1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối liên hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và chất lượng

63 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 497,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁNKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Mối liên hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán ở các công ty cổ phần có niêm yết tr

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Mối liên hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán ở các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường

chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Sinh viên thực hiện: Đinh Thị Quế Trân Giáo viên hướng dẫn Lớp: K47A - Kiểm toán TS Hồ Thị Thúy Nga Niên khóa: 2013-2017

Huế, tháng 05 năm 2017

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giáo trong khoa Kế toán - Kiểm toán, trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế lời cảm ơn chân thành.

Đặc biệt, em xin gởi đến cô Hồ Thị Thúy Nga, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài này lời cảm ơn sâu sắc nhất.

Cảm ơn quý thầy cô đã tạo cho em có cơ hội được thực tập nơi mà em mong muốn, cho em bước ra đời sống thực tế để áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảng dạy Qua công việc thực tập này em nhận ra nhiều điều mới mẻ và bổ ích,

là hành trang cho công việc sau này.

Em xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh Đạo, các phòng ban của Công ty TNHH Quốc Thắng, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại công ty Cuối cùng em xin cảm ơn các anh chị phòng Kế toán tài chính của công ty TNHH Quốc Thắng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn để em hoàn thành tốt học phần Thực tập tốt nghiệp này.

Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện báo cáo này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ Qúy thầy cô cũng như Quý công ty.

Em xin chân thành cảm ơn.

Huế, ngày 8 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Đinh Thị Quế Trân

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 3

1.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 3

1.5.3 Phương pháp phân tích số liệu 3

1.6 Kết cấu đề tài 3

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Khái quát chung về Kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay 4

1.1.1 Khái niệm Kiểm toán 4

1.1.2 Tổ chức kiểm toán độc lập 4

1.1.3 Vai trò của kiểm toán độc lập 5

1.1.4 Quy trình kiểm toán độc lập 6

1.1.5 Thực trạng kiểm toán độc lập hiện nay ở Việt Nam 7

1.2 Khái quát chung về đặc điểm cơ chế quản trị doanh nghiệp trong các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 11

1.2.1 Khái niệm và vai trò cơ chế quản trị doanh nghiệp 11

1.2.2 Thực trạng cơ chế quản trị doanh nghiệp trong các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 12

1.3 Chất lượng kiểm toán và các phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán 16

1.3.1 Chất lượng kiểm toán 16

1.3.2 Phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán 17

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

1.4 Thực trạng chất lượng kiểm toán trong các công ty kiểm toán độc lập hiện nay ở

Việt Nam 22

1.4.1 Một số thành tựu 22

1.4.2 Hạn chế 24

1.5 Tổng quan các nghiên cứu về cơ chế quản trị và chất lượng kiểm toán ở các nước trên thế giới và Việt Nam 25

1.5.1 Tổng quan các nghiên cứu ở ngoài nước 25

1.5.2 Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam 26

1.6 Phát triển giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu 28

1.6.1 Phát triển giả thuyết 28

1.6.2 Mô hình nghiên cứu 31

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CứU MốI LIÊN Hệ GIữA CƠ CHế QUảN TRị DOANH NGHIệP VÀ CHấT LƯợNG KIểM TOÁN ở CÁC CÔNG TY Cổ PHầN CÓ NIÊM YếT TRÊN THị TRƯờNG CHứNG KHOÁN VIệT NAM TạI SÀN GIAO DịCH THÀNH PHố Hồ CHÍ MINH 33

2.1 Đặc điểm mẫu điều tra 33

2.2 Phân tích tương quan 35

2.3 Kiểm định đa cộng tuyến 37

2.4 Kết quả phân tích hồi quy 37

2.4.1 Đánh giá sự phù hợp của mô hình 37

2.4.2 Kiểm định về độ tin cậy của mô hình 38

2.4.3 Kiểm định giả thuyết về các hệ số của mô hình hồi quy mẫu 38

2.4.4 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 40

CHƯƠNG 3: THảO LUậN KếT QUả NGHIÊN CứU VÀ NHữNG ĐÓNG GÓP CủA Đề TÀI 42

3.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 42

3.2 Đóng góp của đề tài 43

3.3 Những hạn chế của đề tài và gợi ý cho những đề tài nghiên cứu tiếp theo 44

PHầN III: KếT LUậN VÀ KIếN NGHị 46

3.1 Kết luận 46

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

3.2 Kiến nghị 47

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu khách hàng kiểm toán tính đến tháng 4/2016 10Biểu đồ 1.2: Doanh thu, lợi nhuận sau thuế và nộp ngân sách Nhà nước toàn ngành 10Biểu đồ 2: Tỉ lệ kiêm nhiệm trong các công ty niêm yết trên sàn HOSE 34

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Bảng 1: Điểm mạnh và điểm yếu của các phương pháp đo lường CLKT 22

Bảng 2.1: Bảng thống kê mô tả giá trị các biến độc lập 33

Bảng 2.2 Tương quan giữa các biến định lượng 36

Bảng 2.3: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 37

Bảng 2.4: Mô hình tóm tắt 37

Bảng 2.5: ANOVAa 38

Bảng 2.6 Kết quả kiểm định hệ số hồi qui sử dụng phương pháp Enter 38

Bảng 2.7: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 40

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu

Ngày 13 tháng 5 năm 1991, Kiểm toán độc lập Việt Nam được hình thành vớiviệc ra đời của hai công ty kiểm toán đầu tiên, gồm VACO (nay là Deloitte) và Công

ty TNHH Kiểm toán AASC Tính đến năm 2013, đã có 134 công ty kiểm toán độc lậpvới số lượng nhân viên bình quân là 78 người (Bùi Văn Mai, 2014) Mặc dù có nhữngbước tiến nhanh đáng ghi nhận, nhưng những công ty kiểm toán có quy mô nhỏ vớihoạt động yếu kém không đáp ứng được yêu cầu kiểm toán của các doanh nghiệp ởViệt Nam Sau khi một số công ty công chúng bị phá sản như Tập đoàn Bông BạchTuyết và Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông, một vấn đề được đặt ra đối với sự minhbạch của các thông tin tài chính trong doanh nghiệp và liệu rằng hoạt động kiểm toánhiện nay có thật sự hiệu quả?

