1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

DE CUONG CHINH TRI HOC DAI CUONG

48 246 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên hệ với Việt Nam?Trả lời: Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia với vấn đềgiành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước, là

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

Câu 1: Chính trị là gì? Chính trị học là gì? Trình bày đối tượng nghiên c u ứu c a ủa chính trị học? 2

Câu 2: Trình bày n i ội dung tư t ưởn g chính trị c a n ủa phái Nho gia sơ kỳ? Phân tích m t ặt tích cực và hạn chế củaa nó? Liên hệ với Vi t ệ Nam? 3

Câu 3: Trình bày n i ội dung tư tư n ởn g chính trị củaa Pháp gia? Liên hệ với Vi t ệ Nam? 5

Câu 4: Trình bày n i ội dung tư tư n ởn g chính trị Hy La cổ đ i? ạ 7

Câu 5: Trình bày sự hình thành và phát tri n ển c a ủa thuy t: ế “Tam quy n ền phân l p”? ập”? 8

Câu 6: Quy n ền l c ự chính trị là gì? Phân tích sự hình thành quy n ền lực chính trị và sự chuy n ển hóa quyềnn l c ự chính trị thành quy n ền l c ự nhà nước? 10

Câu 7: Đ ng ảng chính trị là gì? Trình bày vai trò c a ủa Đ ng ảng chính tr ? ị 11

Câu 8: Văn hóa chính trị là gì? Phân tích c u ấu trúc c a ủa văn hóa chính tr ? ị Trình bày cơ sởn hình thành văn hóa chính trị ởn Vi t ệ Nam và phư n ơ g thứuc giáo d c ục văn hóa chính trị cho đ i ội ngũ cán bội và nhân dân? 13

Câu 9 Trình bày n i ội dung tư tưởnng chính trị Phư n ơ g Tây thời cổ đ i ạ và th i ờ c n ập”? đ i? ạ 16

Câu 10 V n ập”? d ng ục những giá trị trong n i ội dung tư tư n ởn g chính trị c a ủa Kh ng ổ tử và tư tư n ởn g chính trị Hàn Phi tử vào th c ự ti n ễn chính trị nước ta hi n ệ nay? 20

Câu 11 Hãy trình bày sự hi u ển bi t ế vền quy n ền lực chính tr ? ị 22

Câu 12 Nêu hiểnu bi t ế vền nét đ c ặt trưng c a ủa văn hóa chính trị và những giá trị cơ b n ảng t o ạ nên c u ấu trúc văn hóa chính tr ? ị 24

Câu 13 Nêu hi u ển bi t ế vền hệ th ng ố chính trị và đ c ặt đi m ển c a ủa hệ th ng ố chính trị Vi t ệ Nam hi n ệ nay? 26

Câu 14 Th c ự tr ng ạ tổ ch c ứu và ho t ạ độing c a ủa các thành tố trong hệ th ng ố chính trị ởn đ a ị phương, cơ s , ởn đền xu t ấu gi i ảng pháp nâng cao ch t ấu lư n ợ g ho t ạ đ ng ội củaa hệ th ng ố chính trị 28

15 Chính trị là gì? Phân tích lu n ập”? điểnm: Chính trị v a ừa là khoa h c, ọ v a ừa là nghệthuập”?(5đ) 28

16.Đảngng chính trị là gì? Trình bày vai trò củaa Đ ng ảng chính tr ị Liên hệ với đảngng c ng ội s n ảng Việt Nam(5đ) 30

17 T i ạ sao nói quy n ền l c ự là mối liên hệ phổ bi n ế trong xã h i? ội 33

18 Phân bi t ệ quy n ền lực chính trị và quy n ền l c ự nhà nước 34

Câu 19: N i dung và nh ng giá tr trong l ch s t t ội ữ ị ị ử ư ưởn ng chính tr Trung Qu c c đ i? Ý nghĩa th c ti n ị ố ổ ạ ự ễn c a nh ng giá tr ? ủa ữ ị 35

Câu 20: N i dung và nh ng giá tr trong l ch s t t ội ữ ị ị ử ư ưởn ng chính tr ph ị ươ ng Tây? 36

Câu 21: Phân tích đ ch ra nh ng u đi m và h n ch c a các lo i th ch chính tr các qu c gia? ển ữ ư ển ạ ế ủa ạ ển ế ị ởn ố 39

Câu 22: C s đ Vi t Nam l a ch n th ch chính tr CHXH ch nghĩa Phân tích nh ng đ c tr ng c a ơ ởn ển ệ ự ọ ển ế ị ủa ữ ặt ư ủa th ch chính tr Vi t Nam? ển ế ị ệ 41

Trang 2

1

Trang 3

Câu 1: Chính trị là gì? Chính trị học là gì? Trình bày đối tượng nghiên cứu của chính trị học?

- là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội

- là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm tìm kiếm khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích

2 Chính trị học là gì?

Chính trị học là khoa học nghiên cứu về lĩnh vực chính trị nhằm làm sáng tỏ những quy luật, tính quy luậtcủa đời sống chính trị - xã hội, cùng những thủ thuật chính trị để hiện thực hóa những quy luật, tính quy luậttrong xã hội có giai cấp và được tổ chức thành nhà nước

3 Đối tượng nghiên cứu của chính trị học:

- Mọi khoa học, như Ph.Ăngghen khẳng định, đều có đối tượng nghiên cứu riêng là những quy luật, tính quyluật thuộc khách thể nghiên cứu của nó Điều đó cũng hoàn toàn đúng với Chính trị học, khoa học lấy lĩnh vựcchính trị làm khách thể nghiên cứu

- Cùng một khách thể, có thể có nhiều khoa học nghiên cứu Lĩnh vực chính trị là khách thể nghiên cứu của:chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà nước và pháp luật, luật học, xã hội học, xây dựng Đảng… Sự phân biệt Chính trịhọc với các khoa học chính trị khác trước hết là ở đối tượng nghiên cứu

- Chính trị học nghiên cứu khái quát đời sống chính trị của xã hội nhằm đạt được những tri thức mang tínhbản chất, từ đó làm cơ sở cho việc nhận thức đúng đắn những quy luật, tính quy luật chi phối toàn bộ đời sốngchính trị, là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị xoay quanh vấn đề trung tâm, then chốt là quyền lựcchính trị Từ đó có thể xác định: Chính trị học là khoa học nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể nhằm nhậnthức và vận dụng những quy luật và tính quy luật chung nhất của đời sống chính trị Đối tượng nghiên cứu củaChính trị học là những quy luật, tính quy luật chung nhất của đời sống chính trị xã hội, những cơ chế tác động,

cơ chế vận dụng, những phương thức, thủ thuật, công nghệ chính trị để hiện thực hóa những quy luật, tính quyluật đó

- Để khái quát hóa những quy luật, tính quy luật chung nhất của đời sống chính trị, Chính trị học đi sâu nghiên cứu các hình thức hoạt động xã hội đặc biệt có liên quan đến nhà nước

+ Hoạt động xác định mục tiêu chính trị trước mắt, mục tiêu triển vọng dưới dạng khả năng và hiện thực,cũng như những con đường giải quyết các mục tiêu đó có tính đến tương quan lực lượng xã hội, khả năng xã hội

ở giai đoạn phát triển tương ứng của nó

+ Hoạt động tìm kiếm, thực thi các phương pháp, phương tiện, những thủ thuật, những hình thức tổ chức

có hiệu quả đạt mục tiêu đã đề ra

+ Việc lựa chọn, tổ chức, sắp xếp những cán bộ thích hợp nhằm hiện thực hóa có hiệu quả mục tiêu

- Đồng thời, với việc nghiên cứu các hoạt động của các chủ thể, Chính trị học còn nghiên cứu các quan hệ giữa các chủ thể chính trị:

+ Quan hệ giữa các giai cấp, thực chất là quan hệ giữa các lợi ích chính trị mà các giai cấp theo đuổi để hìnhthành lý luận về liên minh giai cấp, đấu tranh và hợp tác các giai cấp vì yêu cầu chính trị

+ Quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống tổ chức quyền lực: đảng chính trị, nhà nước, các tổ chứcchính trị - xã hội để hình thành lý luận về đảng chính trị, nhà nước pháp quyền, và về hệ thống chính trị và cơchế thực thi quyền lực chính trị

+ Quan hệ giữa các dân tộc để hình thành lý luận chính trị về vấn đề dân tộc trong sự vận dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc

+ Quan hệ giữa các quốc gia để hình thành học thuyết về chính trị quốc tế trong thời đại quốc tế hóa hiện nay

Trang 4

Câu 2: Trình bày nội dung tư tưởng chính trị của phái Nho gia sơ kỳ? Phân tích mặt tích cực và hạn chế của nó? Liên hệ với Việt Nam?

Trả lời:

Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia với vấn đềgiành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xãhội, là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm thực hiện đường lối và những mục tiêu

đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích

1 Nội dung tư tưởng chính trị của phái Nho gia sơ kỳ:

Tư tưởng Nho gia chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc Nó đã ảnhhưởng sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc và các nước láng giềng trong suốt hơn 2000 năm lịch

sử Hai nhân vật tiêu biểu của trường phái Nho gia là Khổng Tử và Mạnh Tử

a Khổng Tử:

* Tiểu sử: Khổng Tử là người sáng lập ra trường phái Nho gia Ông tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ratrong một gia đình quý tộc nhỏ ở nước Lỗ Thời trẻ, ông đã từng mở trường dạy học, ra làm quan Vìkhông được trọng dụng, ông dẫn các học trò đi chu du các nước hơn 10 năm Cuối đời, ông trở về nước Lỗ tiếptục dạy học và chỉnh lý, san định các thư tịch cổ như ngũ kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch và viết kinh XuânThu Luận ngữ là bộ sách do học trò của Khổng Tử ghi lại

* Tư tưởng chính trị của Khổng Tử trước hết là vì sự bình ổn xã hội – một xã hội “thái bình thịnh trị” Theo ông,chính trị là chính đạo, đạo của người làm chính trị phải ngay thẳng, phải lấy chính trị để dẫn dắt dân, nhà Nhophải tham chính… Từ nhận thức đó, Khổng Tử cho rằng, xã hội loạn lạc là do mỗi người không ở đúng vị trícủa mình, Lễ bị xem nhẹ Để thiên hạ có “đạo”, quay về Lễ, phải củng cố điều Nhân, coi trọng Lễ nghĩa, mỗingười phải hành động trong khuôn khổ của mình, từ đó xã hội sẽ ổn định Để thực hiện lý tưởng chính trịcủa mình, ông đề ra học thuyết “Nhân – Lễ - Chính danh”

- Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử Nó là thước đo, là chuẩn mực quyếtđịnh thành hay bại, tốt hay xấu của chính trị Nội dung điều Nhân rất rộng, bao hàm các vấn đề về đạo đức, lýluận xã hội Trong chính trị, điều Nhân thể hiện ở các nội dung:

+ Thương yêu con người, trong đó thương yêu người thân của mình hơn và yêu người nhân đức hơn Từ thương người đi đến hai nguyên tắc: “Điều mình không muốn thì đừng đối xử với người khác” và “Mình muốn thành đạt thì phải làm cho người khác thành đạt”

+ Tu dưỡng bản thân, sử mình theo lễ +

Tôn trọng và sử dụng người hiền

Nhân là trung thành, là vị tha Người có Nhân phải thực hiện 5 điều: Cung kính, khoan nhượng, giữ chữ tín, siêng năng, làm lợi cho người khác Hiều với cha mẹ và hữu ái là gốc của đức Nhân

=> Như vậy, nội dung Nhân là nhân đạo, yêu thương con người, coi người như mình, giúp đỡ lân nhau Khiđiều Nhân đã bao trùm thì không còn mâu thuẫn, xung đột, lễ nhà Chu được phục tùng, xã hội sẽ tự ổn định.Theo Khổng Tử, đạo Nhân không phải để cho tất cả mọi người mà chỉ có ở người “quân tử” (quý tộc, trí thứcthuộc giai cấp thống trị), còn kẻ “tiểu nhân” (người lao động, giai cấp bị trị) thì không bao giờ có Để đạt đượcđiều Nhân, cần phải có Lễ

- Lễ vốn là những quy định, nghi thức trong cúng tế Khổng Tử đã lý luận hóa, biến Lễ thành những quyđịnh, trật tự phân chia thứ bậc trong xã hội, được thể hiện trong phong cách sinh hoạt: hành vi, ngôn ngữ, trangphục, nhà cửa…

+ Lễ là chuẩn mực đạo đức, là khuôn mẫu cho mọi hành động của cá nhân và các tầng lớp trong xã hội Lúcnày, Lễ mang tính pháp lý, có tác dụng khống chế các hoạt động thái quá Ai ở địa vị nào thì chỉ được dùng Lễ

ấy, tùy vào tính chất công việc khác nhau Lễ là bộ phận của Nhân Lễ là ngọn, Nhân là gốc Người có đứcNhân là người “không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói những điều không hợp

Lễ, không làm những điều không hợp Lễ”…

+ Lễ tạo cho con người biết phân biệt trên dưới, biết thân phận, vai trò, địa vị của mình trong xã hội, biết phục tùng làm theo điều lành và xa rời điều ác

Trang 5

+ Theo Khổng Tử, Lễ quy định chuẩn mực cho các đối tượng quan hệ cơ bản: vua – tôi, cha – con,chồng – vợ, anh – em, bạn bè Các quan hệ này đều có hai chiều, phụ thuộc vào nhau “Vua sai khiến bề tôi phảitheo Lễ, bề tôi thờ vua theo đạo trung, cha đối với con phải nhân từ, con thờ cha phải hiếu thảo…” Nhưngông cũng coi việc bề dưới lật đổ bề trên là hợp lý, khi bề trên không xứng đáng với danh vị của mình nữa.Việc vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương bị lật đổ là hợp mệnh trời, vì đó là những ông vua ác, thất nhân tâm.+ Khổng Tử xem Lễ như luật lệ “Một ngày sửa mình theo Lễ thì thiên hạ sẽ theo về” Lễ không phảidùng cho tất cả mọi người mà chỉ đem áp dụng cho người có Nhân Cung kính là gốc của Lễ Nhân cótrước, Lễ có sau.

