1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác và phát triển nguồn gen bảy lá một hoa (paris chinensis franch ) và huyết rồng lào (spatholobus suberectus dunn ) làm nguyên liệu sản xuất thuốc

21 478 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 38,89 MB
File đính kèm Bảy lá một hoa, Huyết rồng lào.rar (32 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ. Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc. Khoảng 2500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới. Có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543. ỞChâu Á có 1700 loài ở Ấn Độ, 5000 loài ở Trung Quốc. Trong đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại. Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt. Hiện nay, chỉ có vài trăm loài được trồng, 2050 loài ở Ấn Độ, 100250 loài ở Trung Quốc, 40 ởHungari, 130140 ở Châu Âu. Những phương pháp trồng truyền thống đang dần được thay thế bởi các phương pháp công nghiệp ảnh hưởng tai hại đến chất lượng của nguồn nguyên liệu này. 1993 WHO (Tổ chức Y tế thếgiới), IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế ) và WWF (Quỹ hoang dã thế giới) ban hành các hướng dẫn cho việc bảo vệ và sự khai thác cây thuốc được cân bằng với sự cam kết của các tổ chức. Theo thống kê của ngành Lâm nghiệp, diện tích rừng ở nước ta từ 14,3 triệu héc ta vào năm 1943, đến năm 1993 chỉ còn khoảng 9,3 triệu héc ta (Bộ Lâm nghiệp, 1995). Trong đó, diện tích rừng nguyên thủy còn lại không tới 1% tổng diện tích lãnh thổ (Averyanov, L. V. et al., 2004). Rừng bị phá hủy sẽ làm cho toàn bộ tài nguyên rừng ở đó bị mất đi, trong đó có cây làm thuốc và còn kéo theo nhiều hậu quả khác (Nguyễn Tập, 2007). Trong khi đó xu hướng trở về với thiên nhiên, tìm kiếm nguồn thuốc mới từ cây cỏ, sử dụng thuốc từ thảo dược trên thế giới ngày càng tăng. Việt Nam vốn được đánh giá là nước có nguồn dược liệu tự nhiên phong phú và đa dạng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc. Đất đai và khí hậu phù hợp với nhiều loài cây trồng, trong đó có nhiều loài cây thuốc quý xuất xứ từ các nguồn khác nhau. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đang ngày một cạn kiệt, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, cây dược liệu nuôi trồng đang bị thu hẹp hoặc phát triển một cách tự phát mất cân đối. Sự giảm sút nguồn dược liệu có nhiều nguyên nhân, có thể chủ quan lẫn khách quan như chiến tranh, sự khai thác tràn lan, trình độ nhận thức con người còn hạn chế nhất là tại vùng miền núi nơi có nhiều tài nguyên sinh vật... Hơn nữa trước yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội đời sống chúng ta đang phải đối mặt mâu thuẫn giữa cung và cầu, bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này. Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và nguồn cây dược liệu nói riêng đang là vấn đề cấp bách được đặt lên hàng đầu. Bởi vì bảo vệ tài nguyên sinh vật là chúng ta đang bảo vệ sự cân bằng sinh thái, bảo vệ sự đa dạng sinh học và môi trường, bảo vệ chính chúng ta về sức khỏe, kinh tế, văn hóa, ... Hơn nữa, phát triển dược liệu trong giai đoạn tới cũng mở ra cơ hội rất lớn cho việc giao thương, tham gia thị trường quốc tế về dược liệu và dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên. Để phát huy tiềm năng của nguồn dược liệu nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe của con người đòi hỏi phải có giải pháp hiệu quả, một trong số đó là vấn đề xây dựng tiêu chuẩn cho cây dược liệu, đây là cũng là yêu cầu cấp bách đặt ra để bảo tồn nguồn gen quý. Để có thể sử dụng dược liệu làm nguyên liệu làm thuốc đòi hỏi chúng ta phải xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng, đồng thời xây dựng các phương pháp để đánh giá các tiêu chuẩn đó. Kê huyết đằng, một dược liệu quý có tác dụng chữa trị rất nhiều bệnh cũng cần phải có một tiêu chuẩn chất lượng cụ thể trước khi đưa vào sử dụng làm nguyên liệu thuốc, vì vậy vấn đề “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cây giống gốc huyết rồng lào” là vấn đề cấp thiết.