Trong xu thế hội nhập kinh tế, chất lượng kiểm toán không những là vấn đề quantâm của công ty kiểm toán, của doanh nghiệp mà còn là mối bận tâm của các nhà đầu

tư, tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý Ý kiến kiểm toán cung cấp thông tin về tínhtrung thực và hợp lý của những thông tin tài chính Một cuộc kiểm toán không đượcđảm bảo chất lượng có thể gây ảnh hưởng đến tình hình tài chính của người sử dụngthông tin (doanh nghiệp, cơ quan quản lý, ngân hàng, nhà đầu tư ) và toàn bộ nềnkinh tế Hơn nữa, các doanh nghiệp niêm yết là loại hình cổ phần đại chúng nên mức

độ ảnh hưởng càng rộng lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của thị trườngchứng khoán Việt Nam Do vậy vấn đề chất lượng kiểm toán ngày càng được coitrọng, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế mở, các giao dịch, hoạt động kinh tế ngàycàng đa dạng và phức tạp

Với những kiến thức học được từ lý thuyết, em nhận thấy đây là một đề tài mớinhưng có tính cấp thiết trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh

tế, tài chính của Nhà nước; hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và sự phát triểnbền vững của nền kinh tế Từ những nhận định trên, cùng với sự giúp đỡ của Giảngviên hướng dẫn, em quyết định chọn đề tài “Mối liên hệ giữa cơ chế quản trị doanhnghiệp và chất lượng kiểm toán ở các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trườngchứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” làm bài báo cáo Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Thứ 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về cơ chế quản trị doanh nghiệp và chấtlượng kiểm toán

Thứ 2: Tìm hiểu thực trạng chất lượng kiểm toán trong các công ty cổ phần cóniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam tại sàn giao dịch Thành phố Hồ ChíMinh

Thứ 3: Đánh giá mối quan hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và chất lượngkiểm toán tại các các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam tại sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh

Thứ 4: Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán từ kết quảnghiên cứu

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu mối liên hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểmtoán ở các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ ChíMinh

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Để đánh giá mối quan hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểmtoán, em đã tham khảo các nghiên cứu trước đây và đã tiến hành nghiên cứu các doanhnghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE dựa trên BCTC năm 2015 và 2016,BCQT năm 2016 và hồ sơ doanh nghiệp cập nhật đến ngày 15/03/2016

Đề tài chỉ giới hạn đánh giá mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị doanh nghiệp(gồm: sự kiêm nhiệm giữa giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị, quy môhội đồng quản trị, số lượng thành viên ủy ban kiểm soát không sở hữu cổ phần) và cơcấu sở hữu doanh nghiệp (gồm: tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn và tỷ lệ sở hữu củahội đồng quản trị) đến chất lượng kiểm toán

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Nghiên cứu các bài báo, sách và các công trình nghiên cứu trước đây có liênquan đến đề tài nghiên cứu

- Đồng thời, tìm hiểu các thông tin bổ sung thêm trên các trang web của Bộ TàiChính, Trang tin điện tử Hội Kiểm toán viên hành nghề độc lập và các trang web khác

1.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu nghiên cứu sẽ được thu thập từ các BCTC, BTQT và hồ sơ doanh nghiệpcủa các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

1.5.3 Phương pháp phân tích số liệu

Đề tài sẽ sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để xử lý số liệu Phầnmềm dùng để kiểm định mô hình là SPSS

1.6 Kết cấu đề tài

Kết cấu đề tài gồm có 3 phần, trong đó phần II có 3 chương

Phần I: Đặt vấn đề

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Nghiên cứu mối liên hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp và chất

lượng kiểm toán ở các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam tại sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Thảo luận kết quả nghiên cứu và những đóng góp của đề tài

Phần III: Kết luận và kiến nghị

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái quát chung về Kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay

Trước khi đi vào phần khái quát chung về Kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiệnnay, trước tiên mục này giới thiệu về khái niệm Kiểm toán để làm định hướng cho cácmục sau

1.1.1 Khái niệm Kiểm toán

Theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (International Federation ofAccountants – IFAC): “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trìnhbày ý kiến nhận xét về Báo cáo tài chính”

Theo quan điểm hiện đại: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạnghoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toánchứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụtương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” (Trần Đình Tuấn và ĐỗThị Thúy Phương, 2010)

1.1.2 Tổ chức kiểm toán độc lập

Xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, nhưng kiểm toán tại Việt Nam chỉ mới đượcchấp nhận từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tếthị trường có định hướng của Nhà nước

Kiểm toán độc lập là một tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theoyêu cầu của khách hàng Đây là loại hình dịch vụ được Pháp luật thừa nhận và bảo hộ,dưới sự quản lý chặt chẽ của các hiệp hội chuyên ngành Kế toán – Kiểm toán Côngviệc của kiểm toán độc lập là kiểm tra, xác nhận về tính trung thực và hợp lý của cáctài liệu, số liệu kế toán và BCTC của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vịđược kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này Ngoài ra, tùy vào yêu cầu củakhách hàng, các đơn vị kiểm toán độc lập còn cung cấp các dịch vụ khác như kiểmtoán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán quyết toán giá trị công trình, xác định

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

giá trị vốn góp,… Các công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước Pháp luật về kếtquả kiểm toán của mình.

Đơn vị kinh tế được kiểm toán phải trả phí dịch vụ cho kiểm toán viên theo Hợpđồng kiểm toán giữa hai bên

1.1.3 Vai trò của kiểm toán độc lập

Ngày nay, độ tin cậy, chính xác và trung thực của các thông tin tài chính có ýnghĩa vô cùng quan trọng Nhiều quốc gia trên thế giới đã khẳng định rằng chỉ nhữngbáo cáo đã được xem xét và có chữ ký của kiểm toán viên độc lập mới được coi là hợppháp, làm cơ sở cho nhà nước tính thuế cũng như các bên quan tâm khác đưa ra cácquyết định kinh tế

Nghị định số 07/CP ngày 29/1/1994 của Chính phủ đã chỉ rõ: “Sau khi có xácnhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thì các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáoquyết toán của các đơn vị kế toán là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ởđơn vị, cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính nhà nước xét duyệtquyết toán hàng năm, cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản phải nộpkhác của đơn vị đối với ngân sách Nhà nước, cho các cổ đông, các nhà đầu tư, cácbên tham gia liên doanh, các khách hàng và các tổ chức, cá nhân xử lý các mốiquan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình hoạtđộng của đơn vị”

Qua đó có thể thấy, đối tượng sử dụng thông tin tài chính của doanh nghiệp là

vô cùng đa dạng với nhiều mục đích khác nhau Kiểm toán độc lập có mục tiêucung cấp sự bảo đảm cho bên sử dụng rằng các thông tin được cung cấp có kháchquan, đáng tin cậy hay không Từ đó người sử dụng thông tin sẽ có những quyếtđịnh đúng đắn