- Chính danh là danh phận đúng đắn, ngay thẳng Đây là phạm trù cơ bản trong học thuyết chính trị củaKhổng Tử Chính danh là xác định và phân biệt quan hệ danh phận, đẳng cấp giữa các giai cấp, thực chất làkhẳng định tính hợp lý của giai cấp quý tộc trong việc thực thi quyền lực của mình Nó vừa là điều kiện, vừa

là mục đích của chính trị Chính danh thể hiện ở các nội dung:

+ Xác định danh phận, đẳng cấp và vị trí của từng cá nhân, tầng lớp trong xã hội Ai ở vị trí nào thì làm trònbổn phận ở vị trí ấy: vua phải giữ đúng đạo làm vua, tôi phải giữ đúng đạo làm tôi, cha phải giữ đúng đạo làmcha, con phải giữ đúng đạo làm con; không được làm quá chức năng, bổn phận của mình

+ “Danh” phải phù hợp với “thực”, nội dung phải phù hợp với hình thức Trong chính trị, lời nói phải đi đôi với việc làm

+ Đặt con người vào đúng vị trí và chức năng Phải xác định “danh” trước khi có “thực” vì “danh” làđiều kiện thi hành “thực” Khi có danh thì thực mới có ý nghĩa “danh không chính thì ngôn không thuận, ngônkhông thuận thì việc không thành”

+ Giữa Chính danh và Lễ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: muốn “danh” được “chính” (đúng đắn, phù hợp với thực) thì phải thực hiện Lễ Chính danh là điều kiện để thực hiện, trau dồi Lễ

+ Chính danh là một biện pháp quy định và giúp mọi người nhận rõ cương vị, quyền hạn và nghĩa vụ củamình trong quan hệ với chức vụ và đẳng cấp tương ứng Có xác định được danh phận thì mới điều hòa được cácmối quan hệ Đây là vấn đề cơ bản của cách ứng xử chính trị

=> Học thuyết chính trị của Khổng Tử được xây dựng trên ba phạm trù cơ bản: Nhân – Lễ - Chính danh.Nhân là cốt lõi của vấn đề, vừa là điểm xuất phát nhưng cũng là mục đích cuối cùng của hệ thống Do vậy, cóthể gọi học thuyết của chính trị của Khổng Tử là “đức trị” vì lấy đạo đức làm gốc hay “nhân trị” Điều nhânđược biểu hiện thông qua lễ, chính danh là con đường đạt đến điều nhân Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứngvới nhau, tạo nên tính chặt chẽ của học thuyết Về bản chất, học thuyết chính trị của Khổng Tử là duy tâm vàphản động, vì nó không tính đến các yếu tố vật chất của xã hội mà chỉ khai thác yếu tố tinh thần – đạo đức.Mục đích của học thuyết này là bảo vệ chế độ đẳng cấp, củng cố địa vị thống trị của giai cấp quý tộc đã lỗithời, đưa xã hội trở về thời Tây Chu

b Mạnh Tử:

Mạnh Tử là người nước Trâu Ông đã kế thừa và phát triển sáng tạo những tư tưởng của Khổng Tử, xây dựnghọc thuyết “Nhân chính” (chính trị nhân nghĩa) của mình Tư tưởng chính trị của ông có những nội dung cơbản sau:

- Thuyết tính thiện: Theo Mạnh Tử, bản tính tự nhiên của con người là thiện Con người có lòng trắc ẩn thì

tự nhiên biết xấu hổ, nhường nhịn, biết phải trái Lòng trắc ẩn là nhân, biết xấu hổ là nghĩa, biết nhườngnhịn là lễ, biết phải trái là trí Nhân, lễ, nghĩa, trí là bốn thứ vốn có ở tâm ta Con người trở thành ác vì khôngbiết tu tâm, dưỡng tính, để cho vật dục chi phối, chạy theo lợi ích cá nhân

- Quan niệm về vua – tôi – dân: Mạnh Tử cho rằng, Thiên từ là do mệnh trời trao cho thánh nhân và vậnmệnh trời nhất trí với ý dân Trời ngấm ngầm trao quyền cho người có đức, hợp lòng dân Quan hệ vua – tôi làquan hệ hai chiều: “Vua coi bầy tôi như chân tay thì bầy tôi coi vua như ruột thịt, vua coi bầy tôi như chó ngựathì bầy tôi coi vua như người dưng, vua coi bầy tôi như cỏ rác thì bầy tôi coi vua như cừu địch” Tiến thêm mộtbước, ông cho rằng: “Ta phải hiểu là giết thằng Trụ chứ không nên hiểu là giết vua vậy” Mạnh Tử đề xuất tưtưởng “nhường ngôi” Thiên tử có thể nhường ngôi cho vua chư hầu, căn cứ vào đức hạnh và khăn năng thựchành nhân chính của ông ta

4

Trang 6

+ Mạnh Tử là người đầu tiên đưa ra luận điểm tôn trọng nhân dân: “Dân là quý nhất, quốc gia đứng thứhai, vua là không đáng trọng” Như dân ở đây là chỉ thần dân, kẻ phụ thuộc, bị thống trị Coi trọng dân chỉ là thủđoạn chính trị để thống trị tốt hơn mà thôi.

- Quan niệm về quân tử - tiểu nhân: Quân tử là hạng người lao tâm, cai trị và được cung phụng Tiểu nhân

là hạng người bạo lực, bị cai trị và phải cung phụng người Mạnh Tử đề xuất chủ trương dùng người hiền đểthực hành chính trị nhân nghĩa Trị nước là nghề cao quý và quan trọng nhất, nên người cai trị phải đượctuyển chọn công phu, chu đáo Nhưng bất đắc dĩ mới để cho có ngoại lệ “kẻ hèn vượt người tôn quý”

- Chủ trương vương đạo: Mạnh Tử kịch liệt phản đối chiến tranh, bạo lực, nguồn gốc của mọi rối ren, loạnlạc Chính trị “vương đạo” là nhân chính, lấy dân làm gốc “Vương đạo” chỉ nhằm vào nhân nghĩa để mỗingười “tự nuôi lấy bản thân mà chờ số mệnh” thì thiên hạ sẽ bình yên vô sự Muốn cho tâm trí dân ổn địnhkhông làm loạn, thì phải tạo điều kiện cho họ có một mức sống vật chất tối thiểu Thực chất của “”vươngđạo” là người cai trị phải giáo dục dân tuyệt đối phục tùng bề trên, thực hiện “tam cương, ngũ thường”, tróibuộc ý thức và luân lý Nho giáo để dễ bề cai trị họ

=> Học thuyết “chân chính” của Mạnh Tử có nhiều tiến bộ hơn so với Khổng Tử Tuy vẫn đứng trên lậptrường của giai cấp thống trị, nhưng ông đã nhìn thấy được sức mạnh của nhân dân, chủ trương thi hành nhânchính, vương đạo Đó là những yếu tố dân chủ, tiến bộ Điểm hạn chế của ông là còn tin vào mệnh trời vàtính thần bí trong lý giải vấn đề quyền lực

3, Liên hệ với Việt Nam:

Nho gia Trung Quốc tác động tới Việt Nam trên mọi phương diện: thể chế chính trị, giáo dục, đao đức, văn học, nghệ thuật, phong tục… Nho gia ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa xã hội Việt Nam:

- Ban đầu khi được truyền bá vào Việt Nam, Nho gia đã được sử dụng như một thứ vũ khí để thể hiện sứcmạnh và tham vọng đồng hóa người phương Nam của phong kiến phương Bắc Tuy nhiên, Nho giáo đượcngười Việt tiếp biến có chọn lọc và mang những nội hàm mới

- Tư tưởng chính trị của Nho gia góp phần xây dựng nên nhà nước phong kiến Việt Nam vững mạnh (là nềntảng lý luận để tổ chức nhà nước, pháp luật, phát triển kinh tế - xã hội) Thời nhà Lê, vua Lê Thánh Tông đưaNho giáo thành quốc giáo ở nước ta Ông tổ chức nhiều khoa thi để tuyển chọn nhân tài vào làm việc trong bộmáy nhà nước Ông tiến hành cải cách bộ máy hành chính, xây dựng hệ thống chính trị chặt chẽ từ cơ sở đếntrung ương, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, đưa pháp luật vào đời sống, thay thế các tục lệ cũ

- Nho gia không chú ý đến khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật là kìm hãm đất nước ta nhiều thế kỷ

- Nho gia được Việt Nam hóa đã có những đóng góp đáng kể vào việc củng cố những truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập và sự thay đổi trong định hướng giá trị nhân cách cỉa ngườiViệt Nam, việc phát triển con người Việt Nam bền vững cần có Nho gia là cơ sở triết học vững chắc nhằm đảmbảo, duy trì các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp mà vẫn chứa đựng những yếu tố năng động, hiện đại

Câu 3: Trình bày nội dung tư tưởng chính trị của Pháp gia? Liên hệ với Việt Nam?

