Trong vài năm trở lại đây, lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ngày càng phát triển mạnh mẽ và gặt hái nhiều thành công. Đặc biệt không thể không kể đến công tác giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc. Có thể nói, Việt Nam Trung Quốc là hai quốc gia núi liền núi, sông liền sông, có nhiều mối tương quan về lịch sử, văn hóa cũng như chính trị, mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc dù đã và đang trải qua những thời kỳ khó khăn nhưng trên hết vẫn tồn tại lâu bền đó là tình hữu nghị không thể chia tách, mối quan hệ hợp tác song phương sâu rộng trong tất cả mọi lĩnh vực. Chính vì vậy mà hàng năm số lượng sinh viên Trung Quốc đến các trường đại học ở Hà Nội nói riêng và các trường đại học trên toàn quốc nói chung để nhập học các chương trình tiếng Việt và văn hóa, kinh tế xã hội Việt Nam rất đông đảo. Khu vực Hà Nội, đa phần sinh viên Trung Quốc tập trung ở các trường như trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Hà Nội. Tại Trung Quốc, vài năm gần đây cả nước này có đến hơn 30 trường có đào tạo chuyên ngành tiếng Việt với số lượng sinh viên mỗi năm là 2000 người trong các năm từ 2004 đến 2010 9;27. Thực tế cho thấy, hiện nay có nhiều thanh niên Trung Quốc lựa chọn tiếng Việt là ngoại ngữ làm hành trang cho mình để thực hiện những mục tiêu sự nghiệp trong tương lai. Với nhu cầu học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc rất lớn và lâu dài như vậy, nhưng hiện nay lượng sách giáo trình và bài tập tiếng Việt dành riêng cho đối tượng này vẫn còn ít và chưa được phổ biến trong các trường đại học. Hơn nữa, hai ngôn ngữ Việt và Trung lại có nhiều điểm tương đồng và dị biệt rất đáng quan tâm có thể đưa vào các giáo trình dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc cũng như các giáo trình dạy tiếng Trung cho người Việt nhưng hiện vẫn còn chưa được nghiên cứu ở mức cần thiết. Trong quá trình dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy từ Hán Việt là một lớp từ thuộc hệ thống từ vựng tiếng Việt mang nhiều nét tương đồng với tiếng Hán. Đặc điểm này đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tiếng Việt. Song bên cạnh đó cũng có hàng loạt các từ Hán Việt hoạt động trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có sự phát triển, thay đổi về nghĩa và cách dùng so với từ tương đương trong tiếng Hán. Điều này dẫn đến lỗi trong quá trình sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc. Do vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khảo sát lỗi sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt” để có cái nhìn cụ thể và hệ thống hơn về vấn đề này.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
-BÙI THU LOAN
KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT CỦA
SINH VIÊN TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT
(CỨ LIỆU CÁC BÀI VIẾT CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-BÙI THU LOAN
KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT (CỨ LIỆU CÁC BÀI VIẾTCỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM)
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TRẦN TRÍ DÕI
Trang 3HÀ NỘI, 2015 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
Chưa từng được công bố ở bất cứ tài liệu nào
Tác giả luận văn
Bùi Thu Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi cònnhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngôn ngữ học, trườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, khoa Việt Nam học, trường Đại học
Hà Nội cùng bạn bè, đồng nghiệp và các sinh viên
Nhân đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trongkhoa Ngôn ngữ Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của GS Trần Trí Dõi trongsuốt quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các sinh viên Trung Quốc, các đồng nghiệp đãtạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu để hoànthành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015
Bùi Thu Loan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 Ý NGHĨA LUẬN VĂN 5
7 BỐ CỤC LUẬN VĂN 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN PHỤC VỤ LUẬN VĂN 6
1.1 Lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Lý thuyết phân tích lỗi 7
1.2 Tiếp xúc và giao thoa văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán 12
1.2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ và hiện tượng giao thoa 12
1.2.2 Biểu hiện của tiếp xúc và giao thoa văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán 13
1.3 Khái niệm từ Hán Việt 15
1.3.1 Từ vay mượn và từ vay mượn gốc Hán 15
1.3.2 Nội dung của từ Hán Việt 17
1.4 Tiểu kết 19
Chương 2 MÔ TẢ TÌNH HÌNH LỖI TỪ HÁN VIỆT 22
2.1 Dẫn nhập 22
2.2 Thế nào là lỗi từ Hán Việt? 23
2.3 Kết quả khảo sát 24
2.4 Phân loại lỗi sử dụng từ Hán Việt 26
2.5 Tình hình lỗi sử dụng từ Hán Việt 32
2.5.1 Lỗi chính tả từ Hán Việt 32
Trang 62.5.2 Lỗi chuyển di tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt 38
2.5.3 Lỗi chuyển di trật tự ngữ pháp cụm danh từ Hán Việt 41
2.5.4 Lỗi chuyển di từ Hán Việt có sắc thái không phù hợp ngữ cảnh 43
2.5.5 Lỗi sử dụng sai từ loại 45
2.5.6 Lỗi nhầm lẫn các từ gần âm, gần nghĩa 46
2.5.7 Lỗi kết hợp từ Hán Việt với các từ ngữ khác 49
2.5.8 Lỗi tự tạo từ Hán Việt mới 50
2.5.9 Nhận xét chung 51
2.6 Tiểu kết 54
Chương 3 GIẢI THÍCH VỀ HIỆN TƯỢNG LỖI VÀ THỬ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 56
3.1 Giải thích 56
3.1.1 Về phía người học 57
3.1.2 Về phía người dạy 57
3.2 Biện pháp khắc phục 58
3.2.1 Biện pháp chung 58
3.2.2 Suy nghĩ về cách giảng dạy và học tập từ Hán Việt 60
3.2.3 Đề xuất một số dạng bài luyện sử dụng từ Hán Việt 64
3.3 Tiểu kết 66
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHVTHCN : Đại học và Trung học Chuyên nghiệp
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong vài năm trở lại đây, lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt cho ngườinước ngoài ngày càng phát triển mạnh mẽ và gặt hái nhiều thành công Đặcbiệt không thể không kể đến công tác giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên
Trung Quốc Có thể nói, Việt Nam - Trung Quốc là hai quốc gia núi liền núi,
sông liền sông, có nhiều mối tương quan về lịch sử, văn hóa cũng như chính
trị, mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc dù đã và đangtrải qua những thời kỳ khó khăn nhưng trên hết vẫn tồn tại lâu bền đó là tìnhhữu nghị không thể chia tách, mối quan hệ hợp tác song phương sâu rộngtrong tất cả mọi lĩnh vực Chính vì vậy mà hàng năm số lượng sinh viên TrungQuốc đến các trường đại học ở Hà Nội nói riêng và các trường đại học trên toànquốc nói chung để nhập học các chương trình tiếng Việt và văn hóa, kinh tế xãhội Việt Nam rất đông đảo Khu vực Hà Nội, đa phần sinh viên Trung Quốc tậptrung ở các trường như trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại họcNgoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Hà Nội
Tại Trung Quốc, vài năm gần đây cả nước này có đến hơn 30 trường cóđào tạo chuyên ngành tiếng Việt với số lượng sinh viên mỗi năm là 2000người trong các năm từ 2004 đến 2010 [9;27] Thực tế cho thấy, hiện nay cónhiều thanh niên Trung Quốc lựa chọn tiếng Việt là ngoại ngữ làm hành trangcho mình để thực hiện những mục tiêu sự nghiệp trong tương lai
Với nhu cầu học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc rất lớn và lâu dàinhư vậy, nhưng hiện nay lượng sách giáo trình và bài tập tiếng Việt dànhriêng cho đối tượng này vẫn còn ít và chưa được phổ biến trong các trườngđại học Hơn nữa, hai ngôn ngữ Việt và Trung lại có nhiều điểm tương đồng
và dị biệt rất đáng quan tâm có thể đưa vào các giáo trình dạy tiếng Việt chongười Trung Quốc cũng như các giáo trình dạy tiếng Trung cho người Việtnhưng hiện vẫn còn chưa được nghiên cứu ở mức cần thiết
Trang 9Trong quá trình dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc, chúng tôinhận thấy từ Hán Việt là một lớp từ thuộc hệ thống từ vựng tiếng Việt mangnhiều nét tương đồng với tiếng Hán Đặc điểm này đã tạo điều kiện thuận lợitrong quá trình học tiếng Việt Song bên cạnh đó cũng có hàng loạt các từHán Việt hoạt động trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có sự phát triển, thayđổi về nghĩa và cách dùng so với từ tương đương trong tiếng Hán Điều nàydẫn đến lỗi trong quá trình sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc.