Trang 1

Tên nhiệm vụ: Khai thác và phát triển nguồn gen Bảy lá một hoa (Paris chinensis Franch.) và Huyết rồng lào (Spatholobus suberectus Dunn.) làm

nguyên liệu sản xuất thuốc

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CÂY GIỐNG GỐC HUYẾT

RỒNG LÀO

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1.Thực vật học 5

1.1.1.Tên gọi 5

1.1.2.Phân loại 5

1.1.3.Mô tả đặc điểm 5

1.1.4.Phân bố, sinh thái 6

1.1.5.Bộ phận thu hái, sơ chế 6

1.2.Thành phần hóa học 7

1.3.Tác dụng, công dụng 7

1.3.1.Tác dụng dược lí 7

1.3.2.Công dụng và cách dùng 8

1.3.2.1.Chữa thiếu máu, hư lao 9

1.3.2.2.Chữa tê thấp, nhức mỏi gân xương 9

1.3.2.3.Chữa đau dây thần kinh hông 9

1.3.2.4.Chữa đau lưng 9

1.3.2.5.Chữa đau các khớp tứ chi 9

1.3.2.6.Chữa viêm khớp dạng thấp 9

1.3.2.7.Chữa kinh nguyệt không đều 9

1.4.Tiêu chuẩn cơ sở của cây giống gốc Huyết rồng lào theo quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống và vườn gốc (QPN 15-93) 10

1.4.1 Điều kiện gây trồng 10

1.4.2 Cây con giống 10

1.4.3.Thiết kế và trồng ngoài vườn rừng 11

1.4.4 Chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ cây Huyết rồng lào ngoài vườn rừng 12 II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Nội dung nghiên cứu 14

Trang 3

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14

2.3 Phương pháp nghiên cứu 14

PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15

3.1.Xác định chiều cao cây giống 15

3.2 Xác định đường kính thân 15

3.3.Xác định đặc điểm bộ lá 16

3.4.Đánh giá tỷ lệ sống của các hom thu được từ các cây giống gốc sau 12 tháng trồng 17

3.5 Tiêu chuẩn cây giống gốc 18

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trênthế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ

Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc.Khoảng 2500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới Có ít nhất 2000 cây thuốcđược sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543 ỞChâu Á có 1700 loài ở Ấn

Độ, 5000 loài ở Trung Quốc Trong đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại

Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây thuốc tựnhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bịthu hái cạn kiệt

Hiện nay, chỉ có vài trăm loài được trồng, 20-50 loài ở Ấn Độ, 100-250loài ở Trung Quốc, 40 ởHungari, 130-140 ở Châu Âu Những phương pháptrồng truyền thống đang dần được thay thế bởi các phương pháp công nghiệpảnh hưởng tai hại đến chất lượng của nguồn nguyên liệu này

1993 WHO (Tổ chức Y tế thếgiới), IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên

và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế ) và WWF (Quỹ hoang dã thế giới) ban hànhcác hướng dẫn cho việc bảo vệ và sự khai thác cây thuốc được cân bằng với sựcam kết của các tổ chức