Trả lời:

Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia với vấn đềgiành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xãhội, là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phải, nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiệnđường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích

1 Nội dung tư tưởng của Pháp gia:

Vào cuối thời Chiến quốc, quá trình phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ cùng với sự phân hóa giai cấp ngàycàng sâu sắc đã cho ra đời một tầng lớp mới là địa chủ mới và thương nhân Do áp dụng phương thức sảnxuất tiến bộ và chính sách kinh tế phù hợp nên tầng lớp này đã nắm giữ, chi phối nền kinh tế đất nước Tuy vậy,tầng lớp quý tộc cũ nắm giữ quyền lực chính trị và đang trở thành vật cản của phát triển xã hội Yêu cầu bức xúclúc này là tập phân trung kinh tế và quyền lực để kết thúc tình trạng phân tranh, cát cứ, mở đường cho lựclượng sản xuất phát triển Pháp gia ra đời đã đáp ứng được yêu cầu trên Tư tưởng

5

Trang 7

Pháp gia được áp dụng thành công và đưa vào thời Tần trở thành bá chủ, thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước Công Nguyên

Phái Pháp gia gồm nhiều nhà tư tưởng, nhiều trường phái khác nhau như phái trọng pháp, phái trọng thuật,phái trọng thế Hàn Phi Tử là người tổng kết và phát triển tư tưởng của những nhà Pháp gia tiền bôi, hoànchỉnh học thuyết này

Hàn Phi Tử (khoảng 280 – 233 TCN) là nhà tư tưởng cuối cùng của thời Tiên Tần, là con của công tử (convua) nước Hàn Ông cùng với Lý Tư là học trò của Tuân Tử, nhà tư tưởng lớn nhất đương thời Ông muốndùng học thuyết của mình để giúp vua làm cho đất nước phú cường, nhưng không được vua Hàn trọng dụng.Đến nước Tần, ông bị Lý Tư hãm hại buộc phải tự sát trong ngục Tác phẩm Hàn Phi Tử của ông là tác phẩmkinh điển của phái Pháp gia

Hàn Phi Tử cho rằng, xã hội loài người luôn biến đổi, phát triển theo hướng đi lên Bản tính con người là hamlợi Điều lợi ảnh hưởng và chi phối các mối quan hệ trong xã hội Chính trị đương thời không nên bàn chuyệnnhân nghĩa cao xa mà cần có biện pháp cụ thể, cứng rắn, kiên quyết Từ nhận thức đó, học thuyết chính trị củaông được xây dựng trên cơ sở thống nhất pháp – thuật – thế:

- Pháp luật là những quy ước, khuôn mẫu, chuẩn mực do vua ban ra, được phổ biến rộng rãi để nhân dânthực hiện Pháp luật phải hợp thời, đáp ứng được những yêu cầu, không phát triển của xã hội, rõ ràng, dễ hiểu,phù hợp với trình độ dân chúng Pháp luật phải công bằng, để kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu, đám đông hiếp áp

số yếu Quyền lực cần phải tập trung vào một người là vua Vua đề ra pháp luật, quan lại theo dõi việc thực hiện,dân là người thi hành pháp luật

- Thuật là thủ đoạn hay thuật cai trị của người làm vua, để kiểm tra, giám sát, điều khiển bầy tôi Thuật làphương pháp tuyển chọn, sử dụng người đúng chức năng, tạo cho họ làm tròn bổn phận của mình Như vậy,thuật là yếu tố cần thiết, bổ trợ và làm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh Thuật phải được giữ bí mật,kín đáo, không được tiết lộ với bất cứ ai Vua không được để lộ sự yêu ghét của mình, đề phòng quần thần lợidụng Ông ta không phải làm gì mà bắt các quan phải làm việc cai trị dân chúng

- Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền Quần thần phục tùng nhà vua không phải theo tình cốt nhục,

mà chịu sự ràng buộc bởi quyền lực Yếu tố để quẩn thần buộc phải tuân theo đó là thế Thế là quyền lựcđảm bảo cho việc thi hành pháp luật Thế phải tuân thủ theo nguyên tắc tập trung, không được chia sẻ, khôngđược để rơi vào tay người khác Vua phải nắm chắc hai phương tiện cưỡng chế, đó là “nhị bính”: thưởng vàphạt Thưởng, phạt phải căn cứ vào cơ sở pháp luật chứ không thể tùy tiện, Vua cũng phải phục tùng phápluật Khi có thể, quyền uy của vua cũng sẽ tăng lên, lời nói có thêm sức mạnh

- Hàn Phi Tử cho rằng: “pháp”, “thuật”, “thế” cần phải kết hợp làm một, trong đó “pháp” là trung tâm,

“thuật” và “thế” là những điều kiện tất yếu trong việc thi hành luật Pháp luật phải vì lẽ phải và phục vụ lợi íchchung, “việc phạt tội không trừ bậc đại thần, việc thưởng công không bỏ sót kẻ thất phu”

- “Pháp trị” đối lập với “Nhân trị” của Nho gia Theo Hàn Phi Tử, nguồn gốc làm rối loạn pháp luật là do bọn

du sĩ và các học thuyết chính trị đua nhau làm hỏng pháp độ, cho nên phải dùng pháp luật để ngăn cấm vàkhông cho họ tham gia chính trị

=> Như vậy, đứng trên lập trường của giai cấp địa chủ mới, tư tưởng Pháp gia đã khai thông các bế tắc xãhội, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển Tư tưởng Pháp gia đã phục vụ đắc lực cho chế độ phongkiến trung ương tập quyền, góp phần không nhỏ trong việc củng cố chế độ phong kiến đời Tần Tuy nhiên, họcthuyết Pháp trị bị giai cấp cầm quyền cực đoan hóa, dẫn đến sự thống trị hà khắc tàn bạo (như vụ án lịch sử TầnThủy Hoàng ra lệnh đốt sách, chôn kẻ sỹ)

3 Liên hệ với Việt Nam:

Đối với Việt Nam, tư tưởng Pháp gia chiếm một ý nghĩa quan trọng trong đời sống chính trị

- Từ thời phong kiến, các vua chúa Việt Nam bị ảnh hưởng bởi tư tưởng cai trị phương Bắc, trong đó, biết

đề ra các quy tắc, chuẩn mực xã hội, buộc mọi người phải tuân theo nhằm ổn định xã hội (Luật Hình thư, LuậtHồng Đức, Luật Gia Long…)

- Biểu hiện thời hiện đại: Việc xây dựng Hiến pháp, pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

6

Trang 8

Câu 4: Trình bày nội dung tư tưởng chính trị Hy La cổ đại?

Trả lời:

Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia với vấn đềgiành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xãhội, là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiệnđường lỗi và những mục đích đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích

Văn minh Hy Lạp cổ đại đã tạo tiền đề hình thành và phát triển khá sớm những tư tưởng chính trị của nhânloại Những vấn đề căn bản của chính trị, tư duy chính trị đã được đặt ra và luận giải trên những nét chính ngay

ở thời kỳ này Trong quá trình phát triển từ chế độ cộng sản nguyên thủy sáng chiếm hữu nô lệ, ở Hy Lạp đãxuất hiện các quốc gia thành thị chiếm hữu nô lệ Mâu thuẫn xã hội giữa các tập đoàn trong giai cấp chủ nônhằm tranh giành quyền lực và mâu thuẫn giữa chủ nô với nô lệ và tầng lớp thị dân tự do ngày càng gay gắt dẫnđến hình thành các phe phái chính trị và xuất hiện những chính trị gia xuất sắc

- Quý tộc: là thể chế được xây dựng trên cơ sở cầm quyền của một nhóm người ưu tú nhất của đất nước, vì lợiích chung Tuy nhiên, thể chế này dễ có sự khác biệt, bất hòa, chia bè kéo phái dẫn đến tranh giành, tàn sát lẫnnhau

- Dân chủ: là thể chế mà quyền lực do đông đảo nhân dân nắm bằng con đường bỏ phiếu để trao những chức

vụ công cộng một cách đúng đắn và ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực, xây dựng nhà nước trên nguyên tắc

cơ bản: tất cả đều bình đẳng trước pháp luật Nhưng khi dân chúng có trình độ thấp thì dễ bầu ra những ngườilãnh đạo kém hiểu biết Họ dễ bị kích động bởi các cá nhân cầm quyền, từ đó xảy ra tình trạng vô chính phủ

2 Xênôphôn (khoảng 427 – 355 TCN)

- Ông thuộc tầng lớp quý tộc Khi bàn về chính trị, ông bàn về cách cai trị và cách quản lý Ông thấychính trị có một nghệ thuật thực hành, nghệ thuật cao nhất – nghệ thuật của bậc đế vương Ai nhận thức đượccác vấn đề chính trị sẽ trở thành người trung thực, người tốt Ai ngu dốt về chính trị sẽ rơi vào hàng nô lệ

- Tư tưởng chính trị của ông thể hiện ở quan điểm về thủ lĩnh chính trị Theo ông, thủ lĩnh chính trị là ngườibiết chỉ huy, giỏi kỹ thuật, giỏi thuyết phục, biết cảm hóa người khác Nhưng người thủ lĩnh cũng phải cónhững phẩm chất đặc biệt như biết bảo vệ lợi ích chung, có khả năng tập hợp sức mạnh của quần chúng Thiêntài của thủ lĩnh không phải tự nhiên mà có Nó sinh ra từ sự kiên nhẫn, từ khả năng chịu đựng lớn vể mặt thểchất, với ý chí sống và rèn luyện theo phong cách thanh liêm

3 Platôn (428 – 347 TCN)

- Platôn là nhà triết học thiên tài, đồng thời còn là nhà chính trị xuất sắc Tư tưởng chính trị của ông đượcphản ánh trong tác phẩm: “Nước cộng hòa”, “Các đạo luật và Nền chính trị” Ông là người đầu tiên đạt tớiquan niệm giá trị phổ biến, tầm vĩ mô của chính trị và hoạt động chính trị, tiêu chuẩn của nền chính trị đíchthực

- Khi bàn về khái niệm chính trị, Platôn cho rằng chính trị là sự thống trị của trí tuệ tối cao, là nghệ thuật dẫndắt xã hội con người Chính trị tự phân chia thành pháp lý, hành chính, tư pháp, ngoại giao… Chính trị là nghệthuật cai trị Cai trị bằng sức mạnh là độc tài, cai trị bằng thuyết phục mới đích thực là chính trị Chính trịphải là sự chuyên chế, tất cả các cá nhân phải phục tùng quyền uy Tự do chỉ dẫn đến hỗn loạn, gây tai họa chođời sống công dân

- Xã hội lý tưởng của Platôn là xã hội được trị vì bởi sự thông thái Ông chia xã hội thành ba hạng người: + Các nhà triết học thông thái đảm nhận vai trò lãnh đạo, cai trị, quản lý nhà nước

+ Tầng lớp chiến binh bảo vệ an ninh xã hội

7

Trang 9

+ Tầng lớp nông dân, thợ thủ công làm ra của cải, vật chất, đảm bảo cuộc sống cho xã hội.

- Công lý là ở chỗ, mỗi hạng người làm hết trách nhiệm của mình, hoạt động phù hợp với chức năng củamình Theo Platôn, điều kiện và cơ sở để duy trì một xã hội được cai trị bởi những người thông thái là phảithực hiện cộng đồng về tài sản và hôn nhân Ông chủ trương xóa bỏ sở hữu cá nhân (vì nó là nguồn gốc sinh racái ác) và tình yêu gia đình, thay vào đó là những tổ chức cộng đồng Như vậy, xóa cá nhân vì một xã hội lýtưởng, Platôn đã biến phương tiện thành mục đích Đó là khởi nguồn của “chủ nghĩa cộng sản không tưởng”.Ông cho rằng, khi lãnh đạo nhà nước, cần gạt sang một bên ý chí cá nhân, trước tiên phải dựa vào tôn giáo vàpháp luật Sự chuyển hóa quyền lực trong xã hội là do có sự đối kháng về quyền lợi và những vận động về chínhtrị

=> Quan điểm chính trị của Platôn còn nhiều mâu thuẫn: vừa đòi hỏi xóa bỏ tư hữu, vừa muốn duy trì chế độđẳng cấp Ông đưa ra mô hình xã hội lý tưởng và công lý nhưng đồng thời lại bảo vệ lợi ích của tầng lớp quý tộc,chủ nô Tuy nhiên, ông đã có những quan niệm cụ thể và hệ thống về chính trị và sự phát triển của xã hội nóichung

4 Arixtốt (384 – 322 TCN)

- Arixtốt là nhà bác học vĩ đại của văn minh Hy Lạp Trong hai công trình nghiên cứu và chính trị là

“Chính trị” và “Hiến pháp Aten”, ông đã tổng kết và phát triển tài tình các kết luận của các bậc tiền bối vềnguồn gốc và bản chất, hình thức và vai trò của nhà nước pháp quyền

- Theo Arixtốt, nhà nước xuất hiện tự nhiên, được hình thành do lịch sử Con người là “động vật chính trị”Bản tính của con người là sống trong cộng đồng Hình thức tổ chức cuộc sống cộng đồng trong một thể chế xãhội nhất định được gọi là nhà nước Nhà nước ra đời trên cơ sở gia đình, chính quyền nhà nước và sự tiếp tụcchính quyền trong gia đình Nhà nước không phải là kết quả của sự thỏa thuận giữa mọi người với nhau dựa trên

ý chí của họ Nó được phát triển từ gia đình và làng xã Thể chế chính trị là trật tự làm cơ sở để phân bố chínhquyền nhà nước Thể chế chính trị điều hành, quản lý xã hội về ba phương diện: lập pháp, hành pháp và phân

xử Sứ mệnh của nhà nước là lãnh đạo tập thể các công dân, quan tâm tới các quyền chung của công dân, làmcho mọi người sống hạnh phúc Điều đó lại chính là bản chất và chức năng của pháp luật Công lý chính là hànhđộng một cách công bằng theo pháp luật Thông qua pháp luật, các quyền chung của công dân được thể hiện vàcủng cố