Do vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khảo sát lỗi sử dụng từ Hán Việt của
sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt” để có cái nhìn cụ thể và hệ thống hơn
về vấn đề này
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trước nay, các công trình nghiên cứu đề cập đến hiện tượng lỗi trong
sử dụng ngoại ngữ cũng không ít Có thể kể đến như luận án của tác giả
Nguyễn Thiện Nam với đề tài “Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người
nước ngoài và những vấn đề có liên quan” Luận án này đã đi sâu phân tích
lỗi ngữ pháp trong sử dụng tiếng Việt của người nói tiếng Anh, ngườiCampuchia và người Nhật Về sau có tác giả Phạm Đăng Bình với công trình
“Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hóa trong diễn ngôn của người
Việt học tiếng Anh” Tác giả này chọn hướng nghiên cứu lỗi của người Việt
học tiếng Anh từ góc độ giao thoa văn hóa, ngôn ngữ Đây cũng là một hướngtiếp cận rất thú vị Các công trình này đều ứng dụng lý thuyết phân tích lỗi donhà ngôn ngữ học ứng dụng S.Pit Corder đề xuất
Đặc biệt, các luận văn Thạc sỹ về lỗi của đối tượng sinh viên Trung
Quốc sử dụng tiếng Việt cũng không ít Có thể kể đến như Lỗi của người
Trung Quốc học tiếng Việt nhìn từ góc độ xuyên văn hóa của tác giả Trung
Quốc Lê Xảo Bình Ngoài ra, tác giả Đào Thị Thanh Huyền có công trình
Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt và cách khắc phục.
Trang 10Mỗi tác giả đều khai thác các góc cạnh khác nhau về lỗi sử dụng tiếng việtcủa đối tượng người học là người Trung Quốc
Về lỗi sử dụng từ Hán Việt, bài nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Duyên
Hà cũng phác họa phần nào tình hình lỗi sử dụng từ Hán Việt của sinh viênnước ngoài học tập tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thànhphố Hồ Chí Minh Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về từ HánViệt và các cách dùng sai của sinh viên Trung Quốc đang học tập tại một sốtrường Đại học ở Hà Nội Đây là một kiểu lỗi xảy ra ở một lớp từ vựng kháphong phú và nhạy cảm, mang nhiều nét tương đồng trong kho tàng từ vựngcủa ngôn ngữ hai dân tộc Luận văn được tiến hành trên cơ sở kế thừa, tiếpthu lý luận và phương pháp liên quan của các công trình đi trước Đồng thờibước đầu đóng góp tư liệu nhằm xác lập danh mục từ Hán Việt có tần số sửdụng từ thấp đến cao trong văn viết của sinh viên Trung Quốc Tiếp đó chỉ ranhững trường hợp mắc lỗi cụ thể Cuối cùng là tìm nguyên nhân và cách khắcphục mang tính hệ thống
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Thống kê, phân tích, giải thích tình trạng cũng như nguyên nhân gây
ra lỗi sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc
- Qua đó, nêu ý kiến về khả năng khắc phục lỗi
4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Lỗi trong sử dụng ngoại ngữ bao gồm ba dạng lỗi cơ bản (tương ứngvới ba bộ phận cấu thành trong một ngôn ngữ) Đó là lỗi ngữ âm, lỗi từ vựng
và lỗi ngữ pháp Ở đây, chúng tôi đi sâu khảo sát lỗi dùng từ Hán Việt thuộcloại lỗi giao thoa từ vựng của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt ở cả babình diện trên Thế nào là lỗi giao thoa từ vựng và quá trình phân tích lỗi này
có liên quan gì với các loại lỗi ngữ âm, ngữ pháp Vấn đề sẽ được làm rõ ởcác phần sau
Trang 115 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Các phương pháp được sử dụng trong luận văn
- Phương pháp miêu tả phân tích
- Thủ pháp khảo sát, thống kê và so sánh đối chiếu
Những phương pháp và thủ pháp đó nhằm chỉ ra sự giống và khácnhau, sự biến đổi của các từ Hán Việt về ý nghĩa, cách dùng so với từ ngữtương đương trong tiếng Hán
- Thủ pháp phân tích lỗi
Thuận lợi của luận văn là được kế thừa và học hỏi các thao tác phântích lỗi của các nhà nghiên cứu đi trước dưới ánh sáng của lý thuyết phân tíchlỗi của Pit Corder
5.2 Phương pháp thu thập tư liệu
Tư liệu thu thập từ các bài luyện, bài kiểm tra viết tiếng Việt của sinh viênTrung Quốc ở một số trường đại học ở Hà Nội Dựa vào đó, chúng tôi tập hợplại các lỗi dùng từ Hán Việt của sinh viên kèm theo các câu biểu hiện lỗi
Cụ thể, nguồn tư liệu được thu thập bài thi viết của các sinh viên ởnhững cơ sở đào tạo sau đây:
- Khoa Việt Nam học, trường Đại học Hà Nội là 280 bài Trong đó,trình độ A 100 bài, trình độ B 100 bài, trình độ C 80 bài
- Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại họcQuốc gia Hà Nội là 479 bài Trong đó, trình độ A 138 bài, trình độ B là 140bài, trình độ C là 201 bài
Tổng cộng số lượng bài khảo sát là 759 bài Trong đó, trình độ A là 238bài, trình độ B là 240 bài; trình độ C là 281 bài Đây là những bài tập kiểmtra viết và bài thi viết của sinh viên các trường các năm học từ 2013 đến 2015.Trong đó, chúng tôi có khảo sát một số phần bài dịch Trung - Việt trong bàithi của sinh viên để có sự so sánh văn bản dịch với văn bản đoạn văn của sinhviên Trung Quốc
Trang 12Trong luận văn này, chúng tôi chưa có điều kiện về thời gian để có thể
áp dụng phương pháp điều tra khảo sát lỗi của sinh viên theo thời gian dài(longitudinal) mà chỉ mới dừng lại ở phương pháp điều tra theo diện rộng(cross-sectional) khoảng thời gian ngắn trong vòng 3 năm học (2013-2015)
6 Ý NGHĨA LUẬN VĂN
- Luận văn có thể giúp người dạy tiếng Việt khái quát các trường hợp
sinh viên mắc lỗi sử dụng từ Hán Việt để từ đó chủ động soạn bài chữa lỗi vàgiải thích lỗi cho sinh viên một cách rõ ràng, khoa học nhất
- Luận văn hy vọng cũng là một tài liệu tham khảo giúp cho sinh viên
Trung Quốc nắm được ý nghĩa các từ Hán - Việt, sự khác biệt trong các sửdụng so với các từ tương đương trong tiếng Hán Trên cơ sở đó tránh đượcviệc sử dụng sai từ
- Luận văn cũng đóng góp một phần vào nội dung lý thuyết dạy tiếngViệt cho người Trung Quốc Từ đó, việc biên soạn giáo trình, bài luyện tiếngViệt cho sinh viên Trung Quốc cũng có ý nghĩa thiết thực hơn, trọng tâm và
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN PHỤC VỤ LUẬN VĂN
1.1 Lỗi trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
1.1.1 Khái niệm
Lỗi theo từ điển Ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng:
“Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hayngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ,một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng…) bằng cách mà người bảnngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ” [33;7]
Ở đây, chúng ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữa lỗi và sai sót Lỗi cótính hệ thống, có sự lặp đi lặp lại nhiều lần còn sai sót chỉ có tính ngẫu nhiên.Lỗi xuất hiện do năng lực sử dụng ngôn ngữ đích còn hạn chế Trong khi saisót xuất hiện do một vài yếu tố tâm sinh lý như nói nhịu hay mệt mỏi, quên,…Chính vì vậy mà sai sót thì người học có thể tự mình sửa chữa lại được nhưnglỗi thì người học không thể tự sửa lại được cho đúng Công việc này cần có sựgiúp đỡ của người dạy