Theo thống kê của ngành Lâm nghiệp, diện tích rừng ở nước ta từ 14,3triệu héc ta vào năm 1943, đến năm 1993 chỉ còn khoảng 9,3 triệu héc ta (BộLâm nghiệp, 1995) Trong đó, diện tích rừng nguyên thủy còn lại không tới 1%tổng diện tích lãnh thổ (Averyanov, L V et al., 2004) Rừng bị phá hủy sẽ làmcho toàn bộ tài nguyên rừng ở đó bị mất đi, trong đó có cây làm thuốc và cònkéo theo nhiều hậu quả khác (Nguyễn Tập, 2007) Trong khi đó xu hướng trở vềvới thiên nhiên, tìm kiếm nguồn thuốc mới từ cây cỏ, sử dụng thuốc từ thảodược trên thế giới ngày càng tăng

Việt Nam vốn được đánh giá là nước có nguồn dược liệu tự nhiên phongphú và đa dạng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc Đất đai và khí hậu phùhợp với nhiều loài cây trồng, trong đó có nhiều loài cây thuốc quý xuất xứ từ cácnguồn khác nhau

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đang ngày một cạn kiệt,nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, cây dược liệu nuôi trồng đang

Trang 5

bị thu hẹp hoặc phát triển một cách tự phát mất cân đối Sự giảm sút nguồn dượcliệu có nhiều nguyên nhân, có thể chủ quan lẫn khách quan như chiến tranh, sựkhai thác tràn lan, trình độ nhận thức con người còn hạn chế nhất là tại vùngmiền núi nơi có nhiều tài nguyên sinh vật Hơn nữa trước yêu cầu của pháttriển kinh tế, xã hội đời sống chúng ta đang phải đối mặt mâu thuẫn giữa cung

và cầu, bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn tài nguyên quý giá này

Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và nguồncây dược liệu nói riêng đang là vấn đề cấp bách được đặt lên hàng đầu Bởi vìbảo vệ tài nguyên sinh vật là chúng ta đang bảo vệ sự cân bằng sinh thái, bảo vệ

sự đa dạng sinh học và môi trường, bảo vệ chính chúng ta về sức khỏe, kinh tế,văn hóa, Hơn nữa, phát triển dược liệu trong giai đoạn tới cũng mở ra cơ hộirất lớn cho việc giao thương, tham gia thị trường quốc tế về dược liệu và dượcphẩm có nguồn gốc tự nhiên

Để phát huy tiềm năng của nguồn dược liệu nhằm đáp ứng yêu cầu chămsóc sức khỏe của con người đòi hỏi phải có giải pháp hiệu quả, một trong số đó

là vấn đề xây dựng tiêu chuẩn cho cây dược liệu, đây là cũng là yêu cầu cấpbách đặt ra để bảo tồn nguồn gen quý Để có thể sử dụng dược liệu làm nguyênliệu làm thuốc đòi hỏi chúng ta phải xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng, đồngthời xây dựng các phương pháp để đánh giá các tiêu chuẩn đó

Kê huyết đằng, một dược liệu quý có tác dụng chữa trị rất nhiều bệnhcũng cần phải có một tiêu chuẩn chất lượng cụ thể trước khi đưa vào sử dụng

làm nguyên liệu thuốc, vì vậy vấn đề “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cây giống gốc huyết rồng lào” là vấn đề cấp thiết.

Trang 6

I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Thực vật học

1.1.1.Tên gọi

Kê Huyết Đằng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển),

Tên khác:Thuyêt đằng, Hoạt huyết đằng, Đại Hoạt Đằng (Biệt Lục), HồngĐằng (Bản Thảo Cương Mục), Huyết Phong Đằng (Trung Dược Chí), MãNhung Đằng, Tử Ngạnh Đằng (Vân Nam Tư Mao Trung Thảo Dược Tuyển),Trư Huyết Đằng, Cửu Tằng Phong (Quảng Tây Dược Vật Danh Lục), HồngĐằng, Hoạt Huyết Đằng (Vân Nam Dược Dụng Thực Vật Danh Lục), Đại HuyếtĐằng, Huyết Phong (Quảng Đông Dược Chí), Huyết Long Đằng, Ngũ TằngHuyết, Quá Chương Long (Quảng Tây Dược Chí), Huyết Đằng, Dây MáuNgười (Dược Liệu Việt Nam)