- Ông cho rằng, không một loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phù hợp với tất cả mọi thời đại và cácnước Ông phân loại chính phủ theo tiêu chuẩn số lượng (người cầm quyền) và chất lượng (mục đích của sựcầm quyền) Kết hợp hai mặt đó, có thể sắp xếp chính phủ theo hai loại: chính phủ chân chính là: quân chủ,quý tộc, cộng hòa, chính phủ biến chất là: độc tài, quả đầu, dân trị Ông nhiệt thành ủng hộ chế độ quân chủ,coi như hình thức tổ chức nhà nước thần thánh và ưu việt nhất

=> Tư tưởng chính trị của Arixtốt chứa đựng những giá trị tích cực sau:

- Con người có khuynh hướng tự nhiên gắn bó với nhau thành xã hội Do đó, con người là động vật công dân, động vật chính trị, sống có trách nhiệm với cộng đồng

- Chính trị là làm sao trong đời sống cộng đồng, cái chung cao cả hơn cái cá nhân riêng biệt, con người sốngngày càng tốt hơn

- Chính trị phải giáo dục đạo đức và phẩm chất cao thượng cho công dân

- Chính trị là khoa học lãnh đạo con người, khoa học kiến trúc xã hội của mọi công dân

- Chế độ dân chủ sẽ chuyển thành chế độ mị dân hoặc độc tài nếu: ý chí cá nhân thay thế pháp luật, chế độ bị trao cho những tên nịnh bợ, gian xảo, ham quyền lực…

- Không thể hoạt động chính trị nếu bị dục vọng của cải chi phối và sự dốt nát chế ngự

- Chế độ quân chủ là hình thức sơ khai vì không có ai uy tín bằng lãnh tụ chiến thắng Nhưng khi xã hội phát triển, người tốt, người giỏi có nhiều thì chế độ chính trị phải thay đổi

Mặc dù hạn chế bởi mục tiêu giai cấp, bởi quan điểm cổ đại hẹp hòi về quyền tự do cá nhân cho nhữngngười nô lệ và lao động… song với nhãn quan uyên thâm và sâu sắc, tư tưởng chính trị của Arixtốt có ýnghĩa là sự tổng hợp và khái quát hóa những giá trị cơ bản của tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại

Câu 5: Trình bày sự hình thành và phát triển của thuyết: “Tam quyền phân lập”?

Trả lời:

Trang 10

Tam quyền phân lập hay còn hiểu theo nghĩa phân chia quyền lực là một mô hình quản lý nhà nước với mụctiêu kiềm chế quyền lực để hạn chế lạm quyền, bảo vệ tự do và công bằng pháp luật Mô hình và khái niệm nàyđược biết đến từ lâu, ít nhất là từ thời La Mã cổ đại và được thể chế hóa trong hiến pháp hiện đại của nhiềuquốc gia, trong đó có Hiến pháp Hoa Kỳ, Hiến pháp CHLB Đức hay các nước cộng sản khác Trong mô hìnhnày, quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp được tách biệt và giao cho 3 cơ quan độc lập khácnhau thực hiện và qua đó ràng buộc, kiểm tra và giám sát hoạt động lẫn nhau Theo thể chế này, không một cơquan hay cá nhân nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị của một quốc gia.

Trước chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào trongtay một cá nhân Chính đây là căn nguyên cho mọi hành vi độc tài, chuyên chế của các công việc nhà nước Vìvậy, muốn chống chế độ này, một lý thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là thuyết phân chiaquyền lực

Cội nguồn của tư tưởng phân quyền đã có từ thời cổ đại ở Phương Tây mà điển hình là nhà nước cộng h ò a

L a M ã Cộng hòa La Mã hàng năm đã bầu lãnh sự đã được lựa chọn bởi một cơ thể của công dân,Thượng viện quản lý pháp luật, nghị định được ban hành bởi các viên chức lãnh sự và ban hành nghị quyết

về những vấn đề quan trọng và cũng tham gia vào các quan hệ đối ngoại, và các hội đồng đã được thực hiệnbởiCông dân có vai trò khác nhau trong chính phủ.Các viên chức lãnh sự phụ trách của chính phủ và của quânđội Có 300 công dân Thượng viện khuyên họ ở tất cả các lần Trong lịch sử của Cộng hòa La Mã Thượng việnluôn luôn là nhóm mạnh nhất Chỉ có Đại hội có thể chấp thuận hoặc không chấp thuận của pháp luật và chỉ

có ứng cử đại biểu được bầu chọn cho văn phòng của lãnh sự.Hiến pháp của La Mã luôn luôn là một khái niệm

cơ bản của kiểm tra và cân bằng

Những tư tưởng phân quyền sơ khai trong thời cổ đại được phát triển thành học thuyết ở Tây Âu vào thế kỷ

17 – 18, gắn liền với hai nhà tư tưởng lớn là John Locke và C.L Montesquieu

John Locke (1632 - 1704), một nhà triết học người Anh, ông là người đầu tiên khởi thảo ra thành hệthống lý luận hoàn chỉnh về học thuyết phân quyền, và được thể hiện trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai vềChính quyền.” Về quyền lực nhà nước, ông cho rằng “chỉ có thể có một quyền lực tối cao, là cơ quan lập pháp,

mà tất cả các quyền lực còn lại là, và phải là, những cái phụ thuộc vào nó.” Theo đó, có thể thấy Lockeđồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp

Ông chia quyền lực nhà nước thành các phần: lập pháp, hành pháp và liên minh Theo đó, quyền lập pháp

là quyền lực cao nhất trong nhà nước, và phải thuộc về nghị viện; nghị viện phải họp định kỳ thông qua cácđạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua Nhàvua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các chức vị, chánh án và các quan chức khác Hoạt động củanhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào với nghị viện nhằm không chophép vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công dân Nhà vuathực hiện quyền liên minh, tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại

Những luận điểm phân quyền của J Locke đã được nhà khai sáng người Pháp, C.L Montesquieu (1689 –1775) phát triển Montesquieu đã phát triển một cách toàn diện học thuyết phân quyền, và sau này khi nhắctới thuyết phân quyền người ta nghĩ ngay đến tên tuổi của ông

Montesquieu kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc bấy giờ Chế độ quân chủ chuyên chế

là một tổ chức quyền lực tồi tệ, phi lý, vì: nhà nước tồn tại vốn biểu hiện của ý chí chung, nhưng trong chế độchuyên chế nó lại biểu hiện ý chí đặc thù; chế độ chuyên chế với bản chất vô pháp luật và nhu cầu pháp luật.Montesquieu nhận thấy pháp luật gồm nhiều lĩnh vực, phân ngành rõ rệt, cho nên tập trung vào một người duynhất là trái với bản chất của nó; gắn với bản chất chế độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền Vì vậy việcthanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể là đồng thời, là sự thanh toán chế độ chuyên chế TheoMontesquieu, một khi quyền lực tập trung vào một mối, kể cả một người hay một tổ chức, thì nguy cơchuyên chế vẫn còn

Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu đã lập luận tinh tế và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách

bạch các nhánh quyền lực và khẳng định: “Trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập

9

Trang 11

pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.” Ta

có thể nhận ra sự tiến bộ trong tư tưởng phân quyền của Montesquieu so với tư tưởng của Locke, khi táchquyền lực xét xử - quyền tư pháp ra độc lập với các thứ quyền khác

Từ đó, Montesquieu chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, đểchính quyền không thể gây hại cho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân Montesquieu đã viết:

“Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên Lão, thì sẽ không có

gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cáchđộc tài Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp Nếuquyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do củacông dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có

cả sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dânchúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết."

Tóm lại, theo Montesquieu, cách thức tổ chức nhà nước của một quốc gia là: “Cơ quan lập pháp trongchính thể ấy gồm có hai phần, phần này ràng buộc phần kia do năng quyền ngăn cản hỗ tương Cả hai phần

sẽ bị quyền hành pháp ràng buộc và quyền hành pháp sẽ bị quyền lập pháp ràng buộc.”

Tư tưởng của Montesquieu tuy vẫn còn điểm hạn chế là bảo thủ phong kiến, đòi hỏi đặc quyền cho tầng lớpquý tộc Nhưng nó vẫn là nền móng cho tư tưởng phân chia quyền lực sau này, có ảnh hưởng sâu sắc đếnnhững quan niệm sau này về tổ chức nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức của các nhà nước tư bản Ví dụ như

đa số Hiến pháp của các nhà nước tư bản hiện nay đều khẳng định nguyên tắc phân quyền như một nguyên tắc

cơ bản của việc tổ chức quyền lực nhà nước Như điều 10 Hiến pháp liên bang Nga quy định: “Quyền lựcnhà nước ở Liên bang Nga được thực hiện dựa trên cơ sở của sự phân quyền thành các nhánh lập pháp, hànhpháp và tư pháp Các cơ quan của các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độc lập.” Điều 1 của Hiến pháp

Ba Lan cũng trực tiếp khẳng định việc tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực thành baquyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp

Tiếp nối Montesquieu, J.J Rousseau cùng với tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội,” đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Rousseau (1712 – 1778) chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả quyền lực nhà nước nằm trong tay

cơ quan quyền lực tối cao tức toàn thể công dân trong xã hội Nhưng ông lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và chínhphủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền Ngoài ra ông còn nêu lên vai trò quan trọng của cơ quan tư pháp trong việc đảm bảo cho sự hoạt động ổn định của nhà nước, cũng như cho sự cân bằng giữa các vế cơ quan quyền lực tối cao, chính phủ và nhân dân Nhưng cách phân quyền của Rousseau không giống với Locke và Montesquieu, bởi ôngluôn khẳng định một điều duy nhất rằng: “những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và “mỗi bộ phận chỉ thực hiện ý chí tối cao đó” mà thôi

Câu 6: Quyền lực chính trị là gì? Phân tích sự hình thành quyền lực chính trị và sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực nhà nước?

Trả lời:

1 Quyền lực chính trị là gì?

Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội nhằm thựchiện sự thống trị chính trị, là năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giaicấp mình chủ yếu thông qua đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước

2 Sự hình thành quyền lực chính trị?

Công cụ lao động của con người, lực lượng sản xuất của xã hội nằm trong quá trình biến đổi và phát triểnkhông ngừng Sự biến đổi và phát triển của công cụ lao động, của lực lượng sản xuất dẫn tới đòi hỏi phải biếnđổi về chất quan hệ sản xuất hiện tồn Quá trình này đưa tới sự xuất hiện các nhóm quan hệ sản xuất mới về mặtgiai cấp, làm xuất hiện đối kháng mới về mặt lợi ích, về mặt giai cấp – xã hội Kết quả là lực lượng chính trịmới tương ứng ra đời như là chủ thể hay là đại diện cho chủ thể của các lợi ích giai cấp

10

Trang 12

mới đó Và điều này đưa tới một sự cọ xát, sự đụng độ giữa các lực lượng chính trị mới với lực lượng chínhtrị cũ (nhất là quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền) Dần dần hay nhanh chóng, sớm hay muộn thìlực lượng chính trị mới sẽ vươn lên để tự khẳng định mình về mặt nhà nước Khi mà lực lượng chính trị mớibuộc nhà nước hiện tồn phải thừa nhận nó về mặt pháp lý là nó đã giành được quyền tồn tại về mặt pháp lý, vànhư thế, quyền lực chính trị của giai cấp mới (hay của nhóm xã hội mới về mặt giai cấp) đã được thừa nhận vềmặt nhà nước, trong khuôn khổ của nhà nước hiện tồn Lúc đó, người ta nói rằng lực lượng chính trị của nhóm

xã hội mới về mặt giai cấp (hay của giai cấp mới) đã được hình thành

Thực chất của quá trình hình thành quyền lực chính trị là quá trình hình thành của một lực lượng xã hội mới vềmặt giai cấp và sự vươn lên của nó (trước hết là trong khuôn khổ của pháp luật hiện tồn) nhằm giành quyềnchính trị cho nó

3 Sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực nhà nước.

Quyền lực nhà nước là quyền lực của giai cấp thống trị, là bộ phận cơ bản của quyền lực chính trị Quyền lực nhà nước được chia thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp

Trong xã hội có giai cấp và còn đối kháng giai cấp, về cơ bản tồn tại hai quyền lực chính trị: -

Quyền lực chính trị của giai cấp thống trị (quyền lực nhà nước)

- Quyền lực chính trị của các giai cấp và các nhóm xã hội không ở địa vị thống trị Nhóm quyền lực thứ hai này có thể chia thành hai phân nhóm nhỏ hơn:

+ Phân nhóm quyền lực chính trị của các giai cấp và các tầng lớp xã hội tuy có lợi ích khác biệt (đối lập)nhưng không đối kháng với lợi ích cơ bản của giai cấp hay tầng lớp cầm quyền Xét về bản chất thì nhómquyền lực này vẫn nằm trong cùng một phạm trù với quyền lực chính trị của nhóm cầm quyền, và vì thế, không

có sự khác biệt về chất với quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Và do vậy, nó vẫn tồn tại dường nhưtrong sự “đối lập một cách dung hòa” với quyền lực nhà nước hiện tồn Cái gọi là nền chính trị “đa nguyênchính trị, đa đảng đối lập” ở các nước tư bản hiện đại là nền chính trị với các lực lượng chính trị và các quyềnlực chính trị khác nhau nhưng lại thuộc cùng một phạm trù này mà thôi, chứ không hề có nền “đa nguyên chínhtrị, đa đảng chính trị đối kháng”

+ Phân nhóm quyền lực chính trị của các giai cấp hay các tầng lớp xã hội có lợi ích đối kháng với lợi ích của giai cấp cầm quyền Về bản chất, nhóm này đối kháng với nhà nước hiện tồn, và vì vậy, đó là đối tượng phải bị trấn áp, phải được xóa bỏ trong nhà nước ấy Như vậy, phân nhóm quyền lực chính trị này sẽ có một trong hai kết cục sau đây trong sự vận động của nó:

▪ Hoặc là nó sẽ bị xóa bỏ hoàn toàn và triệt để bởi quyền lực nhà nước hiện tồn

▪ Hoặc là nó sẽ ngày càng mạnh lên, bất chấp sự trấn áp của nhà nước hiện tồn, cho tới lúc nó đủ sức lật đổquyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, xóa bỏ quyền lực nhà nước và đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp

ấy, thiết lập bộ máy nhà nước mới dùng vào việc tổ chức lại xã hội theo cách mới phù hợp với lợi ích giai cấp của nó Khi đó, người ta nói quyền lực chính trị đã chuyển hóa thành quyền lực nhà nước

- Ngoài hai hình thức vận động cổ điển này, còn có hình thức đảo chính trung tính nhằm giành giật vàchuyển giao quyền điều khiển nhà nước giữa các nhóm xã hội khác nhau trong nội bộ giai cấp cầm quyền vẫnthường thấy ở nửa cuối thế kỷ XIX ở Liên Xô và Đông Âu Đây cũng là một hình thức và một bài học chínhtrị về quá trình chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực nhà nước bất lợi cho giai cấp công nhân mà cácthể chế chống chủ nghĩa xã hội đang cố gắng thực hiện trong chiến lược “diễn biến hòa bình” phản cách mạngcủa chúng hiện nay

Câu 7: Đảng chính trị là gì? Trình bày vai trò của Đảng chính trị?

Trả lời:

Chính trị là hoạt động trong quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổchức và sử dụng quyền lực nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước, là hoạt động thựctiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và nhữngmục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích

1 Đảng chính trị là gì:

Đảng chính trị là một hiện tượng đặc thù của xã hội có phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp Trong sự phát

triển của xã hội loài người, đặc biệt là ở thời đại ngày nay, đảng chính trị - yếu tố cơ bản của hệ thống

Trang 13

tổ chức quyền lực chính trị, của chế độ chính trị và xã hội công dân – ngày càng thể hiện vai trò to lớn là công

cụ tập hợp giai cấp của một giai cấp, tổ chức lãnh đạo đấu tranh giai cấp vì mục tiêu giành, giữ, tổ chức, sửdụng quyền lực nhà nước và định hướng cho sự phát triển

2 Vai trò của đảng chính trị

a Đảng chính trị là nhân tố tác động:

Là bộ phận tích cực nhất, có tổ chức nhất của giai cấp, đảng chính trị được lập ra để thực hiện lợi ích, mụcđích giai cấp, nắm quyền lực nhà nước Như vậy, vai trò của đảng chính trị (vai trò cách mạng, tiến bộ hay bảothủ, phản động) tùy thuộc vào địa vị lịch sử mà đảng chính trị đó thực hiện Trong lịch sử tồn tại và phát triểncủa các đảng chính trị, có đảng đóng vai trò tiến bộ cách mạng, như đảng Mácxít – Lêninnit, có đảng thể hiện

sự bảo thủ, phản động như các đảng địa chủ, nông dân , cũng có đảng chính trị, ở thời kỳ này đóng vai trò cáchmạng, tiến bộ, còn ở thời kỳ khác lại bảo thủ, phản động Điều này tùy thuộc vào bản chất của giai cấp mà đảng

đó đại diện C Mác đã thể hiện tư tưởng đó trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”: “Ở Pháp, những ngườicộng sản liên hợp với Đảng Dân chủ - xã hội chủ nghĩa chống giai cấp tư sản bảo thủ và cấp tiến… Ở Đức,Đảng Cộng sản đấu tranh chung với giai cấp tư sản mỗi khi giai cấp này hành động cách mạng chống chế độquân chủ chuyên chế, chống chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và giai cấp tiểu tư sản phản động”

b Vai trò của đảng chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa: *

Vai trò tích cực của Đảng cầm quyền:

- Ở các nước tư bản chủ nghĩa, vai trò của đảng chính trị thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu cử giànhquyền lực nhà nước Đó là tổ chức bầu cử, đảm bảo thay đổi chính quyền bằng cách hòa bình, hợp pháp, hợphiến

- Sau khi đắc cử, Đảng cầm quyền đề ra đường lối, định hướng phát triển kinh tế - xã hội thông quacương lĩnh chính trị, đào tạo, bố trí tuyển lựa thành viên của đảng vào các cương vị chủ chốt của chínhquyền, chuẩn bị các chính sách, chiến lược hoạt động của nhà nước

* Vai trò tích cực của Đảng không cầm quyền:

- Đảng không cầm quyền kiềm chế, đối trọng, giám sát đảng cầm quyền, là “cái van” điều chỉnh hoạt động của đảng cầm quyền

- Đảng không cầm quyền tập hợp giai cấp, tổ chức giai cấp, tập hợp lực lượng để đấu tranh chính trị nhằmgiành quyền lực nhà nước về tay mình

=> Đảng không cầm quyền tăng cường tính tích cực cho công dân *

Ảnh hưởng tiêu cực:

- Mặt tiêu cực của đảng chính trị bộc lộ rõ khi nó chia rẽ nhân dân, tách nhân dân ra khỏi chính trị

- Để đạt được mục đích, đảng chính trị hành động kể cả những thủ đoạn, kích thích sự thèm khát quyền lực chính tri và tạo thêm những điều kiện cho tham nhũng, tước bỏ quyền dân chủ của nhân dân

c Vai trò của đảng chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa: *

Vai trò tích cực:

- Trong hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo, thựchiện quyền thống trị về chính trị của giai cấp công nhân để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân và vì dân và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

- Giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản chịu trách nhiệm hoàn toàntrước vận mệnh phát triển của dân tộc, lãnh đạo mọi mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội

- Sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản trong điều kiện Đảng cầm quyền thực chất là xây dựng nhànước về mặt kinh tế Bởi vậy, quyền lực của Đảng không mâu thuẫn và không thay thế quyền lực nhà nước,tập trung vào việc lãnh đạo xây dựng nhà nước để quản lý kinh tế - lĩnh vực suy cho cùng quyết định đến sựphát triển của xã hôi, quyết định vai trò lãnh đạo của Đảng

=> Như vậy, Đảng Cộng sản có vai trò tích cực, gần như không có ảnh hưởng tiêu cực bởi mục tiêu cuốicùng là vì nhân dân, đưa xã hội đi lên cộng sản chủ nghĩa, không còn giai cấp, không còn bóc lột, con người sốngtrong hòa bình, tình yêu

12

Trang 14

* Ảnh hưởng tiêu cực:

Tuy nhiên, trong những tình hình cụ thể, Đảng Cộng sản cũng có những biểu hiện tiêu cực trong lãnh đạo

xã hội khi nội bộ Đảng tha hóa, biến chất, xã rời lợi ích giai cấp, mất sức chiến đấu Do đó, cần phải làmtrong sạch và chỉnh đống Đảng

Câu 8: Văn hóa chính trị là gì? Phân tích cấu trúc của văn hóa chính trị? Trình bày cơ sở hình thành văn hóa chính trị ở Việt Nam và phương thức giáo dục văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ và nhân dân?

Trả lời:

Văn hóa là trình độ phát triển lịch sử nhất định của xã hội, trình độ phát triển năng lực và khả năng sáng tạocủa con người biểu hiện trong các phương thức tổ chức đời sống xã hội và hoạt động của con người cũng nhưtoàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử vì lẽ sinh tồn vàmục đích của cuộc sống

Chính trị là hoạt động trong quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổchức và sử dụng quyền lực nhà nước, là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước, là hoạt động thựctiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mụctiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích

Văn hóa chính trị là một lĩnh vực, một biểu hiện đặc trưng của văn hóa của loài người trong xã hội có giai cấp, là trình độ phát triển của con người thể hiện ở trình độ hiểu biết về chính trị, trình độ tổ chức hệ thống tổ chức quyền lực theo một chuẩn mực giá trị xã hội nhất định nhằm điều hòa các quan hệ lợi ích giữa các giai

cấp và bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, phù hợp với xu thế phát triển và tiến bộ xã hội 2 Cấu trúc của văn hóa chính trị?

a Văn hóa chính trị với tư cách là chủ thể chính trị:

Với tư cách là chủ thể, phán ánh trình độ của con người về chính trị, văn hóa chính tị được tạo thành bởi kếtquả của sự thống nhất và tác động qua lại của văn hóa chính trị cá nhân và văn hóa chính trị tổ chức (cộngđồng)

* Văn hóa chính trị của cá nhân:

- Cá nhân là phạm trù chỉ một con người, một cá thể người, một nhân cách Sự phát triển đầy đủ và toàn diệnvăn hóa chính trị cá nhân phản ánh trình độ chín muồi của chế độ dân chủ Văn hóa chính trị cá nhân được thểhiện trên ba mặt:

+ Trình độ hiểu biết về chính trị

+ Khả năng, năng lực của cá nhân tham gia vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức quyền lực chính trị

+ Mức độ hoàn thiện nhân cách

- Văn hóa chính trị cá nhân chịu sự chi phố bởi các tư tưởng xã hội, động cơ chính trị và lợi ích giai cấp, phụthuộc vào trình độ dân chủ xã hội và truyển thống của dân tộc, đồng thời cũng phụ thuộc vào toàn bộ kinhnghiệm sống, kết quả đào tạo, tự đào tạo, sự tự ý thức, tự phát triển Văn hóa chính trị cá nhân thườngđược bộc lộ qua văn hóa ứng xử, giao tiếp, tranh luận, bởi vì giao tiếp, ứng xử, tranh luận không chỉ thể hiệnthái độ thuẩn túy mà còn là biểu hiện của lòng trung thành, trình độ giác ngộ chính trị, là năng lực trí tuệ, đạođức và tác phong, là động cơ chính trị hướng về một lợi ích chính trị, một mục tiêu lý tưởng nhất quán cơbản và lâu dài

- Văn hóa chính trị cá nhân không chỉ thể hiện qua quan hệ giao tiếp, ứng xử, mà còn bộc lộ đầy đủ ở nănglực, khả năng hoạt động sáng tạo, đặc biệt trong việc tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổchức quyền lực chính trị Con đường đi tới hoạt động sáng tạo bắt đầu từ tri thức, sự hiểu biết về chính trị - cơ

sở để hoạt hành động đúng Để hình thành văn hóa chính trị cá nhân, phải thường xuyên trau dồi tư duykhoa học trên cơ sở hoàn chỉnh về kiến thức, phải tích lũy kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm sống trực tiếptrong hoạt động chính trị, phải học tập văn hóa ứng xử khoan dung…

* Văn hóa chính trị của tổ chức:

Văn hóa chính trị của các cá nhân chỉ thực sự thể hiện và phát huy trong quan hệ với văn hóa chính trị của một

tổ chức xác định, bởi con người bất cứ ở đâu và bất cứ bao giờ cũng không tồn tại ở một bình