Trên thực tế nghiên cứu, để phân biệt lỗi và sai sót đôi khi không hềđơn giản Song, chúng ta có thể dựa vào tính hệ thống của lỗi Nghĩa là “tínhxuất hiện thường xuyên” theo như nhà Ngôn ngữ học W.T Little Wood chorằng: “Tiêu chí đánh giá tin cậy nhất là tính xuất hiện thường xuyên - chứng
cứ tốt nhất mà một lỗi phản ánh hệ thống chiều sâu của người học là khi nóxuất hiện đều đặn trong lời nói của người học” [32;8]
Tác giả Hà Lê Kim Anh cũng nhấn mạnh rằng người học ngôn ngữ sẽtrải qua quá trình: không hiểu - xuất hiện lỗi - sử dụng đúng [3;11] Có thểnói, lỗi có vai trò quan trọng trong tất cả các quá trình nghiên cứu, dạy và họcngoại ngữ Nó có ý nghĩa với cả người dạy, người học và người nghiên cứu
Lỗi là một hiện tượng đương nhiên xảy ra trong quá trình thụ đắc mộtngôn ngữ Đối với người học, lỗi như là một “phương cách” để thể nghiệmnhững gì đã học được Như tác giả Nguyễn Thiện Nam đã phát biểu về lỗi, đó
Trang 14là “cách mà người học thử nghiệm những sáng tạo, những phiêu lưu, nhữnggiả thuyết của mình về ngôn ngữ mà mình học”[34;124]
Việc xuất hiện lỗi và phân tích lỗi giúp cho người dạy có thể đánh giátrình độ của người học, biết được điểm yếu của người học để đưa gia nhữnggiải pháp, bài luyện khắc phục lỗi cho học viên
Đồng thời, nhìn vào lỗi mà người nghiên cứu biết được từng bướcđường thụ đắc ngôn ngữ của người học như thế nào? Người học từ trình độthấp đến cao sẽ mắc những lỗi như thế nào, ở mức độ ra sao
1.1.2 Lý thuyết phân tích lỗi
Phân tích lỗi là việc nghiên cứu phân tích các lỗi trong quá trình thụđắc ngôn ngữ Những lỗi này nằm trong hệ thống ngôn ngữ người học tạo ra
được các nhà nghiên cứu gọi là ngôn ngữ trung gian hay còn gọi là ngôn ngữ
quá độ Nó mang ảnh hưởng của cả ngôn ngữ gốc lẫn ngôn ngữ đích của
người học Việc phân tích lỗi chính là khảo sát trên nguồn ngữ liệu ngôn ngữtrung gian để tìm ra các dạng lỗi cần nghiên cứu Trước khi quan điểm mới vềlỗi và phân tích lỗi ra đời thì đã tồn tại một quan niệm khá nghiêm khắc vàthiếu tính tích cực khi nhìn nhận hiện tượng lỗi
Theo quan điểm của các nhà Hành vi luận, học tập ngôn ngữ là việc tạothói quen ngôn từ tốt Việc mắc lỗi trong sử dụng ngôn ngữ do người họcchưa tạo được thói quen hành vi ngôn từ tốt Vì vậy mà lỗi của là người họccần phải xóa bỏ triệt để Lỗi được nhìn nhận như là chứng cứ cho sự thất bạicủa người học ngôn ngữ Việc xuất hiện lỗi là do người học thiếu chú ý, thểhiện thái độ không tích cực Đến thập kỷ 60 của thế kỷ 20, lý thuyết thụ đắcngôn ngữ thứ hai của N Chomsky ra đời Ông cho rằng: việc thụ đắc ngônngữ không phải là sự hình thành thói quen mà chính là sản phẩm của việc hìnhthành quy tắc Tức là nhấn mạnh đến yếu tố tri nhận bằng tư duy Theo đó, việchọc một ngôn ngữ là quá trình phát triển tư duy, khái quát các quy tắc ngôn ngữchứ không chỉ đơn thuần là việc luyện tập những thói quen ngôn ngữ
Trang 15Theo Pit Corder [2;9] phân tích lỗi một cách khoa học cần tuân theomột quy trình bao gồm năm bước:
(1) Thu thập mẫu ngôn ngữ của người học;
áp dụng đó là thu thập tại một thời điểm theo diện rộng (cross - sectional) vàthu thập mẫu theo thời gian (longitudinal) Ưu điểm của phương pháp thứnhất là đơn giản, tiết kiệm thời gian hơn, còn ưu điểm của phương pháp thứhai là có thể thấy rõ sự thay đổi và phát triển ngôn ngữ của người học Trongluận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát kết hợp cả hai cách thu thập Song
ở cách thu thập mẫu theo thời gian, chúng tôi lấy mẫu theo thời điểm nhưngkhông trùng đối tượng người học Thêm nữa, thời gian thu thập mẫu củachúng tôi khá ngắn trong vòng ba năm học từ 2013 đến 2015 nên nhìn chungchưa thấy rõ được sự khác biệt
1.1.2.2 Nhận biết lỗi
Đây là khâu quan trọng đòi hỏi sự tỉ mỉ và nhận biết chính xác Vì thực
tế việc phân biệt lỗi và sai sót không hề dễ dàng Lỗi có sự lặp đi lặp lại vànguyên nhân do hạn chế về năng lực ngoại ngữ, người học chưa nắm vữngquy tắc ngôn ngữ Người học không thể phát hiện ra rằng mình đã mắc lỗi vànếu được cho biết thì người đó cũng không thể tự sửa đúng Trong khi nhầmlẫn là do người học quá căng thẳng, thiếu chú ý, mệt mỏi, lơ đãng mà nói
Trang 16hay viết sai Thực ra họ đã nắm được quy tắc ngôn ngữ và có thể tự sửa chữanhầm lẫn của mình Chẳng hạn như trường hợp viết sai từ, nói nhịu…
Đến lượt lỗi, nó còn có thể phân ra làm hai loại là lỗi lộ rõ và lỗi tiềmtàng Lỗi tiềm tàng liên quan đến các yếu tố như ngữ cảnh hay tri thức nền.Lỗi lộ rõ thuộc về lỗi hình thức ta có thể dễ dàng xác định được trên câu chữ
1.1.2.3 Miêu tả lỗi
Sau khi đã tập hợp được một danh sách các lỗi thì cần phải tiến hànhmiêu tả các đặc trưng của lỗi từ đó sắp xếp các lỗi theo nhóm Nói cách khác,đây chính là khâu phân loại lỗi Có nhiều cách phân loại lỗi dựa trên các bộtiêu chí khác nhau Thông thường, ta có thể phân loại lỗi theo các cấp độ củangôn ngữ như lỗi ngữ âm, lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp, lỗi ngữ dụng
Tác giả Đào Thị Thanh Huyền trong công trình nghiên cứu về lỗi ngữ
âm đã nêu ra đề xuất phân chia lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt rabốn loại chính: 1- lỗi ngữ âm; 2- lỗi từ vựng; 3- lỗi ngữ pháp; 4- lỗi xuyênvăn hóa Còn tác giả Phạm Đăng Bình đã đưa ra cách phân loại mới, rõ rànghơn và bao quát mọi góc độ, kể cả về mặt dụng học giao thoa văn hóa Tácgiả cho rằng: “trong khi phân loại lỗi cần phải quan tâm đến các đối tượngmắc lỗi, thời điểm mắc lỗi, các nét đặc thù về văn hóa và cả loại hình ngônngữ cứ không nên chỉ nhìn vào từng loại lỗi cụ thể” [3;68] Nghĩa là trước khiphân tích lỗi phải xem xét tất cả các khía cạnh Chẳng hạn, ta cần xét xemngười học là người nước nào? nền văn hóa của họ ra sao? ngôn ngữ mẹ đẻcủa họ có đặc điểm gì? mức độ ảnh hưởng như thế nào đến quá trình tiếpnhận ngôn ngữ đích?… Theo đó, tác giả này đã phân lỗi thành hai loại lớn là
lỗi phổ biến và lỗi đặc trưng Lỗi phổ biến là lỗi thường xảy ra trong giai
đoạn đầu của quá trình học Đây là những lỗi chung mà bất kể người họcngoại ngữ nào cũng vấp phải không phân biệt người học mang quốc tịch gì,loại hình ngôn ngữ của họ như thế nào Lỗi phổ biến cũng được chia ra thànhlỗi ngữ âm, lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp Lỗi đặc trưng là kiểu lỗi riêng của từng
Trang 17đối tượng thuộc các nền văn hóa khác nhau Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻhay tư duy văn hóa của họ mà gây ra lỗi trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai.Chẳng hạn, trong tiếng Hàn, động từ thay đổi dạng thức phụ thuộc vào tuổitác của người nghe trong đối thoại Đặc điểm này khiến cho người Việt họctiếng Hàn dễ dùng sai động từ kính ngữ, có nghĩa là đã thể hiện sự bất kínhvới người già Lỗi đặc trưng bao gồm hai kiểu lỗi là lỗi giao thoa ngôn ngữ vàlỗi giao thoa văn hóa Luận văn này nghiên cứu lỗi sử dụng từ Hán Việt củađối tượng người học là sinh viên Trung Quốc thuộc loại lỗi đặc trưng giaothoa từ vựng.
