1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp nhằm bảo vệ môi trường và phát triển du lịch tại huyện lý sơn tỉnh quảng ngãi

79 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Lý Sơn là một huyện đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi, trong những năm gần đây Lý Sơn là điểm đến du lịch thu hút du khách trong và ngoài tỉnh việc phát triển du lịch t

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐỀ TÀI:

TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HUYỆN LÝ SƠN

TỈNH QUẢNG NGÃI

LÊ VĂN BÌNH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện bài khóa luận để tốt nghiệp, tôi đã không ngừng cố gắng trong khả năng của mình cũng như học hỏi để hoàn thành bài với mong mốn đạt được sự thành công nhất Để có được một bài tương đối hoàn chỉnh như hôm nay, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía như: nhà trường, giáo viên hướng dẫn, cơ sở thực tập

và các nguồn tin khác Sau đây, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với thầy cô, các cá nhân, các đơn vị đã giúp tôi hoàn thành tốt bài khóa luận này

Trong suốt thời gian ngồi trên ghế giảng đường đại học, tôi đã tích lũy được rất nhiều kiến thức từ việc giảng dạy, hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong trường Đại học Kinh tế Huế Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo

Th.S Ngô Văn Mẫn, người đã hướng dẫn trực tiếp, đưa ra những lời khuyên cũng như những nhận xét, đánh giá chân thành nhất để giúp tôi hoàn thiện đề tài này đạt kết quả cao

Tôi xin cảm ơn đến lãnh đạo phòng UBND huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể thực tập tại đơn vị, giúp tôi hoàn thành khóa luận Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến sự quan tâm, giúp đỡ của các anh chị tại Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Lý Sơn

Ngoài ra, sự thành công trong bài khóa luận cũng xuất phát từ việc tìm hiểu các thông tin từ các trang mạng Internet, các đề tài nghiên cứu khoa học, đánh giá nhận xét của các chuyên gia kinh tế Tôi xin chân thành cảm ơn các cá nhân, giới thông tin truyền thông đã kịp thời cung cấp các thông tin liên quan đến đề tài để tôi có thể tìm hiểu

Tuy tôi đã nỗ lực để hoàn thành bài, nhưng sẽ không tránh khỏi những sai sót

do hạn chế về năng lực, điều kiện, thời gian nghiên cứu cũng như kinh nghiệm có được Tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành nhất từ phía các thầy cô cũng như quý bạn đọc để đề tài được hoàn thiện tốt hơn

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

PH ẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan về du lịch 5

1.1.1 Khái niệm về du lịch 5

1.1.2 Các loại hình du lịch 5

1.1.3 Đặc điểm của ngành du lịch 7

1.1.4 Đặc điểm của môi trường liên quan đến phát triển du lịch 7

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 9

1.2.1 Tình hình du lịch ở Việt Nam 9

1.2.2 Điểm mạnh của du lịch Việt Nam 11

1.2.3 Điểm yếu của du lịch Việt Nam 13

1.2.4 Phát triển du lịch bền vững 16

CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HUYỆN LÝ SƠN-TỈNH QUẢNG NGÃI 19

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 19

2.1.1 Lịch sử hình thành đảo 19

2.1.2 Đặc điểm địa lí tự nhiên 20

2.1.3 Dân cư, kinh tế- xã hội 21

2.1.4 Môi trường 25

2.2 Thực trạng du lịch trên địa bàn huyện Lý Sơn 25

2.2.1 Đặc điểm hoạt động du lịch ở địa bàn huyện Lý Sơn 25

2.2.2 Đặc điểm khách du lịch 29

tế Hu

ế

Trang 4

2.2.3 Tiềm năng phát triển du lịch ở địa phương 32

2.2.4 Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường và sinh kế người dân tại huyện Lý Sơn 38

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG DU LỊCH ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN ĐẢO 50

3.1 Giảm thiểu tác động tiêu cực đến các điểm du lịch biển đảo 50

3.2 Giảm thiểu chất thải từ hoạt động du lịch 50

3.3 Về phía người dân địa phương 51

3.4 Về ban quản lý 51

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

1 Kết luận 52

2 Kiến nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

PHỤ LỤC 55

tế Hu

ế

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Doanh thu và lượng khách, tốc độ tăng trưởng qua các năm, trong thời

gian 2012-2016 10

Bảng 2.1 Lượt du khách ra đảo và doanh thu từ du lịch trong giai đoạn 2011-2016 29

Bảng 2.2 Thể hiện mục đích du khách đến với đảo 30

Bảng 2.3 Cảm nhận của du khách về vể đẹp của đảo 33

Bảng 2.4 Kiểm định One Sample T.Test đánh giá mức độ hài lòng của du khách về chất lượng dịch vụ tại đảo 36

Bảng 2.5 Thể hiện về việc nhận thức người dân địa phương bảo tồn các điểm du lịch 39 Bảng 2.6 Thể hiện về việc nhận thức người dân địa phương bảo tồn các điểm du lịch 40 Bảng 2.7 Thu nhập bình quân huyện Lý Sơn trong giai đoạn năm 2011-2016 41

Bảng 2.8 Lượng rác thải từ hoạt động nào ảnh hưởng đến môi trường 44

Bảng 2.9 Tỉ lệ phần trăm giữa các mức giá sẵn lòng chi trả 45

Bảng 2.10 Kiểm định ANOVA giữa số tiền chi trả và độ tuổi 46

Bảng 2.11 Mối liên hệ giữa độ tuổi và mức giá bỏ ra để bảo vệ các điểm du lịch 47

Bảng 2.12 Kiểm định ANOVA giữa số tiền chi trả và khu vực 48

Bảng 2.13 Mối liên hệ giữa vùng miền và mức giá bỏ ra để bảo vệ các điểm du lịch 48

tế Hu

ế

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Ảnh bãi tắm Đảo bé 26

Hình 2.2 Ảnh chùa Đục 26

Hình 2.3 Ảnh núi Thới Lới… 26

Hình 2.4 Ảnh chùa cổng Tò Vò 26

Hình 2.5 Lễ hội đua thuyền Tứ Linh được tổ chức hàng năm vào dịp Tết nguyên đán 26

Biểu đồ 2.1 Thể hiện mối quan hệ giữa thông tin du khách biết đến đảo với độ tuổi trung bình 31

Biểu đồ 2.2 Thể hiện thời gian du khách đến du lịch lưu trú tại đảo 32

Biểu đồ 2.3 Thể hiện số lần du khách đặt chân đến đảo 34

Biểu đồ 2.4 Địa điểm du lịch thu hút khi du lịch ở đảo 35

Biểu đồ 2.5 Về nguồn thu nhập chính của người dân địa phương trên đảo 38

Biểu đồ 2.6 Dịch vụ du lịch dân cư địa phương tham gia 39

Biểu đồ 2.7 Về nhận thức của du khách về du lịch ảnh hưởng đến môi trường 40

Biểu đồ 2.8 Thể hiện sự hài lòng về mức thu nhập từ hoạt động du lịch 42

Biểu đồ 2.9 Thể hiện sự không hài lòng người người dân về phát triển du lịch 43

tế Hu

ế

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Lý Sơn là một huyện đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi, trong những năm gần đây Lý Sơn là điểm đến du lịch thu hút du khách trong và ngoài tỉnh việc phát triển du lịch thúc đẩy kinh tế xã hội tại đảo phát triển tạo ra nhiều việc làm cho người dân, làm đảo ngày càng khang trang hiện đại

Bên cạnh những tác động tích cực của phát triển du lịch đêm lại, nó cũng có

những mặt tiêu cực như việc phát triển không có quy hoạch, phát triển một cách tự phát thiếu liên kết các dịch vụ du lịch, cũng như vấn đề ô nhiễm rác thải từ hoạt du lịch, cũng như công tác bảo tồn các điểm du lịch ít được được chú trọng

Xuất phát từ thực trạng trên tôi quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải

pháp nhằm bảo vệ môi trường và phát triển du lịch tại huyện Lý Sơn - tỉnh Quảng Ngãi” để tiến hành nghiên cứu

M ục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Tìm hiểu chung về thực trạng du lịch trên địa bàn huyện Lý Sơn Tỉnh Quảng Ngãi

Từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hạn chế những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường, cũng như nâng cao ý thức của người dân và khách du lịch trên đảo để phát triển du lịch một cách có hiệu quả

Để thực hiện được mục tiêu trên cần các dữ liệu phục vụ nghiên cứu là:

Số liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: từ UBND huyện Lý Sơn, phòng Văn hóa Thông tin huyện Lý Sơn, phòng Tài nguyên Môi trường, từ bảng hỏi điều tra của du khách đi du lịch và người dân địa phương

Tham khảo từ sách, khóa luận đã thực hiện, báo, mạng Internet,

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp điều tra, thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp

Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Trang 9

Phương pháp quan sát

Đề tài nghiên cứu đã đạt được một số kết quả sau:

Nắm được tình hình du lịch tại đảo cụ thể năm 2016 vừa qua có l164.902 lượt khách du lịch đến Lý Sơn trong đó khách nội địa 163.969 người, khách quốc tế 933 người doanh thu đạt gần 198 tỷ đồng

Các địa điểm thu hút khách du lịch tại đảo như: chùa Hang, hang Câu, đảo Bé,

cổng Tò Vò, núi Thới Lới, chùa Đục Từ đó có các giải pháp để phát triển các điểm du lịch, thu hút du khách nhiều hơn

Biết được cảm nhận của du khách về các địa điểm du lịch trên đảo, thông tin mà

du khách biết về đảo Lý Sơn cũng như thời gian lưu trú của du khách trên đảo, số lần

du khách đến đảo, mục đích của du khách khi đến với đảo

Đánh giá mức độ hài lòng của du khách về chất lượng các dịch vụ tại đảo thông qua kiểm định One Sample T.Test như: chi phí dịch vụ; cơ sở vật chất; chất lượng dịch vụ; dịch vụ vệ sinh môi trường; thêm hiểu biết; thái độ phục vụ; thuyết minh hướng dẫn