13

Trang 15

diện, một chiều mà ở nhiều bình diện, nhiều chiều, và luôn đặt vào những quan hệ cụ khác nhau, vào vị trí khácnhau Con người, theo quan niệm của Hồ Chí Minh: “nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩarộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người”

Văn hóa chính trị của một tổ chức phụ thuộc vào văn hóa của từng cá nhân, vào văn hóa của người thủ lĩnh,vào trình độ dân trí nói chung, vào trình độ tổ chức của tổ chức và suy đến cùng còn tùy thuộc vào bản chấtcủa chế độ chính trị, trình độ chín muồi của chế độ dân chủ

Đối với người thủ lĩnh chính trị, văn hóa chính trị của họ lại tùy thuộc vào trình độ trí tuệ (tài), tâm trongsáng (đạo đức), sự tự giác mộ mục tiêu lý tưởng, khả năng thu phục, tập hợp, tổ chức mọi người vào công việcchung, tùy thuộc vào kinh nghiệm thực tiễn, sự nếm trải trong thực tiễn và sự công tâm của họ

Trình độ tổ chức thể hiện ở nguyên tắc tổ chức, ở cơ cấu tổ chức, đặc biệt ở hiệu lực, hiệu quả trong việc thựchiện nhiệm vụ chính trị Bản chất của chế độ xã hội quy định trình độ văn hóa của tổ chức, cộng đồng.Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, xã hội dựa trên tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, lấy việc bóc lột giá trịthặng dư làm phương thức tồn tại, dân chủ chỉ là hình thức Điều đó quy định trình độ hạn chế của văn hóachính trị cộng đồng Trái lại, trong chủ nghĩa xã hội, xã hội dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuấtchủ yếu, xã hội lấy việc thủ tiêu, bóc lột, bất công, bất bình đẳng làm cơ sở tồn tại, dân chủ xã hội được thựchiện trong thực tế, do đó, văn hóa chính trị của mỗi tổ chức xã hội có môi trường nảy nở, phát huy Sự tácđộng qua lại thuận chiều giữa văn hóa chính trị cá nhân và văn hóa chính trị tổ chức, cộng đồng là nét đặc sắc củavăn hóa chính trị xã hội chủ nghĩa

b Văn hóa chính trị với tư cách là hệ giá trị

Do con người sáng tạo nên, tiếp thu và lựa chọn, biến thành nhu cầu, phương tiện, công cụ trong hoạt độngthực tiễn, trong tổ chức quyền lực nhằm đạt mục đích chính trị, văn hóa chính trị là kết quả tổng hòa của các giátrị sau:

- Tri thức, sự hiểu biết, giác ngộ khoa học về chính trị:

Tri thức, sự hiểu biết về chính trị là sự thống nhất hữu cơ giữa tri thức khoa học (lý luận) và tri thức kinhnghiệm chính trị Tri khoa học càng đạt tới tính khách quan bao nhiêu càng có vai trò to lớn mở đường chonhững hành động đúng bấy nhiêu Tri thức kinh nghiệm gồm những tri thức kinh nghiệm thực tiễn trực tiếp vàtruyền thống sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn tri thức lý luận, khắc phục những hành động chủ quan, duy ý chí vủacác chủ thể chính trị

Trên cơ sở những hiểu biết đúng đắn, khoa học về chính trị, các chủ thể chính trị có thể giác ngộ về lợi ích, mục tiêu chính, về động cơ, thái độ chính trị, từ đó tự giác hơn trong hành động thực tiễn

- Nhu cầu, thói quen, trình độ nhận định và đánh giá những hiện tượng, những quá trình chính trị của các chủ thể chính trị

Trên cơ sở những hiểu biết về chính trị, truyền thống mỗi dân tộc, trình độ hoàn thiện và phát triển các thểchế chính trị hình thành ổn định, đồng thời khả năng nhận định, đánh giá các hiện tượng, các quá trìnhchính trị của họ từng bước được xác lập làm cơ sở cho những hoạt động của những cá nhân phù hơp với nhữngchuẩn mực và lợi ích cộng đồng, nâng cao tinh thần và tính kiên quyết đấu tranh, bảo vệ hoặc phê phán nhữnghiện tượng, sự kiện trong đời sống xã hội theo quan điểm, lập trường chính trị nhất định

- Các truyền thống chính trị:

Là những giá trị do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, văn hóa chính trị, cũng như văn hóa nóichung, ở trong một giai đoạn lịch sử nhất định là sự kế thừa và phát triển những giá trị chính trị truyềnthống trong những điều kiện lịch sử cụ thể Các giá trị văn hóa chính trị truyền thống không chỉ là những “chấtliệu” tạo nên bản sắc văn hóa chính trị Việt Nam từ ngàn đời xưa, với lịch sử dựng nước và giữ nước, nhânnghĩa chính là nét đặc sắc trong văn hóa chính trị truyền thống Trong thời đại mới, văn hóa chính trị nhânnghĩa không chỉ là yên dân, trừ baok, mà hơn thế nữa, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Nhânnghĩa tức là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, tiến bộ xã hội và góp phần vào sự nghiệphòa bình trên thế giới

- Những chuẩn mực, phương tiện, phương thức tổ chức và hoạt động của quyền lực:

Những giá trị chính trị được đúc kết thành những chuẩn mực chính trị, được xã hội thừa nhận sẽ có ý nghĩa

trong việc định hướng, điều chỉnh hành vi cho các chủ thể chính trị trong cuộc đấu tranh giành, giữ,

Trang 16

và thực thi quyền lực chính trị Các chuẩn mực chính trị một khi đã được xã hội thừa nhận, nghĩa là được thểchế hóa thành kết cấu xã hội, thành phương thức hoạt động của các chủ thể chính trị, trong đó, hình thức tổchức quyền lực, tổ chức nhà nước, cơ chế vận hành của nó thích ứng với yêu cầu chính trị thực tiễn là nhân tốquan trọng cấu thành văn hóa chính trị trong xã hội tương ứng.

Ngoài ra, các phương tiện phục vụ cho hoạt động, điều chỉnh các quan hệ chính trị, những giá trị vật chấtcủa văn hóa chính trị không chỉ là yếu tố cấu thành văn hóa chính trị mà hơn thế nữa làm cho việc tổ chứcquyền lực, mà cơ bản nhất là quyền lực nhà nước, có hiệu quả nhất trong việc thực thi quyền lực và bảo vệ lợiích của giai cấp chủ thể quyền lực

- Trình độ hoàn thiện của thể chế chính trị

Sự hoàn thiện của thể chế chính trị trước hết biểu hiện sức mạnh, tính hiệu lực của thiết chế và pháp chế,giá trị và sức mạnh của truyền thống, tính pháp lý, tính phổ biến của các chuẩn mực xã hội trong việc điềuchỉnh những hành vi, quan hệ xã hội – chính trị phù hợp với mục tiêu chính trị Sau nữa, sự hoàn thiện củathể chế chính trị biểu hiện sự kiện toàn và sức mạnh của hệ thống tổ chức quyền lực trong tổ chức xã hội,trong phối hợp hành động, trong việc khơi dậy và nhân lên sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnhcủa giai cấp, dân tộc, nhân loại trong việc hiện thực hóa mục tiêu chính trị

3 Trình bày cơ sở hình thành văn hóa chính trị ở Việt Nam?

a Cơ sở văn hóa chính trị truyền thống:

Việt Nam là một nước văn hiến Văn hóa chính trị Việt Nam là toàn bộ những thái độ, lòng tin, chủ nghĩa yêunước, tình cảm của con người Việt Nam với tư tưởng cốt lõi là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Nó là thànhquả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh ngoan cường dựng nước và giữ nước của dân tộc, là kết quảcủa giao lưu và tiếp thu của nhiều nền văn minh thế giới

Văn hóa chính trị Việt Nam hình thành từ khi nhà nước sơ khai đầu tiên – nhà nước Văn Lang, dưới thời đạicác vua Hùng ra đời Tư tưởng giữ vững, bảo vệ nền độc lập dân tộc gắn liền với giữ nước, là vấn đề chính trịlớn nhất, thường xuyên đặt ra trước tất cả các nhà nước Việt Nam trong lịch sử

Có thể khái quát những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa chính trị Việt Nam:

- Nêu cao tinh thần dân tộc và truyền thống yêu nước, động viên sức mạnh toàn dân vì độc lập tự do - Đề cao vai trò nhân dân, dựa vào dân để giữ nước

- Thể hiện tinh thần nhân bản sâu sắc Trọng nhân nghĩa, yêu thương con người bị áp bức, bóc lột, yêu hòa bình, lên án bất công, tàn bạo, phi nhân tính, chống chiến tranh xâm lược và nô dịch dân tộc

- Đề cao trí tuệ, trọng dụng nhân tài

- Nêu cao pháp luật để trị nước, phát huy tinh thần dân chủ và bảo tồn văn hóa dân tộc…

Những hạn chế:

- Tính vô chính phủ của người tiểu nông khá rõ

- Chế độ chuyên chế đã sản sinh ra tất cả những thiết chế, lễ nghi… rườm rà, phức tạp và bộ máy quan liêu

Bộ máy đó không trực tiếp quản lý mà nặng về bóc lột, áp bức

- Văn hóa chính thống là độc quyền của vua, dân chỉ lắng nghe và cam chịu hơn là chủ động sáng tạo b Những cơ sở hình thành văn hóa chính trị Việt Nam thời hiện đại:

Văn hóa chính trị Việt Nam hiện đại bắt đầu được hình thành từ sau khi thắng lợi của cuộc cách mạng chínhtrị, Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền, nhà nước kiểu mới ra đời

Xét về bản chất nền văn hóa chính trị hiện đại phải dựa trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa Đó là nền kinh

tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu

Đối với nước ta hiện nay, với sự thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cũng có nghĩa là thừanhận tính đa dạng của các hình thức sở hữu, song với việc khẳng định vị trí chủ đạo của chế độ công hữu về tưliệu sản xuất chủ yếu là đảm bảo định hướng xã hội cho sự phát triển kinh tế, đồng thời cũng là bảo đảm về mặtkinh tế cho việc hình thành và phát triển văn hóa chính trị

Hệ thống chính trị mà trụ cột của nó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, được tổ chức và hoạt động dưới

sự lãnh đạo của Đảng nhằm từng bước hình thành nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo toàn bộ quyền lựcthuộc về nhân dân là cơ sở chính trị cho nền văn hóa chính trị hình thành và phát triển

Trang 17

Do việc thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nên trong xã hội tất yếu còn tồn tại nhiều giaicấp và tầng lớp xã hội Trên cơ sở củng cố khối liên minh giai cấp giữa các giai cấp công nhân và giai cấpnông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng để tạo ra khả năng khách quan, thu hẹp khoảngcách giữa nông thôn và thành thị, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, hình thành quan hệ tốt đẹp giữa cácdân tộc từng bước khắc phục sự bất bình đẳng, sự bất công, cùng với nền giáo dục mới hướng vào mụcđích toàn xã hội mà trực tiếp là nâng cao dân chủ, là cơ sở xã hội cho việc hình thành và phát triển văn hóachính trị.

Chân lý khoa học, bản chất nhân văn và nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minhcùng với những giá trị văn hóa truyền thống chính là cơ sở khoa học cho những thái độ Mácxít đối với việc nhậnthức và phát triển xã hội Bởi vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tinh thần của

xã hội, cơ sở tư tưởng của văn hóa chính trị

Câu 9 Trình bày nội dung tư tưởng chính trị Phương Tây thời cổ đại và thời cận đại?