Do trong quá trình sử dụng, phần lớn các từ Hán Việt trong hệ thống từvựng tiếng Việt có sự biến đổi về nghĩa so với các từ tương đương trong tiếngHán hiện đại Các từ Hán Việt trong hai ngôn ngữ có phần khác biệt về nghĩabiểu niệm, biểu vật, biểu cảm và biểu trưng nên đã thay đổi về cách dùng Vìvậy dẫn đến những cách dùng sai khi người học Trung Quốc chuyển di các từngữ đó vào tiếng Việt
1.1.2.4 Giải thích lỗi
Đây là khâu tương đối khó trong quá trình phân tích lỗi Bởi có rấtnhiều các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học ngoại ngữ của một người Yêucầu đặt ra là phải xem xét cặn kẽ các mặt tác động để tìm ra nguyên nhân gâylỗi Các nhà nghiên cứu như Selinker [34;176], Nguyễn Thiện Nam [33;18]
đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tạo lỗi Tập hợp lại có thể nêu ra những nguyênnhân cơ bản sau:
(1) Chuyển di ngôn ngữ (language transfer): Trong quá trình tiếp nhậnmột ngôn ngữ thứ hai, người học luôn chịu ảnh hưởng của tư duy và thói quen
sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình Do chưa nắm rõ quy tắc ngôn ngữ đích
mà người học đã áp dụng cách dùng ngôn ngữ của mình vào ngoại ngữ
Những lỗi như vậy được gọi là lỗi giao thoa (interlingual error) Đó là lỗi do
quá trình chuyển di ngôn ngữ gốc đến ngôn ngữ đích Hầu như người Việt
Trang 18nào học tiếng Anh ban đầu cũng nói câu sai rằng “I very like money” Dongười Việt đã chuyển di cấu trúc trong tiếng Việt vào tiếng Anh mà cấu trúcnày trong tiếng Anh không có Còn lỗi xảy ra do chưa nắm vững các quy tắc
ngôn ngữ đích gọi là lỗi tự ngữ đích (intralingual error) Chẳng hạn, người nước ngoài học tiếng Việt có thể nói những câu như: “cháu chào chị!”,
“sáng nay tôi ăn một cái phở bò” Những lỗi này là do sự lẫn lộn về hệ thống
từ xưng hô và loại từ vốn là những phạm trù rất phức tạp trong tiếng Việt
(2) Chuyển di giảng dạy (transfer of training): Lỗi của người học ngoạingữ nhiều khi lại xuất phát từ phía người dạy Trong quá trình dạy học, ngườidạy có thể đưa ra những giải thích hoặc cách dùng không đúng, cũng có thể
do người dạy quá cứng nhắc trong việc truyền đạt cấu trúc ngôn ngữ, luônmuốn người học tuân theo những mô hình câu giao tiếp chuẩn mực nhất, xa rờingôn ngữ tự nhiên Một loại lỗi cần phải kể đến ở đây là lỗi ngữ dụng Do ngườidạy quên hoặc không chú ý đến việc giảng dạy những yếu tố thuộc về văn hóahay thói quen giao tiếp trong sử dụng ngôn ngữ đang học dẫn đến hiệu quả giaotiếp thực tế kém hoặc thậm chí là dẫn đến hiện tượng “sốc” văn hóa
(3) Những chiến lược học ngôn ngữ thứ hai (strategies of secondlanguage learning): thông thường, người học sẽ áp dụng hai chiến lược học làchuyển di và vượt tuyến
(4) Chiến lược giao tiếp ngôn ngữ thứ hai (strategies of second languagecommunication): với khả năng còn hạn chế của mình người học có thể tìm ra rấtnhiều cách để cố gắng đạt được thành công trong giao tiếp ngôn ngữ thứ hai.Người học có thể dùng các chiến lược giao tiếp như giải thích, vay mượn từ,tránh nói, yêu cầu trợ giúp hay thậm chí là dùng ngôn ngữ cử chỉ
(5) Sự vượt tuyến ngữ liệu ngôn ngữ đích Sự vượt tuyến ở đây cónghĩa là suy luận ngôn ngữ đích một cách thái quá
Thực chất, năm nguyên nhân trên cũng là năm đặc trưng chính của ngôn
ngữ trung gian hay ngôn ngữ quá độ (interlanguage) mà Selinker đã chỉ ra
Trang 191.1.2.5 Đánh giá lỗi
Sau tất cả các bước của quá trình phân tích lỗi ở trên Công việc cuốicùng cần làm đó là xét các mức độ của lỗi Các thang bậc đánh giá lỗi baogồm: 1- Mức độ có thể lý giải được; 2- Mức độ có thể chấp nhận; 3- Mức độmạo phạm Thực chất, đây là các mức độ tác động của lỗi đến hiệu quả giaotiếp Để đánh giá lỗi ta phải nhìn vào ý nghĩa biểu đạt Lỗi ảnh hưởng đến ýnghĩa biểu đạt không, mức độ có thể lý giải cao hay thấp Nếu một câu biểuđạt tốt nhưng so với ngôn ngữ đích lại chưa đúng thì ta xét tiếp đến mức độ cóthể chấp nhận được hay không Thứ ba là lỗi mạo phạm ảnh hưởng rất lớnđến hiệu quả giao tiếp Nó thường liên quan đến các vấn đề về ngữ dụng vàcác yếu tố văn hóa ngôn ngữ đích Chẳng hạn những lỗi thiếu chủ ngữ tronggiao tiếp của người Trung Quốc học tiếng Việt mà người Việt thường cho lànói trống không Còn có các trường hợp người Việt khi gặp người phươngTây thường hỏi những câu liên quan đến thông tin cá nhân như “How old areyou?”… Như vậy, có thể thấy giảng dạy ngoại ngữ phải đi đôi với giảng dạyvăn hóa Cả người dạy và người học đều phải hiểu biết và tuân theo các thóiquen, quan niệm về văn hóa bản ngữ, có như vậy mới thực sự đạt được hiệuquả trong giao tiếp bằng ngoại ngữ
1.2 Tiếp xúc và giao thoa văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán
1.2.1 Tiếp xúc ngôn ngữ và hiện tượng giao thoa
Nhà Ngôn ngữ học người Mĩ Einar Haughen trong tác phẩm “Cái mớitrong ngôn ngữ học” (1973) đã từng nói: “Mỗi một nhà ngôn ngữ học sớmmuộn gì cũng đều phải đụng chạm đến các vấn đề có liên quan đến tiếp xúcngôn ngữ” [1;9] Có thể thấy rằng tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng phổ biếncho mọi ngôn ngữ trên thế giới và có một vai trò vô cùng quan trọng đối với hệthống ngôn ngữ nói chung Nó xuất hiện khi có hiện tượng song ngữ hay đa ngữ
do nguyên nhân địa lý, kinh tế, chính trị, quân sự hay văn hoá… Trong môi
Trang 20trường đa ngữ, các ngôn ngữ ảnh hưởng lẫn nhau Hệ quả của quá trình tiếp xúcnày là diễn ra các hiện tượng giao thoa, vay mượn và pha trộn (lai tạp).
Khi các ngôn ngữ tiếp xúc trực tiếp với nhau thì dẫn đến giao thoa Nếukhông có sự tiếp xúc trực tiếp, nghĩa là không có môi trường đa ngữ thì không
có hiện tượng giao thoa Giao thoa là thuật ngữ mượn từ vật lí học Trong
ngôn ngữ học, giao thoa là hiện tượng chệch chuẩn của tiếng mẹ đẻ dưới tác động của ngôn ngữ thứ hai hoặc là hiện tượng chệch chuẩn của ngôn ngữ thứ hai dưới tác động của tiếng mẹ đẻ ở những người song ngữ/đa ngữ [27;35].
Việt -Trung là hai dân tộc láng giềng khăng khít có mối bang giao lâu dài nên
dễ dẫn đến hiện tượng giao thoa văn hóa ngôn ngữ
1.2.2 Biểu hiện của tiếp xúc và giao thoa văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán
Tiếng Việt trong quá trình phát triển đã có những cuộc tiếp xúc lớn vớinhiều ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp và đặc biệt là tiếng Hán Sự tiếpxúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán diễn ra vô cùng phức tạp trong một khoảngthời gian dài và vẫn đang tiếp diễn Nó xảy ra do các nguyên nhân về chiếntranh, sự di dân, sự giao lưu buôn bán, học tập Quá trình tiếp xúc ấy đã dẫnđến sự xuất hiện một loạt các từ vay mượn mà từ trước đến giờ chúng ta vẫnthường gọi là các từ Hán Việt
Ngôn ngữ chỉ là một địa hạt nằm trong quá trình giao thoa tiếp biếngiữa các nền văn hóa khác nhau Giữa hai nền văn hóa Việt - Hán, quá trình
đó diễn ra suốt chiều dài lịch sử từ cổ đại đến ngày nay
Trên thực tế, văn hóa và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Quá trình tiếp thu một ngôn ngữ mới phải luôn đi kèm với việc học hỏi nềnvăn hóa của người nói ngôn ngữ đó Văn hóa Việt Nam và văn hóa TrungQuốc có nhiều điểm tương đồng, đều thuộc văn hóa phương Đông Do vậy,quá trình tiếp thụ ngôn ngữ giữa hai dân tộc với nhau có nhiều thuận lợi Nóinhư vậy không có nghĩa là những điểm khác biệt trong văn hóa hai bên làkhông đáng kể Do mức độ tiếp xúc giữa hai nước láng giềng rất sâu rộng và
Trang 21thường xuyên nên những điểm khác biệt càng cần được quan tâm nhiều hơn.Một khi hai bên hiểu nhau hơn về văn hóa cũng như ngôn ngữ thì sẽ tránhđược tình trạng “sốc văn hóa” trong giao tiếp liên ngôn.
