Như chúng ta đã biết, bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là dân chủ, theo đó dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Từ lâu Đảng ta rất coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc nên đã đưa cách mạng Việt nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng cộng sản Việt nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm. Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội ở cơ sở.
Trang 1ĐỀ TÀI THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÀ BHING, HUYỆN NAM GIANG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
A/- PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Như chúng ta đã biết, bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là dân chủ, theo đó dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta Từ lâu Đảng ta rất coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc nên đã đưa cách mạng Việt nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa đời sống xã hội
đã được Đảng cộng sản Việt nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội ở cơ sở
Vì vậy, ngày 15/5/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về “ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Qua quá trình triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực tế cho thấy kết quả bước đầu là rất quan trọng Tuy vậy, vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém như: quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực Tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, mệnh lệnh tham nhũng, gây phiền hà cho dân vẫn còn khá phổ biến Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa đi vào thực chất
Để không ngừng tăng cường việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và góp phần xem xét, đánh giá vấn đề một cách khách quan, khoa học, việc đưa sâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện trên phạm vi toàn quốc hay từng địa phương cụ thể đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Với ý nghĩa trên, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tà Bhing, huyện Nam Giang – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài viết bài thu hoạch lớp Trung cấp LLCT hành chính, nhằm vận dụng kiến thức
đã học để làm rõ hơn vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn
xã Tà Bhing cụ thể
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 1 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 22 Đối tượng, phạm vi chủ đề
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tà Bhing
Phạm vi chủ đề: Đề tài nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở trên địa bàn xã Tà Bhing
3 Vấn đề nghiên cứu của đề tài
Phân tích, làm rõ ý nghĩa của việc thực hiện Quy chế dân chủ là cơ sở, mục tiêu, động lực của quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội trên địa bàn xã
Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở trên địa bàn xã Tà Bhing
- Vạch ra những nguyên nhân làm hạn chế việc thực hiện Quy chế dân chủ cũng như đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã hiện nay
Qua nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tà Bhing, đề tài khái quát một số kết quả bước đầu, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của nó, đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm tăng cường thực hiện quy chế dân chủ phù hợp với điều kiện địa bàn xã
B/- PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
1 Quan điểm chủ nghĩa mác- Lê nin
Dân chủ là một hình thức chính trị của xã hội, như vậy có thể dân là chính quyền thuộc về nhân dân, một nhà nước của dân, do dân, vì dân Đó là nhà nước của chế độ dân chủ
Dân chủ là khát vọng vươn tới, là mục tiêu đấu tranh của xã hội loài người, lịch sử thế giới chứng tỏ rằng, sự phát triển của nền dân chủ qua các giai đoạn từng nấc thang là: dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là đỉnh cao của nền dân chủ, vì các nền dân chủ Trước đó là dân chủ của giai cấp thiểu số trong xã hội, dân chủ mang bản chất giai cấp sâu sắc giai cấp nào nắm được chính quyền về tay mình cũng chỉ bảo đảm quyền dân chủ của giai cấp mình Dân chủ chân chính là quyền làm chủ của mọi công dân đối với nhà nước, đối với toàn xã hội Dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức chính trị nhà nước của xã hội Trong đó con người là thành viên trong xã hội có đủ tư cách công dân là quyền làm chủ của nhân dân