Đo lường mức giá sẵn lòng chi trả của du khách cho việc bảo vệ các địa điểm

du lịch để thực hiện bảo tồn các địa điểm du lịch và cải thiện môi trường các điểm du lịch cần có nguồn kinh phí để hoạt động như: Thành lập đội thu gom rác, quản lý tại các điểm du lịch, tạo ra nguồn quỹ để trùng tu bảo tồn các di tích

Những tác động tích cực từ hoạt động du lịch mang lại: nâng cao nhận thức của người dân và du khách về bảo tồn các điểm du lịch, tăng thu nhập và tạo sinh kế cho

người dân địa phương, Phát triển cơ sở hạ tầng nâng cao đời sống, nâng cao công tác bảo vệ môi trường

Những tác động tiêu cực từ phát triển du lịch: giá thành ăn uống tăng lên ảnh hưởng đến người dân, phát triển quá nóng mất đi cảnh quan tự nhiên của đảo, môi trường ô nhiễm ảnh hưởng tới hệ sinh thái

Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần cải thiện môi trường du lịch, vừa phát triển du lịch vừa bảo vệ môi trường đồng thời tạo sinh kế cho người dân địa phương từ hoạt động du lịch

Trang 10

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Du lịch được xem là ngành kiếm ra tiền và ít ảnh hưởng đến môi trường Trong những năm gần đây sự quan tâm đầu tư về du lịch chưa được đúng mức, nên nó vẫn còn tồn tại không ít vấn đề như: văn hóa du lịch, vấn đề trộm cắp, thiếu ý thức trong việc xã rác thải ở những điểm du lịch, đầu tư xây dựng không có quy hoạch, cũng như chất lượng dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng vốn có

Du lịch vừa là hỗ trợ sinh kế người dân đồng thời thúc đẩy bảo tồn những giá trị của di sản văn hóa cũng như những thắng cảnh của địa điểm du lịch Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội một cách hiệu quả

Trong những năm gần đây du lịch biển đảo đang là xu thế chung của tất cả mọi người, nhất là giới trẻ với sự đam mê thích khám phá, trải nghiệm những cảnh đẹp mới, muốn hòa vào thiên nhiên ở những nơi biển đảo, đồng thời thể hiện tinh thần yêu quê hương đất nước, những nơi đầu sóng ngọn gió của tổ quốc và khó khăn đi lại ít người đặt chân tới

Lý Sơn là một hòn đảo nằm mênh mông giữa biển cách đất liền 15 hải lý, gồm hai đảo: đảo Bé và đảo Lớn Trong đó Lý Sơn đang nổi lên như một địa điểm du lịch không thể bỏ qua của các du khách Trên đảo có những di tích, hang động, miệng núi lửa, cổng Tò Vò, bãi tắm đảo Bé, còn có những món đặc sản từ biển đảo (tỏi, hành, hải sản tươi sống), cũng như tính mến khách của người dân nơi đất đảo làm cho đảo Lý Sơn là một điểm đến không thể bỏ qua Đảo Lý Sơn nằm trong quy hoạch khu bảo tồn biển của quốc gia, đang phấn đấu trình lên quốc tế công nhận là công viên địa chất toàn cầu nên cần được bảo vệ

Bên cạnh những lợi ích mà du lịch đem lại cho người dân trên đảo thì du lịch cũng tồn tại nhiều tác động tiêu cực ảnh hưởng tới hệ sinh thái và môi trường nơi đây, như lượng khách du lịch tăng đột biến trong những năm gần đây làm cho các công trình, nhà nghĩ, khách sạn mọc lên làm mất cảnh quan tự nhiên vốn có của đảo, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ các hải sản của du khách nên số lượng các thủy, hải sản gần bờ khai thác quá mức gây suy giảm thủy, hải sản gần bờ nghiêm trọng, đồng thời để lại đó một lượng lớn rác thải từ hoạt động du lịch

tế Hu

ế

Trang 11

Vì thế, nó ảnh hưởng lớn đến việc bảo vệ di tích, cảnh đẹp hoang sơ cũng như

hệ sinh thái biển đảo và môi trường biển đảo, đều này khẳng định giữa du lịch và môi trường có mối quan hệ vừa gắn bó vừa hỗ trợ với nhau Nếu du lịch phát triển không

có quy hoạch rõ ràng nó sẽ ảnh hưởng tới môi trường nghiêm trọng, đồng thời môi trường bị suy giảm dẫn đến du lịch không phát triển

Để hiểu rõ những tác động của du lịch tới môi trường cũng như kinh tế như thế nào đến công tác bảo vệ môi trường nơi đây và phát triển du lịch một cách tốt nhất để đảo Lý Sơn là một điểm du lịch đẹp trong mắt du khách đồng thời môi trường được bảo vệ và

phát triển một cách bền vững, tôi quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp

nhằm bảo vệ môi trường và phát triển du lịch tại huyện Lý Sơn - tỉnh Quảng Ngãi”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát:

Tìm hiểu chung về thực trạng du lịch trên đảo và đề xuất một số giải pháp góp phần hạn chế những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường, cũng như nâng cao ý thức của người dân và khách du lịch trên đảo để phát triển du lịch một cách có hiệu quả

Mục tiêu cụ thể:

 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, và phát triển du lịch và bảo vệ môi trường

 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng của du lịch đến môi trường

 Xác định mối liên hệ giữa phát triển du lịch và sinh kế của người dân trên đảo

 Đo lường sự hài lòng của du khách về các dịch vụ du lịch trên đảo

 Xác định mức sẵn lòng chi trả của du khách cho công tác bảo vệ môi trường

và bảo tồn di tích

 Đề xuất một số giải pháp góp phần để phát triển du lịch và bảo vệ môi trường

du lịch ở đảo phát triển tốt hơn

3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu:

- Gồm 5 địa điểm du lịch: chùa Hang, hang Câu, Cổng Tò Vò, núi Thới Lới, đảo Bé; ở 3 xã, gồm: xã An Hải, An Vĩnh, An Bình tại huyện Lý Sơn

tế Hu

ế

Trang 12

- Du khách đến đảo và cộng đồng địa phương trên huyện Trong đó khảo sát

40 hộ dân sống trên đảo, và 60 du khách đi du lịch từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2017

- Tác động của du lịch đến cộng đồng địa phương

- Mối liên hệ giữa hoạt động du lịch với môi trường biển đảo, gữa du lịch và sinh kế người dân

• Phạm vi nghiên cứu:

Giới hạn nghiên cứu: Đề tài chỉ xét ở khía cạnh tác động du lịch đến môi trường

và người dân trên đảo và sự hài lòng của du khách về chất lượng dịch vụ trên đảo

Không gian: Đề tài được thực hiện trong không gian huyện Lý Sơn-tỉnh Quảng Ngãi

Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2017 đến tháng 4/2017

4 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để thu thập các thông tin, tài liệu

có sẵn để hoàn thiện phẩn khái quát và cơ sở lý luận cho để tài:

• Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan như phòng UBND huyện Lý Sơn, phòng Tài nguyên Môi trường, phòng Văn hóa Thông tin, chi cục Thống kê huyện

Lý Sơn

• Tìm hiểu qua sách, báo, tạp chí, internet

• Tham khảo các bài khóa luận đã thực hiện

 Khảo sát thực địa

Phương pháp này được sử dụng với mục đích kiểm tra, chỉnh sửa và bổ sung những tài liệu tìm kiếm được cho các đối tượng nghiên cứu và các thể loại liên quan đến lĩnh vực du lịch và môi trường, sau đó được đưa vào sử dụng trong đề tài

 Tiến hành đi thực tế tại các điểm du lịch trên địa bàn huyện

Thu thập một số hình ảnh bằng cách trực tiếp quan sát và dùng máy ảnh

Trang 13

Đây là phương pháp chủ yếu được áp dụng để thu thập các thông tin, số liệu cần thiết cho nghiên cứu, giúp kết quả dữ liệu thu thập tăng tính chính xác và khách quan

Phương pháp này giúp trả lời tất cả các câu hỏi một cách dễ dàng thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn Được tiến hành qua 3 bước:

đảo, các cộng đồng dân cư trên đảo

Cách thiết kế bảng câu hỏi: câu hỏi trong bảng khảo sát được thiết kế dựa vào mục đích và nội dung nghiên cứu, các yêu cầu cần thiết cho nghiên cứu Các câu hỏi

có hướng dẫn trả lời trên đầu bảng câu hỏi, riêng các câu hỏi có tình đặc thù riêng sẽ

có chú thích trong từng câu

Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên số lượng mẫu nên tôi chọn để thực hiện khảo sát 60 phiếu điều khảo sát du khách, và 40 phiếu điều tra dân cư địa phương tại 5 điểm du lịch trong toàn huyện

 Tham khảo ý kiến chuyên khảo

Trong suốt quá trình làm báo cáo phải luôn tham khảo ý kiến quý báu từ các chuyên khảo trong ngành nhằm làm cho đề tài được hoàn thiện hơn, mang tính khách quan, có giá trị khoa học và giá trị về thực tiễn ứng dụng

Đối tượng tham khảo:

- Ban quản lý phòng Tài nguyên Môi trường huyện Lý Sơn: họ là những người

đã gắn bó và am hiểu và đưa ra chính sách ở đây

- Giảng viên trường Đại học kinh tế Huế: những chia sẻ, ý kiến đóng góp về chuyên môn

 Phương pháp xử lý số liệu

- Từ những số liệu đã thu thập được từ công tác nghiên cứu, khảo sát thực địa

và kết quả điều tra phỏng vấn sẽ tiến hành thống kê, phân tích và xử lý để đưa ra được

những kết quả để làm căn cứ cho bài báo cáo

Sử dụng một số nhóm hàm thông dụng và cơ bản như: toán học, thống kê, chuỗi, ngày tháng…Trong Excel để thống kê lại các số liệu và vẽ biểu đồ, và hàm Spss

để tiến hành xử lý số liệu điều tra bảng hỏi

tế Hu

ế

Trang 14

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”

Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà

nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Nhà kinh tế học Picara- Edmod đưa ra định

nghĩa: “du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.”