Họ ( Familia) Danh pháp khoa học Fabaceae, đồng

nghĩa: Leguminosae (hay Fabaceae sensu lato)

Tên danh pháp Callarya reticulata

1.1.3.Mô tả đặc điểm

Kê huyết đằng tên khoa học là Sargentodoxa cubeata (Oliv), dân gian còngọi là cây dây máu,là loại dây leo,thân gỗ to, khỏe, hình trụ tròn hoặc hơi dẹt,mặt cắt có những vòng gỗ đồng tâm hoặc không đồng tâm, nhựa màu đỏ nâugiống như máu gà Thân và lá non có lông tơ mịn.Cành lá nhẵn, lá mọc so legồm ba lá chét hình mác, đầu nhọn hoặc tù, mặt trên nhẵn, dưới có lông nhám

Lá kép gồm 5~7 hoặc 9 lá chét, cuống là kép dài Hoa màu vàng nâu, mọc thành

Trang 7

chùy ở đầu cành hoặc kẽ lá Cụm hoa hình chùy ở ngọn dài 15~20cm Hoa màu

đỏ dài 15mm, xếp rất sít nhau Quả dẹt, màu đỏ nâu dài 12cm, có 36 hạt Quảloại đậu, dẹt thường có một hạt màu nâu Chặt cây có nhựa màu đỏ chảy ra nhưmáu

1.1.4.Phân bố, sinh thái

Loài phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Camphuchia, Lào và Việt Nam Ở nước

ta, cây mọc ở bờ sông, trong các rừng thưa trên đất granít hay bazan tới độ caodưới 800m, ở một số tỉnh như Hà Giang tới Quảng Nam - Đà Nắng, Đắc Lắc,Bình Thuận, Đồng Nai, An Giang

Nhiều năm trước, cây thường được khai thác ở các tỉnh Hòa Bình, Hà Tây(cũ), Lạng Sơn, Cao Bằng và một số tỉnh vùng núi khác Gần đây, kê huyết đằng

ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị bị khai thác triệt để trong vòng 3 tháng trởlại đây với giá thu mua rất rẻ chỉ 3000đồng/ kg

Cây huyết rồng lào ( kê huyết đằng) thường mọc hoang trên núi, là loạicây dây leo nên chúng thường mọc dựa vào các thân cây to khác Rễ hay dâyđều có thể tùy nghi sử dụng và có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là vàotháng 8-10, chặt toàn cây, phơi khô, cắt bỏ lá và cành, có nơi cắt thành từngđoạn ngắn hay miếng mỏng rồi mới phơi hoặc đem sấy khô Theo Đông y, kêhuyết đằng có vị đắng, chát, hơi ngọt, tính ẩm không độc, có tác dụng bổ khíhuyết, thông kinh lạc, mạnh gân xương, điều hòa kinh nguyệt, đau mình mẩy,phong thấp đau lưng, đau xương khớp, chấn thương tụ máu, kinh nguyệt khôngđều, thống kinh

Ở các tỉnh của Trung Quốc như Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông,Quảng Tây, Vân Nam, kê huyết đằng mọc dây thân gỗ quanh năm và quấnquanh các thân cây khác Nở hoa vào tháng 8 hàng năm, hoa nở giống như hoađậu dài, tán hoa có màu hoa hồng rất đẹp Bề ngoài của cây không có vẻ gì thuhút sự chú ý nhưng khi chặt thân cây, phần thân gỗ của cây xuất hiện màu nâu

đỏ nhạt, sau dần chuyển sang màu đỏ tươi giống màu máu gà Sau khi kết đôngkết thành những chấm dạng sợi keo, màu đỏ sáng dần chuyển sang màu đen

