1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên

108 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xu thế toàn cầu về kinh tế, khoa học và công nghệ, môi trường và biến đổi khí hậu, giáo dục và phát triển kỹ năng, khủng hoảng tài chính và về việc cấp tài chính cho đào tạo và nghiên cứu đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục đại học Việt Nam và một loạt các vấn đề cần giải quyết đặt ra cho các trường đại học Việt Nam. Đó là các trường đại học Việt Nam cần chuẩn bị như thế nào để tham gia vào cuộc chuyển đổi năng lượng, chống lại biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao. Xu thế toàn cầu đòi hỏi các trường đại học hoạt động tích cực hơn, thể hiện vai trò tiên phong trong sự hợp tác với các ngành công nghiệp, kinh tế và cộng đồng; và xã hội kỳ vọng tỷ suất lợi nhuận lớn hơn trong đầu tư cho giáo dục. Các trường đại học là một phần của hội nhập toàn cầu về văn hoá, kinh tế, công nghiệp và xã hội. Xu thế toàn cầu trong cấp tài chính cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu của trường đại học là cơ sở để nhiều quốc gia chuyển đổi từ cơ cấu chi ngân sách cho giáo dục đại học sang xu thế người học tự chi trả. Như vậy cải thiện quản trị đại học trong bối cảnh mới là yêu cầu đặt ra cho các trường đại học Việt Nam, để tương xứng với vị trí của nó và đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội cùng với sự đầu tư và chính sách tài chính của chính phủ là nền tảng để công tác quản trị của các trường đại học Việt Nam từng bước được đổi mới và cải thiện. Tuy nhiên, công tác quản trị đại học ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém cần được khắc phục, trong đó có công tác quản lý tài chính. Kế toán là hệ thống đắc lực trong hệ thống công cụ quản lý tài chính. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi tổ chức hợp lý, khoa học công tác kế toán. Tổ chức công tác kế toán ở các trường đại học trong xu thế hội nhập có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là nền tảng thực hiện tốt công tác quản trị đại học đối với mô hình đại học mới như các Đại học quốc gia và Đại học Vùng. Đại học Thái Nguyên là một Đại học khu vực đa ngành, đa lĩnh vực bao gồm các trường đại học thành viên, được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội và bảo vệ sức khoẻ của các dân tộc của các tỉnh trung du, miền núi phía bắc, theo các ngành nghề khác nhau như: Sư phạm, Y-Dược, Kỹ thuật công nghiệp, Nông – Lâm - Ngư nghiệp, Công nghệ thông tin - Truyền thông, Khoa học xã hội và tự nhiên, Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Ngoại ngữ. Chính vì vậy việc đánh giá thực trạng công tác tổ chức kế toán tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên trong bối cảnh mới và điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính là hết sức cần thiết và tạo cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán, cơ chế quản lý tài chính phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động của mỗi trường đại học thành viên thuộc Đại học Thái Nguyên. Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã chọn đề tài cho luận văn là: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên” góp phần thực hiện tốt Luật Ngân sách nhà nước, giải quyết các vấn đề còn tồn tại và thực hiện quản lý thống nhất tổ chức công tác kế toán, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản trị đại học của mô hình Đại học Vùng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Xu thế toàn cầu về kinh tế, khoa học và công nghệ, môi trường và biến đổikhí hậu, giáo dục và phát triển kỹ năng, khủng hoảng tài chính và về việc cấp tàichính cho đào tạo và nghiên cứu đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục đại học ViệtNam và một loạt các vấn đề cần giải quyết đặt ra cho các trường đại học Việt Nam

Đó là các trường đại học Việt Nam cần chuẩn bị như thế nào để tham gia vào cuộcchuyển đổi năng lượng, chống lại biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao Xuthế toàn cầu đòi hỏi các trường đại học hoạt động tích cực hơn, thể hiện vai trò tiênphong trong sự hợp tác với các ngành công nghiệp, kinh tế và cộng đồng; và xã hội

kỳ vọng tỷ suất lợi nhuận lớn hơn trong đầu tư cho giáo dục Các trường đại học làmột phần của hội nhập toàn cầu về văn hoá, kinh tế, công nghiệp và xã hội Xu thếtoàn cầu trong cấp tài chính cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu của trường đại học

là cơ sở để nhiều quốc gia chuyển đổi từ cơ cấu chi ngân sách cho giáo dục đại họcsang xu thế người học tự chi trả Như vậy cải thiện quản trị đại học trong bối cảnhmới là yêu cầu đặt ra cho các trường đại học Việt Nam, để tương xứng với vị trí của

nó và đáp ứng được yêu cầu của xã hội Sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội cùngvới sự đầu tư và chính sách tài chính của chính phủ là nền tảng để công tác quản trịcủa các trường đại học Việt Nam từng bước được đổi mới và cải thiện Tuy nhiên,công tác quản trị đại học ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém cần được khắcphục, trong đó có công tác quản lý tài chính Kế toán là hệ thống đắc lực trong hệthống công cụ quản lý tài chính Điều này chỉ có thể thực hiện được khi tổ chức hợp

lý, khoa học công tác kế toán Tổ chức công tác kế toán ở các trường đại học trong

xu thế hội nhập có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là nền tảng thực hiện tốt công tácquản trị đại học đối với mô hình đại học mới như các Đại học quốc gia và Đại họcVùng

Đại học Thái Nguyên là một Đại học khu vực đa ngành, đa lĩnh vực bao gồmcác trường đại học thành viên, được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ

Trang 2

sự phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội và bảo vệ sức khoẻ của các dân tộc của cáctỉnh trung du, miền núi phía bắc, theo các ngành nghề khác nhau như: Sư phạm, Y-Dược, Kỹ thuật công nghiệp, Nông – Lâm - Ngư nghiệp, Công nghệ thông tin -Truyền thông, Khoa học xã hội và tự nhiên, Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Ngoạingữ Chính vì vậy việc đánh giá thực trạng công tác tổ chức kế toán tại các trườngđại học thuộc Đại học Thái Nguyên trong bối cảnh mới và điều kiện thực hiện cơchế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính là hết sức cần thiết và tạo cơ sở cho việc

đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán, cơ chế quản lý tài chính phù hợpvới đặc điểm, tính chất hoạt động của mỗi trường đại học thành viên thuộc Đại học

Thái Nguyên Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã chọn đề tài cho luận văn là: “Hoàn

thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên” góp phần thực hiện tốt Luật Ngân sách nhà nước, giải quyết các vấn đề

còn tồn tại và thực hiện quản lý thống nhất tổ chức công tác kế toán, nâng cao chấtlượng và hiệu quả quản trị đại học của mô hình Đại học Vùng

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới và hoàn thiện từng bướccông tác tổ chức kế toán của các trường đại học công lập nói chung và của một Đạihọc Vùng nói riêng, nhằm phát triển quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạogóp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hoá vàhiện đại hoá đất nước

Trang 3

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể về việc đổi mới và từng bước hoàn thiệncông tác tổ chức kế toán tại các Trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.

- Kiến nghị các điều kiện tổ chức thực hiện các giải pháp để giải quyết nhữngđòi hỏi cấp bách về công tác tổ chức kế toán tại các Trường Đại học thuộc Đại họcVùng hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sựnghiệp có thu

Nghiên cứu tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc Đại họcThái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Vì vấn đề có phạm vi và nội dung rộng, do vậy đề tài chỉ tập trung nghiêncứu, khảo sát công tác tổ chức kế toán trong điều kiện thực hiện quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính tạicác trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp duy vật biện chứng

Khi xem xét đánh giá bất cứ một vấn đề gì, một hiện tượng kinh tế - xã hộinào, đều phải dựa trên quan niệm duy vật biện chứng để nhìn nhận Nghĩa là phảixem xét mọi vấn đề trong mối quan hệ hữu cơ, gắn bó và ràng buộc lẫn nhau.Chúng có tác động qua lại, ảnh hưởng tới nhau trong quá trình tồn tại và phát triển

4.2 Phương pháp chuyên khảo

Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập, lựa chọn các tài liệunghiên cứu có liên quan Qua đó tiến hành tra cứu các kết quả đánh giá hiệu quảkinh tế phù hợp với điều kiện và phạm vi nghiên cứu của Đề tài Kết quả thu thậpđược từ phương pháp này sẽ là cơ sở cho việc đánh giá diễn biến của quá trình hạchtoán kế toán Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện tổchức công tác kế toán tại các Trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên

Trang 4

4.3 Phương pháp thu thập thông tin

Để tìm hiểu được tổ chức công tác kế toán tại các Trường Đại học thuộc Đạihọc Thái Nguyên Các số liệu và thông tin được thu thập theo các phương phápnghiên cứu cụ thể:

- Quan sát thực tế kết hợp các thông tin định lượng, định tính khác

- Số liệu thực tế được lấy từ phòng tài chính của các Trường đại học thuộc Đạihọc Thái Nguyên

Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, phương pháp

số tuyệt đối, tương đối … để nghiên cứu, xem xét vấn đề

5 Những đóng góp của luận văn

Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản và phân tích cơ sở khoa học đểxem xét đánh giá các yếu tố liên quan đến công tác kế toán trong các cơ sở đào tạocông lập

Làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong điều kiệnthực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy,biên chế và tài chính tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên trên cơ sởnghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý tài chính và công tác kế toántại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên hiện nay

Đề xuất những giải pháp cơ bản và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổchức kế toán của các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, trang mục lục và danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục biểu, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cở sở lý luận chung về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị

Trang 5

1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu

Hoạt động sự nghiệp ở nước ta là những hoạt động văn hoá thông tin, giáodục đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế, thể dục thể thao được quy định tại Nghịđịnh số 73/CP ngày 24/12/1960 về điều lệ tài vụ sự nghiệp văn xã Các đơn vị sựnghiệp là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, cóhai loại đơn vị sự nghiệp:

Đơn vị sự nghiệp thuần tuý là các đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lậpkhông có nguồn thu, được Ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động

Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị sự nghiệp mà ngoài nguồn kinh phíđược Ngân sách Nhà nước cấp còn được Nhà nước cho phép thu một số khoản thuphí, lệ phí hoặc một số khoản thu khác để phục vụ trong quá trình hoạt động củađơn vị

Các đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vựckhác nhau, đó là (i) Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đàotạo; (ii) Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực y tế; (iii) Đơn vị sựnghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật; (iv) Đơn vị sự nghiệp cóthu hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao; (v) Đơn vị sự nghiệp có thu hoạtđộng trong lĩnh vực kinh tế

Căn cứ vào chủ thể thành lập, đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm: (1) Đơn vị

sự nghiệp công lập do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ra quyết địnhthành lập (2) Đơn vị sự nghiệp có thu ngoài công lập như bán công, dân lập, tưnhân: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, đăng ký hoặc

Trang 6

công nhận (3) Đơn vị sự nghiệp có thu của các tổ chức xã hội, xã hội -nghề nghiệp.(4) Đơn vị sự nghiệp có thu do các Tổng công ty thành lập.

Xét trên góc độ phân cấp quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu, cóthể chia các đơn vị tài chính trong cùng một ngành theo hệ thống dọc thành các đơn

vị dự toán các cấp như sau:

(a) Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán từ Ngân sách Nhà nướcnăm và phân bổ dự toán cho các đơn vị dự toán cấp dưới, chịu trách nhiệm trướcNhà nước về việc tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách củacấp mình và công tác kế toán, quyết toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp dưới trựcthuộc Đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm quản lý kinh phí của toàn ngành và giảiquyết các vấn đề có liên quan đến kinh phí với cơ quan tài chính Thuộc đơn vị dựtoán cấp I là các Bộ ở Trung ương, các Sở ở các tỉnh, thành phố hoặc các phòng ởcấp quận, huyện

(b) Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I

và phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp III, tổ chức thực hiện côngtác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán, quyết toánngân sách của đơn vị dự toán cấp dưới Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị trực thuộcđơn vị dự toán cấp I và là đơn vị trung gian thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh phínối liền giữa đơn vị dự toán cấp I và các đơn vị dự toán cấp III

(c) Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách, nhận dự toánngân sách của đơn vị cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II), có trách nhiệm tổchức, thực hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của đơn vị mình và dự toánđơn vị cấp dưới (nếu có) Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị dự toán cấp cơ sở trựctiếp chi tiêu kinh phí để phục vụ nhu cầu hoạt đọng của mình, đồng thời thực hiệncác nhiệm vụ quản lý kinh phí tại đơn vị dưới sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấptrên Đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể,khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán, quyết toán với đơn vị dự toán cấp trênnhư quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I

Trang 7

Căn cứ và nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp có thu được phân loại đểthực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như quy định tại Nghị định

số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/4/2006, gồm: (i) Đơn vị sự nghiệp cóthu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp

tự bảo đảm chi phí hoạt động): là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bảo đảm toàn bộchi phí hoạt động thường xuyên, Ngân sách Nhà nước không phải cấp kinh phí bảođảm hoạt động thường xuyên cho đơn vị (ii) Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảmmột phần chi phí hoạt động thường xuyên: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa tựtrang trải được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, Ngân sách Nhà nước cấpmột phần chi phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tựbảo đảm một phần chi phí hoạt động)

Mức kinh phí tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị đượcxác định theo công thức sau đây (nhỏ hơn 100%)”

(*)Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động

thường xuyên của đơn vị sự nghiệp (%) =

Tổng số nguồn thu sự nghiệp

x 100% Tổng số chi hoạt động thường xuyên

Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên của đơn

vị tính toán theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định; tình hình thực hiện

dự toán thu, chi của năm trước liền kề (loại trừ yếu tố đột xuất, không thườngxuyên) được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thờigian 3 năm Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp

1.1.2 Đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp có thu có đặc điểm sau:

 Đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ,được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước cấp đối vớiđơn vị tự đảm bảo một phần chi phí theo định kỳ 3 năm và hàng năm được tăngthêm theo tỷ lệ do Thủ tướng chính phủ quyết định

 Về tổ chức biên chế: Đơn vị sự nghiệp được chủ động sử dụng số biên chế đượccấp có thẩm quyền giao, sắp xếp và quản lý lao động phù hợp với chức năng nhiệm

Trang 8

vụ của đơn vị theo pháp lệnh công chức Đồng thời đơn vị cũng được chủ động kýhợp đồng thuê, khoán công việc đối với những công việc không cần thiết bố trí biênchế thường xuyên; ký hợp đồng và các hình thức hợp tác khác với chuyên gia, nhàkhoa học trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị.

 Về huy động vốn và vay vốn tín dụng: Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụđược vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chứctrong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổchức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả

nợ vay theo quy định của pháp luật

 Về quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sửdụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tạiđơn vị sự nghiệp Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thựchiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhànước Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộcnguồn vốn ngân sách nhà nước đơn vị được để lại đầu tư tăng cường cơ sở vật chất,đổi mới trang thiết bị của đơn vị

 Về việc mở tài khoản giao dịch: Đơn vị sự nghiệp mở tài khoản tại Kho bạc Nhànước để phản ánh các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định củaLuật Ngân sách nhà nước; được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạcNhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ

 Đối với các khoản chi thường xuyên, căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khảnăng nguồn tài chính, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý,chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩmquyền quy định và được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận,đơn vị trực thuộc

 Về chế độ tiền lương, tiền công và thu nhập: Đơn vị sự nghiệp có thu được xácđịnh tổng quỹ lương để trả cho người lao động trên cơ sở tiền lương tối thiểu củaNhà nước tăng không quá 2 lần (đối với đơn vị tự đảm bảo một phần kinh phí) vàkhông quá 2,5 lần (đối với đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí thường xuyên) Khi

Trang 9

Nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu hoặcthay đổi định mức, chế độ, tiêu chuẩn cho ngân sách nhà nước, cả hai loại đơn vị sựnghiệp phải trang trải các khoản chi tăng thêm theo chính sách chế đội mới từ cácnguồn: thu sự nghiệp, các khoanr tiết kiệm chi, các quỹ của đơn vị.

 Về sử dụng kết quả tài chính trong năm: Hàng năm căn cứ vào kết quả tài chính,đơn vị sự nghiệp có thu được trích lập bốn quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập,quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

1.1.3 Cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu

Cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu là tổng thể cácphương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng trong suốt quá trình quản lýcác hoạt động tài chính của đơn vị, tổ chức ở những điều kiện cụ thể nhằm đạt đượcnhững mục tiêu nhất định

Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu được thể hiện thông quahình thức sau:

- Các chế độ tài chính và thu, chi liên quan đến nhân lực, hoạt động chuyênmôn, đầu tư và xây dựng đơn vị, chế độ kế toán hành chính sự nghiệp

- Thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân của các chức danh quản lý tài chínhtrong đơn vị

- Kỷ luật tài chính, trong đó phần quan trọng do đơn vị tự xây dựng các quychế và quản lý thu- chi tiền mặt, vật tư, tài sản, điện nước, chế độ tự kiểm tra và chế

độ xử lý kỷ luật

Việc tạo ra một cơ chế quản lý tài chính thích hợp đối với các đơn vị sựnghiệp có thu sẽ tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sựnghiệp, đảm bảo cho bộ máy của đơn vị hoạt động có hiệu quả, đáp ứng nhu cầucủa xã hội Đồng thời cơ chế quản lý tài chính thích hợp cũng nêu cao ý thức tiếtkiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí, tăng cường đấu tranh chống tham ô, lãngphí; sắp xếp bộ máy tổ chức và lao động hợp lý, tăng thu nhập, tăng phúc lợi, khenthưởng cho người lao động nằhm nâng cao đời sống của người lao động

Nội dung quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu:

Trang 10

Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:

(i) Kinh phí do ngân sách nhà nước (NSNN) cấp: Kinh phí bảo đảm hoạt độngthường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đói với đơn vị tự đảm bảo một phầnchi phí hoạt động, được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dựtoán được cấp có thẩm quyền giao Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và côngnghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ) Kinh phí thựchiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức Kinh phí thực hiện cácchương trình mục tiêu quốc gia Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhànước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) Kinhphí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao Kinh phí thực hiệnchính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có) Vốn đầu

tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố địnhphục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trongphạm vi dự toán được giao hàng năm Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồnvốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt và kinh phí khác (nếu có)

(ii) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm: Phần được để lại từ số thu phí, lệ phíthuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Thu từ hoạt động dịch vụ.Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có) Lãi được chia từ các hoạt động liêndoanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, chotheo quy định của pháp luật Nguồn khác, gồm: Nguồn vốn vay của các tổ chức tíndụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị Nguồn vốn liên doanh, liênkết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

Đơn vị sự nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phíphải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền quy định Trường hợp nhà nước có thẩm quyền quy định khung mứcthu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xãhội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đốitượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quyđịnh Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân

Trang 11

trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định cáckhoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ.