Ví dụ, đối với ngân hàng, các nhà đầu tư, các cổ đông cần biết rằng số vốn họ chovay hoặc đầu tư có được sử dụng đúng mục đích hay không, khả năng hoàn trả hay khảnăng sinh lời là cao hay thấp Đối với các cơ quan quản lý, căn cứ vào BCTC đã đượckiểm toán để xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp, thực hiện chức năng của mình Cácdoanh nghiệp được kiểm toán cũng mong muốn có được BCTC phù hợp với các nguyêntắc, chuẩn mực kế toán hiện hành; phát hiện và ngăn ngừa các sai sót, gian lận

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

1.1.4 Quy trình kiểm toán độc lập

Quy trình kiểm toán độc lập đã được Hiệp hội kiểm toán hành nghề Việt Nam(VACPA) xây dựng, làm cơ sở cho các công ty kiểm toán độc lập tham khảo để ápdụng hoặc xây dựng quy trình kiểm toán cho công ty mình Bao gồm:

a) Lập kế hoạch

Kiểm toán viên thực hiện những thủ tục cần thiết để có những hiểu biết cơ bảnđối với khách hàng kiểm toán, thông tin chính cần thu thập bao gồm:

- Hoạt động sản xuất kinh doanh, hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ

- Phân tích khái quát tình hình tài chính và kết quả hoạt động

- Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết

b) Thực hiện kiểm toán

- Kiểm tra và đánh giá hệ thống kế toán cũng như hệ thống kiểm soát nội bộ

- Kiểm tra cụ thể từng chỉ tiêu trên BCTC, sau đó tổng hợp và đánh giá kết quả

c) Hoàn thành việc kiểm toán và lập báo cáo về kết quả kiểm toán

- Kiểm toán viên và ban lãnh đạo doanh nghiệp trao đổi về kết quả kiểm toán

- Lập báo cáo kiểm toán, nội dung chủ yếu của kiểm toán BCTC là ý kiến củakiểm toán viên về các nội dung:

toán hiện hành

cáo tài chính

- Cuối cùng, kiểm toán viên tóm tắt quy trình kiểm toán BCTC của doanh nghiệp

và lưu ý những điểm cần hoàn thiện để doanh nghiệp thực hiện tốt nhất công tác kếtoán của mình

Hình 1 mô tả quy trình kiểm toán này Trong mô hình, quy trình kiểm toán đượcchia làm ba giai đoạn: Lập kế hoạch kiểm toán; Thực hiện kiểm toán; Tổng hợp, kếtluận và lập báo cáo

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

Hình 1.1: Quy trình kiểm toán độc lập do VACPA xây dựng

Kế hoạch kiểm toán

Phân tích tổng thể báo cáo tài chính

thống kiểm soát nội bộ

và rủi ro gian lận [A600]

Báo cáo tài chính và báo

cáo kiểm toán [B300]

Kiểm tra các nội dung

khác [H100-H200]

Kiểm tra cơ bản báo cáo kết quả hoạt động kinh

doanh [G100-G700]

QUẢN LÝ CUỘC KIỂM TOÁN

Thư quản lý và các tư vấn

khách hàng khác [B200]

XÁC ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ RỦI RO

Soát xét, phê duyệt và

phát hành báo cáo [B110]

Đánh giá lại mức trọng yếu và phạm vi kiểm toán

[A700] - [A800]

1.1.5 Thực trạng kiểm toán độc lập hiện nay ở Việt Nam

Hình thành từ năm 1991, trải qua hơn 25 năm hình thành và phát triển, hoạt độngkiểm toán ở nước ta đã có những bước tiến rõ rệt về cả mặt lượng và mặt chất, dầnkhẳng định uy tín và vị thế trong nền kinh tế thị trường, được doanh nghiệp và xã hộithừa nhận

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

Bên cạnh các công ty kiểm toán quốc tế, có thể kể đến một số công ty kiểm toánViệt Nam tiêu biểu:

- Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC);

- Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ Tin học (AISC);

- Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C);

- Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán (AFC);

Mô hình tổ chức của các công ty kiểm toán ở Việt nam hầu hết bị chi phối bởihình thức sở hữu công ty:

- Các công ty kiểm toán độc lập là doanh nghiệp nhà nước, hình thức tổ chức phụthuộc vào cơ chế quản lý của nhà nước Người đứng đầu công ty do Nhà nước bổ nhiệm.Phân chia trách nhiệm công việc và tổ chức hoạt động theo chức danh quản lý

- Các công ty 100% vốn nước ngoài có cơ cấu tổ chức giống như các công tykiểm toán quốc tế Tuy nhiên vì được thành lập tại Việt Nam, hoạt động theo luật đầu

tư nước ngoài ở Việt Nam nên ở các công ty này vẫn có chức danh Giám đốc và là đạidiện pháp lý của công ty về các vấn đề hành chính trước các cơ quan chức năng cũngnhư trong các hoạt động kinh tế

- Các công ty TNHH trong nước quy mô có mở rộng song vẫn rất hạn chế vàchưa hình thành hình thức tổ chức rõ nét Tại các công ty này, giám đốc là chủ sở hữu,phải có chứng chỉ kiểm toán viên và sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọihoạt động của công ty

Các loại hình công ty kiểm toán độc lập có sự khác biệt rõ rệt về quy mô Cáccông ty kiểm toán là doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn, phân bố rộng khắp trên

cả nước Các công ty kiểm toán vốn nước ngoài đều có chi nhánh tại Hà Nội và Thànhphố Hố Chí Minh Trong khi đó, các công ty kiểm toán thuộc loại hình TNHH đa phầnchỉ có văn phòng tại nơi thành lập

Bên cạnh những thành quả đạt được, mô hình tổ chức của các công ty kiểm toánđộc lập còn nhiều hạn chế: quy mô thị trường kiểm toán còn nhỏ, nhiều công ty liêntục thay đổi pháp nhân, nhân sự kiểm toán

Thị trường kiểm toán ngày càng cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp kiểmtoán Việt Nam chịu nhiều sức ép từ các doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Thứ hai, về môi trường pháp lý.