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 2 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 32 Theo quan điểm của Hồ Chí Minh
Cơ sở quyền làm chủ của nhân dân là “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” dân là gốc, dân là chủ, dân làm chủ Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “nhà nước ta là nhà nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì nhân dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân” Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ, Trung ương do dân bầu cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã là do dân bầu chọn nên Nói tóm lại, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, người luôn xác định dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội Trong quá trình đổi mới đất nước, nền dân chủ ngày càng mở rộng về nội dung; dân chủ cả trong chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và các cấp từ trung ương đến cơ sở; Đến từng người dân cả về dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Nhằm xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
3 Quan điểm chỉ đạo về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Quan điểm chỉ đạo việc xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở đã được Đảng ta chỉ rõ trong chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Ban chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Uỷ Ban Thường
Vụ Quốc Hội ngày 24 tháng 04 năm 2007 về việc thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở:
Đặc biệt phát quy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Coi trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn một mặt mà coi nhẹ, hạ thấp các mặt khác Vừa phát huy tốt chế độ dân đại diện, nâng cao chất lượng
và hiệu lực hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở
để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực gắn liền với ích của mình
Phát huy dân chủ gắn liền với phát triển kinh tế- văn hoá – xã hội và nâng cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả
Nội dung và chế độ thực hiện các quy chế dân chủ ở cơ sở phải phù hợp với biện pháp và pháp luật, thể hiện tinh thần đi đôi với kỷ cương, trật tự, quyền hạn gắn liền với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; chống quan
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 3 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 4liêu, mệnh lệnh, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật
Gắn quá trình xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ với công tác cải cách hành chính sữa đổi những cơ chế chính sách và thủ tục hành chính không phù hợp
Trong thực hiện quy chế dân chủ hiện nay xã Tà Bhing đang thực hiện theo pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 20 tháng 04 năm 2007
II Thực trạng trong vịêc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
2.1 Đặc điểm tình hình chung của xã
Tà Bhing là xã thuộc chương trình 135 của chính phủ, có diện tích tự nhiên là 15.886,44 ha, cách trung tâm hành chính huyện 07 km về phía Tây,
có vị trí địa lý phía Ðông giáp xã Cà Dy, phía Tây giáp xã Tà Pơơ, phía Nam giáp xã Đắc Pring và huyện Phước Sơn, phía Bắc giáp TT Thạnh Mỹ, đây là mặt vô cùng thuận lợi trong việc giao lưu thương mại, trao đổi hàng hóa cho nhân dân Đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ xã kịp thời xuống thôn để tuyên truyền, phổ biến những chủ trương đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước được đến tận nhân dân, đảm bảo thông tin hai chiều từ xã đến thôn Nhờ đó các chính sách ưu đãi, các chương trình dự
án đầu tư của Nhà nước, Trung ương đều được triển khai đến tận nhân dân và thực hiện tốt như chương trình 135, 134, 167…, tạo điều kiện cho đời sống của nhân dân ngày được ổn định, nhà tạm được xóa, nhân dân được hưởng nhiều công trình phúc lợi như: điện, đường, trường, trạm, nước sinh hoạt, nhà sinh hoạt…đạt được những kết quả đó là phần lớn nhờ vào sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời sát sao, phát huy cao tinh thần đoàn kết thống nhất nội bộ của cấp
ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các ban, ngành, đoàn thể từ xã đến thôn Đơn vị hành chính xã gồm 07 thôn được bố trí dọc tuyến đường 14D (dài 12km), thành phần dân tộc chủ yếu là Cơ Tu, chiếm tỷ lệ 93,28%, dân tộc khác chiếm tỷ lệ 6,72% dân số, số hộ nghèo năm 2018 là 262 hộ nghèo chiếm 39,8 % toàn xã, hộ cận nghèo 84 hộ chiếm 12,7% Đời sống của nhân dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, vì thế thu nhập của người dân ở đây phần lớn không ổn định và tỉ lệ hộ nghèo còn cao Cơ cấu kinh tế của xã gồm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, du lịch, trong đó kinh tế nông – lâm – nghiệp vẫn nắm vai trò chủ đạo Thu nhập bình quân đầu người 9,553 triệu đồng/người/năm (theo đánh giá của Chi cục – Thống kê huyện)
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 4 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 5Tổng số đoàn viên; hội viên các đoàn thể xã là hiện có 2.320 đ/c, chiếm 119,59 % so với tổng số dân trong đó: Đoàn viên thanh niên: 175 đoàn viên, chiếm 7,54 % so với tổng số dân; HLHPN 841 hội viên chiếm 36,25 % so với tổng số dân; Hội cựu chiến binh 114 hội viên chiếm 4,91 % so với tổng số dân; Hội TNXP 42 hội viên chiếm 1,81 % so với tổng số dân; Hội nông dân
383 hội viên chiếm 36,12 % so với tổng số dân; Hội người cao tuổi 235 hội viên chiếm 10,12 % so với tổng số dân; Công đoàn 40 đoàn viên chiếm 1,72
% so với tổng số dân; Hội chữ thập đỏ: 490 hội viên chiếm 21,12 % so với tổng số dân
Tổng số đảng viên của đảng bộ là 189 đ/c, trong đó Ban Chấp hành Đảng bộ có 16 đ/c (trong đó có 01 đ/c tăng cường do Huyện ủy chỉ định); Ban Thường vụ đảng uỷ có 06 đ/c (trong đó có 01 đ/c bầu bổ sung trong năm 2016); có 11/11 chi bộ trực thuộc, trong đó có 7/11 chi bộ thôn; 02 chi bộ trường (trường tiểu học và trường mầm non); 01 chi bộ quân sự; 01 chi bộ cơ quan
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, sự điều hành của UBND và sự phối hợp chặt chẽ của Mặt trận và các đoàn thể xã, trong những năm qua, tình hình kinh tế văn hóa – xã hội trên địa bàn xã có sự phát triển ổn định, xây dựng Nông thôn mới đạt được những kết quả quan trọng, hệ thống giao thông nông thôn được cải thiện đáng kể, giáo dục có bước phát triển khá, trình độ dân trí được nâng cao, nhiều gia đình đã mua sắm được các trang thiết bị phục vụ đời sống sinh hoạt, ý thức làm chủ của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân được nâng lên Việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã có tác động tích cực đến phát triển kinh tế văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương
2.2 Cũng cố Ban chỉ đạo, xây dựng quy chế, kế hoạch hoạt động
Sau đại hội Đảng bộ xã Tà Bhing nhiệm kỳ 2015-2020; xã tiến hành điều chỉnh bổ sung ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ có 07 đồng chí, do đồng chí Phó Bí thư Đảng uỷ xã kiêm trưởng khối dân vận làm trưởng ban, đồng chí Chủ tịch MTTQ xã làm phó ban, các ban ngành là thành viên, có thông báo phân công cho từng thành viên cụ thể
Điều chỉnh ban hành quy chế làm việc của Ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Tổ chức tổng kết các hoạt động của Ban chỉ đạo và định hướng hoạt động hàng năm; ngoài ra tham gia với Thường trực Hội đồng nhân dân xã tổ chức kiểm tra, giám sát các chuyên đề về kinh tế - xã hội thực
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 5 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 6hiện các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, cải cách hành chánh, công tác tiếp dân, hoà giải ở các thôn
Trong quá trình thực hiện, Ban chỉ đạo chọn thôn Pà Xua làm điểm chỉ đạo chung Thành lập 01 ban thanh tra nhân dân với 12 thành viên trong đó đồng chí phó Chủ tịch Mặt trận xã làm trưởng ban, các thôn đều có ban thanh tra nhân dân Thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo tháng, quý, năm theo đúng quy định
