghiệp này bồithường thỏa đáng do hành vi khai thác cát sỏi gây ra; đã thông báo tới Công an huyệnPhù Ninh Tuy nhiên đến nay, mọi việc vẫn chưa được cấp có thẩm quyền giải quyết;doanh nghiệp này vẫn tiếp tục cho tàu khai thác cát làm mất nhiều diện tích đất nôngnghiệp đang canh tác của người dân.[11]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Tại tỉnh Thanh Hóa, dọc 2 bờ sông Mã nối với ngã ba sông Bưởi xã Vĩnh Khang,huyện Vĩnh Lộc, nhiều tàu thuyền đang thi nhau hút cát Đặc biệt đoạn thuộc xã YênThái, huyện Yên Đinh, các tàu cắm vòi rồng rúc vào gần bờ sông Mã để nạo vét dòngsông Tiếng máy nổ vang vọng cả một vùng Nhiều đoạn bờ sông thuộc thôn PhùHưng 2, Phù Hưng 3, xã Yên Thái bị sạt lở nghiêm trọng Cát hút đến đâu thì sạt lởđến đó, nhiều vách sạt lở dựng đứng có chỗ cao 3 – 4m.[10]
Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở Chí Linh – Hải Dương vào tháng 8/2017, theoHạt Quản lý đê Thị xã Chí Linh, bờ tả sông Kinh Thầy, đoạn km 7+850 đến km7+866,thuộc khu dân cư Kinh Trung, phường Văn An đang sạt lở nghiêm trọng; đoạn sạt lở
có chiều dài gần trên 16m, lở sâu vào bãi sông 4m, cách chân đê 20m Nguyên nhânsạt lở là do biến đổi của dòng sông bởi tác động của việc khai thác cát trái phép.[12]Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, miền Tây hiện có 406 đoạn sạt lở,với tổng chiều dài 891km (cả bờ sông và bờ biển), đe dọa cuộc sống hàng nghìn hộdân cùng nhiều công trình hạ tầng, kho bãi, cơ sở sản xuất kinh doanh Trong đó,nhiều nơi sạt lở đặc biệt nguy hiểm như tại sông Vàm Nao (xã Mỹ Hội Đông, huyệnChợ Mới, tỉnh An Giang) khiến 108 hộ dân phải dời khẩn cấp Sạt lở 600m tại bờ sôngTiền (đoạn qua xã Bình Thành, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp) uy hiếp hơn 100nhà dân và Quốc lộ 30 nối trung tâm tỉnh này với khu vực biên giới Campuchia KèGành Hào ở huyện Đông Hải (Bạc Liêu) bị xói lở hơn 800m Chủ tịch UBND tỉnh AnGiang đã kiến nghị: “Chính phủ ưu tiên hỗ trợ 820 tỷ đồng đầu tư các cụm tuyến dân
cư để di dời các hộ dân vào nơi an toàn”.[13]
Hiện nay hoạt động khai thác cát trên sông đang diễn ra ở nhiều nơi trên đất nước,hoạt động khai thác cát ở trên sông chưa có sự kiểm soát chặt chẽ, buôn lỏng quản lýcủa nhà nước, cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, Dẫn đến tình trạng khaithác cát trái phép diễn ra hết sức phức tạp; mặc dù, cơ quan chức năng có xử phạtnhững hành vi vi phạm nhưng đó chỉ có tính răng đe đối với những đối tượng đó; nênvẫn cứ tiếp tục vi phạm gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân, môi trường sinhthái và thất thu thuế tài nguyên cho đất nước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Vì vậy cần có biện pháp nhằm quy hoạch địa điểm khai thác cát, tính toán trữlượng cát sỏi của các con sông, đưa ra các biện pháp tuyên truyền ý thức khai thác vànhững tác động đó ảnh hưởng như thế nào của người dân nhằm chấm dứt tình trạngkhai thác cát ồ ạt, thiếu quy hoạch, trái phép như hiện nay.