Tri thức về văn hóa đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp liên ngôn.Một quá trình dạy và học ngoại ngữ không thể gạt ra ngoài yếu tố văn hóa bảnngữ Một người học tiếng Anh không thể không tìm hiểu về văn hóa của nướcnói tiếng Anh
Cũng như một người Trung Quốc học tiếng Việt không thể không chú ýđến những thói quen sử dụng ngôn ngữ, thói quen văn hóa của người ViệtNam Chẳng hạn như, một sinh viên Trung Quốc nói tiếng Việt rất dễ quên sửdụng chủ ngữ hay các từ ngữ biểu thị sắc thái lịch sử trong phát ngôn Ví dụtrong lớp học, khi được giáo sư hỏi: “Em là sinh viên Quảng Tây sang có phảikhông?” Một sinh viên Trung Quốc dõng dạc trả lời: “Đúng rồi!” Cách trả lờicủa sinh viên đó đã khiến cả lớp học được một tràng cười
Sở dĩ có hiện tượng này là vì theo thói quen nói năng của người TrungQuốc, chủ ngữ thường bị tỉnh lược đi Đồng thời, các yếu tố ngôn ngữ thểhiện tính lịch sự thường rất hạn chế trong hoàn cảnh giao tiếp như thế
Trong một trường hợp khác, sinh viên viết: “Đây là một năm ở đại học
em thấy thú vị nhất Nếu mà ở Trung Quốc, đa số sinh viên ở Trung Quốc
đang cố gắng chuẩn bị thi nghiên cứu sinh hoặc là tìm việc làm” Trong ví dụ này, sinh viên mắc một lỗi dùng từ đáng chú ý, đó là sử dụng sai từ nghiên
cứu sinh Ý người viết muốn nói rằng sau khi tốt nghiệp đại học, các bạn sinh
viên chuẩn bị thi cao học Sinh viên này đã chuyển di từ tương đương trong
tiếng Hán研究生(nghĩa là cao học) dịch sang Hán Việt là nghiên cứu sinh Nhưng trong tiếng Việt, nghiên cứu sinh là chỉ người học tiến sĩ chứ không
phải là học cao học như cách dùng của người Trung Quốc Từ đúng nên thay
thế là từ cao học.
Trang 22Thực tế cho thấy, trong quá trình học tiếng Việt của sinh viên TrungQuốc cũng như sinh viên Việt Nam học tiếng Hán, mảng từ Hán Việt manglại nhiều điều lý thú và tiện lợi nhưng cũng tạo ra không ít phiền phức Theotác giả Trần Trí Dõi, lớp từ này dễ “tạo ra sự ngộ nhận của người nói tiếngHán hiện đại”[9;29] Cũng như nhận định của tác giả Nguyễn Văn Khang từ
Hán Việt là“con dao hai lưỡi” Tác giả Nguyễn Ngọc Long cũng nói thêm
rằng: “cùng với việc mang đến những lợi thế là những khó khăn do chínhchúng gây ra cho mọi hoạt động liên ngôn ngữ Hán - Việt” [30;18]
Từ Hán Việt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt đã được sử dụng rộngrãi và rất phong phú Người nước ngoài học tiếng Việt và ngay cả người Việtmuốn hiểu và sử dụng cho đúng, cho phù hợp thì cần phải am hiểu cặn kẽtừng từ từng nghĩa trong các từ Hán Việt Bởi trong quá trình vay mượn, từHán Việt đã có những biến đổi về ý nghĩa ở nhiều mức độ khác nhau dẫn đến
sự khác nhau về nghĩa giữa từ Hán Việt đang sử dụng trong tiếng Việt vớinhững từ gốc Hán sử dụng trong tiếng Hán hiện đại
Để có cái nhìn rõ hơn về quá trình biến đổi này, cũng như để làm cơ sởphục vụ luận văn, dưới đây chúng tôi xin đề cập đến một vài lý thuyết về từvay mượn gốc Hán và trả lời câu hỏi “thế nào là từ Hán Việt?”
1.3 Khái niệm từ Hán Việt
1.3.1 Từ vay mượn và từ vay mượn gốc Hán
Từ vay mượn là một thuật ngữ được hiểu là đối lập với từ bản ngữ.
Trong hệ thống tiếng Việt, từ vay mượn nằm trong thế đối lập với từ thuầnViệt Từ vay mượn nghĩa là các từ có nguồn gốc du nhập từ tiếng nước ngoàivào tiếng Việt Bất cứ ngôn ngữ nào cũng tồn tại các từ vay mượn Tiếng Việt
là một ngôn ngữ đa nguồn do quá trình tiếp xúc lâu dài với các ngoại ngữ nhưHán, Nga, Pháp, Anh Trong đó, số lượng từ vay mượn từ tiếng Hán chiếm
khá nhiều vốn từ vựng tiếng Việt Những từ ngữ này được gọi là từ mượn
Hán hay theo chúng tôi cũng có thể gọi với cái tên khác là từ gốc Hán
Trang 23Trong lớp từ gốc Hán có nhiều cách phân loại khác nhau Tác giảNguyễn Văn Tu [42] có sự phân chia các từ ngữ Hán vay mượn vào tiếngViệt dựa trên các thời kỳ lịch sử Theo đó tác giả chia làm hai loại: Thứ nhất
là những từ nhập vào tiếng Việt trước đời Đường gọi là từ Hán cổ như xe,
vua, buồm, buồng…; Thứ hai là các từ gốc Hán mượn của đời Đường như án ngữ, chế độ,… Còn tác giả Đỗ Hữu Châu cũng có sự phân chia gần tương tự
đó là các từ Hán mượn trước cuộc đô hộ nhà Đường và các từ ngữ vay mượnsau cuộc đô hộ nhà Đường Bên cạnh đó, tác giả Phan Văn Các lại có sự phânbiệt hai khái niệm từ gốc Hán và từ mượn Hán
Tác giả Trần Trí Dõi [13;8] đã có sự phân loại rõ ràng từ gốc Hán thànhbốn nhóm chính:
Xuất hiện đầu tiên ở nước ta là nhóm từ Hán Việt cổ được vay mượn
vào tiếng Việt từ trước thời nhà Đường Đó là giai đoạn trước khi vay mượn
từ Hán Việt Do sự du nhập có tính chất bổ sung cho sự thiếu thốn vốn từtiếng Việt Vì vậy, các từ ngữ này được đồng hóa rất mạnh cả về vỏ ngữ âm
lẫn mặt sử dụng Đó là các từ quen thuộc trong tiếng Việt như chén, chém,
buồng, buồn, mùi,…
Nhóm tiếp theo là từ Hán Việt được vay mượn sau thời nhà Đường.