2.3 Thực trạng trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
2.3.1 Tình hình triển khai
Bằng nhiều hình thức và nội dung tổ chức triển khai thực hiện quy chế dân chủ cho tất cả các đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân nắm rõ nội dung quy chế Kết quả triển khai được như sau: trong Đảng đạt 100%, BCH đoàn thể xã đạt 100%, đoàn viên đạt 100% và tuyên truyền ra nhân dân đạt 100%
Thông qua các cuộc họp của thôn, chi bộ, đảng bộ, các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cũng như Mặt trận, các đoàn thể xã, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin đại chúng, tổ chức tuyên truyền đến nhân dân được 14 cuộc có 638 lượt người dự và nghe
Trong quá trình tổ chức thực hiện có tổ chức họp rút kinh nghiệm, để trên cơ sở đó đề ra nhiệm vụ, giải pháp thực hiện phù hợp với điều kiện của từng địa bàn thôn trong toàn xã
Việc thực hiện tốt nhiệm vụ công tác tuyên truyền đã đóng góp làm chuyển biến tích cực về mặt nhận thức của nhân dân nói chung và đồng bào dân tộc nói riêng về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đồng thời góp phần thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương
2.3.2 Kết quả trong việc thực hiện quy chế dân chủ xã Tà Bhing
Thực hiện tốt chỉ thị số 30-CT/TW của bộ chính trị, và pháp lệnh số 34-PL/UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng uỷ, chính quyền, mặt trận và các ban, ngành, đoàn thể xã đều quan tâm chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ Việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã đạt được nhũng kết qủa sau:
2.3.2.1 Nội dung công khai để nhân dân biết
Nhằm đảm bảo việc thực hiện nội dung quy chế dân chủ một cách có hiệu quả theo đúng quy định, thời gian, những vấn đề cần thông báo cho nhân dân biết là nội dung quan trọng trong việc thực hiện quy chế, từ đó thông tin
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 6 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 7rộng rãi bằng nhiều hình thức như thông tin tuyên truyền, thông qua việc tiếp xúc cử tri, các cuộc họp dân, các cuộc họp của các ban ngành, đoàn thể xã, niêm yết công khai tại UBND xã, nội dung cụ thể như: Luật thuế, luật nghĩa
vụ quân sự, luật đất đai, luật hôn nhân gia đình v.v., những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của nhân dân, xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ trương kế hoạch vay vốn, phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, danh sách cử tri bầu
cử đại biểu quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2015-2020, danh sách thanh niên được gọi nhập ngũ Qua thực hiện các công việc nêu trên được nhân dân đồng tình ủng hộ, được nhân dân đóng góp nhiều ý kiến, thiết thực góp phần thắng lợi nhiệm vụ kinh tế xã hội ở địa phương
Nhờ thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các thôn đã làm tốt công tác huy động nguồn lực đầu tư cho xây dựng Nông thôn mới Trong đó, nổi bật là phong trào làm đường giao thông nông thôn, đường giao thông nội đồng, xây dựng nhà văn hóa, vệ sinh môi trường, cầu treo Năm 2011-2015 đến năm 2017 từ các nguồn vốn, toàn xã đã có 01 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1, 04 trường Mầm non (trong đó 01 điểm chính), 01 trạm y tế xã; Nhà văn hóa thôn
đã đầu tư xây mới 7/7 nhà văn hóa thôn; nhà ở khu dân cư đã có 70 hộ dân làm nhà ở, hình thành khu dân cư mới (thôn Pà xua, Cà Đăng); Đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa 7,017km/trên tổng số 7,33 km, đạt tỷ
lệ 95,7%; 4,332km/tổng số trên đường nội đồng ở các cánh đồng đã quy hoạch với tổng chiều dài 5,3km, đạt 81,73%; Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý đã được kiên cố hóa là 3,8 km/trên tổng số 4,950 km đạt tỷ lệ 77 %;
Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động đạt 15/18 ha, đạt 83,3%; 02 công trình nước sinh hoạt tại 02 thôn Pà Tinh, Cà Đăng Bên cạnh đó, thông qua phong trào “Dân vận khéo” trong xây dựng Nông thôn mới, các công trình, dự án trọng điểm của địa phương và của xã cũng được nhân dân tích cực hưởng ứng và thực hiện đạt kết quả tốt Đến nay, toàn xã có 7/7 thôn được công nhận Nông thôn mới, trong đó có 01 thôn được công nhận Nông thôn kiểu mẫu (thôn Pà ia)