Theo luật Du Lịch Việt Nam (2005), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến

chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Trang 15

trải dài hầu trên các tỉnh trên cả nước, nhưng phải kẻ đến các điểm du lịch nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, Đà Lạt, Sa Pa, Nha Trang…

Du lịch sinh thái: các khu du lịch sinh thái nổi tiếng của Việt Nam có thể kể đến như Nhà vườn Huế, bãi biển Lăng Cô, rừng Cúc Phương, hồ Ba Bể, vườn quốc gia Cát Tiên, U Minh Thượng, U Minh Hạ…

Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh: tắm nước khoáng Kim Bôi – Hòa Bình, nhà nghỉ ở Phan Thiết, Nha Trang, châm cứu ở Hà Nội…

Du lịch MICE

Loại hình du lịch này theo dạng gặp gỡ xúc tiến, hội nghị, hội thảo, du lịch chuyên

đề ở Vũng Tàu, Đà Nẵng… Mice là dạng du lịch tập thể dành cho các doanh nghiệp, công ty Ngoài ra, còn có các loại hình du lịch như: du lịch tuần trăng mật ở Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo…,

Teambuilding

Teambuiding tour kết hợp du lịch tham quan, nghĩ dưỡng với các chương trình Team nhằm xây dựng, tăng cường tinh thần đoàn kết của tập thể, loại hình du lịch này đang được nhiều doanh nghiệp, công ty “đặt hàng” nhằm nâng cao vai trò đoàn kết giữa các nhân viên với nhau

tế Hu

ế

Trang 16

Du lịch là ngành dịch vụ: Du lịch được xem là ngành hầu như không sản xuất ra hàng hóa mặc dù nó vẫn có một bộ phận nhỏ sản xuất ra các sản phẩm để đáp ứng du khách (như đồ ăn, thức uống, những món quà lưu niệm), nhưng những sản phẩm hàng hóa này sản xuất ra chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số doanh của ngành lu lịch Việc nhận thức được các yếu tố của dịch vụ và hành xử thích hợp trong việc kinh doanh dịch vụ là những vấn đề cơ bản đặt ra trong ngành và các doanh nghiệp du lịch

Du lịch là ngành kinh tế phát triển nhanh: Du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế lớn đối với một số quốc gia (như Thái Lan, Nhật Bản, Iceland) Đối với một số quốc gia, du lịch thường chiếm một trong ba vị trí hàng đầu của các ngành kinh tế chủ yếu ở quốc gia Du lịch sẽ phát triển nhanh vì đời sống con nâng cao thì nhu cầu du lịch sẽ tăng, do đó số lượng người đi du lịch ngày một tăng

1.1.4 Đặc điểm của môi trường liên quan đến phát triển du lịch

1.1.4.1 Khái niệm về môi trường

Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam 2104 đưa ra một số khái

niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường suy thoái môi trường:

Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động

đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”

“ Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm

Tiêu chuẩn môi trường”

“Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành

phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên”

tế Hu

ế

Trang 17

1.1.4.2 Tác động của ngành du lịch tới môi trường

Tác động đến môi trường là những ảnh hưởng (xấu hay tốt) do hoạt động phát triển du lịch gây ra cho môi trường, bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên cũng như các yếu tố môi trường xã hội - nhân văn Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái

tự nhiên có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực

a Tác động tích cực:

Bảo tồn thiên nhiên: Du lịch góp phần khẳng định và nâng cao nhận thức

của xã hội về việc bảo tồn các giá trị thiên nhiên, di tích lịch sử, vườn quốc gia, các giá trị nhân văn

Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch cũng góp phần cho những ý

tưởng cho việc làm sạch và bảo vệ môi trường thông qua việc kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc để nâng cao chất lượng môi trường

Ðề cao môi trường: Việc phát triển du lịch giúp bảo vệ môi trường được tốt hơn

khi được quy hoạch và thiết kế để đề cao các giá trị thiên nhiên và cảnh quan tốt nhất

Cải thiện hạ tầng cơ sở: Các cơ sở hạ tầng của các điểm du lịch sẽ được cải

thiện tốt như đường bộ, thông tin liên lạc, bệnh viện…sẽ được cải thiện thông qua hoạt động du lịch vì khi cơ sở hạ tầng phát triển mới có thể đáp ứng được nhu cầu của du khách đi du lịch

Tăng cường hiểu biết về môi trường: Của người dân địa phương qua việc học

hỏi và ý thức của du khách, cũng như hiểu được tầm quan trọng của môi trường đối với du lịch và tầm quan trọng của du lịch đối với môi trường

b Tác động tiêu cực:

Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước: Du lịch là ngành công nghiệp

tiêu thụ rất nhiều nước Nước tiêu thụ trong du lịch chủ yếu thông qua việc sinh hoạt

cá nhân của du khách, các cơ sở ăn uống phục vụ du khách

Nước thải: Nếu không có hệ thống xử lý nước thải từ các nhà hàng, khách sạn

thì nước thải sẽ thấm xuống mạch nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da,

bệnh mắt hoặc thải trực tiếp ra các ao, hồ, biển gây ô nhiễm cho khu vực người dân xung quanh

tế Hu

ế

Trang 18

Rác thải: Vứt rác thải là một trong những tác động tiêu cực lớn nhất của ngành du

lịch không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan mà còn tác động rất lớn đến môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn nảy sinh xung đột xã hội giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường

Ô nhiễm không khí: Du lịch được coi là ngành "công nghiệp không khói",

nhưng du lịch cũng có thể gây ô nhiễm khí thông qua việc xả khí thải từ các phương tiện giao thông đi lại cả đường biển, đường hàng không, đường bộ gây hại cho cây cối, động vật hoang dại và các khu vực dân cư cũng như công trình

Năng lượng: Việc tiêu thu năng lượng thường không hiệu quả và lãng phí tài

nguyên, do việc ý thức du khách về sử dụng các nguồn tài nguyên

Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể

gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật

Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn

nhà hàng có kiến trúc bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện

quảng cáo nhất là các phương tiện dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan Phát triển du lịch hỗn độn, lộn xộn là một trong

những hoạt động gây suy thoái môi trường

Làm nhi ễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát có

thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, côn trùng ) Xây

dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Trang 19

Bảng 1.1 Doanh thu và lượng khách, tốc độ tăng trưởng qua các năm, trong thời

gian 2012-2016

Năm Tổng thu

từ khách

du lịch (nghìn tỷ

đồng)

Tốc độ tăng trưởng hàng năm (%)

Khách nội địa

(nghìn lượt

khách)

Tốc độ tăng trưởng hàng năm (%)

Khách quốc tế (nghìn

lượt

khách)

Tốc độ tăng trưởng hàng năm

(Nguồn: Theo tổng Cục Du Lịch Việt Nam, năm 2012-2016)

Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2016 đạt 2 mốc ấn tượng, đó là: tổng số khách nhiều nhất trong một năm (10 triệu lượt khách) và mức tăng tuyệt đối trong một năm nhiều nhất so với cùng kỳ năm trước (trên 2 triệu lượt khách)

Từ năm 2012 đến 2016 lượt khách nội địa tăng gấp 1,9 lần, lượt khách quốc tế tăng 1,42 lần, tổng doanh thu tăng gấp 2,5 lần Qua đó cho thấy nổ lực của ngành du lịch Việt Nam rất lớn trong việc thu hút du khách cả trong và ngoài nước, đồng thời doanh thu tăng gấp 2,5 lần cho thấy du lịch đã khai thác tốt thế mạnh của mình vừa tăng doanh thu từ du lịch một hiệu quả hơn

Mục tiêu của nguồn du lịch trong năm 2017 sẽ đón khoảng 11,5 triệu lượt

khách quốc tế đến với Việt Nam, 66 triệu lượt khách du lịch nội địa, doanh thu từ khách du lịch đạt 460 nghìn tỷ đồng, Ngành du lịch tiếp tục các chương trình quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đến với bạn bè thế giới Hướng du lịch Việt Nam tới chuẩn mực quốc tế Đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, nhất là nâng cao chất lượng du lịch ở phân khúc cao cấp, cải thiện cơ sở hạ tầng du lịch, xây dựng các khu nghĩ dưỡng, khách sạn cao cấp đạt chuẩn quốc tế Đồng thời tạo cơ chế thông thoáng cho du khách đến với Việt Nam du lịch, nhất là các hãng hàng không và

lữ hành Để thu hút ngày còn nhiều du khách quốc tế đến với Việt Nam

Theo viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, đối với du lịch Việt Nam bước sang thập kỷ tới 2011-2020:

tế Hu

ế

Trang 20

1.2.2 Điểm mạnh của du lịch Việt Nam

Với đường bờ biển dài 3.200 km và hơn 4000 hòn đảo trải dài từ bắc vào nam

và có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhiều bãi biển với những bãi cát dài như Vũng Tàu, Mỹ Kê,Non Nước, Sầm Sơn, Thiên Cầm, Mũi Né, , có những vịnh đẹp và nổi tiếng không chỉ trong nước mà được quốc tế biết đến như Hạ Long, Nha Trang, Xuân Đài, cùng với đó có các đảo gần bờ như Lý Sơn, Phú Quý, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc là một lợi thế không nhỏ để Việt Nam phát triển du lịch biển đảo so với các nước