Kiểm toán là lĩnh vực hoạt động chuyên môn, đòi hỏi nghiêm ngặt về các chuẩnmực nghề nghiệp Đến nay, hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán đang dần đượchoàn thiện, tuân thủ các thông lệ, chuẩn mực quốc tế Luật Kiểm toán độc lập số67/2011/QH12 được Quốc Hội khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/03/2011 và

có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012 cùng với các thông tư, nghị định đã tạo nên mộtkhuôn khổ pháp lý, góp phần định ra một hướng đi thích hợp cho ngành kiểm toán độclập Việt Nam

Tuy nhiên vẫn còn thiếu những quy định mang tính pháp lý cụ thể, chỉ dừng ởcấp độ nghị định khiến hoạt động kiểm toán độc lập gặp không ít khó khăn, vướngmắc; không đảm bảo hiệu lực pháp lý đầy đủ để các tổ chức, cá nhân liên quan thựchiện quyền và nghĩa vụ của mình Chất lượng kiểm toán cũng là vấn đề chưa được chútrọng, chưa quy định đầy đủ các nội dung cần thiết để tăng cường chất lượng, đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế

Thứ ba, tình hình cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập tại Việt Nam.

Qua những bỡ ngỡ ban đầu, hoạt động kiểm toán độc lập đang dần xây dựngđược thị trường với nhiều loại hình dịch vụ như kiểm toán BCTC; dịch vụ Thuế; dịch

vụ kế toán; dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tài chính, kế toán và quản lý tàichính; dịch vụ tư vấn tài chính, quản lý,

Năm 2016, Bộ Tài Chính công bố có 31 công ty kiểm toán được chấp thuận thựchiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng và 28 doanh nghiệp kiểm toán đượcchấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứngkhoán

Mới đây nhất, ngày 18/01/2017, Bộ Tài Chính đã công bố danh sách 30 công tykiểm toán độc lập được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích côngchúng năm 2017

Đối tượng khách hàng ngày càng được mở rộng Tính đến tháng 04/2016, cơ cấukhách hàng kiểm toán được thể hiện trong biểu đồ sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

12%

40%

(Nguồn: Thời báo tài chính Việt Nam)

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu khách hàng kiểm toán tính đến tháng 4/2016

Có thể thấy rằng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn chiếm phầnlớn trong cơ cấu khách hàng kiểm toán

Doanh thu ngành đã có sự tăng trưởng vượt bậc qua từng thời kỳ, dần có chỗđứng và đóng góp cho sự phát triển của xã hội

(Nguồn: Thời báo tài chính Việt Nam)

Biểu đồ 1.2: Doanh thu, lợi nhuận sau thuế và nộp ngân sách Nhà nước toàn

ngành

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

Mặc dù hoạt động kiểm toán có sự tăng trưởng mạnh, tuy nhiên vẫn còn không ítkhó khăn Thị trường kiểm toán Việt Nam còn rất non trẻ, phạm vi hoạt động hẹp vàchưa được xã hội quan tâm đúng mức Năng lực kiểm toán vẫn chưa tương xứng vớichức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao Trình độ tổ chức kinh doanh dịch vụkiểm toán còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế.Nhiều doanh nghiệp kiểm toán bất ngờ thua lỗ, phải giải thể hoặc sáp nhập với doanhnghiệp khác.

1.2 Khái quát chung về đặc điểm cơ chế quản trị doanh nghiệp trong các công

ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

1.2.1 Khái niệm và vai trò cơ chế quản trị doanh nghiệp

“Cơ chế quản trị doanh nghiệp là hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểmsoát các doanh nghiệp Cấu trúc quản trị doanh nghiệp chỉ ra cách phân chia quyền vàtrách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp nhưHĐQT, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan Cơ chế quản trịdoanh nghiệp cũng giải thích rõ quy tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tớivận hành doanh nghiệp Bằng cách này, cơ chế quản trị doanh nghiệp cũng đưa ra cấutrúc mà thông qua đó người ta có thể thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện

để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc.” (OECD 4/1999)

Cơ chế quản trị doanh nghiệp có thể coi là tập hợp các đối tượng, mục tiêu và thểchế để đảm bảo quyền lợi cho cổ đông, nhân viên, khách hàng, chủ nợ và thúc đẩydanh tiếng, vị thế của doanh nghiệp Cơ chế quản trị doanh nghiệp là một hệ thống cácchính sách, luật lệ đề cập đến các cơ cấu nhằm định hướng, vận hành và kiểm soátdoanh nghiệp

Cơ chế quản trị doanh nghiệp có vai trò quan trọng, đặc biệt khi Việt Nam ngàycàng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Một doanh nghiệp có cơ chế quản trịtốt sẽ giảm thiểu mức ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính, củng cố quyền

sở hữu, góp phần giúp doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài ở mức chiphí thấp, là nền tảng lâu dài cho sự phát triển của doanh nghiệp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Cơ chế quản trị công ty tốt không chỉ thúc đẩy hoạt động của công ty mà còn có

ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, lành mạnh,giảm rủi ro tài chính hệ thống cho quốc gia

1.2.2 Thực trạng cơ chế quản trị doanh nghiệp trong các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp niêmyết ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của cơ chế quản trị doanh nghiệp Các nhàlãnh đạo doanh nghiệp đã từng bước tập trung nâng cao năng lực quản trị theo thông lệquốc tế

Thứ nhất, về cơ sở xây dựng khuôn khổ quản trị.

Hiện tại, các công ty niêm yết tại Việt Nam tuân thủ khung quản trị công ty đượcnêu trong Luật Doanh nghiệp 2014 số 68/2014/QH13 có hiệu lực từ 01/07/2015, LuậtChứng khoán số 70/2006/QH11 có hiệu lực từ ngày 01/01/2007, các quy định về quảntrị công ty áp dụng cho công ty đại chúng hướng dẫn cụ thể tại Thông tư 121/2012/TT-BTC của Bộ Tài Chính

Nhìn chung, các doanh nghiệp niêm yết đã xây dựng cơ chế quản trị công ty tuânthủ theo các quy định pháp lý Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt vớinhiều thách thức lớn Theo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh,hiện chỉ có 1/3 số doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu có tối thiểu một phần ba sốthành viên HĐQT là thành viên HĐQT độc lập (Đào Đình Thi, 2016) Nhận định củacác nhà quản trị còn yếu kém, chưa hiểu đúng về quản trị doanh nghiệp, khiến doanhnghiệp Việt Nam “chậm lớn” Lỏng lẻo trong cơ chế quản trị cũng như hệ thống pháp

lý chưa cụ thể khiến chất lượng BCTC và mức độ công bố thông tin chưa cao Những

cơ quan chịu trách nhiệm thúc đẩy hoạt động quản trị của doanh nghiệp còn hạn chế vàhoạt động chưa hiệu quả