Bấy giờ, người Việt đã học tiếng Hán theo âm chuẩn đời Đường (chính là âmTrường An) và dần chuyển về cách đọc theo hệ thống ngữ âm của tiếng Việt
Đó chính là cách đọc Hán Việt được duy trì đến nay Như vậy, từ Hán Việt lànhững từ được tạo thành từ những yếu tố có âm đọc Hán Việt Những từ này,
vì thế, chỉ hình thành trong tiếng Việt từ sau thế kỷ thứ XII-XIII, khi cách đọcHán Việt đã trở thành một cách đọc hoàn chỉnh ở Việt Nam
Ngoài ra, do tác động biến đổi theo thời gian, có những từ Hán Việt saukhi vào tiếng Việt đã có những biến đổi theo ngữ âm thuần Việt Đó là những
từ như gươm, gấp, gương, gác, gan, gang, ghi, góa v.v Nhóm này gọi là
nhóm Hán Việt Việt hóa
Trang 24Nhóm thứ tư là các từ Hán Việt phỏng âm phương ngữ Hán còn được gọi
là từ gốc Hán phương ngữ Những người nói tiếng Hán chủ yếu ở phương Nam
qua quá trình giao lưu tiếp xúc đã có sự vay mượn khẩu ngữ về sau này Từ đó
hình thành lên nhóm từ này Đó là các từ như xì dầu, vằn thắn, mì chính…
Ở đây, chúng tôi còn sử dụng thuật ngữ từ Hán để chỉ các từ ngữ trong
tiếng Hán hiện đại (tiếng Phổ thông Trung Quốc)
1.3.2 Nội dung của từ Hán Việt
Trước nay, nhận diện từ Hán Việt luôn là công việc không đơn giản vớicác nhà nghiên cứu Bởi chính từ Hán Việt đã là một khái niệm rất phức tạp.Xác định đâu là từ Hán Việt và nêu ra danh sách từ Hán Việt trong hệ thống
từ vựng tiếng Việt là một việc lâu dài đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận trong nghiêncứu, thống kê
Dưới những góc độ khác nhau, các tác giả đã có những lý giải riêng về
từ Hán Việt Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, “chỉ được coi là từ Việt gốcHán những từ Hán nào thực sự nhập vào hệ thống tiếng Việt, chịu sự chi phốicủa các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt” [19;242].Đây là điều kiện khá nghiêm ngặt để xác định một từ Hán Việt Để soi xét đầy
đủ điều kiện này là điều không mấy dễ dàng
Tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh thì cho rằng: “từ Hán Việt là những từ gốcHán phần lớn là từ gồm hai hình vị trở lên được phát âm theo âm Hán Việt
mà từ xưa người Việt Nam ta đã vay mượn qua sách báo tiếng Hán” [38;120]
Ở đây, tác giả chú trọng đến cấu tạo và cách phát âm của từ Hán Việt
Còn tác giả Phan Ngọc thì nghiêng về cảm thức ngôn ngữ mà khẳngđịnh: “bất kì âm tiết nào có thể hoạt động làm thành từ đơn tiết đều được xem
là từ thuần Việt (như an, ác, am, ẩm…) Sự phân biệt giữa thuần Việt với Hán
Việt hay ngoại lai chỉ bắt đầu từ từ song tiết trở lên mà thôi” [36;16] Như
vậy, tác giả coi các từ như đầu, não, vạn, an… không phải là từ Hán Việt mà
từ Hán Việt chỉ có thể là từ song tiết hay đa tiết
Trang 25Theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, “từ Hán Việt là những từ gốcHán được du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn từ đời Đường trở về sau, màngười Việt đã đọc âm chuẩn (Trường An) theo hệ thống ngữ âm của mình”[6;214] Quan điểm này thiên về xem xét lịch sử của quá trình vay mượn từHán vào tiếng Việt.
Tác giả Trần Trí Dõi nêu rõ rằng, “từ Hán Việt là những từ gốc Hán mànhững yếu tố hình thành nên chúng có cách đọc theo âm Hán Việt” Ngoài ra,tác giả còn đề cập thêm một số nhóm từ thuộc lớp từ Hán Việt như các từ ngữ
Hán mượn từ tiếng Nhật rồi người Việt lại vay mượn lại như các từ trường
hợp, nghĩa vụ, cộng hòa…; các từ xuất thân từ nguồn gốc Phạn (Sanskrit) như Phật, niết bàn, di lặc…; và có cả các từ gốc Âu như câu lạc bộ, Mạc Tư Khoa… Thậm chí là các từ do người Việt sử dụng các yếu tố Hán tự tạo ra
như đặc công, y sĩ… [13;13] Có thể nói, cách nhận diện từ Hán Việt của tác
giả Trần Trí Dõi khá toàn diện và bao trùm toàn bộ các nhóm nhỏ trong lớp từHán Việt
Tác giả Nguyễn Văn Khang trong cuốn Từ ngoại lai đã phát biểu quanniệm của mình về từ Hán Việt Theo đó, từ Hán Việt bao gồm:
Tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần đượcdùng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì đềuđược coi là từ Hán Việt
Chấp nhận là từ Hán Việt ở những biến thể khác nhau khi chúng đảmbảo được các điều kiệm như: biến thể đó tuy có thể “đọc chệch phiên thiết”nhưng còn tồn tại trong một kết hợp Hán Việt hoặc bản thân nó đã có sự phân
bố sử dụng (ngữ nghĩa) với các biến thể khác cùng gốc Ví dụ: chấp nhận là từ
Hán Việt các trường hợp như: để (trong để kháng) và đề (trong đề kháng),
điệu (trong điệu hổ li sơn) và điều (trong điều binh khiển tướng), chính (trong chính phủ) và chánh (trong chánh văn phòng, chánh án) [27;131].
Trang 26Dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang đã đưa
ra những quan điểm khá rõ ràng và dễ hiểu mà không mấy khắt khe về từ HánViệt Ông coi trọng tất cả những yếu tố tiếng Việt xuất xứ từ tiếng Hán, cả các
từ đơn và đa tiết Thậm chí, tác giả quan tâm đến cả những biến thể của các từnày trong quá trình sử dụng Chúng tôi coi đây là một trong những quan niệmkhá toàn diện và hợp lý
Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất về nội dung từ Hán Việt theonhững điểm sau:
Thứ nhất, có thể thấy, hầu hết các tác giả đều chú trọng đến cách đọc
Hán Việt Một từ Hán Việt trước hết phải có cách đọc Hán Việt, đây là điều
kiện hiển nhiên
Thứ hai, chúng tôi nhất chí với quan điểm tác giả Trần Trí Dõi rằng lớp từHán Việt bao gồm bốn nhóm nhỏ: 1- các từ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt; 2-các từ Hán mượn từ tiếng Nhật đọc theo âm Hán Việt; 3 - các từ có nguồn gốctiếng Phạn đọc theo âm Hán Việt; 4 - các từ Hán Việt do người Việt tự tạo
Thứ ba, chúng tôi đồng tình với quan điểm rằng từ Hán Việt vừa baogồm toàn bộ các từ đơn tiết (não, vạn, ác…) và bao gồm từ đa tiết (tổ quốc,học tập…) miễn là nó có xuất hiện và được sử dụng trong tiếng Việt sách vởcũng như giao tiếp hàng ngày
Thứ tư, chúng tôi đồng ý với quan điểm tác giả Nguyễn Văn Khangrằng chấp nhận những từ Hán Việt với những biến thể của nó trong sử dụng
Có thể là các trường hợp đọc chệch âm hay biến đổi thanh điệu
1.4 Tiểu kết
Từ vựng vay mượn là lớp từ chứa đựng nhiều điều lí thú trong quá trìnhhọc tập ngôn ngữ thứ hai Giữa hai ngôn ngữ Việt - Hán có một quá trình vaymượn đặc biệt sâu và rộng hình thành lên một hệ thống các từ Hán Việt trongkho tàng từ vựng tiếng Việt Qua quá trình phát triển, lớp từ này có sự biếnđổi về các mặt biểu vật, biểu niệm, biểu cảm và biểu trưng làm cho các từ
Trang 27Hán hiện đại so với các từ Hán Việt trong tiếng Việt có khi giữ nguyên nghĩa,
có khi biến đổi đi hoặc thậm chí là mất dần đi nghĩa gốc Điều này làm choquá trình giao tiếp liên ngôn Việt - Hán có nhiều thuận lợi nhưng cũng gây rakhá nhiều lỗi Việc phân tích các lỗi giao thoa từ vựng này có ý nghĩa quantrọng không chỉ đối với người Trung Quốc học tiếng Việt mà còn có ý nghĩavới cả người Việt học tiếng Hán Dựa vào hệ thống các lỗi mà sinh viênTrung Quốc thường mắc phải khi học tiếng Việt sẽ giúp cho các thế hệ ngườihọc về sau này nhìn thấy được tần suất xuất hiện các lỗi và các từ thườngxuyên sử dụng sai để từ đó tránh không tái phạm những lỗi đó Trên cơ sở lỗi