Thời cổ đại ở phương Tây, với những cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nô dân chủ và chủ

nô quý tộc mà biểu hiện của nó là những cuộc cải cách dân chủ ở các thành bang là đặc trưng cơ bản nổibật của hệ tư tưởng lúc bấy giờ Thời trung cổ là sự kết hợp và xuyên thấu lẫn nhau giữa thần quyền và thếquyền để thống trị thần dân mà biểu hiện cơ bản là sự thống trị của kitô giáo đối với tinh thần của nông nô.Sang thời cận đại, đặc trưng cơ bản là sự phát triển mạnh mẽ của triết học khai sáng và là thời kỳ của các cuộccách mạng dân chủ tư sản với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động đấu tranh cho cácquyền cơ bản của con người Đó là những nét tổng thể dệt nên nội dung cơ bản của lịch sử phát triển tư tưởngchính trị ở các nước phương Tây thời kỳ trước Mác

Việc làm rõ những giá trị phổ biến trong sự phát triển chính trị của nhân loại qua sự phát triển tư tưởngchính trị phương Tây từ cổ đại đến cận đại sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức thực thi quyền lựcchính trị của nhân dân lao động ở nước ta

* Thời cổ đại mà đặc trưng là các tư tưởng và học thuyết chính trị Hy Lạp - La Mã Họ đề cập về những vấn đề như nguồn gốc, bản chất của nhà nước, các hình thức xã hội, thể chế nhà nước, thủ lĩnh chính trị

Trước hết, bàn về thủ lĩnh chính trị, đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến của các học giả về vấn đề này

SOCRAT cho rằng: thủ lĩnh chính trị phải là người có đạo đức, nhưng đạo đức phụ thuộc vào trí tuệ Tuynhiên, do xuất thân từ tầng lớp chủ nô quý tộc nên ông cho rằng chỉ có thiểu số tầng lớp quý tộc mới là người cótrí tuệ, mới là những người sáng tạo đúng đắn

DEMOCRITE: Yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải là người có tài năng, đạo đức Là nhà triết học duy vật và thuộc tầng lớp chủ nô dân chủ nên Ông cho rằng tầng lớp bình dân cũng có tài năng, có thể làm được chính trị

SENOPHONE: Yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải có kỷ thuật giỏi, phải có sức thuyết phục cao, người thủlĩnh phải biết vì lợi ích chung nghĩa là phải biết chăm sóc cho người bị trị, biết hợp lại và nhân sức

16

Trang 18

mạnh của mọi người Ông là người đầu tiên đặt ra yêu cầu về thủ lĩnh chính trị khá toàn diện như: phải có

chuyên môn giỏi, có uy tín, vì dân…

PLATON: yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải thực sự có khoa học chính trị, có tính khí phù hợp vớinhiệm vụ đảm đương Ông quan niệm người lãnh đạo trong xã hội không được có quyền tư hữu (sở hữu về tàisản) bởi vì tư hữu sẽ làm mất công tâm Theo ông, thủ lĩnh chính trị phải biết hy sinh lợi ích cá nhân vì nhữnggiá trị chung Tuy có những quan điểm tiến bộ nhưng ông vẫn còn sai lầm khi cho rằng một thủ lĩnh chính trịnhư vậy chỉ có ở tầng lớp chủ nô quý tộc

ARISTOTE: xem thủ lĩnh chính trị là người sung túc, là người ở tầng lớp trung lưu không phải giàu cũng không phải nghèo, họ là người phải biết uốn mình theo lới khuyên của các bên (vì quan điểm của ông theo nhị nguyên luận)

Thứ hai, bàn về nguồn gốc của quyền lực nhà nước:

PLATON: xem quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là quyền lực thống trị của kẻ trí đối với người ngu Đó là đặc tính của trí tuệ Chỉ có người có trí tuệ mới có quyền lực Trí tuệ chỉ có ở quý tộc

ARISTOTE: quan niệm quyền lực của xã hội cũng là một trạng thái tự nhiên Nó xuất phát từ gia đình, quyền của cha đối với con, chồng đối với vợ, anh đối em; xuất phát từ quyền lực đối với xã hội Trong xã hội có nhiều gia đình, gia đình này có sự xâm hại đối với gia đình khác Do đó mỗi gia đình phải nhượng lại quyền lực của từng gia đình thành quyền lực chung Người nắm quyền lực chung là nhà nước Vì vậy, quyền lực nhà nước là tự nhiên, pháp luật là những nguyên tắc khách quan, vô tư, xuất phát vì lợi ích của

xã hội, của từng công dân

Thứ ba, bàn về thể chế nhà nước, các quan điểm lớn bao gồm :

HÉRODOT : là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã phân biệt và so sánh các thể chế của nhà nước khác nhau Theo ông có 3 hình thức cơ bản:

+ Thể chế quân chủ: tức là thể chế cầm quyền của một người-đó là vua.

+ Thể chế quý tộc: thể chế của một số ít người thông thái và tiêu biểu về phẩm hạnh của quốc gia để cầm

quyền

+ Thể chế dân chủ: thể chế này là của đông đảo nhân dân nắm quyền và nó được thành lập bởi chế độ

bỏ phiếu để bầu ra các pháp quan

Theo ông, loại thể chế tốt nhất là thể chế hỗn hợp những ưu điểm của từng thể chế trên

DEMOCRIT: ông ủng hộ chế độ dân chủ cộng hoà chủ nô

SOCRAT: ông là người ủng hộ chế độ chuyên chế độc tài Ông cho rằng dân chủ là sai lầm Dân chủ là chính quyền của người ngu dốt, ông gọi đó là chính quyền “bình dân”

ARISTOTE: ông cho rằng thể chế nhà nước dân chủ là thể chế người giàu, người nghèo không bênnào số lượng tuyệt đối Ông cho rằng mọi thể chế đều có nguy cơ biến chất, thay đổi bằng cuộc cách mạng

Trang 19

Ông là người đầu tiên phân loại quyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

* Thời trung cổ (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 15) xã hội phương Tây chìm đắm trong xiềng xích nô lệ của hai thế lực thần quyền và thế quyền, đó là

Thiên chúa giáo và chế độ phong kiến mà người ta gọi đêm trường Trung cổ Thiên chúa giáo lấn át cả chế

độ phong kiến và chi phối toàn bộ đời sống xã hội bằng những luật lệ hà khắc và người xuẩn Chính vì vậy, thời

kỳ này xã hội phương Tây hầu như không phát triển được về mọi mặt, kể cả hệ tư tưởng chính trị

* Thời cận đại là thời kỳ triết học khai sáng, những tư tưởng chính trị phát triển rất rực rỡ, phong phú và đa dạng, đặc biệt là ở Pháp.

VOLTAIRE: là lãnh tụ của phong trào khai sáng, ông chống chế độ chủ nô, đấu tranh cho sự bìnhđẳng của công dân nước Pháp Ông phê phán nhà thờ và chuyên chế, mọi tội ác trong xã hội là do nhà thờ mà

ra Ông chủ trương tự do tín ngưỡng, báo chí, ngôn luận và sở hữu Ông kịch liệt chống chiến tranh Theoông, chiến tranh còn kinh khủng hơn dịch hạch và điên khùng Theo ông bất bình đẳng về tài sản là tất yếu

MONTESQUIEU: Phê phán chế độ chuyên chế phong kiến và cho rằng chuyên chế về bản chất là đốilập với tự do Theo ông chế độ chuyên chế là bạo chúa, vua pháp là một gã phù thuỷ Về nguồn gốc của nhànước, theo ông, nhà nước xuất hiện trong một quá trình lịch sử lâu dài khi mà trong xã hội xuất hiện tình trạngmâu thuẫn không thể điều hoà nếu không có một cơ quan có quyền lực đủ mạnh để giữ gìn sự bình ổn của xãhội Theo Ông, cách tốt nhất để chống lạm quyền là phải chống độc quyền, là phải phân chia sao cho quyền lựckiềm chế quyền lực, từ đó ông đưa ra học thuyết tam quyền phân lập một cách có hệ thống (lập pháp hành pháp

và tư pháp) và là đối thủ đáng sợ nhất của chế độ chuyên chế phong kiến

ROUSSEAU: là đại biểu của tầng lớp dân chủ thị dân, ông phê phán gay gắt quan hệ đẳng cấp phongkiến và chế độ chuyên chế

Về chính trị: quan điềm về chính trị của ông cấp tiến hơn Montesquieu (vì Montesquieu bảo vệ tưtưởng quân chủ lập hiến), quan điểm của ông tiến xa hơn ở chỗ đề cao tư tưởng chủ quyền nhân dân, ông phêphán chế độ phong kiến và đòi bác bỏ hoàn toàn chế độ đó Ông cho rằng trong xã hội mọi người phải được tự

do bình đẳng đó là trạng thái tự nhiên vốn có, là phúc lợi cao nhất của con người, quyền lực trong xã hội phảithuộc về nhân dân Nhà nước lập ra qua các khế ước xã hội phải thể hiện ý chí quyền lực của nhân dân nếukhông thể hiện được điều đó thì bộ phận cầm quyền phải bị đào thải, thay thế

Như vậy, tư tưởng chính trị ở phương tây thường gắn liền với pháp luật trong khi tư tưởng chính trị phươngđông thường gắn liền với đạo đức Tư tưởng chính trị phương tây thường xuất phát từ “trạng thái

tự nhiên” của con người thường đề cao động lực “quyền lợi” của con người Chính trị học của giai cấp tư 18

Trang 20

sản phương tây thường dựa trên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân, tuyết đối hoá quyền lợi cá nhân Tư tưởng

chính trị của giai cấp tư sản so với tư tưởng chính trị của giai cấp phong kiến là một bước tiến bộ trong

việc giải phóng con người nhưng vẫn chưa đặt con người như là mục đích, tức là vẫn chưa thể giải phóngđại đa số nhân dân lao động

Giá trị của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

Khi nghiên cứu tư tưởng chính trị của các thời đại lịch sử Tây, chúng ta không được quên tính giai cấpcủa nó, mặt khác không vì thế mà phủ nhận toàn bộ nội dung, tri thức khách quan trong các học thuyếtchính trị mà phải biết chọn lọc, rút ra những cái giá trị để kế thừa, làm giàu tri thức của mình, kể cả đối với tưtưởng chính trị tư sản hiện đại

Qua những giá trị tư tưởng chính trị Phương Tây đã trình bày, chúng ta nhận thấy rằng bất cứ hệ thốngchính trị nào, nhà nước cũng mang bản chất giai cấp, nhưng đồng thời phải thực hiện chức năng xã hội Mặtkhác, hệ thống chính trị nào, nhà nước nào mà quyền lực thuộc về nhân dân lao động thì đó là xu hướng tiến bộ.Nhà nước pháp quyền là một thành tựu của văn minh chính trị cần phải được ứng dụng Hệ thống chính trịcần phải có cơ chế tự điều chỉnh và cơ chế cân bằng kiểm soát quyền lực để thích ứng với điều kiện thay đổi vàcần phát huy sáng tạo cá nhân

Ở Việt Nam ta, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị phương Đông nên gắn liền với đạo đức (Nhogiáo, Phật giáo), ý thức tuân thủ pháp luật của công dân chưa cao Việc vận dụng những tri thức về xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội công dân vào công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nướcpháp quyền XHCN là rất cần thiết và bổ ích Đó chính là quan điểm kết hợp hài hoà những giá trị đạo đức tiến

bộ của nhân loại với giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc

- Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, để tiếp tục hoàn thiện nhà nước, phát huy dân chủ và tăngcường pháp chế XHCN, phải xây dựng nhà nước CH XHCN VN thực sự là trụ cột của hệ thống chính trị và làcông cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Đó là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vìdân, nhà nước ta dưa trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhândân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (không phân quyền) Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi

cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật Cán bộ, côngchức nhà nước phải là đầy tớ trung thành của dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân

- Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trên mọi lĩnh vực và được thể chế hoá bằng pháp luật, đượchòan thiện trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao dân trí Nhà nước tạo điều kiện để nhân dânthực sự tham gia quản lí xã hội thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến

lợi ích đông đảo của nhân dân Phát huy dân chủ kết hợp chặt chẽ với tăng cường pháp chế

19

Trang 21

- Những nhà thủ lĩnh chính trị ở bất cứ cương vị nào đều phải chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh,điều lệ, nghị quyết của Đảng và pháp luật của nhà nước Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện coithường và buông lỏng kỷ luật Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lí ở các cấp thật sự vững vàng vàkiên định về chính trị gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lói sống, có trí tuệ kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn sáng tạo, gắn bó với nhân dân.

Tóm lại: việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN thực sự vững mạnh đồng thời nâng cao hiệu quả

và chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã trở một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của sự nghiệp đổimới, sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta vì chỉ có xây dựng nhà nước pháp quyền đủ mạnh mới có thể bảo

vệ và phát huy những thành quả trong quá trình đổi mới về mọi mặt mới có đủ khả năng giải quyết vấn đề mớinảy sinh do mặt trái của cơ chế thị trường, của kinh tế nhiều thành phần mang lại, và mới có khả năng đươngđầu và đập tan chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các thế lực chống đối đang ráo riết tiến hành

Câu 10 Vận dụng những giá trị trong nội dung tư tưởng chính trị của Khổng tử và tư tưởng chính trị Hàn Phi tử vào thực tiễn chính trị nước ta hiện nay?