Từ các nguồn thu trên, đơn vị sự nghiệp thực hiện các đầu mục chi:

Thứ nhất, Chi thường xuyên; gồm: Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụđược cấp có thẩm quyền giao Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụthu phí, lệ phí Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ vớingân sách nhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãitiền vay theo quy định của pháp luật)

Thứ hai, Chi không thường xuyên; gồm: Chi thực hiện các nhiệm vụ khoahọc và công nghệ Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức.Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia Chi thực hiện các nhiệm vụ do nhànước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khunggiá do nhà nước quy định Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nướcngoài theo quy định Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyềngiao Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có).Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố địnhthực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt Chi thực hiện các dự án từnguồn vốn viện trợ nước ngoài Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết và cáckhoản chi khác theo quy định (nếu có)

Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với cáckhoản chi thường xuyên, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản

lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quy định Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyếtđịnh phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc và Quyết địnhđầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định củapháp luật

Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiệntinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thànhnhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; tuỳ

Trang 12

theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trảthu nhập trong năm của đơn vị, trong đó:

Đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động được quyết định tổng mức thu nhậptrong năm cho người lao động sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạtđộng sự nghiệp theo quy định

Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, được quyết địnhtổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng tối đa không quá 3 lầnquỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định sau khi đã thựchiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo quy định

Việc sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm được quy định: Hàngnăm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quyđịnh, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tựnhư sau:

Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động:

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 thángtiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiềnlương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm;

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn mộtlần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhậptăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập,

Trang 13

Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó, đốivới 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiềnlương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm Mức trả thunhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theoquy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

Đơn vị sự nghiệp có trách nhiệm lập dự toán năm đầu thời kỳ ổn định phânloại đơn vị sự nghiệp Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyềngiao, nhiệm vụ của năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành; căn cứ kếtquả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề; đơn vịlập dự toán thu, chi năm kế hoạch; xác định phân loại đơn vị sự nghiệp theo quyđịnh tại Điều 9 của Nghị định này; số kinh phí đề nghị ngân sách nhà nước bảo đảmhoạt động thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phíhoạt động và đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạtđộng); lập dự toán kinh phí chi không thường xuyên theo quy định hiện hành

Lập dự toán 2 năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sựnghiệp Căn cứ mức kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyênthực hiện chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao của năm trước liền kề

và nhiệm vụ tăng hoặc giảm của năm kế hoạch, đơn vị lập dự toán thu, chi hoạtđộng thường xuyên của năm kế hoạch Đối với kinh phí hoạt động không thườngxuyên, đơn vị lập dự toán theo quy định của Luật Ngân sách

Đối với cơ quan quản lý cấp trên căn cứ vào dự toán thu, chi năm đầu thời kỳ

ổn định do đơn vị lập, cơ quan quản lý cấp trên dự kiến phân loại đơn vị sự nghiệptrực thuộc và tổng hợp dự toán thu, dự toán ngân sách bảo đảm chi hoạt độngthường xuyên, không thường xuyên (nếu có) cho đơn vị gửi cơ quan tài chính cùngcấp và các cơ quan liên quan theo quy định hiện hành

Hàng năm, trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp, cơ quan chủquản căn cứ vào dự toán thu, chi của đơn vị sự nghiệp lập, xem xét tổng hợp dựtoán ngân sách nhà nước, gửi cơ quan tài chính cùng cấp

Trang 14

Giao dự toán thu, chi: Bộ chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộcTrung ương); cơ quan chủ quản địa phương (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc địaphương) quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách năm đầu thời kỳ ổn định phânloại cho đơn vị sự nghiệp, trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách được cấp cóthẩm quyền giao, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chínhcùng cấp.

Hàng năm, trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp, cơ quan chủquản quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách cho đơn vị sự nghiệp, trong đó kinhphí bảo đảm hoạt động thường xuyên theo mức năm trước liền kề và kinh phí đượctăng thêm (bao gồm cả kinh phí thực hiện nhiệm vụ tăng thêm) hoặc giảm theo quyđịnh của cấp có thẩm quyền (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phíhoạt động và đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phíhoạt động) trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao,sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp

Thực hiện dự toán thu, chi: Đối với kinh phí chi hoạt động thường xuyên:trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chỉnh các nội dung chi, các nhóm mụcchi trong dự toán chi được cấp có thẩm quyền giao cho phù hợp với tình hình thực

tế của đơn vị, đồng thời gửi cơ quan quản lý cấp trên và Kho bạc Nhà nước nơi đơn

vị mở tài khoản để theo dõi, quản lý, thanh toán và quyết toán Kết thúc năm ngânsách, kinh phí do ngân sách chi hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệpchưa sử dụng hết, đơn vị được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng; Đối vớikinh phí chi cho hoạt động không thường xuyên: khi điều chỉnh các nhóm mục chi,nhiệm vụ chi, kinh phí cuối năm chưa sử dụng hoặc chưa sử dụng hết, thực hiệntheo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn hiện hành

Cuối quý, cuối năm, đơn vị sự nghiệp lập báo cáo kế toán, báo cáo quyếttoán thu, chi ngân sách nhà nước gửi cơ quan quản lý cấp trên

Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trêntrực tiếp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình trong việc

Trang 15

thực hiện quyền tự chủ về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của đơn

vị Xây dựng phương án thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy địnhbáo cáo cơ quan cấp trên Xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ Tổchức thực hiện công tác hạch toán kế toán, thống kê, quản lý tài sản, phản ảnh đầy

đủ, kịp thời toàn bộ các khoản thu, chi của đơn vị trong sổ sách kế toán Thực hiệncác quy định về chế độ thông tin, báo cáo hoạt động sự nghiệp

Bộ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, uỷ ban nhândân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm quy định chức năng,nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc Quyết định giao quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Phê duyệt kế hoạch biênchế đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, đơn vị sựnghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động, bảo đảm phùhợp giữa kế hoạch biên chế với chức năng, nhiệm vụ và khả năng tài chính của đơn

vị Quy định phân cấp về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộmáy, biên chế và tài chính, làm căn cứ cho các đơn vị trực thuộc thực hiện Xâydựng, ban hành các tiêu chuẩn, định mức chi, định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giácác sản phẩm nhà nước đặt hàng theo quy định Xây dựng tiêu chí cụ thể để đánhgiá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao đối với các đơn vị sự nghiệp trên cơ sởcác tiêu chí đã được quy định

1.2 VAI TRÒ, NGUYÊN TẮC VÀ NHIỆM VỤ CỦA TỔ CHỨC CÔNG TÁC

KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU

1.2.1 Vai trò của tổ chức công tác kế toán

Hiện nay, khái niệm tổ chức công tác kế toán có rất nhiều quan điểm khácnhau Mỗi quan điểm thể hiện những cách tiếp cận khác nhau, có thể khái quát như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng tổ chức công tác kế toán thực chất là tổ chức

vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản, hệ thống các phương pháptính giá và hệ thống báo cáo kế toán Có nghĩa tổ chức công tác này là vận dụng cácphương pháp kế toán trong mối liên hệ ràng buộc giữa các yếu tố cấu thành nên bản

Trang 16

chất kế toán Quan điểm này đề cao vai trò các phương pháp kế toán trong mối quan

hệ chặt chẽ từ khâu phát sinh nghiệp vụ kinh tế đến khi lập các báo cào tài chính;thể hiện được sự vận dụng một cách khoa học các phương pháp kế toán vào thực tế.Song, nếu chỉ là việc tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán vào thực tế, cũng

có nghĩa là tổ chức việc vận dụng chế độ vào một đơn vị cụ thể mà không tính đếnmột số vấn đề khác thì hiệu quả của kế toán sẽ không được như mong muốn và cóthể sẽ không đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao hiện nay

Quan điểm thứ hai xuất phát từ vai trò và nội đung của kế toán là khoa học

thu nhậ, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh tế, tài chính củadơn vị Từ đó quan điểm này cho rằng, tổ chức công tác kế toán cần phải giải quyếthai vấn đề là: tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán trong đơn vị và tổ chức bộmáy kế toán phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất và tính chất hoạt động của đơn

vị Quan điểm này đã kết hợp được việc thực hiện các phương pháp kế toán thôngqua việc phân công, phân nhiệm cho các nhân viên kế toán thực hiện theo từng phầnhành kế toán cụ thể Điều này vừa tạo ra nhận thức về trách nhiệm của đội ngũ nhânviên kế toán, vừa toạ điều kiện cho việc vận dụng các phương pháp kết oán đượcthực hiện tốt hơn ở đơn vị

Từ những quan điểm trên về tổ chức công tác kế toán có thể rút ra: Tổ chứccông tác kế toán là việc tổ chức thực hiện khối lượng công tác kế toán và tổ chức bộmáy kế toán theo một mô hình phù hợp với những đặc điểm, điều kiện riêng có củamột đơn vị cụ thể trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc kế toán Mở rộng ra, tổ chứccông tác kế toán bao hàm cả tổ chức hệ thống chứng từ, sổ, tài khoản, báo cáo kếtoán và bộ máy kế toán áp dụng trong từng đơn vị cụ thể

Trong bất kỳ tổ chức, đơn vị nào thông tin về tài chính, kế toán đều rất cầnthiết cho nhu cầu quản lý, hoạt động của đơn vị Tổ chức công tác kế toán là mộtcông cụ quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống quản lý kinh tế nhằm quản lý,điều hành, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tài chính ở mỗi đơn vị cũng nhưtrong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân Để thực hiện được vai trò đó thì đòi hỏi

Trang 17

tổ chức công tác kế toán phải được tổ chức một cách khoa học, hợp lý, phù hợp vớiđặc điểm, điều kiện của từng đơn vị.

Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp thông tin vềhoạt động kinh tế tài chính của đơn vị một cách có hệ thống, kịp thời, chính xác chocác nhà quản lý, giúp họ đưa ra các quyết định có hiệu quả nhất

Bố trí con người để thực hiện các khối lượng công tác kế toán là một nộidung của tổ chức công tác kế toán Vì vậy, tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp

lý còn giúp cho đơn vị có được bộ máy kế toán gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, gópphần tinh giản bộ máy quản lý của đơn vị, nâng cao hiệu suất lao động kế toán vàhiệu lực của bộ máy quản lý

Tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán phù hợp với đặc điểm của đơn vịtrên cơ sở những quy định, chế độ chung của Nhà nước về quản lý tài chính sẽ tạo

ra sự thống nhất trong quản lý, cung cấp thông tin tin cậy cho công tác quản lý vĩ

mô, giúp cho Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, soạn thảo luật lệ thích hợp

1.2.2 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu

Như phần trên luận văn đã phân tích, tổ chức công tác kế toán có vai trò rấtquan trọng trong việc tiết kiệm nhân công, tiến độ thực hiện nhưng vẫn đảm bảothông tin kế toán chính xác, kịp thời, có tính quyết định cho sự thành công hay thấtbại trong các hoạt động của đơn vị Muốn vậy trong hoạt động thực tiễn, tổ chứccông tác kế toán phải tuân theo những nguyên tắc nhất định giữa bản thân hoạt động

kế toán và quan hệ giữa kế toán với các bộ phận khác trong hệ thống quản lý Cácnguyên tắc đó là:

Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Chức năng của tổ chức công tác kế toán là cung cấp thông tin kịp thời,

đáng tin cậy cho người sử dụng Nhằm tạo ra một khung pháp lý chung, một sựhướng dẫn thống nhất, tiêu chuẩn cho tổ chức công tác kế toán, Nhà nước đã banhành Luật kế toán, các chuẩn mực, chế độ kế toán và đòi hỏi các đơn vị phải tuânthủ Thực hiện nguyên tắc này, khi triển khai tổ chức công tác kế toán, các đơn vị

Trang 18

phải nắm chắc và tuân thủ các chuẩn mực, chế độ kế toán của nhà nước, có như vậymới đảm bảo thực hiện tốt chức năng của tổ chức công tác kế toán.

Thứ hai, nguyên tắc thống nhất Tổ chức công tác kế toán là một loại hình tổ

chức đặc thù Tổ chức công tác kế toán không phải là sự lắp ghép tuỳ tiện hoặc gộplại một cách đơn giản các phần từ (đối tượng, phương pháp, mô hình, bộ máy kếtoán ) mà là sự kết hợp hữu cơ giữa chúng Vì vậy, tổ chức công tác kế toán phảiđảm bảo tính thống nhất trong hệ thống kế toán giữa đối tượng và phương pháp,hình thức và bộ máy kế toán trong đơn vị kế toán

Tổ chức công tác kế toán còn phải đảm bảo tính thống nhất giữa kế toán vàquản lý Trong bất cứ đơn vị nào, ngoài bộ phận kế toán còn có các bộ phận khácliên quan như thống kê, kế hoạch, vật tư, kỹ thuật Các bộ phận này có quan hệchặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống quản lý Do đó tổ chức công tác kế toánphải luôn chú ý mối quan hệ giữa kế toán và các bộ phận khác để đảm bảo sự thốngnhất trong việc tính toán và đánh giá các chỉ tiêu kinh tế; hoặc mối liên hệ trongviệc cung cấp, thu thập và sử dụng các thông tin cũng như trong việc đối chiếu,kiểm tra số liệu kế toán với các bộ phận khác để đảm bảo sự ăn khớp, thống nhấtvới nhau Đồng thời, tổ chức công tác kế toán còn phải đảm bảo thống nhất với toàn

hệ thống, thống nhất mô hình tổ chức công tác kế toán với mô hình tổ chức hoạtđộng và tổ chức quản lý Nhờ vậy hệ thống mới không ngừng vận động và phát triển

Thứ ba, nguyên tắc phù hợp với đặc thù của đơn vị Mỗi đơn vị là một tổ

chức độc lập với những đặc điểm và điều kiện riêng về mô hình tổ chức, về phươngthức kinh doanh, mô hình quản lý Khi tổ chức công tác kế toán, ngoài việc đảmbảo tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ chung, còn phải chú ý đến đặcđiểm, điều kiện riêng của đơn vị, không áp dụng một cách rập khuôn, máy móc màphải triển khai tổ chức công tác kế toán phù hợp với từng điều kiện cụ thể, ví dụ cầntuỳ thuộc vào quy mô, lĩnh vực loại hình hoạt động, trình độ của cán bộ kế toán đểlựa chọn hình thức kế toán, mô hình kế toán thích hợp Thực hiện nguyên tắc này sẽđảm bảo sự hài hoà giữa tính thống nhất và tính đặc thù trong tổ chức công tác kế

Trang 19

toán, đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống kế toán và phát huy đầy đủ vai trò của kếtoán trong hệ thống quản lý đơn vị.

Thứ tư, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Tổ chức kế toán ở mỗi đơn vị kế

toán phải sau cho vừa gọn nhẹ cả về bộ máy, phương tiện, số lượng ghi chép nhưng vẫn bảo đảm thu thập, hệ thống và cung cáp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời

1.2.3 Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu

Là một phân hệ thông tin trong hệ thống quản lý, công tác kế toán thu thập

và cung cấp thông tin về tài chính, về kết hoạt động tài chính làm cơ sở cho việc ranhững quyết định quản lý Tổ chức công tác kế toán có ý nghĩa quan trọng, đảm bảothực hiện vai trò kế toán trong quản lý Bởi vậy, tổ chức công tác kế toán cần thựchiện những nhiệm vụ sau:

- Tổ chức khoa học và hợp lý công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán phùhợp với điều kiện cụ thể của đơn vị, thực hiện kế hoạch hoá công tác kế toán (xácđịnh nhiệm vụ, mối quan hệ của từng bộ phận, từng cán bộ nhân viên kế toán )đảm bảo công tác kế toán được thực hiện với chất lượng tốt, hiệu suất cao

- Tổ chức áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý tiêntiến vào công tác kế toán, trang bị và ứng dụng phương tiện kỹ thuật ghi chép, tínhtoán, thông tin hiện đại vào công tác kế toán, đảm bảo cho công tác kế toán đượctiến hành với những phương pháp kỹ thuật hạch toán tiên tiến nhất, đáp ứng kịpthời, đầy đủ nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin, phục vụ chocông tác quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị

- Hướng dẫn, kiểm tra cán bộ, công nhân viên chấp hành đúng các chínhsách, chế độ, thể lệ về kinh tế tài chính, kế toán, thực hiện kiểm tra kế toán

1.3 NỘI DUNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ

SỰ NGHIỆP CÓ THU

1.3.1 Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán

Trang 20

Chứng từ kế toán là những minh chứng bằng giấy tờ và vật mang tin chứngminh các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh, đã thực sự hoàn thành theo thờigian và địa điểm phát sinh, là căn cứ để ghi sổ kế toán và tổng hợp số liệu kế toán.

Tổ chức chứng từ kế toán là thiết lập các thủ tục cần thiết để hình thành bộchứng từ đầy đủ cho từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nhằm thiết lập hệ thốngthông tin ban đầu hợp pháp, hợp lệ phục vụ cho quản lý và xử lý ghi sổ kế toán

Tổ chức tốt hệ thống chứng từ trong đơn vị sự nghiệp có thu sẽ tạo thuận lợicho việc xử lý số liệu ghi sổ kế toán và bảo đảm tính pháp lý của số liệu trên sổ kếtoán Đồng thời tổ chức tốt chứng từ cũng sẽ nâng cao tính pháp lý trong việc kiểmtra kế toán ngay từ giai đoạn đầu của công tác kế toán, như kiểm tra giám sát tài sản

và các hoạt động tài chính của đơn vị, kiểm tra và xử lý kịp thời những sai sót, gianlận cũng như những tranh chấp trong quan hệ kinh tế có thể xảy ra Từ đó tăngcường chức năng thông tin và kiểm tra của kế toán

Để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong việc điều hành và quản lý nềnkinh tế quốc dân, Bộ tài chính đã ban hành chế độ về chứng từ kế toán, trong đó baogồm hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc và chứng từ kế toán hướng dẫn Các đơn vịcăn cứ vào điều kiện cụ thể của mình để tổ chức thực hiện và vận dụng theo đúngquy định của Nhà nước về Chế độ chứng từ

Xuất phát từ vai trò của chứng từ trong quản lý và trong công tác kế toán,việc tổ chức vận dụng chứng từ kế toán trong các đơn vị sự nghiệp có thu cũng phảituân thủ theo những nguyên tắc sau:

Một là, tổ chức chứng từ kế toán phải căn cứ vào chế độ do Nhà nước banhành, được thống nhất áp dụng về hệ thống biểu mẫu chứng từ bắt buộc để tổ chứcvận dụng chế độ hợp lý, hợp pháp bảo đảm chứng từ là căn cứ pháp lý để ghi sổ kếtoán và thông tin cho quản lý

Hai là, tổ chức chứng từ phải căn cứ vào cơ cấu tài sản, nguồn vốn, đặc điểm

tổ chức sản xuất kinh doanh và trình độ tổ chức quản lý để xác định số lượng, chủngloại chứng từ thích hợp

Trang 21

Ba là, tổ chức chứng từ kế toán phải căn cứ vào yêu cầu quản lý tài sản vàtình hình biến động của chứng từ để tổ chức sử dụng chứng từ thích hợp và luânchuyển các bộ phận có liên quan.