đó, giáo viên cùng các nhà nghiên cứu sẽ có thể đưa ra các biện pháp khắcphục lỗi, soạn bài giảng, giáo trình, bài luyện sửa lỗi cho sinh viên
Để xác định và thâu tóm được hệ thống lỗi sai từ Hán Việt thì việcphân tích lỗi sai cần tuân thủ theo trình tự 5 bước hoặc tóm gọn ở 3 bướcchính mà nhà Ngôn ngữ học Pit Coder đã đưa ra (1) Nhận diện lỗi; (2) Miêu
tả lỗi; (3) Giải thích lỗi Quá trình khảo sát các lỗi và việc giải thích cũng nhưtìm ra nguyên nhân gây ra lỗi là công việc vô cùng ý nghĩa Song, công việcnày cũng không ít khó khăn đòi hỏi người nghiên cứu phải có cái nhìn kháchquan trên tất cả các góc độ tác động bên trong cũng như môi trường kháchquan bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình học tiếng Việt của sinh viên TrungQuốc, những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ tạo nhữngthuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình học tập tiếng Việt
Để tiến hành các thao tác khảo sát lỗi, thu thập và phân tích lỗi thìtrước tiên cần phải có sự thống nhất về phạm vi và khái niệm từ Hán Việt Ởđây, chúng tôi muốn tìm hiểu tất cả các lỗi liên quan đến từ Hán Việt và cảcác yếu tố Hán Việt nói chung tham gia vào quá trình tạo lập văn bản củangười học Trung Quốc mà có xảy ra lỗi sai
Trang 28Từ Hán Việt là một lớp từ đặc biệt quan trọng trong hệ thống từ vựngtiếng Việt Song việc xác định nội dung của từ Hán Việt và lập danh sách các
từ Hán Việt là việc làm chưa bao giờ có thể kết thúc
Trong luận văn này, chúng tôi tổng hợp theo quan điểm khá bao quátcủa các nhà nghiên cứu như Nguyễn Tài Cẩn, Trần Trí Dõi, Nguyễn VănKhang, La Văn Thanh… Theo đó, chúng tôi đưa ra các quan điểm về từ HánViệt phục vụ luận văn như sau:
- Từ Hán Việt trước hết là các từ có cách đọc Hán - Việt
- Từ Hán Việt bao gồm cả các từ song tiết hay đơn tiết, chỉ cần là đãtừng hoạt động trong tiếng Việt
- Từ Hán Việt bao gồm các các từ hoạt động tự do hay không tự dotrong tiếng Việt đều được chúng tôi khảo sát và đưa vào danh sách nếu sinhviên sử dụng sai
- Từ Hán Việt bao gồm cả các từ Hán Việt tự tạo vì chúng cũng có cáchđọc Hán Việt và cũng là từ ngữ thuộc kho tàng từ vựng của tiếng Việt nênkhông thể bỏ qua Đặc biệt, lớp từ này do người Việt tạo ra và sử dụng nênchắc chắn có nhiều điểm khác biệt so với tiếng Hán hiện đại Vì vậy, việcnhầm lẫn, mắc lỗi rất dễ xảy ra nên lớp từ Hán Việt tự tạo này chúng tôi chủtrương chú trọng quan tâm trong quá trình khảo sát
Các lỗi có liên quan đến từ Hán Việt đều được luận văn quan tâm khảosát và áp dụng các thao tác phân tích lỗi hiện đại kế thừa của các nhà nghiêncứu đi trước
Trang 29Chương 2 MÔ TẢ TÌNH HÌNH LỖI TỪ HÁN VIỆT
2.1 Dẫn nhập
Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai nói chung và quá trình họctiếng Việt của người nước ngoài nói riêng không thể tránh khỏi mắc lỗi.Người học đi dần từ việc mắc lỗi lớn đến giảm dần lỗi và mắc những lỗi nhỏ.Việc nói và sử dụng đúng một ngoại ngữ có lẽ rất khó đạt được Hiện tượnglỗi trong khi học ngoại ngữ của người học như một quá trình sáng tạo, thểnghiệm ngôn ngữ thứ hai một cách thú vị Họ đã sáng tạo ra một kiểu ngônngữ mà các nhà nghiên cứu gọi là ngôn ngữ trung gian hay ngôn ngữ quá độ.Luận văn này tìm hiểu quá trình sử dụng từ Hán Việt của sinh viên TrungQuốc chính là đi sâu tìm tòi xem xét sự sáng tạo ngôn ngữ quá độ của ngườihọc Trung Quốc trong quá trình thụ đắc tiếng Việt Cụ thể ở đây là xem xétquá trình thụ đắc từ Hán Việt của người học Trung Quốc
Lớp từ Hán Việt có nguồn gốc và quá trình hoạt động rất phức tạptrong tiếng Việt, là lớp từ có tính trừu tượng, súc tích, cũng như tính trangtrọng Một mặt nó biển thị đối tượng rất chính xác, song chính sự chính xáccùng với tính súc tích, trừu tượng lại làm cho từ Hán Việt trở nên khó sử dụngmột cách chính xác Có lẽ, nhiều chuyên gia nghiên cứu về từ Hán Việt cũngnhư những bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ cũng không thể chắc chắn rằng họ
đã sử dụng từ Hán Việt đúng 100% Chính vì vậy, một thực tế đang diễn rahiện nay là bản thân người Việt đôi khi cũng không thể lựa chọn cho mìnhcách dùng từ Hán Việt thế nào cho đúng Nói cách khác, người Việt đã sửdụng sai từ Hán Việt rất nhiều trên thực tế
Do vậy, một người nước ngoài nói tiếng Việt sử dụng sai từ ngữ nóichung và từ Hán Việt nói riêng là điều đương nhiên xảy ra Đặc biệt là ngườihọc đó đến từ các quốc gia có ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Hán hay ảnh hưởngcủa tiếng Hán như người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
Tiến hành luận văn này, chúng tôi coi đây như một cuộc khám phá sựthú vị trong ngôn ngữ quá độ đầy sáng tạo của sinh viên Trung Quốc học
Trang 30tiếng Việt Họ đã vận dụng triệt để khả năng tiếng Việt cũng như sự liêntưởng từ tiếng mẹ đẻ của mình để cố gắng tối đa diễn đạt những gì mà mìnhmuốn gửi gắm vào câu chữ Qua những lỗi sai và được sửa sai, trình độ tiếngViệt của sinh viên không ngừng được nâng cao Điều đó cho thấy ý nghĩa củaviệc mắc lỗi và sửa lỗi là vô cùng quan trọng trong tiến trình thụ đắc ngônngữ thứ hai
2.2 Thế nào là lỗi từ Hán Việt?
Trong quá trình học tập, thụ đắc lớp từ vựng Hán Việt, sinh viên TrungQuốc gặp nhiều thuận lợi do lớp từ Hán Việt có những điểm tương đồng vềhình thức ngữ âm và nghĩa có sự tương ứng với tiếng Hán họ đang sử dụng
Chẳng hạn, các từ “học thuật ( 学术), thủ tục (手续), nghiên cứu (研究)…”, đặc biệt là những thuật ngữ khoa học như “ngôn ngữ học (语言学), địa lý (地 理), triết học (哲学)… hiện nay vẫn bảo lưu được nghĩa của chúng so với
tiếng Hán hiện đại Cho nên, việc chuyển di những từ ngữ như vậy sang tiếngViệt rất dễ nắm bắt, dễ dùng Tuy nhiên, những điểm dị biệt cũng khá lớn.Các từ ngữ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt, qua quá trình sử dụng có sự biếnđổi ít nhiều thậm chí thay đổi hoàn toàn về nghĩa Điều này đã dẫn đến sinhviên chuyển di các từ ngữ một cách máy móc và mắc lỗi sai Như tác giả TrầnTrí Dõi đã nói: “chính sự tương tự hay gần nhau về hình thức ngữ âm nhưnglại khác biệt về nghĩa trong sử dụng hiện nay làm cho sinh viên Trung Quốchọc tiếng Việt, do thói quen của tiếng mẹ đẻ chi phối, nắm bắt không chínhxác nghĩa của từ tiếng Việt”
Tác giả Bùi Thị Duyên Hà đã chỉ ra rằng: “Người học sẽ bị xem là mắclỗi từ Hán Việt hay lỗi liên quan đến từ Hán Việt khi họ không xác định đúngnghĩa, dùng sai chức năng, xác định sai hình thức ngữ âm - chữ viết, tự tạo ra
từ ngữ Hán Việt không có trong vốn từ tiếng Việt hoặc phối hợp không ănkhớp giữa từ Hán Việt với các từ ngữ khác trong câu” [20;78]
Trang 31Như vậy, xác định lỗi từ Hán Việt cần quan tâm đến tất cả các mặt hìnhthức chữ viết từ Hán Việt, ngữ nghĩa từ Hán Việt cũng như kết hợp từ HánViệt với các từ ngữ khác trong một ngữ đoạn hay một câu.