Chính trị là một khoa học về việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, chính vì vậy, từ khi xuấthiện nhà nước sơ khai đầu tiên cũng là lúc đặt nền móng cho việc ra đời của các học thuyết chính trị Lịch sử rađời của các nhà nước khác nhau cũng đem lại sự khác biệt rõ rệt trong tiến trình phát triển của các tư tưởng,các học thuyết chính trị tương ứng

Tư tưởng chính trị của Trung Quốc đã ra đời vào thời kỳ cổ đại và kéo dài suốt trong quá trình lịch sử,mặc dù có những diễn biến nhằm phù hợp với từng thời kỳ lịch sử, nhưng nói chung vẫn giữ được nhữngđiểm cơ bản Điểm xuất phát của tư tưởng chính trị là bàn về vấn đề con người như thế nào, sẽ có một đườnghướng chính trị, quyết sách quản lý xã hội như thế đó mà điển hình là các học thuyết đức trị, pháp trị…gắn liềnvới các nhân vật lịch sử tiêu biểu như Khổng Tử, Hàn Phi Tử…

* Học thuyết “Đức trị” của Khổng tử: Từ cơ sở của học thuyết “nhân-lễ”, Khổng Tử cho rằng xã hội

con người phải được gắn lại với nhau bằng chất keo là “lòng nhân ái” Ông coi con người là tính bản thiện,con người sinh ra là tốt cho nên chủ trương người cầm quyền phải thực thi đức trị Nghĩa là nhà cầm quyềnphải dùng đức để cảm hóa, hướng xã hội vào kỷ cương, nề nếp Khổng Tử cực lực phản đối dùng pháp luậthình phạt như là công cụ chủ yếu để cai trị, ông nói “dựa vào pháp luật để trị dân, sử dụng hình phạt để chỉnhđốn họ thì họ tạm thời khỏi bị phạm tội, nhưng lại không có liêm sỉ Nếu như dựa vào đức để trị dân, sử dụng lễgiáo để chỉnh đốn họ, thì không những có liêm sỉ mà còn qui phục”

Từ quan điểm trên, ông là người đầu tiên mở ra phong trào tự học, thu nạp học trò không phân biệtsang hèn, trên dưới, giàu nghèo Là người sáng lập ra Nho giáo (Ngũ kinh, tứ thư), tư tưởng chính trị của ông

đề cập ba vấn đề:

20

Trang 22

Nhân ái lễ được coi là hạt nhân của tư tưởng chính trị của ông để nhằm khôi phục thể chế chính trịnhà Chu bao gồm: Nhân là người, nhân là lòng người, người và nhân là thương người, để đạt đến nhân đòihỏi phải tu thân để lập nhân Oâng chia xã hội thành hai hạng người, quân tử và tiểu nhân Từ đó quân tử

tu thân để đạt đến nhân, còn tiểu nhân thì không bao giờ đạt được đến nhân Khổng Tử nói: “một ngày tu mình

để khôi phục điều lễ sẽ đạt nhân và yên hà sẽ theo” Do vậy ông đặt ra mục tiêu tu thân đạt nhân để đạt lễ Tuthân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

Thân thân trọng hiền là sự phát triển tông pháp của nhà Chu cho phù hợp với hiện thực xã hội, muốnnhững người này tham gia vào bộ máy của nhà nước, lựa chọn huyết thống của nhà Chu và đưa nhữngngười hiền để tham gia bộ máy Khổng Tử là người phát triển dân chủ lên một bước nhưng chỉ dừng lại ởngười hiền, chỉ ở chức quan lại thấp

Chính danh định phận là quan điểm nhằm cứu vãn lễ chế nhà Chu vì sự hỗn loạn đẳng cấp là nguy cơsụp đổ chế độ Oâng đưa ra quan niệm mỗi người phải biết giữ danh phận của mình để giữ nền chính trị củathiên hạ nhằm ngăn chặn các cuộc chiến tranh chiếm ngôi thiên tử của các chư hầu Khổng Tử nói: “Thân mìnhkhông chính thì chính người khác sau được Thân mình không chính dù ra lệnh không ai theo Danh không chínhthì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành”

Như vậy Khổng Tử là người kiến trúc tư tưởng chính trị đức trị và hơn trăm năm sau khi ông qua đời,học thuyết “nhân” của ông được nhân vật mà ông chưa hề quen biết nhưng vô cùng ngưỡng mộ ông, tiếp tụcphát triển

*Học thuyết pháp trị (Pháp gia), quan niệm rằng bản chất của con người là xấu, “ác” Con người vốn

sinh ra đã mang đầy tính tham lam, ích kỷ, tự tư, tự lợi, thường xâm phạm lẫn nhau, do đó cần có pháp luậttrừng trị nghiêm minh những kẻ vụ lợi Pháp trị bắt đầu từ Tuân tử nhưng Hàn Phi Tử mới là kiến trúc sư chủyếu, có hệ thống (280-233 TCN)

Tinh thần cơ bản của pháp trị là bất vi thân Pháp luật không phân biệt kẻ trên, người dưới, chấp nhậntính tàn bạo của pháp luật để bảo đảm cho sự tồn tại của chính quyền Pháp trị tôn sùng sức mạnh của quyềnlực chứ không tôn sùng sức mạnh của đạo đức, chân lý bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh, với sức mạnh tổng hợp

là pháp-thuật-thế

Thuật là phương pháp, thủ thuật, cách thức, mưu lược điều khiển công việc bắt buộc mọi người thựchiện Pháp trị chấp nhận chính trị có quyền nói dối, nói dối là tàn bạo nhưng để bảo vệ chính quyền thì đượcchấp nhận

Thế là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể để trị vì thiên hạ

Pháp là tiêu chuẩn khách quan, là chế độ chính trị - xã hội, là những hiến lệ được soạn ra để trịnước

Trang 23

Pháp trị chỉ được đề cao ở thời Tần Thủy Hoàng với thời gian ngắn ngủi không có vị trí đáng kểtrong lịch sử Trung Quốc.

* Vận dụng những ưu điểm của Đức trị và Pháp trị vào xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay:

Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng chính trị của Khổng tử và Hàn Phi tử, cần tiếp thu có chọn lọcnhững giá trị tích cực và loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong học thuyết của các ông Trong giai đoạn hiện nay,Việt Nam đang tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân” Nội dung của Nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng phải phản ánh được những giá trịcủa truyền thống và nhân loại, thể hiện được tính giai cấp và tính nhân dân sâu sắc Chính vì thế những tư tưởngdân chủ, vì con người mang giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc của đức trị là những hạt nhân hợp lý cần đượctiếp thu kế thừa và cụ thể hóa dưới hình thức những quy phạm pháp luật Quan niệm về “đức” của Khổng tử rấtsâu sắc và phong phú “Đức” không chỉ là thiện đức mà chủ yếu là hành động, là lời nói đi đôi với việc làm.Lòng tin mãnh liệt vào thiện đức của con người chính là cơ sở của đường lối đức trị

Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, việc vận dụng những tưtưởng tích cực trong học thuyết “Pháp trị” có ý nghĩa quan trong trong việc đề cao ý thức pháp luật và thựchiện pháp luật trong nhân dân Tiếp thu những giá trị trong tư tưởng “Pháp trị” của Hàn Phi tử, cần vận dụngnhững yếu tố “pháp” và “thuật” vì nó phù hợp với xã hội Việt Nam hiện nay Ngoài ra cần phải hạn chế “thế”

vì nó chỉ phục vụ cho những người có quyền lực

Việc vận dụng những tư tưởng trong học thuyết Đức trị của Khổng tử và Pháp trị của Hàn Phi tử trongxây dựng nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì nhân dân ở nước ta cần được kết hợpnhuần nhuyễn, linh hoạt, đặc biệt trong xây dựng pháp luật đảm bảo vừa hợp lý vừa hợp tình, đảm bảo nhândân là chủ của đất nước

Câu 1 1 Hãy trình bày sự hiểu biết về quyền lực chính trị?

* Quan niệm về quyền lực chính trị và nguồn gốc của nó đã có từ thời cổ đại, được phát triển vàhoàn thiện dần qua các thời trung đại, cận đại và hiện đại

Thời cổ đại và trung đại có nhiều quan điểm khác nhau về quyền lực chính trị, tuy nhiên, nhìnchung các học giả đều thống nhất quan điểm cho rằng, quyền lực chính trị xuất phát một cách tự nhiên tronglịch sử nhân loại Quyền lực là của chung và phải vì lợi ích chung, do đó pháp luật phải khách quan, trực tiếp,

vô tư phù hợp với lợi ích quốc gia, gia đình và mỗi công dân Quyền lực phải có hai phẩm chất quan trọng:Thứ nhất, là sở hữu chung của cộng đồng xã hội, nếu không sẽ là một sai lầm Thứ hai, sứ mệnh của quyềnlực là phải làm cho công bằng được ngự trị, nếu không cũng là một sai lầm

22

Trang 24

Thời cận đại, các học giả đã luận giải sâu sắc hơn về nguồn gốc, bản chất của quyền lực chính trị, đó

là nhà nước và quyền lực nhà nước Tiêu biểu cho các học giả thời kỳ này là Mongtetkyơ và Rutxô

Nhìn chung, các học giả cho rằng, quyền lực tự nhiên của con người do tạo hoá sinh ra là quyềnthiêng liêng, tối cao và bất khả xâm phạm, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Doquy luật tự nhiên của cuộc sống đã dẫn đến sự bất công về kinh tế, về xã hội và do đó quyền tự nhiên của conngười bị xâm hại Để bảo vệ quyền tự nhiên của mình thì mọi người, mọi thành viên trong xã hội phải" ký kết"hình thành một cơ quan có quyền lực chung - cơ quan quyền lực nhà nước, đó là sự uỷ quyền của nhândân Do đó, quyền lực nhà nước về bản chất là của nhân dân

* Thời hiện đại, quan điểm Mát-xít cho rằng, quyền lực chính trị ra đời cùng với sự xuất hiện xã hội cógiai cấp và quá trình đấu tranh giai cấp Hai cơ sở căn bản của quyền lực chính trị là, xuất phát từ nền tảng củachế độ kinh tế- xã hội và xuất phát từ lợi ích giai cấp và bảo vệ giai cấp Đây cũng là hai cơ sở căn bản để khẳngđịnh quyền lực chính trị thuộc về ai

Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị mà cơ bản là giành, giữ

và thực thi quyền lực nhà nước, đã diễn ra trong suốt quá trình lịch sử từ khi xã hội cộng sản nguyên thủy tan

rã và xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời cho đến nay Kết quả là đưa đến sự thay đổi hình thức của quyền lựcchính trị, hình thức thống trị giai cấp

Như vậy, có thể định nghĩa: Quyền lực chính trị là sức mạnh trong mối quan hệ giữa các chủ thể chính trị hành động trong đời sống xã hội – trong đó chủ thể chính trị này có thể chi phối hoặc buộc chủ thể chính trị khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ có sức mạnh, vị thế nào đó trong quan hệ chính trị-xã hội.

- Bản chất của quyền lực chính trị là sức mạnh quan hệ giữa các giai cấp trong việc giành, giữ, thực thiquyền lực nhà nước, hoặc chí ít là gây áp lực đối với quyền lực nhà nước Khẳng định điều này, chủ nghĩa

Mác-Lênin viết:“Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn

áp một giai cấp khác” Do vậy, quyền lực chính trị ra đời gắn liền với sự xuất hiện của các giai cấp trong xã

hội, nhưng các chế độ xã hội có bản chất khác nhau, quyền lực chính trị cũng sẽ hiểu khác nhau Song, dù chế

độ xã hội nào thì quyền lực chính trị cũng biểu hiện trên các đặc trưng cơ bản sau:

+ Quyền lực chính trị là tất yếu khách quan trong giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội Vềnguyên tắc, giai cấp lực lượng xã hội nào cũng có một năng lực, ở chừng mực nào đó, cho phép

hiện thực hóa những lợi ích của mình Do vậy, cùng với tính tất yếu khách quan của sự ra đời, tồn tại và tiêuvong của các giai cấp, quyền lực chính trị - khả năng một giai cấp thực hiện lợi ích khách quan của mình,cũng mang đặc trưng khách quan tất yếu đó

+ Quyền lực chính trị thống trị trong một xã hội là quyền lực của giai cấp, lực lượng xã hội giữ địa vịthống trị về kinh tế

Ngày đăng: 09/07/2018, 15:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w