Bốn là, tổ chức vận dụng chứng từ phải căn cứ vào nội dung và đặc điểmtừng loại chứng từ

Nội dung của tổ chức chứng từ kế toán tại đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:

Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán

+ Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán là việc lựa chọn số lượng, chủng loạichứng từ căn cứ vào hệ thống biểu mẫu chứng từ thống nhất do Nhà nước ban hành,đồng thời phù hợp với cơ cấu tài sản, nguồn vốn, đặc điểm hoạt động và trình độquản lý của đơn vị

Chứng từ là phương pháp đầu tiên quan trọng của hệ thống phương pháphạch toán kế toán Phương pháp chứng từ là phương pháp thông tin và kiểm tra vềtrạng thái và sự biến động của đối tượng kế toán cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cholãnh đạo nghiệp vụ và làm căn cứ phân loại, ghi sổ và tổng hợp kế toán

Nội dung của chứng từ kế toán bao gồm:

- Tên và số hiệu của chứng từ kế toán

- Ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán

- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán

- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán

- Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh

- Số lượng, đơn giá, số tiền nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng sốtiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ

- Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quanđến chứng từ kế toán

Ngoài những nội dung chủ yếu nói trên, chứng từ kế toán có thể có thêmnhững nội dung khác theo từng loại chứng từ

Tác dụng của chứng từ kế toán như sau:

Trang 22

Lập chứng từ là khởi điểm của tổ chức công tác kế toán và xây dựng hệthống kiểm soát nội bộ của đơn vị; không có chứng từ sẽ không thể thực hiện đượccông tác kế toán.

Lập chứng từ kế toán là nhằm ghi nhận nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phátsinh và thực sự hoàn thành, đảm bảo tính chất hợp lệ, hợp pháp của nghiệp vụ

Lập chứng từ kế toán là nhằm tạo ra căn cứ để kế toán ghi sổ nghiệp vụ kinh

tế phát sinh

Lập chứng từ kế toán là nhằm ghi nhận đơn vị và cá nhân chịu trách nhiệmđối với nghiệp vụ phát sinh trước pháp luật

+ Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán: Chương trình luân chuyển chứng từ

là sự vận động của chứng từ từ giai đoạn lập cho đến giai đoạn lưu trữ, bảo quảnchứng từ, thực hiện chức năng truyền thông tin về các hoạt động kinh tế tài chínhphản ánh trong chứng từ kế toán Do chứng từ có nhiều loại với đặc tính luânchuyển khác nhau nên các giai đoạn cụ thể của quá trình luân chuyển cũng khácnhau, song chung quy lại luân chuyển chứng từ thường bao gồm các giai đoạn sau:

Hình 1.1 Sơ đồ trình tự luân chuyển chứng từ trong các đơn vị sự nghiệp có thu

Bước 1: Lập chứng từ kế toán: Tuỳ thuộc theo nội dung kinh tế của nghiệp

vụ mà sử dụng chứng từ thích hợp Khi lập chứng từ phải đảm bảo tuân thủ các quyđịnh sau:

Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của đơn vị

kế toán đều phải lập chứng từ kế toán Chứng từ kế toán chỉ được lập một lần chomỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính

Sử dụng chứng từ

Kiểm tra chứng từ

Kiểm tra chứng từ

Trang 23

Chứng từ kế toán phải được lập rõ ràng, đầy đủ, kịp thời, chính xác theo nộidung quy định trên mẫu Trong trường hợp chứng từ kế toán chưa có quy định mẫuthì đơn vị kế toán được tự lập chứng từ kế toán nhưng phải có đầy đủ các nội dungtheo quy định.

Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ kế toán không được viếttắt, không được tẩy xóa, sửa chữa; khi viết phải dùng bút mực, số và chữ viết phảiliên tục, không ngắt quãng, chỗ trống phải gạch chéo; chứng từ bị tẩy xóa, sửa chữađều không có giá trị thanh toán và ghi sổ kế toán Khi viết sai vào mẫu chứng từ kếtoán thì phải huỷ bỏ bằng cách gạch chéo vào chứng từ viết sai

Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên quy định Trường hợp phải lậpnhiều liên chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính thì nội dung cácliên phải giống nhau Chứng từ kế toán do đơn vị kế toán quy định tại các điểm a, b,

c và d khoản 1 Điều 2 của Luật kế toán lập để giao dịch với tổ chức, cá nhân bênngoài đơn vị kế toán thì liên gửi cho bên ngoài phải có dấu của đơn vị kế toán

Người lập, người ký duyệt và những người khác ký tên trên chứng từ kế toánphải chịu trách nhiệm về nội dung của chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán được lập dưới dạng chứng từ điện tử phải tuân theo quyđịnh về chứng từ điện tử và phải được in ra giấy và lưu trữ theo quy định

Bước 2: Kiểm tra chứng từ kế toán: Thông tin kế toán thu nhận đều được

phản ánh trong các chứng từ kế toán ban đầu hoặc trong chứng từ kế toán nội sinh

Vì vậy, kiểm tra thông tin kế toán thu nhận được chính là kiểm tra thông tin phảnánh ở chứng từ kế toán

Khi nhận được chứng từ kế toán, cán bộ, nhân viên kế toán phải kiểm trachứng từ kế toán theo trình tự: Kiểm tra tính rõ ràng, trung thực, đầy đủ của các chỉtiêu, các yếu tố ghi chép trên chứng từ kế toán; Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp

vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã ghi trên chứng từ kế toán, đối chiếu chứng từ kếtoán với các tài liệu khác có liên quan; Kiểm tra tính chính xác của số liệu, thông tintrên chứng từ kế toán

Trang 24

Chỉ những chứng từ kế toán khi kiểm tra đảm bảo được các nội dung trênmới được sử dụng để ghi sổ kế toán còn trường hợp phát hiện nội dung nào đókhông đảm bảo thì phải báo cáo kịp thời cho kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị để

xử lý kịp thời

Bước 3: Tổ chức quá trình sử dụng chứng từ kế toán để ghi sổ kế toán: Trước

khi ghi sổ kế toán, phải phân loại chứng từ theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ phùhợp với việc quản lý tài sản của đơn vị, theo tính chất của khoản chi, theo đối tượngchịu chi phí hay theo địa điểm phát sinh của nghiệp vụ kinh tế Dựa vào việc phânloại này để xác định việc ghi sổ kế toán phù hợp bao gồm cả sổ tổng hợp và sổ chi tiết

Phải ghi chép kịp thời, chính xác số liệu của chứng từ kế toán ứng với nộidung của tài khoản tổng hợp hoặc phân tích nhằm cung cấp thông tin cho việc chỉđạo nghiệp vụ hoặc tích luỹ thông tin tổng hợp để ra quyết định

Bước 4: Tổ chức quá trình bảo quản, lưu trữ chứng từ: Sau khi chứng từ đã

ghi sổ kế toán xong, chứng từ được chuyển sang giai đoạn bảo quản và lưu trữ

Tài liệu kế toán phải được đơn vị kế toán bảo quản đầy đủ, an toàn trong quátrình sử dụng và lưu trữ

Tài liệu kế toán lưu trữ phải là bản chính Trường hợp tài liệu kế toán bị tạmgiữ, bị tịch thu phải có biên bản kèm theo bản sao chụp có xác nhận; nếu bị mấthoặc bị huỷ hoại thì phải có biên bản kèm theo bản sao chụp hoặc xác nhận

Người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán chịu trách nhiệm tổ chứcbảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán

Tài liệu kế toán phải được lưu trữ tối thiểu là năm năm đối với tài liệu kếtoán dùng cho quản lý, điều hành của đơn vị kế toán, gồm cả chứng từ kế toánkhông sử dụng trực tiếp để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính, tối thiểu mườinăm đối với chứng từ kế toán sử dụng trực tiếp để ghi sổ kế toán và lập BCTC, sổ

kế toán và báo cáo tài chính năm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, lưu trữvĩnh viễn đối với các tài liệu kế toán có tính sử liệu, có ý nghĩa quan trọng về kinh

tế, an ninh, quốc phòng Chính phủ quy định cụ thể từng loại tài liệu kế toán phải

Trang 25

lưu trữ, thời hạn lưu trữ, thời điểm tính thời hạn lưu trữ theo quy định, nơi lưu trữ

và thủ tục tiêu huỷ tài liệu kế toán lưu trữ

Tổ chức quá trình huỷ chứng từ: Các chứng từ kế toán khi hết thời hạn lưutrữ được chuyển sang giai đoạn huỷ Khi huỷ chứng từ, các đơn vị phải lập hội đồngtiêu huỷ và lập biên bản tiêu huỷ có đủ chữ ký của những người có liên quan và ghi

rõ hình thức tiêu huỷ Các chứng từ đã chuyển sang giai đoạn tiêu huỷ phải đảm bảocác thông tin ghi trên chứng từ không thể sử dụng được nữa