Với bề dày về lịch sử và truyền thống văn hóa cùng với 54 dân tộc anh em cùng sống với nhau và trải dài từ bắc tới nam; với nên văn hóa lúa nước lâu năm mang bản sắc đậm đà được thể hiện qua lối sống,văn hóa dân gian, tôn giáo, lễ hội, ẩm thực Việt Nam và đặc biệt là các di sản văn hóa còn lưu giữ lại như Cố Đô Huế, Cồng Chiêng Tây Nguyên, đền Tháp Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Hoàng Thành Thăng Long là những điểm nhấn cho văn hóa truyền thống dân tộc, là điều kiện rất thuận lợi về tài nguyên

du lịch nhân văn

Những anh hùng, nhà văn các thời kỳ lịch sử đã để lại những dấu ấn như Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, Lê Lợi, Quang Trung, Võ Nguyên Giáp , đó là như anh hùng đã đi vào lịch sử Việt Nam, có sức hấp dẫn lôi cuốn các người dân Việt Nam mà còn sức hấp dẫn cuốn hút du khách tìm hiểu và thưởng ngoạn

tế Hu

ế

Trang 21

b) Về nguồn lực cho phát triển du lịch

Những tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn kể trên qua sự khéo léo của con người đã tạo nên các sản phẩm du lịch đạo đáo Về tiềm năng du lịch Việt Nam có thể phát triển một hệ thống sản phẩm du lịch vô cùng phong phú và hấp dẫn

Nguồn lực rất quan trọng và đáng quan tâm nó phục vụ phát triển du lịch Với dân số hơn 90 triệu dân, phần đông ở độ tuổi lao động có trình độ cao, có nhiệt huyết Việt Nam có thế mạnh nổi trội về thị trường lao động nói chung và đối với phát triển

du lịch nói riêng Người Việt Nam có truyền thống cần cù, chăm chỉ, khéo léo, nhanh nhạy tiếp thu nhanh các yếu tố mới và đặc biệt có tinh thần nhân ái, mến khách và sẵn sàng làm việc ở mọi nơi và có mức lương cơ bảng thấp so với các nước trên thế gới Đây là thế mạnh để thu hút các nhà đầu tư phát triển dịch vụ du lịch

c) Về chính sách phát triển du lịch

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phát triển du lịch được thể hiện qua các Nghị quyết các kỳ Đại hội đảng lần thứ VII, VIII, IX, X và XI, Chỉ thị của Ban Bí Thư, Nghị quyết của Chính phủ Qua đó cho thấy việc phát triển du lịch được nhìn nhận đúng hơn với vai trò là ngành kinh tế sạch và quan trọng của đất nước thời hiện đại Đặc biệt từ 1999 với sự ra đời của Pháp Lệnh Du lịch và đến 2005 là Luật Du lịch đã cho thấy tầm quan trọng của du lịch trong phát triển đất nước

Sự ổn định về tình hình chính trị, kinh tế- xã hội và chính sách ngoại giao với các nước trên thế giới để du khách yên tâm khi đặt chân đến với Việt Nam Cùng với

sự nhận thức đúng đắn, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước là những yếu tố rất thuận lợi mở đường cho du lịch phát triển

d) Kinh nghiệm phát triển du lịch thời gian qua

Với xuất phát điểm thấp là nước nông nghiệp, du lịch Việt Nam trong 2 thập kỷ qua đã vượt qua mọi khó khăn trở ngoại ban đầu như: nguồn vốn, công nghệ để phục

vụ cho việc phát triển du lịch Đây là những là những kinh nghiệm, và động lực để phát triển sau này Tiếp tục tăng cường, phát huy những thế mạnh để nhằm thu hút du khách quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều

Những thành tựu phát triển du lịch trong thời gian trước được xây dựng như cơ

sở hạ tầng, cơ sở vật chất, nguồn lực phục vụ phát triển du lịch, hợp tác quốc tế là

tế Hu

ế

Trang 22

những ấn tượng tốt hình ảnh về du lịch Việt Nam được tích lũy qua thời gian, là một

sự cố gắng không hè nhỏ của nhiều năm xúc tiến các chương trình quảng bá du lịch cũng như những cảm nhận của du khách khi đến du lịch Việt Nam, đã và đang trên đà tăng trưởng trong giai đoạn tới

Thời kì này đang được tận dụng và phát huy hiệu quả các kinh nghiệm Khi kết cấu về các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch được Nhà nước quan tâm, đồng thời thu hút được các thành phần kinh tế khác tham gia vào đầu tư phát triển du lịch tại Việt Nam

Đó là các công trình đường bộ, đường sông, sân bay và cơ sở vật chất của các khu du lịch để phục vụ nhu cầu của du khách đi du lịch Nguồn nhân lực du lịch cũng được đầu tư đúng đắn, đến nay trên cả nước đã có 11 trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đào tạo về du lịch do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực tiếp quản lý và trên

60 trường đại học, cao đẳng, trung cấp có tham gia đào tạo du lịch

1.2.3 Điểm yếu của du lịch Việt Nam

Cho dù Việt Nam sở hữu những tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú và đa dạng nhưng chưa khai thác tương xứng với tiềm năng vốn có của nước ta, được thể hiện qua các sản phẩm còn rời rạc, không liên kết với nhau, lạc hậu so với các nước trong khu vực

Các tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn chưa được đánh giá, phân loại và xếp hạng đúng mức các tài nguyên để quản lý và khai thác du lịch một cách hiệu quả và bền vững Dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều nhưng khai thác một cách

tự phát, chỉ khai thác được một phần của tài nguyên du lịch, khai thác những cái có sẵn

mà chưa khai thác các giá trị tìm ẩn, tinh hoa văn hóa để phát huy giá trị tài nguyên để phát triển du lịch

Sự khai thác bừa bãi, cạn kiệt tài nguyên du lịch gắn với quá trình cạnh tranh

và trách nhiệm của các bên không rõ ràng dẫn tới nguy cơ suy thoái nhanh giá trị của tài nguyên Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích tác động tiêu cực tới phát triển du lịch lâu dài

tế Hu

ế

Trang 23

b) Về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Hệ thống hạ tầng du lịch còn thiếu thốn, không đạt tiêu chuẩn quốc tế Chỉ một

số ít có cơ sở hạ tầng đáp ứng được các tiêu chuẩn, như các sân bay quốc tế thành phố

Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng là những cửa ngõ chính để đón các lượt du khách quốc tế đến để du lịch; chưa có các cảng biển lớn đáp ứng nhu cầu đón các tàu du lịch

cỡ lớn; hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông để đi đến các điểm tham quan du lịch còn rời rạc, thiếu liên kết đồng bộ với nhau, nhất là đường sông còn quá yếu kém, chưa kết nối thành mạng lưới Do vậy cơ sở hạ tầng là một điểm yếu lớn đối với việc

phát triển du lịch dài hạn của đất nước

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhưng không có quy hoach rõ ràng, mang tính tự phát, quy mô và tầm cỡ nhỏ

lẻ, không liên kết với nhau, thiếu sự chuyên nghiệp trong vận hành, dịch vụ du lịch còn chưa đáp ứng nhu cầu du khách; do vậy chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu Việt Nam

Xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới trong đó có cả nhân lực, nhưng nhân lực du lịch chưa thực sự đáp ứng về kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ, cũng như hội nhập và liên kết toàn cầu, đây là một điểm yếu lớn trong ngành du lịch Việt Nam Trong thời gian qua có nhiều nổ lực và cố gắng trong công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, những vẫn không đáp ứng theo tiêu chuẩn quốc tế

Nguồn lực lượng lao động hoạt động trong du lịch nhiều nhưng tỉ lệ đào tạo bài bản về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ chưa cao, một phần chất lượng đào tạo du lịch vẫn còn nhiều hạn chế, đó là chưa thích ứng kịp với xu hướng hội nhập, cạnh tranh toàn cầu

Đánh giá mặt bằng chung chất lượng nhân lực du lịch vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về tính chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý, giao tiếp và chất lượng phục vụ Ngành du lịch thực sự tốt, thiếu đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, du lịch kiểu mẫu của thời đại với yêu cầu cạnh tranh và hội nhập cao Đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp với nhiều loại hình du lịch và ứng với các ngôn ngữ thuộc thị trường khác nhau , các mục tiêu vẫn chưa sẵn sàng đầy đủ để đáp ứng

tế Hu

ế

Trang 24

d) Về phát triển sản phẩm và thị trường

Sản phẩm du lịch chậm đổi mới; phần lớn các doanh nghiệp du lịch có quy mô vừa và nhỏ, thiếu vốn, công nghệ nên khai thác những tài nguyên có sẵn hoặc sao chép

để hình thành sản phẩm du lịch Vì vậy, tính chất độc đáo của các giá trị nguyên bản

và ý tưởng của sản phẩm du lịch rất nghèo nàn và trùng lặp giữa các vùng miền Quá trình phát triển sản phẩm chưa được nghiên cứu bài bản vì vậy chất lượng và giá trị du lịch còn thấp Sự nghèo nàn, ít sáng tạo, thiếu tính độc đáo, đặc sắc; thiếu đồng bộ và thiếu liên kết là thuộc tính phổ biến của sản phẩm du lịch hiện nay và là điểm yếu chính của du lịch Việt Nam Kết quả là sản phẩm, dịch vụ du lịch có hàm lượng giá trị gia tăng thấp, sản phẩm trùng lắp, suy thoái nhanh