1.2.3 Tình hình khai thác cát ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm 2012, theo báo cáo về Quy hoạch khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trên địa bàn tỉnh Thừa ThiênHuế có khoảng 31 bãi cát, sỏi được khai thác và tập trung chủ yếu ở sông Hương, sông
Ô Lâu, sông Bồ, sông Tả Trạch, sông Tà Rình Theo tài liệu nghiên cứu của các cơ quanchức năng, trữ lượng cát năm 2012 trên các con sông ở Thừa Thiên Huế như sông Bồ,sông Hương, sông Truồi có trữ lượng khoảng 2,75 triệu m3 Lâu nay, nguồn cung cấpcát sỏi trên các con sông ở Thừa Thiên Huế luôn được bồi đắp sau các mùa lũ, tính ra,mỗi năm có khoảng từ 1,3 – 1,7 triệu m3 do mưa lũ trôi về bổ sung vào lòng sông.Nhưng từ khi các dự án thủy điện, thủy lợi được xây dựng xong và đi vào hoạt động thìlượng cát sỏi từ thượng nguồn bổ sung về hạ nguồn các con sông sẽ không còn Đây lànguyên nhân gây nên tình trạng thiếu cát xây dựng trầm trọng Ban Kinh tế Hội đồngnhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế từng cảnh báo, việc phát triển nhiều công trình thủy điệncùng lúc đồng nghĩa với việc sẽ giảm lũ cho vùng hạ lưu các con sông, nhưng đi kèmvới nó là trong vài năm tới địa phương này sẽ thiếu cát sỏi trong xây dựng
Khai thác cát trên các con sông đã đáp ứng nhu cầu các xây dựng trên địa bàn tỉnh,góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động, đóng góp một lượng lớn ngân sáchcho tỉnh Thừa Thiên Huế Nhưng bên cạnh đó có nhiều tổ chức, cá nhân nhận thấyđược nguồn lợi nhuận khổng lồ từ hoạt động khai thác cát, kinh doanh cát sạn, dẫn đếnkhai thác quá mức; khai thác tràn lan, bừa bãi không có quy hoạch; thậm chí sử dụngcác phương tiện khai thác không có giấy phép, khai thác trái phép trên các con sôngthuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế làm mất một lượng lớn tài nguyên, thất thu chongân sách Nhà nước hàng tỷ đồng, gây ra các tác động tiêu cực đến môi trường và xãhội như tình trạng sạt lở đất bờ sông và hệ thống đê, kè ven các con sông dẫn đến mất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25đất sản xuất nông nghiệp, đất vườn, thiệt hại về nhà ở và ảnh hưởng cảnh quan môitrường đặc biệt là sông Hương.
Theo quy định của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, các thuyền được cấp phép khaithác cát trên sông Hương chỉ được phép khai thác từ 6 giờ đến 17 giờ hằng ngày.Nhưng thực tế, nhiều tàu thuyền lại khai thác trộm cả ban đêm, thường từ 23 giờ đến3-4 giờ sáng hôm sau và lấn sâu vào hai bên bờ sông để hút trộm cát Từ đầu năm đếnnay, Công an tỉnh Thừa Thiên Huế - lực lượng Công an đường thủy đã phát hiện 56 vụ
vi phạm trong hoạt động khai thác cát, sỏi; bắt 56 đối tượng vi phạm, lập biên bản xử
lý với tổng số tiền hơn 220 triệu đồng, tịch thu hơn 200m3cát, sỏi
Theo Trung tá Lê Viết Sơn – Phó phòng cảnh sát giao thông đường thủy tỉnh ThừaThiên Huế cho biết: “việc ngăn chặn cát tặc trên sông Hương gặp rất nhiều khó khăn
do cát tặc hoạt động ngày càng tinh vi, thường bố trí cảnh giới trên bờ báo cho nhau đểtrốn chạy nếu phát hiện lực lượng chức năng Hơn nữa, cát tặc thường xuyên hoạtđộng vào ban đêm, khu vực khai thác nằm ở vùng sâu, vùng xa Cảnh sát đường thủylực lượng mỏng nên khó bố trí khép kín địa bàn Phương tiện ca nô tốn rất nhiều nhiênliệu gây khó khăn trong công tác chuyên môn, mặt khác đi ca nô dễ bị cát tặc phát hiện
và trốn chạy”
Để chấm dứt tình trạng khai thác cát trái phép như hiện nay trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế, cần tổ chức quy hoạch địa điểm khai thác tập trung cho các hộ dân, có biệnpháp chuyển đổi ngành nghề tạo việc làm ổn định cho người làm nghề khai thác cát sỏitrên sông
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26CHƯƠNG II: QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC CÁT SỎI Ở KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG BỒ, HUYỆN QUẢNG ĐIỀN VÀ NHỮNG ẢNH
HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG NÀY
2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Điền là một huyện nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, cáchthành phố Huế khoảng 15km, có tọa độ địa lý trong khoảng: 16031’00” – 16039’20” vĩ
độ Bắc và 107024’40” – 107032’50” kinh độ Đông
- Phía Đông và Nam giáp với huyện Hương Trà
- Phía Tây và Bắc giáp với huyện Phong Điền
- Phía Đông và Đông Bắc giáp với biển Đông
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 16.304,55ha gồm 10 xã và 1 thị trấn, chiếm3,24% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27- Vùng phía Tây Bắc huyện: gồm 2 xã Quảng Thái, Quảng Lợi với tổng diện tích tựnhiên là 5.092,38 ha (chiếm 31,25% diện tích toàn huyện), 80% diện tích của vùng là đồi cátvới độ cao từ 4 -10m so với mực nước biển Vùng này đất đai cằn cổi, nghèo dinh dưỡng.