Tổ chức chứng từ là khâu đầu tiên của tổ chức công tác kế toán, thực hiện tốtkhâu này sẽ tạo thuận lợi cho việc xử lý số liệu trên sổ kế toán và đảm bảo tính hợppháp, hợp lệ của số liệu kế toán; đồng thời nâng cao tính pháp lý trong việc kiểm tra

kế toán ngay từ giai đoạn đầu của công tác kế toán, như kiểm tra, giám sát tài sản vàcác hoạt động tài chính của đơn vị, kiểm tra và xử lý kịp thời những sai sót, gian lậncũng như những tranh chấp trong quan hệ kinh tế có thể xảy ra

Hiên nay, hệ thống chứng từ kế toán áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thuđược thực hiện theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tàichính chia làm 4 chỉ tiêu chính:

+ Chỉ tiêu lao động tiền lương

1.3.2 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán

Trang 26

Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán là việc xây dựng mô hình thôngtin về sự biến động của tài sản, nguồn vốn và quá trình hoạt động bằng cách xác lập,

sử dụng các tài khoản tổng hợp và các tài khoản phân tích phù hợp

Tài khoản là cách thức phân loại, hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phátsinh riêng biệt theo từng đối tượng ghi của kế toán (tài sản, nguồn vốn và các quátrình hoạt động) nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của các loại chủ thể quản lýkhác nhau

Tài khoản là hình thức biểu hiệu của phương pháp đối ứng tài khoản Phươngpháp đối ứng tài khoản có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý kinh tế, tài chính,cũng như trong công tác kế toán, cụ thể là:

Nhờ có phương pháp tài khoản, kế toán có thể hệ thống hoá được thông tin

về tài sản, nguồn vốn và các hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn vị phục vụ cholãnh đạo và quản lý kinh tế, tài chính của nhà nước, của ngành và của đơn vị

Nhờ có phương pháp tài khoản kế toán có thể hệ thống hoá thông tin cụ thể,chi tiết về tình hình tài sản, nguồn vốn và sự vận động của chúng ở từng đơn vịphục vụ cho yêu cầu quản trị, yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế trong đơn vị, cũngnhư yêu cầu quản lý tài sản ở đơn vị

Nhờ có phương pháp tài khoản kế toán có thể hệ thống hoá được số liệu theocác chỉ tiêu kinh tế, tài chính để lập được các báo cáo kế toán định kỳ

Tài khoản kế toán được sử dụng để theo dõi và phản ánh tình hình và sự biếnđộng của từng loại tài sản, nguồn vốn trong đơn vị Bởi vậy, để cung cấp đầy đủthông tin cho quản lý, các đơn vị phải dùng rất nhiều tài khoản khác nhau mới cóthể đảm bảo phản ánh được toàn bộ các chỉ tiêu cần thiết

Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu (Quyết định

số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tài Chính gồm các loại tài khoản:

+ Loại 1: Tiền và vật tư

+ Loại 2: Tài sản cố định

+ Loại 3: Thanh toán

Trang 27

+ Loại 4: Nguồn kinh phí

+ Loại 5: Các khoản thu

+ Loại 6: Các khoản chi

+ Loại 0: Tài khoản ngoài bảng

Để có được hệ thống tài khoản hợp lý, khoa học, phù hợp với đặc điểm, điềukiện của đơn vị, đáp ứng yêu cầu thông tin cho quản lý đơn vị, trong quá trình xâydựng và tổ chức vận dụng, phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Có thể nêu

ra một số nguyên tắc cơ bản sau:

Nắm vững các đặc trưng của tài khoản Chính những đặc trưng này đã làmcho các tài khoản có những khác biệt nhất định Nắm vững đặc trưng của tài khoảnmới có thể lựa chọn được những tài khoản thích hợp Về cơ bản, tài khoản kế toán

có những đặc trưng chủ yếu: Nội dung phản ánh của tài khoản; công dụng và kếtcầu của tài khoản; mức độ phản ánh của tài khoản; quan hệ của tài khoản với cácbáo cáo tài chính; đặc trưng về phạm vi hạch toán

Hệ thống tài khoản của từng đơn vị phải được xây dựng trên cơ sở hệ thốngtài khoản thống nhất của Nhà nước Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọngcủa hệ thống các công cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò quan trọng không chỉvới hoạt động tài chính đơn vị mà còn vô cùng quan trọng và cần thiết với hoạtđộng tài chính Nhà nước Nhà nước ta đã xây dựng một hệ thống tài khoản thốngnhất, chung cho các đơn vị sự nghiệp Do vậy, trên cơ sở quy mô, đặc điểm hoạtđộng, yêu cầu thông tin kế toán, yêu cầu quản lý đơn vị, mỗi đơn vị phải tổ chứcvận dụng hệ thống tài khoản riêng dựa trên hệ thống tài khoản kế toán thống nhấtcủa Nhà nước đã ban hành

Xây dựng hệ thống tài khoản phải đảm bảo phản ánh được tính liên hoàn củacác quá trình hoạt động Để bảo đảm phản ánh được tính liên hoàn của các quá trìnhhoạt độngchủ yếu cũng như từng hoạt động cụ thể trong mỗi quá trình kinh doanhthì các nghiệp vụ ghi chép trên tài khoản được thực hiện theo trình tự sau: Mở tàikhoản - Ghi chép trên tài khoản - Kết thúc tài khoản

Trang 28

Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán một cách khoa học, hợp lý sẽ làđịnh hướng có tính chất quyết định đến hệ thống thông tin trong đơn vị Do vậy,việc vận dụng hệ thống tài khoản có ý nghĩa to lớn, đòi hỏi người tổ chức kế toáncần phải quan tâm đúng mức trước khi triển khai các công việc tiếp theo.

1.3.3 Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán

Tổ chức hệ thống sổ kế toán là việc thiết lập bộ sổ kế toán cho đơn vị baogồm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết phù hợp với hình thức kế toán củađơn vị Tổ chức hệ thống sổ kế toán khoa học giúp cho việc quản lý, theo dõi vật tư,tài sản của đơn vị chặt chẽ đồng thời việc tìm kiếm thông tin kinh tế nhanh chóng,chính xác, phục vụ tốt yêu cầu quản lý của đơn vị Với ý nghĩa của sổ kế toán nhưvậy, việc mở sổ kế toán và ghi chép của các đơn vị cần đảm bảo những yêu cầu sau:

Thứ nhất, mỗi đơn vị kế toán chỉ được mở và giữ một bộ sổ kế toán duy nhất

gồm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết Sổ kế toán tổng phải được mở đầuniên độ kế toán hay ngay sau khi có quyết định thành lập Thủ trưởng đơn vị và Kếtoán trưởng phải ký duyệt bộ sổ trước khi sử dụng

Sổ kế toán tổng hợp bao gồm hai sổ chủ yếu là sổ Cái và sổ Nhật ký

Sổ kế toán chi tiét bao gồm các sổ, thẻ kế toán chi tiết

Thứ hai, thông tin trong sổ sách phải đảm bảo phản ánh đầy đủ, kịp thời,

chính xác, trung thực tình hình tài sản, nguồn vốn, các khoản thu, chi để cung cấpcác thông tin cần thiết cho việc lập báo cáo tài chính của đơn vị

Thứ ba, việc ghi sổ kế toán nhất thiết phải căn cứ vào chứng từ kế toán Các

chứng từ này phải hợp pháp, hợp lệ, hợp lý Số liệu trong sổ phải đảm bảo rõ ràng,liên tục, có hệ thống, ghi bằng mực tốt không phai, không nhoè, không được tẩyxoá, không dùng chất hoá học để sửa chữa Khi sửa số liệu trong sổ kế toán nhấtthiết phải tuân theo các phương pháp sửa chữa quy định

Thứ tư, sổ kế toán phải được quản lý, phân công rõ ràng trách nhiệm cá nhân

giữ và ghi sổ Sổ kế toán giao cho nhân viên nào thì nhân viên đó phải chịu tráchnhiệm về những điều ghi trong sổ và giữ sổ trong suốt thời gian dùng sổ

Trang 29

Thứ năm, hết kỳ kế toán phải khoá sổ kế toán Ngoài ra trong một số trường

hợp như kiểm kê tài sản, sáp nhập, chia tách cũng khoá sổ kế toán Mỗi lần khoá

sổ người giữ sổ, phụ trách kế toán phải ký tên vào sổ

Theo quy đinh, các đơn vị có thể lựa chọn áp dụng một trong các hình thức

tổ chức sổ kế toán sau đây: hình thức kế toán Nhật ký chung, hình thức kế toánNhật ký-Sổ cái, hình thức sổ kế toán Chứng từ ghi sổ

Hình thức sổ kế toán chính là việc tổ chức hệ thống sổ kế toán bao gồm: sốlượng sổ, kết cấu các loại sổ và mối quan hệ giữa các loại sổ để cung cấp các chỉ tiêu cầnthiết cho việc lập báo cáo kế toán theo một trình tự và phương pháp nhất định

Hình thức kế toán sổ Nhật ký chung

Đặc trưng cơ bản của hình thức là tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phátsinh đều phải được ghi vào sổ Nhật ký chung theo trình tự thời gian phát sinh và nộidụng kinh tế của nghiệp vụ đó Từ sổ Nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo từngnghiệp vụ kinh tế phát sinh

Các loại sổ dùng trong hình thức này là: Sổ Nhật ký chung, sổ cái, các sổ, thẻ

kế toán chi tiết

Hình thức này có ưu điểm là mẫu sổ đơn giản, dễ theo dõi và thuận tiện chophân công lao động kế toán Trong điều kiện kế toán máy, hình thức áp dụng đượccho mọi loại hình đơn vị Tuy nhiện hình thức có hạn chế là việc ghi chép đôi khi bịtrùng trên nhiều sổ kế toán

Trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung (Phụ lục 1.1)

Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ cái

Với hình thức này các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh vào mộtquyển sổ gọi là Nhật ký - sổ cái Sổ này là sổ hạch toán tổng hợp duy nhất, trong đókết hợp phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh teho trình tự thời gian và phân loại

hệ thống hoá theo nội dung kinh tế Tất cả các tài khoản mà đơn vị sử dụng đượcphản ánh cả hai bện Nợ - Có trên cùng một vài trang sổ Căn cứ ghi vào sổ là chứng

từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc Mỗi chứng từ ghi một dòng vào sổ Nhật

Trang 30

ký - Sổ cái Hình thức này cần hai loại sổ là Nhật ký Sổ cái và các sổ, thẻ kế toánchi tiết.