Sự hạn chế, yếu kém trong nghiên cứu thị trường du lịch cả ở tầm vĩ mô của ngành du lịch và ở cấp doanh nghiệp Việc nghiên cứu phân khúc thị trường để xác định thị trường mục tiêu chưa thực sự đi trước một bước và thường thụ động Kết quả nghiên cứu thị trường chưa được ứng dụng, theo đuổi triệt để, dẫn tới các chính sách thị trường mang cảm tính, thiếu cơ sở và bị nhiễu loạn thông tin, biểu hiện trong sự ăn theo, bày đàn trong đầu tư và cạnh tranh trên thị trường

Một số địa điểm du lịch được du khách quốc tế biết đến như Hạ Long, Sapa, Hà Nội, Huế, Hội An, Đà Lạt, Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng vẫn chưa để lại dấu ấn đậm nét cho du khách, do vệc xúc tiến quảng bá du lịch chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả, mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch

e) V ề vốn và công nghệ

Khi chính sách mở cửa thông thoáng thì nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực du lịch rất lớn trong khi các nguồn lực về vốn và công nghệ Việt Nam còn chưa đáp ứng được nhu cầu Trong khi tiềm lực về thị trường vốn của Việt Nam còn yếu và chưa ổn định chưa phát huy hết vai trò điều tiết do chỉ mới hình thành

Các dòng đầu tư FDI trong du lịch chiếm tỷ trọng lớn tuy vậy chỉ tập trung vào lĩnh vực bất động sản du lịch; nhiều dự án FDI có tình trạng treo do thiếu điều kiện liên quan như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và chính sách hỗ trợ

Sự tự lực cánh sinh về công nghệ, kỹ thuật và nguồn nhân lực bậc cao của Việt Nam còn rất hạn chế và phụ thuộc vào phía đối tác liên doanh liên kết bên ngoài

tế Hu

ế

Trang 25

f) Về quản lý du lịch và vai trò của nhà nước

Công tác quản lý nhà nước về du lịch chậm đổi mới; Luật du lịch và các luật, pháp lệnh liên quan, hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành còn thiếu đồng bộ

và chưa huy động được các nguồn lực cho phát triển du lịch Nhiều chính sách còn chồng chéo, cản trỡ lẫn nhau Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành chưa được hình thành và hợp chuẩn khu vực và quốc tế; thủ tục hành chính còn rườm

rà và chậm đặc biệt là thủ tục thị thực xuất nhập cảnh và quy trình quản lý chất lượng dịch vụ còn nhiều yếu kém;

Tổ chức bộ máy của ngành có nhiều thay đổi, chưa thực sự ổn định để phát huy hiệu lực, hiệu quả; quản lý liên ngành, liên vùng rất yếu Công tác quản lý và thực hiện quy hoạch du lịch còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa được như mong muốn

Công tác quản lý đảm bảo phát triển bền vững, an ninh, an toàn, văn minh du lịch còn thiếu kinh nghiệm và chưa có tầm nhìn dài hạn nên kém hiệu quả và thiếu tính bền vững; quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di sản, bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu

Nhận thức về du lịch cả ở cấp quản lý nhà nước, quản lý kinh doanh và trong nhân dân còn thấp, chưa đầy đủ và đồng bộ, tầm nhìn ngắn hạn trong tư duy chịu tác động của nhóm lợi ích cục bộ do vậy vẫn còn khoảng cách xa so với yêu cầu phát triển

1.2.4 Phát triển du lịch bền vững

1.2.4.1 Khái niệm phát triển du lịch bền vững

Khái niệm phát triển du lịch bền vững: “Là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của các thế hệ tương lai” Theo đó, trong quá trình phát triển phải đảm bảo được sự bền vững về kinh tế, bền vững về tài nguyên môi trường và bền vững về văn hóa xã hội

Trong đó, bền vững về kinh tế được hiểu đó là sự phát triển ổn định lâu dài của ngành du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể cho đất nước và góp phần tích cực vào phát triển của kinh tế - xã hội, đem lại lợi ích cho người dân, đặc biệt người dân địa phương Mức sống của người dân địa phương được cải thiện từ du lịch thì họ sẽ có lý

do để bảo vệ nguồn thu nhập này bằng cách bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo vệ các giá trị văn hóa truyển thống để du khách tiếp tục đến, qua đó xóa đói giảm nghèo,

tế Hu

ế

Trang 26

đem lại cơ hội nâng cao mức sống cho người dân địa phương, tăng trưởng kinh tế cho những vùng còn khó khăn.

1.2.4.2 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có liên quan nhiều ngành, nhiều vùng với nhau vì vậy để phát triển du lịch bền vững cần sự kết hơp hoài hòa nhiều giữa kinh tế - xã hội và môi trường để phát triển hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng tới thế hệ sau Theo tạp chí Tài chính 7/3/2017, đăng bài bàn về nguyên tắc phát triển bền vững của ngành Du lịch Việt Nam xác định được 10 nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững, giúp ngành Du lịch phát triển bền vững trong tương lai, cụ thể:

Thứ nhất, khai thác sử dụng nguồn lực một cách hợp lý

Ngành Du lịch đó và việc sử dụng các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nhân văn, môi trường một cách hợp lý trong phát triển lĩnh vực du lịch, đồng thời phòng ngừa và bảo vệ các di sản văn hóa du lịch

Thứ hai, giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên

Việc tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên ở một mức độ mà thiên nhiên có thể tự

phục hồi, mặt khác giảm chất thải ra môi trường sẽ tránh nhiều tổn hại cho việc hồi phục môi trường, góp phần tăng chất lượng của du lịch vừa bảo vệ môi trường

Cần phải duy trì và bảo vệ tính đa dạng thiên nhiên, xã hội, môi trường và tính

đa dạng của văn hóa địa phương Phát triển du lịch phù hợp với từng vùng, lĩnh vực để đảm bảo phúc lợi cho mọi người dân vừa duy trì tính đa dạng thiên nhiên

Thứ tư, phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch tổng thể của kinh tế xã hội

Khi phát triển du lịch cần phải nằm trong quy hoạch của của kinh tế xã hội, vì

du lịch là ngành có mối liên hệ nhiều ngành với nhau, để phát triển tốt du lịch thì các ngành khác cũng phải phát triển tốt theo, để đảm bảo phát triển bền vững về lâu dài nên cần có quy hoạch rõ ràng, càng chi tiết càng tốt

Thứ năm, phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế cho địa phương

Phát triển du lịch bền vững nó không chỉ phát triển riêng một mình mà là phát triển nhiều lĩnh vực liên quan, tạo điều kiện sinh kế cho người dân địa phương có việc làm, hỗ trợ cho ngành nghề khác không chỉ các doanh nghiệp lớn mà các doanh nghiệp vừa và

nhỏ là những đơn vị được hỗ trợ nhiều, dẫn đến hỗ trợ kinh tế cho địa phương

tế Hu

ế

Trang 27

Thứ sáu, thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển bền vững du lịch

Việc tham gia của cộng đồng địa phương là một nhân tố đảm bảo cho phát triển

du lịch bền vững Khi cộng đồng địa phương được tham gia phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho du lịch, khi họ thấy những lợi ích từ du lịch mang lại cho chính họ, họ sẽ có trách nhiệm với chính tài nguyên và môi trường du lịch họ đang sống

Thứ bảy, lấy ý kiến của nhân dân và các đối tượng có liên quan

Việc lấy ý kiến của nhân dân và các đối tượng liên quan đến lĩnh vực du lịch là rất quan trọng, nó giúp các bên giải đáp các khó khăn và vướng mắc, đồng thời đưa ra những sáng kiến có lợi cho đôi bên để du lịch lịch phát triển bền vững

Thứ tám, chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực

Với phát triển du lịch bền vững, cần có nguồn nhân lực có trình độ và có kĩ năng thành, không những mang lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, và đột phá những ý tưởng mới trong kinh doanh du lịch để tạo các điểm nhấn du lịch

Thứ mười, coi trọng công tác nghiên cứu khoa học ngành Du lịch

Để du lịch trở thành một ngành kinh tế chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững, hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đào tạo và thực hiện hoạt động phát triển du lịch Các thành tựu khoa học công nghệ về du lịch trong các lĩnh vực thời gian qua đã trở thành những nền tảng khoa học quan trọng với tính ứng dụng thực tiễn cao, góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch

tế Hu

ế

Trang 28

CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN DU

LỊCH TẠI HUYỆN LÝ SƠN-TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Lịch sử hình thành đảo

Theo trang UBND huyện Lý Sơn thì lịch sử quá trình hình thành đảo đó là:

Lý Sơn là một huyện đảo của Quãng Ngãi, nằm về phía Đông Bắc, cách đất liền

15 hải lý, trước đây có tên gọi cù Lao Ré mà theo cách lý giải của dân gian là “cù lao

có nhiều cây Ré”

Đảo Lý Sơn được hình thành do sự kiến tạo địa chấn với sự phun trào nham thạch của núi lửa cách ngày nay khoảng 25-30 triệu năm Trên đảo vẫn có 5 hòn núi đều có những trầm tích của núi lửa phun

Kết quả khai quật, nghiên cứ khảo cổ cho thấy cách đây khoảng 3000 năm, cư dân thời tiền sử thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã cư trú trên đảo Lý Sơn Họ sống quần cư dọc theo hai dòng suối nước ngọt cổ (suối Ốc và suối Chình) Kinh tế chủ yếu của họ

là khai thác biển, món ăn truyền thống là sò ốc và cá

Kế tục văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa Chăm pa – phát triển từ những thế kỷ đầu công nguyên Vết tích văn hóa vật chất của họ được để lại qua các dấu tích chứa trong tầng văn hóa lớp trên của di chỉ Xóm Ốc và Suối Chình