Việt Nam hiện đang có hai sở giao dịch: Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ ChíMinh (HOSE) thành lập tháng 07/2000 và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX)bắt đầu hoạt động từ tháng 06/2005 Ngoài ra còn có sàn Upcom dành cho giao dịch

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

chứng khoán của các công ty chưa niêm yết được tổ chức tại sở giao dịch chứng khoán

Hà Nội

Theo thống kê của tạp chí Vneconomy, tổng giá trị vốn hóa thị trường năm 2016tính đến ngày 31/12/2016 trên HOSE và HNX đạt hơn 1,64 triệu tỷ đồng (72 tỷ USD),tăng 345.000 tỷ đồng (15 tỷ USD) tương ứng tăng 26,6% so với cuối năm 2015

Hiện nay, khoảng 2/3 các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán là công

ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước, song Nhà nước vẫn nắm giữ tỉ

lệ cổ sở hữu chủ yếu Sau khi bán cổ phần lần đầu, Nhà nước tiếp tục nắm giữ đến81,1% vốn điều lệ Tỷ lệ nắm giữ vốn của Nhà nước còn rất cao, chứng tỏ quá trình cổphần hóa không thành công, bởi chưa làm thay đổi được về bản chất phương thức quảntrị của doanh nghiệp

Thứ hai, quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu chính.

Các quyền cơ bản của cổ đông được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014

Cổ phần của các công ty niêm yết có thể chuyển nhượng tự do, trừ cổ phần ưuđãi có quyền biểu quyết không được chuyển nhượng trong ba năm đầu tiên kể từ ngàyđăng ký và cổ phiếu phổ thông do cổ đông sáng lập nắm giữ không được chuyểnnhượng trong ba năm đầu thành lập công ty, trừ khi Đại hội đồng cổ đông chấp nhận.Thành viên công ty TNHH và công ty có vốn đầu tư nước ngoài được ưu tiên muaphần vốn góp của các thành viên khác trong công ty

Các công ty niêm yết có nhiệm vụ cung cấp các thông tin liên quan mà cổ đôngyêu cầu ở mức độ hợp lý, phục vụ cho việc đầu tư, các cổ đông nắm giữ ít nhất 10%tổng số vốn cổ phần có quyền biết danh sách các cổ đông được quyền tham gia Đại hộiđồng cổ đông, tham gia đề cử ứng viên vào Hội đồng quản trị

Các cổ đông phổ thông có quyền tham gia họp Đại hội đồng cổ đông, tuy nhiênthường có hạn chế về tỷ lệ sở hữu Các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và cổphần ưu đãi hoàn lại không có quyền tham gia và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông.Thêm một hạn chế còn tồn tại, thông báo họp Đại hội đồng cổ đông chỉ được đưa ra 7ngày trước khi diễn ra cuộc họp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

Cổ đông có quyền tham gia sửa đổi quy định, điều lệ công ty, phê chuẩn việcphát hành trái phiếu, các giao dịch bất thường Tham gia biểu quyết, ủy quyền biểuquyết hoặc biểu quyết qua bưu điện và điện tử.

Lợi nhuận của công ty được phân phối theo mức do Đại hội đồng cổ đông quyếtđịnh

Thứ ba, đối xử bình đẳng với các cổ đông.

Nguyên tắc này căn bản không được tuân thủ tại các doanh nghiệp Việt Nam.Theo mẫu Điều lệ, các cổ đông trong cùng một loại cổ phần phải nhất trí phê chuẩnquyết định liên quan đến loại cổ phần đó Luật Doanh nghiệp 2014 không có quy định

rõ ràng về việc này Luật quy định nhóm cổ đông sở hữu 10% cổ phần có quyền triệutập họp Đại hội đồng cổ đông Có các quy định bảo vệ cổ đông thiểu số khỏi sự lạmdụng của các cổ đông nắm quyền kiểm soát, có quyền đệ đơn ra tòa án khiếu nại, hủy

bỏ những nghị quyết không hợp lệ mà Đại hội đồng cổ đông đã thông qua Tuy nhiênLuật pháp không có các quy định bảo vệ người tố cáo

Mọi cổ đông nắm giữ cùng loại cổ phiếu phải được đối xử công bằng Tuy nhiên,tại Đại hội đồng cổ đông, mức độ chi tiết của các tài liệu cung cấp cho cổ đông lại cònphụ thuộc vào quyết định của HĐQT Thủ tục kiểm phiếu cũng không được rõ ràng,minh bạch

Luật chứng khoán 2006 không có các điều khoản nghiêm cấm giao dịch dựa trênnhững thông tin không công bố ra công chúng, dẫn đến vẫn có các giao dịch nội giánxảy ra, gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Và cũng chưa có hình thức xử phạt cụ thể chotrường hợp vi phạm này Các cơ quan ban ngành không có kỹ năng và nguồn lực đểgiám sát các giao dịch nội gián

Thứ tư, vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty.

Luật doanh nghiệp 2014 quy định, các bên có quyền lợi liên quan không tham giavào quá trình quản trị doanh nghiệp, không được phép tiếp cận với các thông tin chưađược công bố ra công chúng Tuy nhiên, luật chưa xây dựng những quy tắc ứng xử đốivới các bên có quyền lợi liên quan Họ không được quyền tự do thể hiện những mối

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

quan ngại về những việc làm không hợp pháp, không phù hợp đạo đức mà phải có bằngchứng chính xác Đồng thời, doanh nghiệp còn thờ ơ trong trách nhiệm với xã hội.Quyền của chủ nợ ở Việt Nam được coi là thấp so với chuẩn quốc tế.

Thứ năm, công bố thông tin và tính minh bạch.