1.1.5.Bộ phận thu hái, sơ chế

Thu Hái, Sơ Chế:Thu hái quanh năm, tốt nhất vào tháng 8~10 Chặt cây

về, cắt bỏ cành lá, Chọn thứ to, chắc

Bộ Phận Dùng:Dây vỏ mịn vàng Khi tươi, cắt ngang có nước nhựa đỏnhư máu chảy ra Khi khô, tiết diện có nhiều vòng đen do nhựa khô lại

Trang 8

Bào Chế: Rửa sạch, thái phiến, dùng sống (Đông Dược Học Thiết Yếu).Chọn thứ dây lớn và bé để riêng, ngâm thứ lớn độ 3 ngày, thứ bé ngâm 1~2 giờcho mềm, thái lát dày 2 ly, phơi khô.

Bảo Quản:Dễ mốc, cần để nơi khô ráo, mát, mùa mưa nên phơi sấythường xuyên

1.2.Thành phần hóa học

+ Trong Kê huyết đằng có Milletol ((Trung Dược Học)

+ Trong rễ, vỏ và hạt có Glucozit, Tannin, chất nhựa (Dược Liệu ViệtNam)

+ Friedelan-3-Alpha-Ol, Daucosterol, Beta Sitosterol, Sitosterol, Formononetin, Ononin,Prunetin, Afrormosin, Daidzein, 3,7-Dihydroxy-6-methoxy-dihydroflavonol, Epicatechin, Isoliquiritigenin, 2’, 4’, 3,4-tetrahydroxy chalcone, Licochalcone, Medicagol, Protocatechuic acid, 9-Methoxycoumestrol, Cajanin (Lâm Thành, Trung Thảo Dược 1989, 20 (2): 53)

7-Oxo-Beta-+Trong rễ có: Stigmast-5-ene-3 Beta-7 Alpha-Diol), 5

Alpha-Stigmastane-3 Beta, 6 Alpha-Diol (Fukuyama Y và cộng sự, Planta Med, 1988, 54 (1): Alpha-Stigmastane-34)

1.3.Tác dụng, công dụng

1.3.1.Tác dụng dược lí

Theo Đông y: Kê huyết đằng có vị ngọt, tính ấm, vào 3 y Can, Tâm,

Thận,có tác dụng bổ huyết hoạt huyết thư cân thông lạc Chủ trị bần huyết( thiếu máu), phụ nữ kinh nguyệt không điều hòa, bế kinh, phong tê thấp khớpxương đau nhức, chân tay tê dại Những năm gần đây còn được sử dụng để điềutrị chứng giảm bạch cầu do xạ trị

Kê đằng huyết còn có tính năng đặc biệt là bổ huyết mà không gây nề trệ,hành huyết mà không phá huyết ( xúc tiến tuần hoàn máu nhưng không quámạnh), thích hợp với những người huyết hư kèm theo ứ trệ Có điều, tác dụng bổhuyết của kê huyết đằng tương đối yếu, nên khi dùng làm thuốc bổ huyết thườngkết hợp với bài “Tứ vật thang” Tác dụng thư cân hoạt lạc của kê huyết đằngtương đối mạnh, nên là thuốc thường dùng chữa phong thấp khớp xương đau

Trang 9

nhức, lưng gối đau mỏi, gân cốt tê dại Với những người huyết vốn hư lại mắccác chứng đau nhức nói trên là càng thích hợp.