Cư dân Việt đến khai khẩn làng mạc trên đảo vào khoảng cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII Họ là những ngư dân vùng An Hải, Sa Kỳ của huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh Bao gồm 15 ông tiền hiền của 15 dòng họ lớn, họ di cư ra đảo phần chia khu vực

cư trú ở phía đông và phía tây đảo Lý Sơn

Lịch sử đảo Lý Sơn còn gắn liền với các khối cộng đồng cư dân khác đã sinh sống trên đảo từ hàng nghìn năm trước Ba lớp cư dân Sa Huỳnh – Chăm pa – Việt đã gắn bó chặt chẽ với sự hình thành và phát triển của đảo Lý Sơn Họ đã bảo vệ chủ quyền hòn đảo và để lại nhiều di sản văn hóa vô cùng giá trị đến nay vẫn được bảo tồn

Trang 29

quyết liệt Trong bối cảnh đó Đảng và Chính Phủ ta nghiêm túc phân tích và đánh giá đầy

đủ vị trí chiến lược quan trọng của Đảo Lý Sơn trên vùng biển Việt Nam và chủ trương tách Lý Sơn ra khỏi huyện Bình Sơn để thành lập một huyện mới thuộc tỉnh Quảng Ngãi Ngày 01/01/1993 huyện Đảo Lý Sơn chính thức được thành lập theo Quyết Định số 337/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ)

2.1.2 Đặc điểm địa lí tự nhiên

2.1.2.1 Vị trí địa lí

Lý Sơn là huyện đảo của tỉnh Quảng Ngãi với diện tích 9,98 km2

nằm ở phía Đông Bắc, cách đất liền khoảng 15 hải lí (24 km), gồm 2 đảo: đảo lớn hay còn gọi là

Cù Lao Ré và đảo Bé hay còn gọi là Cù Lao Bờ Bãi, giới hạn trong tọa độ địa lí:

- Đảo lớn (Cù Lao Ré) gồm 2 xã An Vĩnh và An Hải: từ 15o32’04” đến 15o

Địa hình đảo Lý Sơn nhìn chung tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình

20-30 m Trên đó có 5 ngọn đồi dạng bát úp được hình thành do hoạt động của núi lửa trong đó cao nhất là đồi Thới Lới 169 m, giếng Tiền và hòn Sỏi, xung quanh các chân đồi địa hình có dạng bậc thềm, dốc từ 8o

-15o

Dạng địa hình nguồn gốc núi lửa chiếm tới 70% diện tích đảo Theo hình thái nguồn gốc gồm: sườn vòm núi lửa, sườn họng núi lửa, đáy họng núi lửa và bề mặt lớp

phủ bazan, là vùng tập trung sản xuất nông nghiệp Đây là dạng địa hình quan trọng để

dự kiến bố trí các lỗ khoan điều tra nguồn nước dưới đất

Địa hình nguồn gốc biển gồm: vách mài mòn- bóc mòn, bãi biển mài mòn, bãi biển mài mòn- tích tụ Bãi biển mài mòn tích tụ và thềm tích tụ tạo thành đồng bằng nghiêng thoải, hơi lượn sóng, độ dốc dưới 8o Đây là vùng tập trung dân cư và là địa bàn sản xuất nông nghiệp trọng điểm của huyện Lý Sơn

Địa hình bờ biển của đảo Lý Sơn phần lớn là các vách và hốc sóng vỗ tạo nên các hang hốc khá đẹp (hang Câu, chùa Hang,…) Chính dạng địa hình vách dốc này đã

tạo những nét hùng vĩ có giá trị về du lịch cho đảo Lý Sơn

tế Hu

ế

Trang 30

2.1.2.2 Khí hậu

Lý Sơn chịu tác động chung khí hậu nhiệt đới gió mùa trên vùng biển nhiệt đới nóng Do nằm ở vĩ độ thấp nên chế độ nắng thuộc loại dồi dào nhất trong số các đảo ven bờ ở nước ta, với tổng giờ nắng trung bình năm khoảng 2430 giờ/năm Nguồn nhiệt cao và độ nắng lớn có thể khai thác cho các hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng, đồng thời có thể sử dụng nguồn quang năng này để bố trí các trạm điện mặt trời phục vụ nhu

cầu năng lượng của cư dân trên đảo Tuy nhiên, chính nhiệt cao nắng lớn lại làm tăng

bốc hơi, mà lượng bốc hơi lớn sẽ làm giảm trữ lượng tất cả các nguồn nước trên đảo

Mùa mưa ở đảo Lý Sơn từ tháng IX đến tháng II năm sau, lượng mưa tập trung vào mùa mưa chiếm khoảng 75%, với tổng lượng mưa khá lớn khoảng 2228 mm/năm Mùa khô từ tháng III đến tháng VIII, thời tiết khô nóng do ảnh hưởng của gió mùa tây nam Độ ẩm không khí trung bình trên đảo khoảng 85%

2.1.3 Dân cư, kinh tế- xã hội

2.1.3.1 Dân cư và văn hóa xã hội

b Văn hóa xã hội

Lý Sơn đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ và đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS Hiện nay, toàn huyện có 1 trường THPT với 950 học sinh, 2 trường THCS, 4 trường tiểu học, 3 trường mầm non Tổng số học sinh các cấp là 5380

em, bình quân cứ 3 người dân có 1 người đi học, tỉ lệ tốt nghiệp các cấp hàng năm đạt

từ 90 - 100%, tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp bình quân hàng năm đạt khoảng 30%

Y tế: Toàn huyện có 1 Trung tâm y tế và 1 Trạm y tế xã Tổng số giường bệnh là

50 giường, tổng số y bác sĩ là 9 người, công suất sử dụng giường bệnh đạt từ 40 - 50% Tuy nhiên, cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên môn từ tuyến huyện đến tuyến xã hiện nay còn thiếu thốn, lạc hậu nên chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân

tế Hu

ế

Trang 31

Văn hóa: Hiện nay, trên địa bàn huyện có 3 di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc

Gia (Đình làng An Hải, Chù Hang, Âm Linh Tự) và 6 di tích lực sử văn hóa cấp tỉnh Ngoài ra, ở Lý Sơn còn có các đình, miếu, dinh, chùa, giếng Vua (giếng Gia Long), các danh lam thắng cảnh khác như Hang Câu, Cổng Tò Vò, Hòn Đụn,

Đặc biệt, trong lòng đất Lý Sơn còn ẩn chứa nhiều di chỉ Văn Hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm Pa đã được các nhà khảo cổ học khai quật Ngoài ra Lý Sơn còn lưu giữ nhiều lễ hội như: Lễ cầu siêu, Lễ tế Thanh Minh, Lễ hội đua thuyền, các trò chơi dân gian, đặc biệt là Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa

Bên cạnh đó thì ẩm thực cũng là một trong những nét văn hóa độc đáo và đặc

sắc của Lý Sơn với các loại rượu vú (hải sâm), ốc, mực, tôm, cua, cá,… Đây là những nguồn tài nguyên rất có giá trị cho việc nghiên cứu văn hóa lịch sử và phát huy tiềm năng du lịch ở Lý Sơn

Lao động thương binh xã hội: Toàn huyện có 52 liệt sĩ, 38 thương bệnh binh, 1 mẹ

Việt Nam Anh hùng, 322 gia đình có công với cách mạng Công tác chăm sóc gia đình

thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng luôn được quan tâm đúng mức

2.1.3.2 Kinh tế trên đảo Lý Sơn

Nền kinh tế huyện đảo Lý Sơn gồm các ngành chính: Thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp- xây dựng và dịch vụ- du lịch Do đặc thù vùng đảo nên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Lý Sơn còn chậm Lĩnh vực kinh tế

Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế năm 2016 (giá so sánh 2010) đạt

1.355.117 triệu đồng, tăng 7,69% so với năm trước và đạt 98,55% kế hoạch năm

Tỷ trọng cơ cấu các ngành kinh tế năm 2016 (theo giá thực tế): nông nghiệp (nông, thủy sản) chiếm: 55% (nông nghiệp chiếm 11%; thủy sản chiếm 44%) ; thương mại - dịch vụ chiếm: 34%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm: 11% Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng định hướng, đó là tăng giá trị sản xuất thương mại -

dịch vụ trong tổng các ngành kinh tế của huyện

Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 tính theo giá thực tế đạt: 22,3 triệu đồng/người/năm, tăng 1,3 triệu đồng so với năm trước

tế Hu

ế

Trang 32

a Nông, lâm, ngư nghiệp

giảm 4,0% so với năm trước và đạt 92% kế hoạch, trong đó:

Nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi): giá trị sản xuất đạt 85.247 triệu đồng, giảm

17,15% so với năm trước và đạt 77,99% kế hoạch Trong đó, giá trị trồng trọt đạt 79.015 triệu đồng, giảm 17,37% so với năm trước và đạt 76,85% kế hoạch; giá trị chăn nuôi đạt 6.232 triệu đồng, giảm 14,37% so với năm trước và đạt 96,07% kế hoạch

Một số cây trồng chủ yếu là: Cây Tỏi: diện tích trồng 336 ha, năng suất (tỏi khô) 24,55 tạ/ha, sản lượng 825 tấn, giảm 1.832 tấn so với năm trước và đạt 29,84% kế

hoạch năm, vụ Tỏi năm 2015-2016 mất mùa nặng; cây Hành: diện tích trồng 525 ha, năng suất 136,6 tạ/ha, sản lượng 7.130 tấn, tăng 28,65% so với năm trước và đạt 128,24% kế hoạch năm Ngoài ra còn trồng một số loại cây khác như: Ngô, đậu

phụng, Vừng (Mè)