- Vùng đồng bằng phía Nam: bao gồm 6 xã và 1 Thị trấn Sịa, Quảng Phước,Quảng An, Quảng Thành, Quảng Phú, Quảng Thọ, Quảng Vinh, tổng diện tích toànvùng là 8.840,06 ha (chiếm 54,25% diện tích toàn huyện), là vùng đồng bằng chiêmtrũng của phá Tam Giang, ruộng đất phần lớn có độ cao bình quân từ (-0,5m) đến(+1,0m) Đồng bằng Quảng Điền bị chia cắt bởi nhiều sông suối, trong vùng có nhiều
“lòng chảo” như vùng Quảng An, Quảng Thành, Quảng Phước, Quảng Thọ, đáy “lòngchảo” có nơi sâu đến (-1,50) Đây là một trong những cản trở không nhỏ đến việc tổchức sản xuất và sinh sống của dân cư trong vùng
Về đất đai, thành phần đất trong vùng ven đầm phá có các loại đất phù sa sôngbiển, đất cát pha vùng ven biển chủ yếu là cát trắng vàng nghèo chất dinh dưỡng
2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
a) Khí hậu
Quảng Điền là huyện nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tínhchất chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậuchuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta
b) Thủy Văn
Quảng Điền có hệ thống sông ngòi dày đặc với mật độ là 2,21km/km2 được phân
bố đều gần khắp lãnh thổ Trên địa bàn huyện có 2 con sông chính chảy qua là sông Ô
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28Lâu và sông Bồ.
Sông Bồ chảy vào địa phận huyện Quảng Điền từ xã Quảng Phú, sông chia làmhai nhánh chính: một nhánh chảy qua xã Quảng Thọ, Quảng An, Quảng Thành rồinhập vào ngã ba Sình và đổ vào sông Hương về phía Đông; một nhánh khác chia nhỏdòng chảy thành nhiều hói để đổ ra phá Tam Giang theo hướng Bắc
2.1.1.4 Tài nguyên
a) Tài nguyên rừng và khoáng sản
Về tài nguyên rừng, toàn huyện có khoảng 1.405,94ha chủ yếu là rừng phòng hộ.Hạt kiểm lâm huyện quản lý về mặt chuyên môn còn lại giao cho các xã tự quản lý vàbảo vệ
Về tài nguyên khoáng sản của huyện thì tương đối ít, chủ yếu là quặng Titann vàcát thạch anh tập trung ở đồi cát ven biển thuộc 2 xã Quảng Ngạn và Quảng Công
b) Tài nguyên biển và đầm phá
Huyện Quảng Điền có 12km chiều dài bãi ngang Biển Quảng Điền sạch, đẹp, cònnguyên sơ; có những đặc thù của hệ sinh thái ven bờ, nhiều chủng loại hải sản có giátrị kinh tế cao Khu vực phá Tam Giang được đánh giá là vùng sinh thái có cảnh quanthiên nhiên tươi đẹp, với hệ thống mặt nước yên tĩnh, trong xanh, nơi di trú của nhiềuloài cá, tôm, cua,…
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29khỏe, trẻ nhưng họ chưa được đào tạo một ngành nghề nhất định mà chủ yếu chỉ hoạtđộng dựa vào kinh nghiệm và tập quán để tiến hành lao động sản xuất.