Với đặc thù của sổ Nhật ký - Sổ cái bao gồm tất cả các tài khoản có liên quanđến các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của đơn vị nên hình thức này chỉ ápdụng cho các đơn vị có sử dụng hệ thống tài khoản kế toán ít và vừa Tuy nhiên ưuđiẻm của các hình thức là mẫu sổ đơn giản, dễ chép, đối chiếu và kiểm tra

Trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký - Sổ cái (Phụ lục 1.2 )

Hình thức Chứng từ ghi sổ

Đặc trưng của hình thức này là việc ghi sổ kế toán tổng hợp được căn cứ trựctiếp vào các “Chứng từ ghi sổ” Việc ghi sổ kế toán trên cơ sở chứng từ ghi sổ sẽđược tách biệt thành hai quá trình riêng rẽ:

- Ghi theo trình tự thời gian phát sinh của nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên sổ

từ ghi sổ tính theo ngày ghi “sổ đăng ký chứng từ ghi sổ”

+ Các sổ và thẻ hạch toán chi tiết: dùng để phản ánh các đối tượng cần hạchtoán chi tiết như nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, TSCĐ, chi phí sản xuất,

Hình thức này thích hợp với mọi loại hình đơn vị sự nghiệp, thuận tiện choviệc áp dụng viết cả phần mềm kế toán Tuy nhiên việc ghi chép của hình thức nàytrùng lặp nhiều nên việc lập báo cáo thường bị chậm trễ nhất là trong điều kiện thủ công

Trình tự ghi sổ theo hình thức Chứng từ ghi sổ (Phụ lục 1.3)

1.3.4 Tổ chức vận dụng hệ thống báo cáo kế toán

Trang 31

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình

về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của Nhà nước, tình hình thu chi

vf kết quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu trong kỳ kế toán, cung cấp thôngtin tinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị, làcăn cứ quan trọng giúp cơ quan nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điềuhành hoạt động của đơn vị

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước phải lập đúng theomẫu biểu quy định phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu đã quy định, phải lập đúng kỳ hạn,nộp đúng thời hạn và đầy đủ ối cáo tới từng nơi nhận báo cáo Chuẩn mực kế toán

số 21 ban hành theo Quyết định sô 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộtrưởng Bộ Tài chính quy định cụ thể về yêu cầu, cách thức trình bày báo cáo tàichính

Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải phùhợp và thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tài chính và mục lục ngân sách nhànước, đảm bảo có thể so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các kỳ

kế toán với nhau Trường hợp lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách

có nội dung và phương pháp trình bày khác với các chỉ tiêu trong dự toán hoặc khácvới báo cáo tài chính kỳ kế toán năm trước thì phải giải tình trong phần thuyết minhbáo cáo tài chính

Phương pháp tổng hợp số liệu và lạp các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính, báocáo quyết toán ngân sách phải được thực hiện thống nhất ở các đơn vị sự nghiệp,tạo điều kiện cho viẹc tổng hợp, phân tích, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện dựtoán ngân sách nhà nước của cấp trên và các cơ quan quản lý Nhà nước

Số liệu trên báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác,trung thực, khách quan và phải được tổng hợp từ các số liệu của sổ kế toán Việclập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải căn cứ vào số liệu sau khikhoá sổ kế toán Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải được lậpđúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ báo cáo

Trang 32

Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí ngânsách nhà nước thì thời hạn nộ báo cáo tài chính năm cho cơ quan cấp trên và cơquan tài chính, thống kê đồng cấp chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kếtoán năm Thời hạn nộp báo cáo quyết toán ngân sách năm cua đơn vị dự toán cấp Icủa ngan sách trung ương nộp cho cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính và cơ quanthống kê đồng cấp chậm nhất vào cuối ngày 01 tháng 10 năm sau, thời hạn nộp báocáo quyết toán ngân sách năm của đơn vị dự toán cấp I của ngân sách địa phương

do uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể

Hiện nay, theo chế độ hiện hành, báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối tàikhoản, Báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng, Báocáo chi tiết kinh phí hoạt động, Báo cáo tổng hợp thu, chi hoạt động sự nghiệp vàhoạt động sản xuất kinh doanh

Bảng cân đối tài khoản (Mẫu B01-H): tổng hợp, phản ánh tổng quát số hiện

có đầu kỳ, tăng, giảm trong kỳ và số cuối kỳ về kinh phí và sử dụng kinh phí, tài sản

và nguồn hình thành tài sản, kết quả hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuấtkinh doanh của nhà trường trong kỳ báo cáo

Báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng (MẫuB02-H): là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình nhận và sử dụngcác nguồn kinh phí của nhà trường trong kỳ báo cáo và số thực chi cho từng loạihoạt động theo từng nguồn kinh phí và theo mục, tiểu mục đề nghị quyết toán Báocáo này được dùng với mục đích giúp cho nhà trường và các cơ quan chức năng củaNhà nước nắm được tổng số các loại kinh phí theo từng nguồn hình thành và tìnhhình sử dụng các loại kinh phí ở nhà trường trong một kỳ kế toán

Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động (Mẫu F02-H) là phụ biểu bắt buộc củabáo cáo “Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng” được lập

để phản ánh chi tiết kinh phí hoạt động đề nghị quyết toán theo từng nội dung chi vànguồn hình thành kinh phí

Báo cáo tổng hợp thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinhdoanh (Mẫu B03-H): tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động

Trang 33

sự nghiệp có thu và kết quả kinh doanh trong nhà trường trong một kỳ kế toán, chitiết theo từng hoạt động sự nghiệp và hoạt động kinh doanh

1.3.5 Tổ chức bộ máy kế toán

Việc tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ công tác kế toán trong mộtđơn vị hạch toán cơ sở do bộ máy kế toán đảm nhiệm, do vậy cần thiết phải tổchức hợp lý bộ máy kế toán cho đơn vị

Bộ máy kế toán trên góc độc tổ chức lao động kế toán là tập hợp đồng bộ cácnhân viên kế toán để đảm bảo thực hiện khối lượng công tác kế toán phần hành vớiđầy đủ các chức năng thong tin và kiểm tra hoạt động của đơn vị cơ sở

Các nhân viên kế toán trong một bộ máy kế toán có mối liên hệ chặt chữ qualại xuất phát từ sự phân công lao động phần hành trong bộ máy Mỗi cán bộ, nhânviên đều được quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để từ đó tạo thành mốiliên hệ có tính vị trí, lệ thucộc, chế ước lẫn nhau Thông thường cán bộ, nhân viên

kế toán đều có vị trí công tác theo sự phân công trong bộ máy dựa trên các nguyêntắc chung, riêng của phân công lao động khoa học Công việc với yêu cầu chấtlượng cũng như tính chất thi hành công việc và tố chát nghiệp vụ của người laođộng là hai yếu tố cơ bản hợp thành hiệu suất của công tác và là hai điều kiện cơbản để thực hiện sự phân công lao động kế toán

Các kế toán phần hành có thể chuyên môn hoá sâu theo từng phần hành hoặc

có thể kiêm nhiệm một số phần hành theo nguyên tắc chung của tổ chức khoa họclao động kế toán, kế toán phần hành phải có trách nhiệm quản lý trực tiếp, phản ánhthông tin kế toán, thực hiện sự kiểm tra qua ghi chép phản ánh tổng hợp đối tượng.Quan hệ giữa các lao động kế toán phần hành là quan hệ ngan, có tính chất tácnghiệp, không phải là quan hệ trên dưới có tính chỉ đạo

Kế toán tổng hợp là một loại lao động kế toán mà chức năng nhiệm vụ cơbản của nó là thực hiện công tác kế toán cuối kỳ, có thể giữ sổ cái tổng hợp cho tất

cả các phần hành và ghi sổ cái tổng hợp, lập báo cáo nội bộ và cho bên ngoài đơn vịtheo định kỳ báo cáo hoặc theo yêu cầu đột xuất

Trang 34

Trong tổ chức bộ máy kế toán, vai trò của kế toán trưởng rất quan trọng.Theo Luật kế toán, kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toántrong đơn vị kế toán Trong các đơn vị sự nghiệp có thu, kế toán trưởng có nhiệm

vụ giúp người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán giám sát tài chính của đơn

vị Kế toán trưởng có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về kế toán,tài chính trong đơn vị kế toán, tổ chức điều hành bộ máy kế toán và lập báo cáo tàichính

Mô hình tổ chức bộ máy kế toán:

 Tổ chức bộ máy kế toán tập trung: đơn vị kế toán độc lập chỉ mở một bộ sổ kếtoán, tổ chức một bộ máy kế toán để thực hiện tát các các giai đoạn hạch toán ở mọiphần hành kế toán Phòng kế toán trung tâm của đơn vị phải thực hiện toàn bộ côngtác kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích vàtổng hợp của đơn vị