Lâm nghiệp: Công tác triển khai thực hiện Dự án trồng rừng phòng hộ cảnh

quan môi trường huyện, đến nay đã trồng được 83,8 ha/118ha (đạt 71%) và 1.657 cây

cảnh quan, trong đó: tỷ lệ cây sống đạt 78% Tổ chức ra quân trồng 150 cây dừa xiêm lùn nhân dịp Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Thân

2016, tỷ lệ cây sống đạt 90% và trồng được 1.270 cây dừa xiêm lùn tại xã An Bình, tỷ

lệ cây sống đạt 100% (tuy nhiên một số cây chậm phát triển) Tỷ lệ độ che phủ rừng hiện nay đạt 19,1%

Thu ỷ sản: Sản lượng khai thác hải sản đạt 37.810 tấn (giảm 1.044 tấn so với

năm trước), giá trị sản xuất đạt 744.243 triệu đồng, giảm 2,69% so với năm trước và đạt 94,41% kế hoạch năm Hiện có 417 chiếc tàu thuyền, tổng công suất 64.848 CV (tăng 02 chiếc, tăng 5.107 CV)

Nuôi trồng thủy sản: hiện còn 55 bè nuôi thủy sản, với 1.491 lồng, diện tích

khoảng 05 ha, số lượng tôm Hùm khoảng 45.000 con, cá Bớp 28.635 con, so với năm trước số bè nuôi giảm 07 bè, giảm 189 lồng, giảm 3.399 con tôm Hùm và 24.000 con

cá Bớp; giá trị nuôi trồng thủy sản đạt 7.250 triệu đồng, tăng 2,27% so với năm trước

Trang 33

b Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp: Giá trị sản xuất đạt 111.008 triệu

đồng, tăng 34,79% so với năm trước và đạt 112,37% kế hoạch Toàn huyện, có 326 cơ

sở, tăng 03 cơ sở so với năm trước, các cơ sở sản xuất chủ yếu tập trung vào những nghề như: khai thác đá xây dựng, sản xuất đá lạnh, đồ gỗ, cơ khí nhỏ phục vụ cho các

lĩnh vực xây dựng, ngư nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân

c Thương mại, dịch vụ, du lịch: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt

407.369 triệu đồng, tăng 35,25% so với năm trước và đạt 111,62% kế hoạch Toàn huyện, hiện có 998 cơ sở kinh doanh, tăng 100 hộ so với năm trước, thu hút 1.504 lao động tham gia Trong năm, các cơ quan chức năng đã phối hợp với Đội quản lý thị trường số 6 thường xuyên kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành các quy định của pháp

luật trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn huyện, qua kiểm tra hầu hết các hộ kinh

doanh đều chấp hành tốt

Giao thông đường thủy: UBND huyện đã phối hợp với Sở Giao thông vận tải tỉnh

thực hiện phân chuyến vận chuyển hành khách và hàng hóa, đảm bảo lưu thông an toàn, nhất là trong dịp Lễ, Tết Tổng doanh thu hành khách và hàng hóa từ đầu năm đến nay đạt 55.811 triệu đồng, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước và đạt 116,9% kế hoạch năm

Đối với tuyến vận tải Đảo Lớn - Đảo Bé: Chỉ đạo các cơ quan liên quan tăng

cường thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông; đồng thời, quán triệt các

chủ phương tiện đảm bảo chạy đúng phiên, đúng giờ, thực hiện đúng quy định về số lượng khách được chở, đảm bảo tốc độ và an toàn cho hành khách Đến nay, hoạt động

vận tải trên tuyến cơ bản đi vào nề nếp, đảm bảo lưu thông thuận lợi, an toàn

Giao thông đường bộ: Ban An toàn giao thông huyện, Công an huyện thường

xuyên phối hợp tuần tra, kiểm soát nhằm phát hiện và ngăn chặn tình trạng như: chở quá số người quy định, không đội mũ bảo hiểm, xe vận tải kém chất lượng nhưng vẫn hoạt động…; đã phát hiện và xử phạt 434 trường hợp, nộp ngân sách Nhà nước hơn

327 triệu đồng, cảnh cáo nhắc nhở 15 trường hợp

Đã chỉ đạo triển khai 02 đợt nạo vét đất, đá ở trục đường Trung tâm huyện

nhằm đảm bảo giao thông được thuận lợi và tạo mỹ quan sạch, đẹp

phương tiện từng bước được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ du khách và nhân dân Toàn huyện, có 35 nhà nghỉ, 04 khách sạn, 54 hộ kinh doanh homestay; có 27 xe 16

chỗ; 12 xe 07 chỗ; 32 xe Tuktuk; 09 chiếc taxi và nhiều nhà hàng, quán ăn cơ bản đáp ứng

tế Hu

ế

Trang 34

nhu cầu đi lại, ăn, nghỉ của khách du lịch Tổ chức thành lập chi hội du lịch Lý Sơn khoảng 40 thành viên; mở nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ phục vụ du lịch cho nhà nghĩ, khách sạn…Qua đó, đã góp phần nâng cao nhận thức của những người trực tiếp làm công tác phục vụ du lịch Năm 2016 lượng du khách đến với Lý Sơn tăng cao với 164.900lượt khách (trong đó có 933 lượt khách quốc tế), tăng 69.900 lượt khách so với năm 2015

2.1.4 Môi trường

Công tác môi trường: Tổ chức triển khai các văn bản liên quan đến Luật Môi

trường, biển và hải đảo cho nhân dân; tập huấn phân loại rác tại nguồn cho nhân dân;

tiến hành cắm biển cấm đổ rác, đổ rác đúng nơi quy định Thường xuyên chỉ đạo ra quân dọn, dẹp vệ sinh môi trường; phối hợp với các đơn vị tự nguyện ra thực hiện thu gôm, xử lý các điểm gây ô nhiễm môi trường Đồng thời, để thực hiện tốt công tác đảm bảo vệ sinh môi trường trong những năm tới, huyện đang triển khai thực hiện dự

án khu nghĩa địa tập trung huyện Lý Sơn, với quy mô 4,55ha

chỉ đạo cơ quan chức năng theo dõi hoạt động thu gôm và xử lý rác, kịp thời đề nghị Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng Đa Lộc tăng cường công tác thu gôm và xử lý rác trên địa bàn huyện, tuy nhiên trong thời gian qua hoạt động thu gom và xử lý rác vẫn thực hiện chưa tốt

Chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với UBND các xã thường xuyên kiểm tra, ngăn chặn việc khai thác nguồn nước ngầm trái phép; qua theo dõi kiểm tra, phát

hiện 05 giếng khoan trái phép, UBND huyện đã chỉ đạo Chủ tịch UBND xã An Hải thực hiện xử phạt hành chính đối với các chủ khoan và thực hiện việc trám lấp 05

giếng khoan trái phép, đến nay đã thực hiện nhắc nhở các chủ khoan giếng và trám lấp

03 giếng; phối hợp với Đoàn công tác của Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh kiểm tra thực địa để khoanh định khu vực khai thác cát biển, phục vụ cho việc quy hoạch cấp phép khai thác cát biển

2.2 Thực trạng du lịch trên địa bàn huyện Lý Sơn

2.2.1 Đặc điểm hoạt động du lịch ở địa bàn huyện Lý Sơn

a Cơ sở vật chất trên đảo

Theo phòng Văn hóa - Thông tin huyện Lý Sơn, đến cuối năm 2016 toàn huyện

có 04 khách sạn, 35 nhà nghỉ, 54 homestay với tổng số 743 phòng: Trong đó khách sạn

tế Hu

ế

Trang 35

167 phòng, nhà nghỉ 440 phòng; homestay 136 phòng 01 giường 161; 2 giường 204;

03 giường 16 và có 10 tàu cao tốc phục vụ du khách từ đất liền ra đảo tương ứng hơn hơn 1100 khách mỗi ngày, có hơn 10 xuồng vận chuyển khách du lịch sang đảo bé, có

27 xe 16 chỗ; 12 xe 07 chỗ; 32 xe Tuktuk; 09 chiếc taxi và nhiều nhà hàng, quán ăn cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn, nghỉ của khách du lịch

b Các địa điểm du lịch trên đảo

Trên đảo có các điểm du lịch lý tưởng để du khách khám phá, một số địa điểm

và lễ hội tại đảo:

Hình 2.1 Ảnh bãi tắm Đảo bé Hình 2.2 Ảnh chùa Đục

Hình 2.3 Ảnh núi Thới Lới Hình 2.4 Ảnh chùa cổng Tò Vò

Hình 2.5 Lễ hội đua thuyền Tứ Linh được tổ chức hàng năm vào dịp Tết nguyên đán

tế Hu

ế

Trang 36

 Đảo Bé

Nằm cách đảo Lớn khoảng 3 hải lý về phía tây bắc, xã đảo An Bình (còn gọi là đảo Bé), huyện đảo Lý Sơn rộng chưa đầy 1 km2, có khoảng 100 hộ dân sinh sống.nơi đây có di tích Bãi Sau được tạo nên từ vách đá trầm tích núi lửa hàng triệu năm, mọi người có thể thả mình trong làng biển trong xanh, có thể tham gia lặn biển để ngắm san hô nơi đây

 Cổng Tò Vò

cổng Tò Vò ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi là một “vòm cổng” bằng đá cao khoảng 2,5m, có hình thù ngoạn mục, và hoàn toàn không có sự tác động nào của bàn tay con người Cổng Tò Vò được hình thành từ nham thạch núi lửa, là kết quả của hàng triệu năm núi lửa hoạt động tại đây Quanh Cổng Tò Vò là những bãi đá nham

thạch đen bóng, hình thù kỳ lạ nhấp nhô trên làn nước trong veo của đảo Lý Sơn Là cảnh đẹp thiên nhiên bang tặng bạn không thể bỏ qua