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động hoạt động kinh tế trong các ngành huyện Quảng Điền
Số lượng (người) Cơ cấu (%)
(Nguồn: Phòng lao động – Thương binh và xã hội huyện Quảng Điền, năm 2017)
Số lao động hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 44,63%,lao động công nghiệp – xây dựng chiếm 30,36% và dịch vụ chiếm 25,01% Nguồn laođộng trên địa bàn huyện tuy dồi dào, xong chất lượng còn hạn chế, tỷ lệ được đào tạochuyên môn, kỹ thuật, ngành nghề chưa cao, năng xuất lao động thấp, đời sống của một
bộ phận dân cư còn gặp khó khăn, nhất là các xã vùng cát nội đồng và vùng ven biển
2.1.2.2 Tình hình kinh tế
Dựa vào bảng 2.2 ta thấy rằng tổng giá trị sản xuất của huyện tăng dần qua cácnăm Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tích cực, phá dần thểthuần nông và tăng đáng kể khu vực dịch vụ, công nghiệp xây dựng Trong đó, giá trịsản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sảnxuất nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn cao, chiếm tỷ trọng lớn trong giai đoạn từ 2013đến 2015, cụ thể là giảm 3,14% Đối với các ngành dịch vụ tại huyện, tỷ trọng có xuhướng tăng dần nhưng chậm qua các năm từ năm 2013 đến năm 2015 Năm 2014 tỷtrọng ngành dịch vụ chiếm 37,72% nhưng đến năm 2015 tăng 0,64% so với năm trước
đó tức là đạt 38,36% Riêng đối với ngành Công nghiệp – xây dựng tăng 1,96% tronggiai đoạn 2013 – 2015 Điều này chứng tỏ cơ cấu kinh tế huyện Quảng Điền chuyểndịch đúng hướng, hợp quy luật
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Bảng 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất huyện Quảng Điền theo giá so sánh giai đoạn 2013-2015
Ngành
Giá trị (Trđ)
Cơ cấu (%)
Giá trị (Trđ)
Cơ cấu (%)
Giá trị (Trđ)
Cơ cấu (%) 2014/2013 2015/2014
Bình quân
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quảng Điền, năm 2017)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 312.1.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng
- Giao thông
Huyện Quảng Điền với quốc lộ 49B cắt ngang địa bàn huyện, dọc theo bờ biển vớichiều dài 11km Hệ thống tỉnh lộ có các tuyến TL11B nối Sịa – An Lỗ, TL4 (Sịa –Tây Ba – Bao Vinh – Huế Sịa – Phong Lai liền với nhiều xã thuộc huyện Phong Điền,Phong Điền đến Hải Lăng (Quảng Trị) – Đường 68, hầu hết các con đường đều có ô tô
đi lại thuận tiện, Hệ thống đường chủ yếu là các con đường nhựa và bê tông được tậptrung xây dựng chủ yếu là vốn ngân sách nhà nước thực hiện đầu tư xây dựng
Về đường thủy, huyện có một mạng lưới sông khá phong phú và đa dạng, cáctuyến sông tuy chưa phân bố đều khắp nhưng đã nối liền các trung tâm kinh tế - xã hội
và đi đến khắp các địa phương Hiện nay lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường thủychủ yếu là cát sạn
Ngoài ra, trên địa bàn huyện có phá Tam Giang nối với các con sông lớn đi đếncác địa phương khác, đặc biệt thành phố Huế tạo điều kiện thuận lợi cho việc vậnchuyển hàng tiêu dùng và khách du lịch
- Giáo dục, đào tạo
Cơ sở vật chất ngành giáo dục và đào tạo trong những năm qua đã được đầu tưđáng kể Trong những năm qua, đã xây dựng mới được 640 phòng học; hoàn thành vàđưa vào sử dụng Trung tâm Giáo dục thường xuyên, trường trung học cơ sở và trunghọc phổ thông Tố Hữu
Đội ngũ giáo viên cơ bản đã được chuẩn hóa theo quy định (chiếm 99,2%); trình
độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ được nâng đáng kể
- Y tế
Trong những năm qua, chất lượng khám và điều trị ở các cơ sở y tế được tăng lênđáng kể; được chuyển giao nhiều kỹ thuật y tế từ tuyến tỉnh; mạng lưới y tế cộng đồngđược củng cố Cơ sở vật chất, phương tiện khác chữa bệnh những năm gần đây đượcnâng lên đáng kể thông qua chương trình tầng hóa trạm y tế xã, dự án hỗ trợ từ các tổchức trong và ngoài nước Đến nay toàn huyện đã có một bệnh viện và 11 trạm y tế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32- Văn hóa – xã hội