Hiện nay, việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về tình hình tài chính, tìnhhình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty đã được cải thiện, tuy nhiên việc thực hiện

và cưỡng chế thực thi còn yếu Không có yêu cầu công bố thông tin về người sở hữugián tiếp và người thụ hưởng cuối cùng Cơ cấu và chính sách quản trị được nêu trongĐiều lệ công ty, song không phải ai cũng có thể tiếp cận những tài liệu này

Việc kiểm toán cũng chưa được coi trọng Chỉ có một lượng hạn chế các công tyđược yêu cầu kiểm toán nên không đảm bảo được rằng BCTC đã thể hiện đúng tìnhhình tài chính và hoạt động của công ty Bộ Tài chính chịu trách nhiệm giám sát chấtlượng kiểm toán và tình hình tuân thủ, tuy nhiên chức năng này còn chưa được hoànthiện, các đơn vị kiểm toán tuân theo quy chuẩn của mình hoặc của công ty mẹ Trongthực tế, các đơn vị kiểm toán độc lập chịu áp lực của ban quản trị công ty, nguồn nhânlực thiếu, chất lượng kiểm toán viên còn thấp,… do đó chất lượng thông tin công bốchưa đạt được yêu cầu

Không có quy định nào về việc công khai thông tin xung đột lợi ích đối với nhàphân tích, tổ chức kinh doanh chứng khoán, tổ chức định mức tín nhiệm

Mức độ độc lập của cơ quan tư pháp còn hạn chế, các quyết định của tòa án vẫnchịu nhiều ảnh hưởng chính trị, nhất là đối với các công ty mà Nhà nước nắm giữ phầnlớn tỷ lệ sở hữu

Thứ sáu, trách nhiệm của Hội đồng quản trị.

Về cơ bản, thành viên HĐQT đã hoạt động với thông tin đầy đủ, trách nhiệm, trungthực và cẩn trọng Yêu cầu về năng lực của HĐQT được luật pháp quy định chặt chẽ.Tuy nhiên, HĐQT chưa đáp ứng được nguyên tắc đối xử bình đẳng với mọi cổđông, vẫn xảy ra những trường hợp lợi dùng quyền hạn, chức vụ của mình hoặc dùngtài sản của công ty vì mục đích tư lợi Luật không có quy định rõ ràng về các hành viphi đạo đức, các công ty cũng ít khi có quy định về hành vi ứng xử, đạo đức đối vớithành viên HĐQT

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

Mặc dù các công ty niêm yết phải có thành viên HĐQT không điều hành, songkhông có quy định rõ ràng về vị trí này Vai trò của thành viên HĐQT không rõ ràng,

ít thành lập tiểu ban trực thuộc HĐQT

Thù lao cho HĐQT không đủ để đảm bảo hiệu quả quản lý, một số công ty đã ápdụng chế độ thù lao dựa trên hiệu quả hoạt động

Nhìn chung lại, có thể thấy rằng Việt Nam đang trong quá trình phát triển khuônkhổ về quản trị, xây dựng các luật và quy định ngày một hoàn thiện hơn Thị trườngchứng khoán còn non trẻ; các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản lý, cưỡng chếthực thi và phát triển thị trường chứng khoán cần tăng cường củng cố năng lực, cưỡngchế việc tuân thủ luật pháp Phải có sự bảo vệ quyền lợi đầy đủ cho nhà đầu tư, nângcao nhận thức và đào tạo thành viên HĐQT Khuyến khích công bố thông tin có chấtlượng, kịp thời, dễ tiếp cận

1.3 Chất lượng kiểm toán và các phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán

1.3.1 Chất lượng kiểm toán

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đã thực hiện các nghiên cứu về chấtlượng kiểm toán Một vài công trình nghiên cứu đã định nghĩa về chất lượng kiểm toántheo hai phương pháp tiếp cận Một là, chất lượng kiểm toán thể hiện ở khả năng màkiểm toán viên phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu Hai là, mức độ tuân thủcác chuẩn mực kiểm toán

Theo cách tiếp cận đầu tiên, chất lượng kiểm toán được xác định dựa trên chấtlượng các BCTC đã được kiểm toán (Tritschler, 2013) Đây được coi là quan điểm phổbiến của các nhà nghiên cứu về chất lượng kiểm toán DeAngelo (1981) là nhà nghiêncứu đầu tiên xác định chất lượng kiểm toán dựa trên khả năng phát hiện và báo cáo cácsai phạm trọng yếu trong hệ thống kế toán của khách hàng Nhiều nhà khoa học đã dựavào quan điểm này để nghiên cứu và thống nhất cho rằng, chất lượng kiểm toán phụthuộc vào việc kiểm toán viên phát hiện các sai sót trọng yếu và báo cáo sai phạm đó.Khả năng các kiểm toán viên phát hiện sai phạm phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đóquan trọng nhất là năng lực nghề nghiệp của kiểm toán viên Trong khi đó, khả năngbáo cáo sai phạm lại phụ thuộc vào tính độc lập, vào đạo đức nghề nghiệp của kiểmtoán viên, nhất là khi họ phải chịu sức ép từ phía khách hàng được kiểm toán Một

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

cuộc kiểm toán được đánh giá là có chất lượng thấp khi các BCTC đã được kiểm toáncòn chứa các sai phạm trọng yếu mà không được phát hiện hoặc không được báo cáo.Chất lượng kiểm toán cao sẽ đảm bảo về chất lượng của BCTC được công bố (M.DeFond & Zhang, 2014).

Liên quan đến phương pháp tiếp cận thứ hai, DeFond và Zang (2014) cho rằng,kiểm toán viên có trách nhiệm tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổbiến, đây là nền tảng của việc đảm bảo chất lượng kiểm toán Các nghiên cứu củaCarcello (2002) cũng chỉ ra rằng chất lượng kiểm toán có mối quan hệ mật thiết với cácchuẩn mực kiểm toán Do đó, chất lượng kiểm toán được đánh giá bằng độ chênh lệchgiữa mức độ cần thiết và mức độ thực tế tuân theo các chuẩn mực kiểm toán

Do khó khăn trong việc trực tiếp đánh giá chất lượng kiểm toán, các nhà nghiêncứu đã tập trung vào việc xác định “chất lượng kiểm toán thấp” dựa trên các gian lậntrong kiểm toán Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngày càng ít các gian lận trongkiểm toán được phát hiện, gây khó khăn cho quá trình nghiên cứu (Francis, 2011) Các

vụ bê bối tài chính như tập đoàn Enron và sự sụp đổ của công ty kiểm toán ArthurAndersen đã khẳng định sự bất cập của phương pháp đánh giá gián tiếp trong việcđánh giá chất lượng kiểm toán Kết quả nghiên cứu của Krishnan & cộng sự (2003) đãchỉ rõ rằng các tiêu chí của Big Four không thể giải thích được vụ việc của Enron Từ

đó, các nhà nghiên cứu đã hướng trọng tâm nghiên cứu sang việc so sánh mức độ thựchiện công việc kiểm toán so với các chuẩn mực kiểm toán

Ở Việt Nam, vẫn chưa có nghiên cứu nào về việc xác định chất lượng kiểm toán.Việc trực tiếp đo lường và đánh giá rất phức tạp vì chất lượng kiểm toán không thểquan sát một cách rõ ràng Hơn nữa, các công ty không công bố các thủ tục kiểm toánnên dẫn đến việc thiếu thông tin để đánh giá chất lượng kiểm toán

1.3.2 Phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán

Do quan điểm khác nhau về chất lượng kiểm toán, các phương pháp đo lườngchất lượng kiểm toán vẫn chưa đạt đến sự thống nhất chung Tuy nhiên, phương pháp

để đo lường chất lượng kiểm toán có thể được chia làm ba loại: quan điểm hoạt độngliên tục, sai sót trọng yếu và hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Thứ nhất, quan điểm hoạt động liên tục (Going-concern opinions).