 Chùa Hang

Chùa Hang là một hang động tự nhiên do thiên nhiên bang tặng, người dân đảo thờ phật và các vị tiền hiền có công ra khai hoang mở đất ở đảo, trước chùa có hai cây bang vuông to chê mát toàn bộ ngôi chùa, tạo không gian mát mẻ vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông nhìn ra ngoài sân chùa là biển , phía trên chùa là núi Thới Lới tạo nên một địa điểm nổi bật kết hợp sơn thủy hoài hòa, là một địa điểm du khách không thể bỏ qua

 Hang Câu

Hang Câu nằm ở thôn Đông, xã An Hải (Lý Sơn) dưới chân núi Thới Lới Hang Câu được tạo thành từ sóng biển xâm thực và bào mòn tạo thành một cái hang bên trong núi được hình thành cách đây hàng nghìn năm từ nham thạch Ở nơi đây cảnh vật hoang sơ, quyết rũ được tạo từ các lớp đá trầm tích, trước hang là bãi biển gần

ghềnh, gồ ghề tạo nên những hình thù độc lạ thu hút du khách

 Chùa Đục

Chùa Đục tọa lạc tại thôn Tây, An Vĩnh (Lý Sơn) Trước chùa là một tượng

phật Bồ- tát Quan Thế Âm, cao 25 mét hướng ra biển, theo quan niệm người dân thì tượng phật có một ý nghĩa rất lớn đối với người dân nhằm để bảo vệ họ khỏi những cơ bão và đem lại bình an cho người dân đảo Trước chùa là biển nên mọi người có thể

tế Hu

ế

Trang 37

ngó ra biển, phía trên đỉnh chùa là một miệng núi lửa phun trào hàng nghìn năm, tương truyền ngày xưa có hai vị tiên chơi cờ trên đỉnh núi và để lại dấu tích là một bàn cờ tiên Từ những câu chuyện và cảnh vật nơi đây tạo nên một cảnh đẹp hang sơ, thần bí cho du khách

 Núi Thới Lới

Nếu nhìn từ đất liền ra vào một ngày đẹp trời, có thể thấy Lý Sơn kiêu hãnh vươn ra biển với hình một hình chóp nhô lên, đó chính là đỉnh núi Thới Lới Trong 5 ngọn núi hình thành nên đảo Lý Sơn thì núi Thới Lới được xem núi cao nhất ở đảo, núi

Thới Lới toàn đá, đường đi lên núi uống lượn tạo nên một cung đường tuyệt đẹp, ở

giữa núi là miệng núi lửa đã ngừng hoạt động nên chính quyền ngăn dòng chảy xây dựng một cái đập tạo thành một hồ nước không chỉ để phục vụ tưới tiêu cho người dân

mà còn tạo nên một nước trên cao tuyệt vời Ngoài ra trên núi còn có cột mốt chủ quyền biển đảo để khẳng định chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc Việt Nam Không gì

có thể tuyệt hơn khi được trên đỉnh núi ngắm hầu hết đảo, có thể ngắm biển, các cánh đồng trên đảo

Ngoài các điểm du lịch trên thì du khách có thể tham quan, nhà trưng bày Đội Hoàng Sa nơi đây sẽ tái hiện lại một thời lịch sử Ông,Cha ta cử người ra kiêm quản Hoàng sa lúc bây giờ Du khách có thể thăm các di tích đình làng An Hải, An Vĩnh cũng như các chùa và dinh miếu trên đảo

 Các lễ hội và trò chơi trên đảo

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được tổ chức vào tháng 3 âm lịch hàng năm,

nhằm để tưởng nhớ các người lính thời xưa đi ra Hoàng Sa, Trường Sa mà không thể

trở về nên làm lễ tưởng nhớ Du khách có thể hòa mình vào người dân địa phương để xem các nghi lễ, và tưởng nhớ những người đã huy sinh cho đất nước

Lễ hội đua thuyền Tứ Linh rõ ràng không chỉ đơn thuần mang tính giải trí Lễ

hội này được duy trì từ lâu đời chính vì ý nghĩa to lớn của nó: tưởng nhớ những người đã

vì sự nghiệp Tổ quốc mà ngã xuống của các bậc tiền nhân, các đội hùng binh Hoàng Sa, Trường Sa đã cống hiến tuổi trẻ của mình cho những con sóng lớn Đồng thời, lễ hội cũng như một dịp thường niên để người dân được nguyện cầu cho một năm đầy may mắn, nông nghiệp và ngư ngiệp phát triển, thuyền to cá lớn, ngư dân được bình an trở về

tế Hu

ế

Trang 38

Dân đảo Lý Sơn hàng năm đều háo hức đến những ngày Tết nguyên đán, chính là thời điểm hội đua thuyền đầu xuân diễn ra Trong thời điểm ý nghĩa ấy, không chỉ có người dân Lý Sơn mà hàng trăm du khách từ khắp nơi đổ về đều một lòng hướng về biển cả, vui xuân mới với các trò chơi sinh hoạt dân gian độc đáo trên đảo

Ngoài tham gia vào các lễ hội du khách có thể thể tham gia vào lặng biển, có thể

đi câu cá, có thể hóa thân vào người dân địa phương để làm tỏi, làm hành

2.2.2 Đặc điểm khách du lịch

2.2.2.1 Tình hình thu hút khách du lịch trên đảo

Theo phòng Văn hóa - Thông tin huyện Lý Sơn, năm 2016 vừa qua có l164.902 lượt khách du lịch đến Lý Sơn trong đó khách nội địa 163.969 người, khách quốc tế

933 người, doanh thu đạt gần 198 tỷ đồng

Bảng 2.1 Lượt du khách ra đảo và doanh thu từ du lịch trong giai đoạn 2011-2016 NĂM TỔNG LƯỢT KHÁCH

(người)

NỘI ĐỊA (người)

QUỐC TẾ người)

DOANH THU (đồng)

( Nguồn :phòng Văn hóa - Thông tin huyện Lý Sơn , năm 2016)

Qua bảng thống kê cho thấy lượng khách du lịch ra đảo tăng đột biến trong năm

2013, từ 8.700 lượt khách năm 2012 đến năm 2013 là 28.854 lượt khách tăng hơn gấp 3

lần Sự tăng đột biến so với các năm trước mà nguyên nhân là trong năm có nhiều sự

kiện lớn xảy ra như: tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa và sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, Lý Sơn giữ những tư liệu về chủ quyền Hoàng Sa, từ đó người dân trong cả nước quan tâm đến biển đảo hơn, mà Lý Sơn là một nơi gần quần đảo Hoàng Sa, mà Hoàng Sa là nơi mà cả nước quan tâm nhất thời điểm đó, từ lúc đó lượt khách du lịch đến đảo tăng lên mỗi năm, cụ thể là năm 2016 có tới 164902 lượt khách ra đảo gấp 20,11 lần so với năm 2011, doanh thu cũng tăng 20,1 lần so với năm 2011 từ 9.484 triệu đồng lên 197.822 triệu đồng, đây là một con số ấn tượng để Lý Sơn tiếp tục đánh thức

tế Hu

ế

Trang 39

và phát triển tìm năng du lịch của mình và làm cho du lịch Lý Sơn trở thành điểm đến lý tưởng vừa hoang sơ, quyến rủ du khách trong nước và quốc tế

Bên cạnh đó cũng thấy những hạn chế đó là khách du lịch nội địa năm 2016 là

163969 lượt khách (chiếm đến 99,43%) và khách quốc tế là 933 lượt khách (chiếm 0,57%) quá thấp Do vậy, cần phải chú trọng quảng bá hình ảnh du lịch đảo Lý Sơn ra

với quốc tế để biết đến đảo nhiều hơn

2.2.2.2 Phân loại theo mục đích du lịch

Qua kết quả khảo sát cho ta thấy khách du lịch đến đảo với nhiều mục đích khác nhau, trong đó mục đích là tham quan tìm hiểu và vui chơi giải trí là chính với tỷ lệ phần trăm lần lượt là 46,7% và 35%; qua đó chúng ta cần duy trình và phát triển các loại hình vui chơi giải trí để giữ khách lại nhiều hơn để đám ứng nhu cầu của du khách; đảo là một nơi tương đối xa lạ với các du khách ở đất liền họ sẽ có cảm giác đi thuyền ở giữa biển như thế nào, cuộc sống ở đảo ra sao đó chính là khám phá, chinh phục chiếm 15% và nghiên cứu chiếm 3,3%, và cụ thể thể thông qua bảng sau:

Bảng 2.2 Thể hiện mục đích du khách đến với đảo Mục đích đi du lịch Tổng số người trả lời Tỷ lệ %

Tham quan tìm hiểu 28 46,70 Khám phá, chinh phục 9 15,00 Nghiên cứu 2 3,30 Vui chơi giải trí 21 35,00 Tổng số người trả lời 60 100,00

(Nguồn: Kết quả điều tra và xử lý, 2017)

Kết quả khảo sát các nguồn thông tin mà du khách biết đến đảo Lý Sơn tương đối đa dạng và chủ yếu biết qua nguồn Internet chiếm đến 41,7% và bạn bè người, người thân chiếm 30% tiếp đến là chương trình du lịch chiếm 11,7%, phương tiện truyền thông chiếm 10%, thông qua công ty du lịch chiếm 5% và còn lại sách vở chiếm 1,7%; qua đó cho thấy internet rất quan trọng để quảng bá hình ảnh du lịch đến với mọi người vì đa số mọi người điều biết và sử dụng internet để xem các thông tin, một yếu tố không thể thiếu để quyết định

đi du lịch Lý Sơn đó là bạn bè, người thân vì những bạn bè, người thân đã đặt chân du lịch

tế Hu

ế

Ngày đăng: 10/07/2018, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w