Có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là vấn đề giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xãhội bức xúc, xây dựng huyện điểm văn hóa gắng với xây dựng nông thôn mới, giáo dục –đào tạo, chăm sóc sức khỏa nhân dân có bước phát triển tiến bộ Đời sống nhân dân khôngngừng được cải thiện Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững
2.2 Tình hình khai thác cát sỏi ở hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền
2.2.1 Tình hình chung về hoạt động khai thác, kinh doanh cát sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền
Từ thời xưa đã xuất hiện các công trình xây dựng như nhà ở, đường xá,… lúc này
họ chỉ khai thác cát, sỏi nhằm phục vụ cho nhu cầu cơ bản này Nhưng từ khi xã hộingày càng phát triển, kinh tế của con người càng cao dẫn đến nhu cầu về nguyên vậtliệu xây dựng ngày một tăng cao, trong đó có cát, sỏi xây dựng Sông Bồ là một consông chảy qua địa phận huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; những lúc gặp lũ lụtthì sông Bồ sẽ nhận được một lượng cát, sỏi bồi đắp lớn từ thượng nguồn đổ về.Nhưng từ khi công trình xây dựng đập thủy điện đi vào hoạt động nó đã điều tiết lượngnước vào mùa mưa cho nên tình trạng lũ ít xảy ra hơn, do đó con sông bị mất đi nguồn
bổ sung cát, sỏi hằng năm mặc dù nhu cầu về cát, sỏi xây dựng ngày một tăng cao.Nhận thấy được tiềm năng từ việc khai thác cát, sỏi mang lại nên người dân đã chủđộng đầu tư, mua sắm thêm các loại thuyền đò, máy móc, trang thiết bị có công suấttương đối lớn nhằm phục vụ nhu cầu khai thác ngày càng cao, từ đó thu hút được rấtnhiều người dân tham gia vào hoạt động khai thác cát, sỏi và họ xem nghề khai tháccát, sỏi trên sông trở thành nghề chính thức của họ Cũng từ đó, nhiều bến bãi kinhdoanh cát mọc ra dọc hai bên bờ sông kéo theo hoạt động khai thác, kinh doanh cátcàng trở nên nhộn nhịp Mỗi bến như vậy thường thiết lập mối quan hệ với một hoặcmột số đò, các đò này khai thác và bán cát cho chủ bến trong nhiều năm Trước tìnhtrạng đó, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành quyết định số: 936/QĐ-UBND,ngày 29/05/2012 Quyết định về việc “Quy hoạch khai thác cát, sỏi trên địa bàn tỉnhThừa Thiên Huế đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” UBND huyện đã thammưu và thực hiện theo đúng Quyết định của tỉnh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Theo báo cáo của phòng TN&MT huyện Quảng Điền, năm 2013 trên địa bànhuyện có 14 bến, bãi kinh doanh và 29 thuyền, đò hành nghề khai thác cát, sỏi Năm
2016 giảm xuống còn 6 bến, bãi kinh doanh và 26 thuyền, đò Ngoài ra vào nhữngtháng cao điểm mùa xây dựng còn có một số đò tăng cường khai thác trái phép gần bờvào ban đêm nhằm kiếm thêm thu nhập Các đò và các bến, bãi kinh doanh cát này đều
đã làm thủ tục được cấp giấy phép hành nghề và hoạt động kinh doanh nhưng cũng cómột số đò lợi dụng giấy phép hoạt động khai thác trái phép Điều này đã khiến chohoạt động khai thác cát trên sông Bồ không những có ảnh hưởng xấu đến môi trường
mà còn trở thành là một vấn đề nóng trên địa bàn huyện Quảng Điền
Năm 2013, UBND huyện đã trình UBND tỉnh xin chủ trương cho phép triển khaiphương án quản lý, khai thác cát, sỏi trên sông Bồ tại khu vực bãi bồi thôn Bác VọngĐông xã Quảng Phú do UBND xã Phú Hòa quản lý và đã được duyệt Nhưng đến năm
2014, UBND huyện đã ban hành Thông báo cấm hoạt động khai thác cát, sỏi trên toàn
bộ sông Bồ thuộc địa phận huyện Quảng Điền vì do trữ lượng trên các tuyến sông Bồthuộc địa phận huyện Quảng Điền đã hết