2.3.2.2 Nội dung dân bàn và quyết định trực tiếp
Ngoài những vấn đề cần thông báo kịp thời cho dân biết về còn những vấn đề quan trọng quyết định đến quyền lợi của nhân dân, xây dựng nông thôn mới của xã được Đảng uỷ - UBND xã quan tâm chỉ đạo thực hiện thông báo kịp thời rộng rải đến dân, nhằm để cho nhân dân trực tiếp bàn bạc và
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 7 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 8quyết định qua hình thức họp thôn để thông qua cho nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định cụ thể là:
Mức đóng góp của công trình phúc lợi, phục vụ cho cầu đường nông thôn, tiến hành họp dân xin ý kiến dân quyết định Xây dựng quy chế thôn văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh, trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín
dị đoan các tệ nạn xã hội, họp xét đề nghị hộ cận nghèo, hộ thóat nghèo, các
dự án hỗ trợ sản xuất, bàn bạc những công vịêc thuộc nội bộ cộng đồng dân
cư, nội dung tập trung và có hiệu quả nhất là việc bàn bạc thống nhất chuyển đổi cơ cấu cây trồng con vật nuôi theo Nghị quyết 03 của Huyện ủy Nam giang, xây dựng kết cấu hạ tầng, mức đóng góp phương pháp tiến hành thi công, nạo vét kênh mương nội đồng, cầu, đường giao thông nông thôn, sắp xếp thứ tự ưu tiên trong xem xét xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương; các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản khác ngoài quy định của Nhà nước
Với phương châm nhà nước cùng nhân dân cùng làm, trong những năm qua, xã đã vận động nhân dân tham gia đóng góp ngày công, hiến đất, hiến vườn để làm đường bê tông nông thôn, nhân dân đóng góp công để xây duwgnj đường, nhà văn hóa, nạo vét kênh mương nội đồng, bắt bóng điện thắp sáng các đường hẻm v.v., đã góp phần làm cho bộ mặt nông thôn ngày một khang trang sạch, đẹp, an toàn Cải tạo hàng chục hacta đất hoang dã để chăn nuôi, trồng trọt cụ thể trên phạm vi xã có trang trại chăn nuôi bò tập trung tại các thôn Zơ ra, Pà ia, Pà Ting v.v Đặc biệt, một số gia đình đã cải tạo vườn tạp đưa những cây trồng có giá trị kinh tế cao vào trồng như cây chuối, cây keo, cây ưi, loong boong, đình lăng, cây ba kích tím tại các thôn trên địa bàn xã góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương trong những năm qua
Tổ chức phê bình và tự phê bình trước dân, lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do HĐND xã bầu và tổ chức hiệp thương giới thiệu bầu trưởng ban nhân dân thôn để dân quyết định (trong đó HĐND xã đã tổ chức
03 cuộc hiệp thương với 135 người tham dự và tổ chức 01 cuộc lấy ý kiến từ nhân dân)
Vấn đề dân bàn và quyết định trực tiếp đã tạo điều kiện cho nhân dân được quyết định trực tiếp những vấn đề có liên quan đến đời sống, sinh hoạt của cộng đồng dân cư, từ đó được nhân dân đồng tình ủng hộ, hiệu quả công việc được nâng cao trong quá trình bàn bạc và quyết định Từ đó tạo niềm tin
ở nhân dân, người tham gia đóng góp ngày càng nhiều hơn
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 8 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 92.3.2.3 Nội dung dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định
Thực hiện cơ bản nội dung dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định tập trung vào những nội dung như: Trước khi quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương như: dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án thâm canh định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của xã, dự thảo quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của xã và dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình dự án trên địa bàn; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng xây dựng cơ
sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư, hiệp thương lấy ý kiến chọn người ra ứng cử Đại biểu HĐND xã, dự thảo các kế hoạch triển khai các chương trình quốc gia về y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường, các chương trình an sinh xã hội, hỗ trợ sản xuất, bình xét hộ cận nghèo, hộ thóat nghèo, hộ gia đình văn hoá v.v thì HĐND - UBND xã phối hợp với Mặt trận, các ban ngành, đoàn thể xã và ban dân chính các thôn tổ chức họp dân