Theo Trung dược học:

Tác Dụng Lên Tim Mạch: nước sắc Kê huyết đằng ức chế tim ếch và làm

hạ huyết áp nơi chó và thỏ bị gây tê khi gây co mạch trong tĩnh mạch ở tai thỏ

Tác Dụng Kháng Viêm: Cho uống cồn thuốc Kê huyết đằng thấy có hiệuqủa tốt trên chuột: làm giảm viêm khớp gây ra bởi Formadehyde

Tác Dụng Lên Hệ Thần Kinh Trung Ương: Tiêm Kê huyết đằng vào màngbụng chuột thấy có tác dụng giảm đau và an thần

Tác Dụng Trên Sự Chuyển Hóa Phosphate: thí nghiệm Kê huyết đằng trênchuột nhắt thấy tăng chuyển hóa Phosphate trong thận và tử cung

Theo Đông Dược Học Thiết Yếu:Vị thuốc này là một trong các vị thuốc

thuộc loài dây ( đằng), sức hành huyết mạnh hơn bổ huyết Khi chặt đứt đoạndây, nước cốt chảy ra đỏ như máu, lấy nước đó nấu thành cao gọi là Kê HuyếtĐằng Giao, sức bổ huyết mạnh hơn hoạt huyết Bổ huyết hoạt huyết có Đươngquy, Đan sâm, Kê huyết đằng Đương quy là thuốc chủ yếu chữa về huyết, cũng

là thuốc khí trong huyết, sức bổ huyết mạnh hơn hoạt huyết, hơn nữa, Đươngquy tính ôn, thích hợp với người phần huyết thiên về hàn Đan sâm thì khứ ứmạnh hơn bổ huyết, tính hàn, hợp với người phần huyết thiên về ôn Kê huyếtđằng có thể hoạt huyết thông lạc, đi thẳng đến kinh lạc, bổ huyết bất túc trongkinh lạc

Theo Dược Liệu Việt Nam: “ Kê huyết đằng và Huyết đằng ở Việt Nam

hiện chưa được xác định chắc chắn, thuộc vào mấy loại Nhân dân chỉ mới căn

cứ vào khi chặt cây thấy có những đám màu đỏ giống như máu thì lấy về dùng.Hiện nay được khai thác nhiều ở Hà Sơn bình, Cao lạng và 1 số tỉnh miền núikhác”

1.3.2.Công dụng và cách dùng

Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, kê huyết đằng có vị đắng, chát, hơi ngọt, tính ẩm không độc, có tác dụng bổ khí huyết, thông kinh lạc, mạnh gânxương, điều hòa kinh nguyệt, thường dùng trong những trường hợp sau

Trang 10

1.3.2.1.Chữa thiếu máu, hư lao

Kê huyết đằng 200-300g, tán nhỏ, ngâm với 1 lít rượu trong 7 -10 ngày.Ngày uống 2 lần, mỗi lần 25ml Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khácnhư thục địa, đan sâm, hà thủ ô (liều lượng bằng nhau) Có thể dùng cao đặc cô

từ nhựa, mỗi ngày uống 2 - 4g, pha với ít rượu

1.3.2.2.Chữa tê thấp, nhức mỏi gân xương

Cách 1: Kê huyết đằng 12g, cây mua núi 12g, rễ gối hạc 12g, rễ phòng kỷ

10g, vỏ thân ngũ gia bì chân chim 10g, dây đau xương 10g Tất cả thái nhỏ, phơikhô, ngâm rượu uống Ngày 50ml chia làm 2 lần

Cách 2: Kê huyết đằng, độc hoạt, dây đau xương, thiên niên kiện, phòng

kỷ, rễ bưởi bung, chân chim, gai tầm xọng, cỏ xước, xấu hổ, quế chi, núc nác,mỗi vị 4-6g, sắc hoặc nấu cao thêm đường uống

1.3.2.3.Chữa đau dây thần kinh hông

Cách 1: Kê huyết đằng 20g, ngưu tất 12g, hồng hoa 12g, đào nhân 12g,

nghệ vàng 12g, nhọ nồi 10g, cam thảo 4g Sắc với 400ml nước còn 100ml, uốnglàm 2 lần trong ngày

Cách 2: Kê huyết đằng 20g, dây đau xương 20g, ngưu tất 20g, cẩu tích

20g, cốt toái bổ 12g, ba kích 12g, thiên niên kiện 8g, cốt khỉ củ 8g Sắc uốngngày 1 tháng