Như vậy có thể thấy hiện nay tình hình khai thác, kinh doanh cát, sỏi trên địa bànhuyện Quảng Điền đang diễn ra rất phức tạp Đa số các hoạt động khai thác cát là khaithác trái phép vì trên địa bàn đã được thông báo là đã hết trữ lượng cát và nó đã gâynên nhiều tác động, ảnh hưởng xấu đến môi trường và người dân xung quanh Vì vậy,xây dựng các biện pháp nhằm quản lý quy hoạch, đảm bảo không còn tình trạng khaithác cát, sỏi trái phép, đồng thời giảm thiểu những ảnh hưởng tác động đến cảnh quan
và môi trường, góp phần bảo vệ môi trường
2.2.1.1 Công tác cấp phép, thăm dò khai thác cát sỏi
Từ khi có quyết định quy hoạch của UBND tỉnh về việc quy hoạch, quản lý, sửdụng các bến bãi tập kết vật liệu xây dựng cát, sỏi trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.Theo thống kê của các xã có các hộ khai thác cát ở lưu vực sông Bồ, huyện QuảngĐiền vào năm 2013 thì có 14 địa điểm tập kết, kinh doanh cát, sỏi Trong đó có 10bến, bãi kinh doanh cát sỏi phù hợp với quyết định của UBND tỉnh yêu cầu, còn lại có
4 bến, bãi đều nằm ngoài quy hoạch Các bến bãi này trước đó đều chưa được cấp dochưa có sự quy hoạch khai thác của nhà nước và tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Tính đến thời điểm hiện tại có 5 bến bãi được cấp phép tập kết, kinh doanh cát, sỏi
ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền Tuy nhiên, thực tế trên địa bàn còn tồntại rất nhiều cá nhân tiến hành khai thác trên sông mà không hề có giấy phép khai thác.Khai thác cát lậu đang là một vấn đề nhức nhối đối với công tác quản lý tài nguyên vàbảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Quảng Điền
2.2.1.2 Số lượng thuyền, đò khai thác cát, sỏi trên địa bàn huyện Quảng Điền
Theo số liệu thống kê của phòng TN&MT huyện Quảng Điền, năm 2013 trên địabàn huyện có 29 thuyền, đò khai thác cát, sỏi Theo như kết quả kiểm tra của các công
an xã và thanh tra huyện trên địa bàn huyện thì năm 2013 các chủ đò trên đều cónguyện vọng được cấp giấy phép của cấp thẩm quyền cho phép khai thác cát, sỏi theođúng quy hoạch và cũng đã đáp ứng 29 đò khai thác cát trên
Năm 2014 UBND huyện đưa ra thông báo cấm tất cả các thuyền khai thác cát, sỏitrên sông Bồ đoạn chảy qua địa bàn huyện Vì vậy, có một số chủ đò nghỉ hoạt độnggiảm xuống còn 24 thuyền, đò vẫn tiếp tục hoạt động và làm thủ đăng ký ở Thị xã,huyện khác để được cấp phép khai thác
Năm 2016, trên địa bàn huyện tăng lên 26 thuyền, đò khai thác cát, sỏi Tuy nhiên,trên thực tế cho thấy còn nhiều thuyền, đò ở các vùng lân cận đến khai thác cát tráiphép hay những thuyền, đò mà chưa được cấp giấy phép khai thác cát, sỏi theo đúngquy hoạch trên địa bàn huyện
Ngoài các thuyền, đò được cấp phép trên thì còn có một số đò, thuyền thườngxuyên khai thác ở khu vực hạ lưu sông Bồ chưa có bằng lái, giấy phép đăng ký, đăngkiểm của phương tiện, giấy phép của cơ quan có thẩm quyền nhà nước cho phép khaithác cát
Về phương thức khai thác: Khi có sự quyết định quy hoạch của tỉnh về địa điểmkhai thác thì các chủ đò sẽ khai thác những vùng nằm trong quy hoạch nhưng vẫn có
mộ số đò khai thác trái phép tự do trên sông Bồ vào đêm khuya
Tải trọng của đò khai thác cát: các đò khai thác trên sông Bồ chủ yếu là các hộ giađình thuộc diện không có điều kiện nhiều nên thuyền, đò chỉ có tải trọng từ 10 – 40 m3.Lao động ở trên đò khai thác cát thường khoảng 2 – 3 lao động tham gia vào côngviệc khai thác cát trên sông Bồ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 352.2.1.3 Số lượng bến bãi kinh doanh cát sỏi trên địa bàn huyện