để nhân dân bàn bạc, có ý kiến đóng góp đề xuất đến HĐND - UBND xã ra quyết định
2.3.2.4 Nội dung nhân dân giám sát, kiểm tra
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ở địa phương, công tác giám sát kiểm tra của nhân dân đối với họat động của HĐND - UBND cũng như cán
bộ, đại biểu HĐND xã, nhằm tránh được hoạt động không hiệu quả Để thực hiện tốt công tác trên được cụ thể bằng hình thức thông qua các kỳ họp HĐND, nơi đại diện các đoàn thể tham dự, tiếp dân để hòa giải kịp thời, những khiếu nại, tố cáo của công dân, ban thanh tra nhân dân, thông qua cho nhân dân biết về hoạt động của HĐND, kết quả thực hiện nghị quyết của HĐND và các quyết định của UBND xã giải quyết khiếu kiện của công dân,
dự toán và quyết toán ngân sách xã, thực hiện chế độ chính sách, các chương trình an sinh xã hội khác để nhân dân giám sát kiểm tra phát hiện chấn chỉnh kịp thời Hỗ trợ hộ nghèo theo quyết định số 102-QĐ/TTg là 262 hộ, hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo theo quyết định số 268-QĐ/TTg là 262 hộ/657 hộ
2.3.2.5 Kết quả cải cách thủ tục hành chính
UBND xã có quyết định thành lập bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính của công dân, bố trí phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, sắp xếp chỗ, nơi làm việc phục vụ tốt cho công tác cải cách hành
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 9 - Lớp Trung cấp LLCT- HC
Trang 10chính theo cơ chế “một cửa” đáp ứng được yêu cầu; thực hiện niêm yết công khai thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực theo quy định, từ đó đáp ứng kịp thời, giảm thời gian đi lại, giảm các thủ tục không cần thiết cho người dân Trong tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cho công dân, cán bộ luôn quan tâm hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, có tác phong, lề lối làm việc nghiêm chỉnh, văn minh, lịch sự, được nhân dân tín nhiệm
Từ khi thực hiện pháp lệnh số 34-PL/UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của
Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đưa nền kinh tế xã nhà phát triển đồng bộ trên nhiều lĩnh vực đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận người dân được cải thiện rõ rệt bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, lĩnh vực văn hoá xã hội tiếp tục phát triển và có nhiều tiến bộ; quốc phòng an ninh được giữ vững ổn định, hệ thống chính trị ngày càng được cũng cố hoàn thiện, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được phát huy hơn và có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
2.3.3 Hạn chế và nguyên nhân
2.3.3.1 Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế cần khắc phục đó là:
Nhận thức việc thực hiện Quy chế dân chủ của một số cán bộ, đảng viên chưa sâu, dẫn đến việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ đạt hiệu quả chưa cao, có lúc còn mang tính hình thức, chưa thật sự quan tâm đến việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ quan, địa phương mình
Việc triển khai pháp lệnh dân chủ chưa đều, chưa thường xuyên, một số ban dân chính thôn, cán bộ đảng viên, công chức, người lao động quán triệt nội dung thực hiện Quy chế dân chủ chưa đầy đủ, một số nơi việc thực hiện bàn bạc lấy ý kiến nhân dân chưa được chú trọng và nội dung công khai còn chồng chéo, thiếu rõ ràng, nhất là việc tổ chức cho nhân dân kiểm tra giám sát các công trình xây dựng cơ bản, bên cạnh vẫn còn một số người dân ít quan tâm đến việc thực hiện Quy chế dân chủ
Sự phối hợp giữa UBND xã với Mặt trận và các đoàn thể xã đôi lúc chưa được đồng bộ, hiệu quả chưa cao; hoạt động của ban thanh tra nhân dân còn hạn chế, việc thực hiện pháp lệnh dân chủ gắn với cải cách hành chính chuyển biến còn chậm so với yêu cầu
Mặt trận, các ban ngành, đoàn thể xã chưa phát huy tốt vai trò chức năng giám sát và phản biện xã hội, từ đó chưa làm tốt nhiệm vụ đại diện cho
Học viên: Cha Brăng Thị Râng - 10 - Lớp Trung cấp LLCT- HC