1.3.2.4.Chữa đau lưng

Kê huyết đằng 16g, rễ trinh nữ 16g, tỳ giải 16g, ý dĩ 16g, cỏ xước 12g,quế chi 8g, rễ lá lốt 8g, thiên niên kiện 8g, trần bì 6g Sắc uống

1.3.2.5.Chữa đau các khớp tứ chi

Kê huyết đằng, ngũ gia bì hương, độc hoạt, uy linh tiên, tang chi mỗi vị

10 -12g Sắc uống trong ngày

1.3.2.6.Chữa viêm khớp dạng thấp

Kê huyết đằng, hy thiêm, thổ phục linh, rễ vòi voi mỗi vị 16g; ngưu tất,sinh địa mỗi vị 12g; nam độc lực, rễ cà gai leo, rễ cây cúc ảo, huyết dụ mỗi vị10g Sắc uống ngày 1 thang

1.3.2.7.Chữa kinh nguyệt không đều

Cách 1:Kê huyết đằng 10g, tô mộc 5g, nghệ vàng 4g Tất cả thái nhỏ,

phơi khô, sắc uống làm một lần trong ngày Phụ nữ có thai không được dùng

Cách 2: Kê huyết đằng 16g, ích mẫu 16g, sinh địa 12g, nghệ 8g, xuyên

khung 8g, đào nhân 8g Sắc uống trong ngày

Trang 11

1.4.Tiêu chuẩn cơ sở của cây giống gốc Huyết rồng lào theo quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống và vườn gốc (QPN 15-93).

Hom thân rễ huyết rồng lào là cây giống sinh dưỡng được tuyển chọn từnhững dòng có năng suất cao có nguồn gốc trong tự nhiên Ở Việt Nam huyếtrồng lào mọc hoang tại vùng núi các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Thanh Hóa,Nghệ An, Quảng Trị Cây mọc tốt ở hầu hết các dạng đất, ở nơi có lượng mưa từ1.500-2.000 mm/năm Mọc tốt trên đất có độ PH từ 3-7, phân bố từ độ cao 800m

so với mực nước biển

Cây dây leo, thân gỗ, khi chặt thân cây có dịch đỏ như màu máu chảy ra.Thân cây được sử dụng để làm nguyên liệu làm thuốc

1.4.1 Điều kiện gây trồng

Lượng mưa trung bình trên 1.000mm, tối thích 1.600mm, số tháng mưabình quân: 4 tháng, tối thích: 6 tháng

Đất đai: Chủ yếu trồng trên loại đất feralit, tầng dầy tối thiểu 35cm, tốiưu: 40 – 50 cm Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất phèn lên luống không bịngập nước đều có thể trồng được

1.4.2 Cây con giống

* Nguồn gốc xuất xứ, cơ sở pháp lý:

Huyết rồng lào được lấy từ rừng quốc gia Pù Mát, vườn quốc gia HoàngLiên Sơn,…

* Vườn vật liệu giống gốc:

Huyết rồng lào được trồng giá thể trong vườn thí nghiệm Sau đó đemtrồng thành vườn vật liệu giống gốc hay còn gọi là vườn ươm Vườn vật liệugiống gốc chỉ được lấy cành hom từ 2-3 năm sau đó phải trồng thay thế bằngcây giống mới

*Tiêu chuẩn bầu và cây con :

+ Cành hom được cắt từ vườn vật liệu và giâm trong túi bầu PE(polyetylen ), có đường kính thông thường là 7 cm, chiều cao là 12 cm, được cắthai bên góc để thoát nước

+ Hỗn hợp ruột bầu gồm các chất: Đất mùn, phân chuồng, phân lân, trotrộn đều

+ Tuổi cây con: 4 - 5 tháng

+ Đường kính cổ rễ: 0.5 - 2,2 cm

Ngày đăng: 10/07/2018, 05:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w