Từ khi xuất hiện hoạt động khai thác trên sông Bồ cũng đã kéo theo sự xuất hiệncủa hàng loạt bến bãi kinh doanh cát, sỏi nằm dọc hai bờ sông Trước khi có sự quyhoạch của nhà nước và tỉnh Thừa Thiên Huế về quy hoạch địa điểm tập kết, kinhdoanh cát, sỏi thì phần lớn các địa điểm kinh doanh cát, sỏi, các bãi chủ yếu kinhdoanh tự phát của hộ gia đình, với quy mô nhỏ Theo thống kê của phòng TN&MThuyện Quảng Điền và UBND các xã vào năm 2013 thì dọc 2 bên bờ sông có 15 địađiểm tập kết, kinh doanh cát, sỏi Trong đó, có 10 bến, bãi nằm trong quy hoạch; 5bến, bãi không nằm trong quy hoạch; cụ thể:
-Xã Quảng Thọ: 5 bến, bãi kinh doanh cát, sỏi nằm trong quy hoạch và 2 bến, bãikhông nằm trong quy hoạch (trong đó: bãi Niêm Phò; bãi Phò Nam A)
- Xã Quảng Phú: 5 bến, bãi kinh doanh cát, sỏi nằm trong quy hoạch và chỉ có 1bến, bãi không nằm trong quy hoạch (trong đó là bãi Hạ Lan)
- Xã Quảng Thành: không có bến, bãi nào nằm trong quy hoạch nhưng lại có 1bến, bãi kinh doanh cát, sỏi không nằm trong quy hoạch đó là bãi Phú Lương A
Năm 2014 giảm còn 11 bến, bãi tập kết, kinh doanh cát, sỏi, nhưng vẫn còn 1 bãi (bãiNiêm Phò) nằm ngoài quy hoạch trong đó xã Quảng Thọ và Quảng Phú đều giảm đi 1bến, bãi kinh doanh cát, sỏi UBND xã Quảng Thành đã xử lý bến, bãi không nằm trongquy hoạch đó nên xã này đã không còn bến, bãi tập kết, kinh doanh cát, sỏi nào nửa.Năm 2015, các ban quản lý những khu vực này đã xử lý triệt để các bến, bãi tậpkết, kinh doanh cát, sỏi nằm ngoài quy hoạch đều đã đóng cửa và chỉ còn 7 bến, bãitrong đó 5 bãi ở xã Quảng Thọ và 2 bãi ở xã Quảng Phú
Vào năm 2016 trên địa bàn huyện còn 6 bến, bãi tập kết, kinh doanh cát, sỏi nằmtrong quy hoạch gồm: xã Quảng Thọ với 4 bãi (2 bãi La Vân Thượng – La Vân Hạ;bãi La Vân Thượng và bãi Phước Yên 1) và xã Quảng Phú có 2 bãi là bãi Phú Lễ vàbãi Hợp tác xã Phú Hòa Trong đó, có 4 bãi đã tiến hành phân lô đấu giá quyền sửdụng đất, gồm: bãi Hợp tác xã Phú Hòa, bãi Phú Lễ (xã Quảng Phú), bãi La VânThượng – La Vân Hạ và bãi La Vân Thượng (xã Quảng Thọ) UBND huyện đã banhành Quyết định phê duyệt Quy hoạch chi tiết phân lô 2 bãi còn lại và đã phê duyệtphương án giá khởi điểm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Các bến, bãi tập kết cát, sỏi trên hoạt động theo đúng quy hoạch, đúng theo giấy đăng
ký kinh doanh Tuy vậy, tất cả các bến, bãi trên vẫn chưa thực hiện các nội dung quyđịnh về điều kiện để đưa bến, bãi vào hoạt động tại Quyết định số 936/QĐ-UBNDngày 29/5/2012 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định về quản lý, sử dụng cácbến, bãi tập kết vật liệu xây dựng cát, sỏi trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 2.3: Thống kê số lượng bến, bãi tập kết, kinh doanh cát, sỏi ở lưu vực sông
Bồ, huyện Quảng Điền
ĐVT: bãi
Số bến, bãi kinh doanh cát, sỏi trong quy hoạch
Số bến, bãi kinh doanh cát, sỏi ngoài quy hoạch
(Nguồn: Phòng TN&MT huyện Quảng Điền)
Các bãi kinh doanh này đóng vai trò trung gian phân phối trong việc luân chuyểncát, sỏi từ đầu mối khai thác là các chủ đò khai thác đến tay người sử dụng cát, sỏi.Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ cát, sỏi với khối lượng tương đối lớn cho thị trường do đócác chủ bến bãi đã đầu tư rất nhiều trang thiết bị máy hiện đại diễn ra nhanh chóngnhư: máy ủi, máy xúc, băng tải,… để phục vụ cho việc bốc dỡ
Phương thức kinh doanh của các chủ bến bãi thu mua cát, sỏi từ các chủ đò sau khi
họ khai thác được; các chủ bến bãi không cần phải mất công đi tìm nguồn cát, sỏi của
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37các chủ đò Mỗi bến, bãi kinh doanh cát, sỏi sẽ có mối quan hệ làm ăn với một hoặcmột số chủ đò khai thác cát Từ đó họ sẽ thiết lập một mối quan hệ mua bán cát, sỏinhư sau: Các chủ đò khai thác cát đó chỉ khai thác cát và bán cho một chủ bến bãi duynhất đó thôi chứ không bán cát cho chủ bến bãi khác, mối quan hệ này được thiết lậptrong nhiều năm.