Trường hợp đơn vị có các đơn vị trực thuộc, thì đơn vị trực thuộc trong môhình kế toán tập trung không được mở sổ sách và hình thành bộ máy nhân sự kếtoán riêng; toàn bộ việc ghi sổ, lập báo cáo kế toán đều thực hiện ở phòng kế toántrung tâm; các đơn vị trực thuộc có thể trở thành đơn vị thực hiện hạch toán ban đầutheo chế độ báo sổ

Mô hình kế toán này thường tồn tại trong các đơn vị thống nhất độc lập, có

tư cách pháp nhân đầy đủ, không có sự phân tán quyền lực quản lý hoạt động tàichính

Trang 35

Hình 1.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung

 Tổ chức bộ máy kế toán phân tán: bộ máy kế toán được phân thành cấp: kế toántrung tam và kế toán trực thuộc Kế toán trung tâm và kế toán trực thuộc đều có sổsách kế toán và bộ máy nhân sự tương ứng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của kếtoán phân cấp Kế toán đơn vị trực thuộc phải mở sổ kế toán, thực hiện toàn bộ khốilượng công tác kế toán phần hành từ giai đoạn hạch toán ban đầu tới giai đoạn lậpbáo cáo lên kế toán trung tam theo sự phân cấp quy định

Đơn vị trực thuộc được giao quyền quản lý vốn kinh doanh, được hình thành

bộ phận quản lý để điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh tại cơ sở Kế toán trungtâm là nơi thực hiện khâu tổng hợp số liệu báo cáo của cấp cơ sở, lập các báo cáo tàichính cho các cơ quan tổ chức quản lý, chịu trách nhiệm cuối cùng về toàn bộ hoạtđộng của đơn vị trực thuộc trước nhà nước, các bạn hàng, nhà cung cấp, bên đầu tư,cho vay Chỉ có đơn vị cấp trên mới có tư cách pháp nhân độc lập, đầy đủ, các cơ

sở trực thuộc không có tư cách pháp nhân đầy đủ, không có tư cách pháp lý đểthành lập hay tuyên bố giải thể, phá sản đơn vị

Kế toán trưởng đơn vị

Các nhân viên kế

toán phần hành tài

sản trung tâm

Các phần hành kế toán hoạt động trung tâm

Bộ phận tài chính

và tổng hợp tại trung tâm

Nhân viên hạch toán ban đầu, báo sổ

từ đơn vị trực thuộc

Báo sổ

Trang 36

Giữa các đơn vị trực thuộc quan hệ với nhau theo nguyên tắc hạch toán kinh

tế nội bộ, qua hệ giữa các đơn vị trực thuộc với cấp trên kinh doanh là quan hệ hạchtoán kinh tế đầy đủ

Hình 1.3 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân toán

Điều kiện để lựa chọn mô hình này là quy mô kinh doanh lớn, cơ cấu kinhdoanh phức tạp (nhiều loại hình, ngành nghề kinh doanh, nhiều tổ chức cấu thànhcùng phụ thuộc về pháp nhân kinh tế )và địa bàn kinh doanh rộng, phân tán

 Mô hình kế toán hỗn hợp: là mô hình kế toán nửa tập trung, nửa phân tán, là sựkết hợp đặc trưng ủa cả hai mô hình trên

Đối với những đơn vị trực thuộc kinh doanh quy mô nhỏ, gần trung tâm điềuhành, mặt bằng kinh doanh tập trung, chưa cỏ đủ điều kiện nhận vốn, kinh doanh và

tự chủ trong quản lý thì đơn vị đó khong được phân cấp quản lý, do vậy không cần

Kế toán trung tâm

Kế toán trưởng đơn vị cấp trên

Các đơn vị trực thuộcTrưởng ban (phòng) kế toán

Kế toán phần hành Kế toán phần hành Kế toán phần hành

Trang 37

tổ chức sổ sách và bộ máy kế toán, toàn bộ khối lượng kế toán thực hiện tại trungtâm kế toán đặt tại đơn vị cấp trên.

Đối với những đơn vị có đủ điều kiện về tổ chức, quản lý và kinh doanh mộtcách tự chủ, hơn nữa kinh doanh ở quy mô lớn, trên diện rộng, phân tán mặt bằng,thì cần được giao vốn, nhiệm vu kinh doanh cũng như quyền quản lý điều hành,toàn bộ khối lượng kế toán được thực hiện ở đơn vị trực thuộc, quan hệ giữa cácđơn vị hạch toán phân toán là quan hệ kinh tế nội bộ, quan hệ cấp trên qua hệ thốngchỉ đạo dọc về chế độ báo cáo kế toán quy định trong nội bộ Cấp trên chỉ làmnhiệm vụ tổng hợp theo báo cáo của những đơn vị đó

Hình 1.4 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp

1.3.6 Tổ chức hoạt động kiểm tra kế toán

Kiểm tra kế toán là công việc thường xuyên nhằm đảm bảo thu nhận, xử lý

và cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về tình hình quản lý tài sản và sử dụng

Kế toán đơn vị cấp trên

Bộ phận tổng hợp báo cáo từ các đơn vị trực thuộc

Bộ phận kiểm tra kế toán

Đơn vị kinh tế trực thuộc

Trang 38

nguồn kinh phí trong các đơn vị sự nghiệp Theo Luật Kế toán Việt Nam số03/2003/QH 11 ngày 1/6/2003 quy định: Đơn vị kế toán phải chịu sự kiểm tra kếtoán của cơ quan có thẩm quyền và không quá một lần kiểm tra cùng một nội dungtrong một năm Việc kiểm tra kế toán chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơquan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Nội dung của tổ chức kiểm tra kếtoán bao gồm các công việc:

- Kiểm tra việc thực hiện các nội dung công tác kế toán;

- Kiểm tra việc tổ chức bộ máy kế toán và người làm kế toán;

- Kiểm tra việc tổ chức quản lý và hoạt động nghề nghiệp kế toán;

- Kiểm tra việc chấp hành các quy định khác của pháp luật về kế toán

Kiểm tra kế toán là việc làm thiết thực, phát huy tác dụng và đem lại hiệuquả cho các đơn vị

Trong các đơn vị sự nghiệp có thu, công tác kiểm tra kế toán được tiến hànhtheo các nội dung sau:

- Kiểm tra việc ghi chép, phản ánh trên các chứng từ, tài khoản, sổ và báocáo tài chính, đảm bảo việc thực hiện đúng chế độ, chính sách quản lý tài sản vànguồn kinh phí

- Kiểm tra trách nhiệm, kết quả công tác của bộ máy kế toán, mối quan hệgiữa các bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng khác trong các đơn vị sựnghiệp có thu

Việc kiểm tra kế toán trong các đơn vị sự nghiệp có thu phải được kiểm trathường xuyên, liên tục và phải có hệ thống, kiểm tra ở mọi phần hành kế toán Côngtác kiểm tra kế toán được thực hiện tốt ở các đơn vị sự nghiệp sẽ là nhân tố tích cựcgiúp cho việc giám đốc tình hình sử dụng tài sản, thực hành tiết kiệm, chống tham ôlãng phí được tiến hành một cách hiệu quả

Trang 39

2.1.1 Khái quát về các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên

2.1.1.1 Giới thiệu về Đại học Thái Nguyên

Đại học Thái Nguyên được thành lập theo Nghị định số 31/CP ngày04/04/1994 trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại các trường đại học trên địa bàn Thành phốThái Nguyên Sự ra đời của Đại học Thái Nguyên cùng với hai Đại học Vùng khác

là Đại học Đà Nẵng và Đại học Huế là một chủ trương lớn của Đảng và Chính phủnhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học Việt Nam trong thời

kỳ hội nhập quốc tế Đại học Thái Nguyên có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cóchất lượng cao cho các tỉnh, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp

và dạy nghề; đồng thời thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao côngnghệ góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng trung du,miền núi Bắc Bộ

Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, 17 năm qua Đại học TháiNguyên đã nỗ lực phấn đấu, không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, đã khẳng địnhchủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ trong việc hình thành các trung tâmđào tạo lớn, chất lượng cao ở các vùng lãnh thổ của đất nước Đến nay Đại học TháiNguyên đã phát triển và từng bước hoàn thiện theo mô hình của một Đại học Vùng,bao gồm: các đơn vị quản lý, các đơn vị đào tạo, các đơn vị nghiên cứu và các đơn

vị phục vụ đào tạo Đại học đã quản lý thống nhất, điều hành toàn diện và phân cấphợp lý cho các đơn vị thành viên nhằm phát huy tính tự chủ, năng động, sáng tạocủa các đơn vị trong quá trình phát triển

Trang 40

Ngay từ ngày đầu thành lập, Đại học Thái Nguyên có 4 trường Đại học và 1trường Công nhân Kỹ thuật Đến nay Đại học Thái Nguyên đã có 7 trường đại học,

2 khoa trực thuộc, 1 trường Cao đẳng và 10 đơn vị phục vụ đào tạo (Hình 2.1)

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Đại học Thái Nguyên

2.1.1.1 Giới thiệu về các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên

Về các đơn vị đào tạo, hình 2.1 cho thấy Đại học Thái Nguyên gồm TrườngĐại học Sư phạm, Trường Đại học Nông Lâm, Trường Đại học Kỹ thuật Công

Ngày đăng: 09/07/2018, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w