Các nhà nghiên cứu (Francis, 2011; Lennox, 1999) đã đo lường chất lượng kiểmtoán dựa vào mối quan hệ giữa báo cáo kiểm toán trên giả định hoạt động liên tục và

sự sụp đổ của doanh nghiệp Chất lượng kiểm toán thấp xảy ra khi ý kiến về khả nănghoạt động liên tục không được công bố trước khi doanh nghiệp phá sản

Tuy nhiên, việc sử dụng ý kiến về giả định hoạt động liên tục để đo lường chấtlượng kiểm toán lại là một thách thức Bởi vì những thất bại trong kinh doanh củadoanh nghiệp chỉ là một tình huống dự đoán trong tương lai, chứ không phải là kết quảphân tích các BCTC trong quá khứ Hơn nữa, việc dựa trên giả định hoạt động liên tụccũng góp phần khiến doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí phải phá sản, khi ngânhàng và nhà cung cấp từ chối các khoản tín dụng đối với khách hàng này

Thứ hai, sai phạm trọng yếu (Material misstatements).

Hai biện pháp được sử dụng để đo lường sai sót trọng yếu thường được sử dụngtrong các nghiên cứu bao gồm: Việc công bố lại BCTC và việc thực thi pháp luật về

Kế toán – Kiểm toán (AAERs) (M DeFond & Zhang, 2014) Việc công bố lại BCTCđược thực hiện khi kế toán phải sửa lại BCTC để không còn những sai sót trọng yếuđược kiểm toán viên phát hiện ra (Alyousef & Almutairi, 2010) Việc công bố lạiBCTC và thực thi pháp luật về Kế toán – Kiểm toán là những biện pháp hữu hiệu đểcải thiện chất lượng kiểm toán, bởi vì khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận vềmột BCTC có chứa các sai sót trọng yếu, họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý kiếncủa mình

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng có một mối quan hệ giữa việc công

bố lại BCTC và chất lượng kiểm toán thấp Ví dụ, Raghunandan, Read, và Whisenant(2003) đã tiến hành điều tra về mối quan hệ giữa phí phi kiểm toán (dịch vụ kèm theodịch vụ kiểm toán) và việc công bố lại BCTC, từ đó chỉ ra mối quan hệ trực tiếp giữaphí phi kiểm toán và chất lượng kiểm toán Palmrose & Scholz (2000) đã nghiên cứu

về kết quả của vụ kiện kiểm toán viên từ việc điều chỉnh sự tương giao của chất lượngBCTC và chất lượng kiểm toán Hơn nữa, sai sót trọng yếu phát sinh từ việc không xácđịnh đầy đủ các tài khoản có nguy cơ sai phạm cao và các giao dịch của kiểm toánviên (Z.-V Palmrose & Scholz, 2000)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Tuy nhiên, việc công bố lại BCTC và thực thi pháp luật về Kế toán – Kiểm toánkhông phải luôn là phương pháp tốt để đo lường chất lượng kiểm toán (ML DeFond,2010; Tritscher, 2013) Công bố lại BCTC và thực thi pháp luật về Kế toán – Kiểmtoán có thể không xuất phát từ các sai phạm trên BCTC (ML DeFond, 2010) Hơn nữa,công bố lại BCTC có thể là do những thay đổi trong chính sách kế toán, do đó, chúngkhông phải là một chỉ tiêu đo lường chất lượng kiểm toán hiệu quả (Tritscher, 2013).

Thứ ba, hành vi điều chỉnh lợi nhuận (earnings management).

Trên thực tế, Ban giám đốc thường được hưởng lương theo lợi nhuận của công

ty Do đó, họ thường có các thủ thuật để điều chỉnh lợi nhuận đạt được mức mongmuốn Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng luôn đánh giá tình hình hoạt động, kinhdoanh, triển vọng tăng trưởng của công ty thông qua chỉ tiêu lợi nhuận Do đó, việcđiều chỉnh lợi nhuận là hành vi phổ biến tại các công ty niêm yết để tạo ra kết quả kinhdoanh hấp dẫn, đồng thời làm tăng giá trị cổ phiếu của công ty (Thomas P Houck,2003)

Điển hình của việc điều chỉnh lợi nhuận là vụ bê bối kế toán của công ty Enron.Bằng cách thổi phồng lợi nhuận của mình, che dấu hàng tỉ USD bị thua lỗ, đồng thờitạo áp lực để công ty kiểm toán bỏ qua các khoản có rủi ro quan trọng Trong khi đó,những người quan tâm lại hoàn toàn tin tưởng vào BCTC đã được kiểm toán Ngay khi

bị phát hiện, cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90$ vào giữa năm 2000 đã giảm xuống chỉcòn chưa tới 1$ vào cuối tháng 11/2001 Vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ đãkhiến nhà đầu tư mất hàng nghìn tỉ đô và khoảng 20 nghìn nhân viên mất việc làm.Tại Việt Nam, người sử dụng BCTC cũng thường bị đánh lừa bởi những con sốđẹp được thể hiện trên BCTC đã kiểm toán Trường hợp của Công ty Dược Viễn Đông

là một ví dụ Mặc dù đã kinh doanh thua lỗ song BCTC vẫn thể hiện kết quả ấn tượng,

cả hai công ty kiểm toán lớn là ACC và Ernst & Young đều không phát hiện ra hành viđiều chỉnh lợi nhuận của công ty này, khiến cho hàng nghìn nhà đầu tư thua lỗ

Có những định nghĩa khác nhau về hành vi điều chỉnh lợi nhuận Nghiên cứu của

DN Healy & Wahlen (1999) cho rằng việc điều chỉnh thu nhập xuất hiện khi ban giámđốc sử dụng các ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để nhằm thay đổi BCTC, làmcho các đối tượng có liên quan hiểu sai về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp.Theo Ronen và Yaari (2008), các nghiên cứu trước đây có ít nhất hai cách để điều

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

chỉnh thu nhập của doanh nghiệp, cụ thể là: 1) lựa chọn các chính sách kế toán làm ảnhhưởng đến số liệu về thu nhập của Doanh nghiệp và 2) thực hiện bằng các hành độngliên quan đến hoạt động sản xuất, đầu tư Tuy nhiên, rất khó để quan sát trực tiếp việcđiều chỉnh thu nhập, do đó, các nghiên cứu sử dụng phương pháp “Biến kế toán dồntích có thể điều chỉnh” (discretionary accruals) để xác định mức điều chỉnh thu nhập(Tritscher, 2013).

Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đượchạch toán kế toán dựa trên phương pháp kế toán dồn tích Điều này có nghĩa là việccông nhận doanh thu và chi phí sẽ không phụ thuộc vào dòng tiền mà là tại thời điểmphát sinh giao dịch Thu nhập ròng là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí Tuy nhiên,Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ được lập dựa trên dòng tiền, nghĩa là kế toán chỉ đượcphép ghi nhận doanh thu và chi phí khi thực sự chi ra hoặc được thanh toán, khôngphải tại thời điểm phát sinh giao dịch Do đó, khoản dồn tích là chênh lệch giữa thunhập ròng trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền ròng trong Báocáo Lưu chuyển Tiền tệ, được biểu diễn trong phương trình (1)

Nói cách khác, các khoản dồn tích là "thành phần của thu nhập không đượcphản ánh trong dòng tiền hiện tại" Theo Healy (trích dẫn ở Young, 1998), tổngbiến dồn tích bao gồm các yếu tố có thể điều chỉnh và không thể điều chỉnh

Phương trình như sau:

Trong đó:

Từ phương trình (2), các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được xác định nhưsau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

Theo mô hình của DeAngelo (1986), các biến kế toán dồn tích không thể điềuchỉnh của kỳ này là tổng biến kế toán dồn tích của kỳ trước:

Trong đó:

TAit-1là tổng biến kế toán dồn tích của công ty i trong năm t-1 Bởi vì mô hình

này kiểm tra sự tăng trưởng của công ty, tổng biến kế toán dồn tích được chia cho tổngtài sản của kỳ trước (Ait-1).Vì vậy, biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được tính là

Điều chỉnh thu nhập (Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh) là một biện phápthích hợp để đánh giá chất lượng kiểm toán BCTC được kiểm toán (M DeFond &Zhang, 2014; Sundgren & Svanström, 2013) Thật vậy, thông qua Biến kế toán dồntích có thể điều chỉnh, các nhà quản lý có thể điều chỉnh lại lợi nhuận của công ty theohướng có lợi cho mình hơn là người sử dụng thông tin tài chính khác (Tritscher, 2013).Các nhà quản lý có xu hướng lựa chọn chính sách kế toán để điều chỉnh thu nhậpnhằm có được tiền thưởng cao hơn từ thu nhập doanh nghiệp của họ (Becker, DeFond,Jiambalvo, & Subramanyam 1998; Schipper, 1989), để đáp ứng các giao ước nợ(Becker, 1998) hoặc để giảm chi phí quản trị (Jones, 1991) Kiểm toán viên có thểkhông phát hiện được việc điều chỉnh thu nhập này do nguồn lực hạn chế hoặc có thểkhông báo cáo việc điều chỉnh thu nhập khi họ đạt được lợi ích mà rủi ro kiểm toánvẫn thấp (Tritscher, 2013) Mặt khác, việc điều chỉnh thu nhập sẽ bị hạn chế nếu chấtlượng kiểm toán cao, do đó, nó là một giá trị thích hợp để đo lường chất lượng kiểmtoán (M DeFond & Zhang, 2014)

Từ các phân tích trên, có thể kết luận được ưu và nhược điểm của từng phươngpháp đo lường chất lượng kiểm toán như trong Bảng 1 Ở Việt Nam, số liệu về các saiphạm và điểm yếu của các công ty kiểm toán trong điều tra của cơ quan chức năngkhông có sẵn Số lượng các công ty kiểm toán đang bị nghi ngờ về chất lượng dịch vụkiểm toán của họ không đại diện cho tất cả các công ty kiểm toán tại Việt Nam Hơnnữa, phần ý kiến quan tâm của kiểm toán viên là rất hạn chế, do đó không thể được sửdụng để phản ánh chất lượng kiểm toán Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng phương pháp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

quản lý thu nhập (Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh – Discretionary Accruals) như

là một giá trị đo lường chất lượng BCTC của các công ty niêm yết

Bảng 1: Điểm mạnh và điểm yếu của các phương pháp đo lường CLKT Gía trị

 Không nắm bắt được sự thay đổi củachất lượng

 Không thể kết luận chất lượng kiểmtoán cao dựa trên việc ít có các sai sóttrọng yếu

Ý kiến

hoạt động

liên tục

 Phương pháp tốt để đo

Phù hợp với các kiểm toán viênđộc lập

 Không nắm bắt được sự thay đổi củachất lượng

 Chỉ áp dụng cho các công ty bị phásản

 Chấp nhận các nguyên tắc

kế toán chung

 Có thể phát hiện các sai sóttrọng yếu nghiêm trọng hơn

 Đo lường chất lượng trênmột số lượng lớn doanh nghiệp

 Kết quả của phép đo phụ thuộc và dữliệu trước đó

 Một vài trường hợp, các thông tinđược công bố trên báo cáo tài chínhkhông bao gồm chất lượng thu nhập Sẽkhông chính xác khi sử dụng để đánhgiá chất lượng kiểm toán

 Hạn chế sự đồng bộ trong đo lường

 Khả năng đo lường sai lớn

1.4 Thực trạng chất lượng kiểm toán trong các công ty kiểm toán độc lập hiện nay ở Việt Nam

1.4.1 Một số thành tựu

Cùng với quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế, chưa bao giờ hoạt động củangành Kiểm toán độc lập lại sôi động như hiện nay Số lượng các công ty hoạt động trongngành tăng lên nhanh chóng cùng với các dịch vụ cung cấp ngày càng đa dạng và chuyênnghiệp đã cho thấy kiểm toán độc lập là một nhu cầu rất thiết thực Chất lượng kiểm toánBCTC ở nước ta bước đầu đã được khách hàng tin tưởng và ngày càng có uy tín

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 10/07/2018, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w