Về đất đai để làm địa điểm kinh doanh cát, sỏi thì đa số các chủ bến bãi kinhdoanh cát, sỏi thuê đất của UBND xã để mở bến bãi kinh doanh
Bảng 2.4: Địa điểm quy hoạch bến, bãi kinh doanh vật liệu xây dựng cát, sỏi tại
xã Quảng Thọ và xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền
Ký hiệu khu
vực đất
Chủ bãi kinh doanh
Diện tích (m 2 / bãi)
Ký hiệu trên
tờ bản đồ
Mức giá thuê (đ/ năm)
La Vân Hạ - La
Vân Thượng 1
Nguyễn HữuThiện 1.026
(Nguồn: Phòng TN&MT huyện Quảng Điền)
Hiện nay, theo báo cáo của phòng TN&MT huyện chỉ còn 5 bãi (2 bãi LVH-LVT,
1 bãi LVH và 1 bãi Phước Yên 1 ở xã Quảng Thọ; 1 bãi Phú Lễ ở xã Quảng Phú) đượcUBND xã quản lý và cho thuê bến, bãi kinh doanh cát, sỏi bao gồm: bến của ôngNguyễn Hữu Thiện, ông Hoàng Công Đẳng, ông Nguyễn Lương Cường, ông LêDương, ông Trương Văn Bình với mức thuê phải nộp tùy thuộc vào diện tích đất, vị tríbãi có gần đường quốc lộ hay khu tách biệt dân cư
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 382.2.2 Công tác quản lý hoạt động khai thác cát, sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền
2.2.2.1 Khung pháp lý về quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi trên sông Bồ, huyện Quảng Điền
Từ khi Luật khoáng sản ban hành, mọi hoạt động quản lý khai thác, kinh doanh cátsỏi trên địa bàn huyện Quảng Điền đều căn cứ vào Luật khoáng sản năm 2010 Trên
cơ sở đó, các cơ quan chức năng đã tham mưu cho UBND huyện quản lý trong hoạtđộng khai thác, kinh doanh cát sỏi thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật cóliên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản nói chung và hoạt động khai thác cát sỏitrên sông Bồ nói riêng
Các văn bản quy định về hoạt động khai thác cát sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ,huyện Quảng Điền thuộc địa phận các xã khác nhau, các văn bản xử phạt hành chính đốivới các đối tượng vi phạm pháp luật khi tham gia khai thác cát sỏi trên sông, các vănbản quy định của UBND tỉnh gửi cho các huyện, xã về việc quản lý hoạt động khai thác,kinh doanh cát sỏi trên sông Bồ Các văn bản được banh hành cụ thể như sau:
Bảng 2.5: Các văn bản liên quan đến quản lý hoạt động khai thác, kinh doanh
cát, sỏi ở khu vực hạ lưu sông Bồ, huyện Quảng Điền
Quyết định số
935/QĐ-UBND, ngày
29 tháng 5 năm 2012
Quy định quản lý và tổ chức thựchiện quy hoạch khai thác cát, sỏi trênđịa bàn tỉnh đến năm 2020 và địnhhướng đến 2030
Quyết định số936/QĐ-UBND, ngày
29 tháng 05 năm 2012
Quy định quản lý, sử dụng bến bãitập kết vật liệu xây dựng cát, sỏi trênđịa bàn tỉnh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39Nghị định số142/NĐ – CP, ngày
24 tháng 10 năm 2013
Quy định về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực tài nguyên nước
và khoáng sản
Chính phủ
Điều 39, 40 nghị
định số 139/NĐ-CP,
ngày 27/11/2017 Quyết định xử phạt hành chính trong
hoạt động khai thác, sản xuất, kinhdoanh vật liệu xây dựng
UBND tỉnhThừa ThiênHuế
( Nguồn: phòng TN&MT huyện Quảng Điền)
Ngoài những văn bản đã được quy định trên thì Phòng TN&MT đã tham mưuUBND huyện ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn quản lý việc khai thác kinhdoanh cát, sỏi trên sông, trên địa bàn huyện Phòng TN&MT đã tham mưu UBNDhuyện ban hành các văn bản sau:
- Chỉ thị số 18/2014/CT-UBND ngày 18/11/2014 về việc chấn chỉnh tình trạngkhai thác, kinh doanh cát, sỏi trên địa bàn huyện
- Quyết định số 3121/QĐ-UBND ngày 12/9/2013 của UBND huyện về phê duyệtphương án quản lý khai thác cát, sỏi trên sông Bồ tại khu vực bãi bồi thôn Bác VọngĐông xã Quảng Phú
- Tờ trình số 97/TTr-TNMT ngày 12/9/2013 của UBND huyện về việc xin triển khaiphương án quản lý khai thác cát, sỏi
Để tăng cường công tác quản lý trong hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi trênsông cần có sự phối hợp chặt chẽ và phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan có thẩm quyền vàphân cấp rõ ràng giữa các cơ quan có thẩm quyền ở hình 2.1 dưới đây:
Trường Đại học Kinh tế Huế