Dạng lỗi sử dụng từ Hán Việt là loại lỗi giao thoa từ vựng phổ biến ởđối tượng người học Trung Quốc Lỗi này còn thường xuyên xảy ra ở đốitượng học viên mà ngôn ngữ mẹ đẻ của họ có ảnh hưởng từ nguồn gốc tiếngHán như tiếng Hàn Quốc, tiếng Nhật Bản
Tư liệu chúng tôi thu thập từ bài thi, bài kiểm tra viết của sinh viênTrung Quốc đang theo học tại khoa Việt Nam học, Đại học Hà Nội; khoaNgôn ngữ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong những tư liệu thu thâp được chúng tôi cũng phân chia ra ba trình
độ A, B và C để có thể thấy được mức độ và tần số xuất hiện lỗi ở từng trình
độ khác nhau có sự khác nhau như thế nào Việc hiểu và nắm rõ trình độngười học cũng như các loại lỗi mà người học ở các trình độ mắc phải sẽ địnhhướng phần nào cho khâu thiết kế bài luyện, giáo trình giảng dạy phù hợp.Mỗi đối tượng khác nhau sẽ phù hợp với nội dung bài tập và mức độ khó dễkhác nhau
Trang 32Theo đó, các sinh viên học tiếng Việt trong thời gian một năm sẽ đượcxếp vào danh sách người học trình độ A Đối tượng học tiếng Việt hai nămthuộc danh sách trình độ B và các đối tượng học tiếng Việt ba hay bốn nămđược chúng tôi xếp vào nhóm người học trình độ C
Theo kết quả khảo sát cho thấy tổng số lỗi sử dụng sai từ Hán Việtchiếm đến hơn 60% so với tổng số bài viết được khảo sát Dưới đây là bảng thống kê số lượng
và tỉ lệ mắc lỗi:
Trình độ Số lượng bài Số lượng lỗi Tỉ lệ lỗi
(So với số bài khảo sát)
Bảng 1: Số liệu thống kê tình hình lỗi theo trình độ
Biểu đồ 1: Tỉ lệ lỗi theo trình độ
Trang 33Biểu đồ 2: Tình hình lỗi theo trình độ trong tương quan với số lượng bài khảo sát
2.4 Phân loại lỗi sử dụng từ Hán Việt
Trong quá trình thu thập tư liệu bài viết của sinh viên phục vụ luận văn,chúng tôi đã phát hiện được không ít các trường hợp sử dụng sai từ Hán Việtcủa người học Trung Quốc Các lỗi sai thể hiện ở tất cả các cấp độ ngôn ngữ
từ chữ viết, chính tả đến lỗi sử dụng sai chức năng ngữ pháp, từ loại của từHán Việt, dùng sai sắc thái cũng như ngữ cảnh… Qua bức tranh về lỗi củasinh viên Trung Quốc học tiếng Việt có thể thấy được óc liên tưởng từ ngônngữ thứ nhất đến ngôn ngữ thứ hai của sinh viên rất độc đáo, đôi khi là sựsáng tạo ra từ ngữ mới dựa trên những tri thức về tiếng mẹ đẻ kết hợp vớitiếng Việt tạo ra những từ Hán Việt mới song lại không phải là các từ được sửdụng trong tiếng Việt Sự sáng tạo ngôn ngữ này vẫn làm cho người Việt hiểuđược người viết muốn thể hiện điều gì mà không làm gián đoạn mạch tư duytrong quá trình tạo văn bản
Thao tác phân loại lỗi sử dụng từ Hán Việt được xem xét trên nhiều căn
cứ Có thể phân loại theo phạm trù ngữ pháp như lỗi về danh từ, lỗi về động
Trang 34từ, tính từ Có thể phân theo các bình diện ngôn ngữ như lỗi về ngữ âm, ngữnghĩa, ngữ dụng Ở đây, chúng tôi dựa trên sự so sánh khác biệt giữa ngônngữ gốc và ngôn ngữ đích cũng như mức độ ảnh hưởng của tiếng Hán đếnquá trình sử dụng tiếng Việt của người học Trên cơ sở đó, xác định những lỗi
về nghĩa từ, sắc thái của từ, cách dùng từ loại Hán Việt, cách kết hợp các từHán Việt với các từ ngữ khác trong câu Thêm nữa, do khảo sát của chúng tôidựa trên cứ liệu bài viết của người học nên không thể không quan tâm đếnnhững lỗi về mặt chính tả chữ viết Cụ thể, chúng tôi phân chia các kiểu lỗisai dùng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt:
1- Lỗi chính tả từ Hán Việt
2- Lỗi chuyển di tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt
3- Lỗi chuyển di trật tự cụm danh từ Hán Việt
4- Lỗi chuyển di từ Hán Việt không phù hợp ngữ cảnh
5- Lỗi dùng sai từ loại
6- Lỗi nhầm lẫn các từ gần âm, gần nghĩa
7- Lỗi kết hợp sai từ Hán Việt với các từ ngữ khác
8- Lỗi tự tạo từ Hán Việt mới
Nhìn chung, lỗi sử dụng từ Hán Việt của sinh viên Trung Quốc khá phổbiến, dàn trải trên tất cả mọi trình độ Có một số kiểu lỗi mà sinh viên cànghọc trình độ cao càng dễ vấp phải như lỗi chuyển di từ Hán hiện đại sangtiếng Việt Do càng học trình độ cao, sinh viên càng tiếp xúc với nhiều từ HánViệt và mức độ khó càng tăng lên Vận dụng vốn âm Hán Việt có được, sinhviên đã chuyển di các từ ngữ từ tiếng Hán sang tiếng Việt mà không hề biếtđược rằng từ ngữ đó trong tiếng Việt có sự thay đổi về nghĩa cũng như cáchdùng và phạm vi sử dụng Về điểm này, nghiên cứu của chúng tôi cũng có sựtương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Duyên Hà rằng: “phầnlớn lỗi thu thập được đều xuất phát từ lỗi về nghĩa hoặc ít nhiều có liên quanđến nghĩa Người học do không hiểu hoặc hiểu chưa thấu đáo về các từ ngữ
Trang 35Hán Việt” [20;95] Vì thế nên đã cơ động liên tưởng tiếng Hán hiện đạichuyển di sang tiếng Việt thông qua âm Hán Việt để thể hiện thành chữ viếttiếng Việt.
Dưới đây là bảng thống kê số lượng và tỉ lệ theo tám loại lỗi sử dụng từHán Việt:
1 Lỗi chuyển di từ Hán hiện đại sang
Bảng 2: Số liệu thống kê tình hình lỗi theo các dạng lỗi.
Trang 36Biểu đồ 3: Tỉ lệ lỗi theo các dạng lỗi
Trong những lỗi trên, có thể gộp lại thành hai nhóm lớn Nhóm lỗi liên quan đến nghĩa của từ bao gồm các lỗi:
- Lỗi chuyển di từ Hán hiện đại sang tiếng Việt
- Lỗi chuyển di từ không hợp ngữ cảnh
- Lỗi nhầm lẫn các từ có cùng yếu tố
- Lỗi dùng sai từ loại từ Hán Việt
Nhóm lỗi liên quan đến kết hợp từ bao gồm:
- Lỗi dùng sai từ loại
- Lỗi tạo từ mới
- Lỗi nhầm lẫn các từ có cùng yếu tố
- Lỗi trật tự cụm danh từ
- Lỗi kết hợp sai từ Hán Việt với các từ ngữ khác
Trang 37Còn lại lỗi chính tả thuộc lỗi về mặt hình thức chữ viết Trong số cáclỗi trên có lỗi nhầm lẫn các từ cùng yếu tố là dạng lỗi có thể thuộc cả hainhóm lỗi về nghĩa và lỗi về kết hợp Vì lỗi này có hai nguyên nhân chính Thứnhất, có thể do người học nhầm lẫn về nghĩa của các từ này vì chúng có sựgiống nhau cả về hình thức ngữ âm và nét nghĩa Thứ hai, vì dùng sai từ vàkết hợp sai yếu tố trong nội bộ từ đó có nghĩa là sai về kết hợp.
Tương tự, lỗi dùng sai từ loại từ Hán Việt cũng có thể xếp vào cả hainhóm lỗi về nghĩa và lỗi về kết hợp vì nguyên nhân do người học không nắm rõnghĩa từ nên dùng sai về mặt từ loại của từ và dẫn đến kết hợp sai từ trong câu
Một cách khác, chúng ta cũng có thể phân chia lỗi thành hai loại là lỗi
về nghĩa và lỗi về hình thức
Theo đó, lỗi về nghĩa là các lỗi:
- Lỗi chuyển di từ Hán hiện đại sang tiếng Việt
- Lỗi sử dụng từ không hợp ngữ cảnh
- Lỗi nhầm lẫn các từ có cùng yếu tố
- Lỗi dùng sai từ loại từ Hán Việt
Nhóm lỗi về mặt hình thức bao gồm:
- Lỗi dùng sai từ loại từ Hán Việt
- Lỗi tạo từ mới
Trang 38Có bạn thường xuyên hâm mộ cuộc sống của người khác và luôn nghĩ mình không may
Lỗi sai trong câu trên là sử dụng từ hâm mộ Đây có thể xếp vào lỗi
nhầm lẫn nghĩa các từ cùng yếu tố Do các từ có nét nghĩa giống nhau hoặc do
có cùng yếu tố nên người học nhầm lẫn Cho nên có thể thay từ trên bằng từ
ngưỡng mộ Mặt khác, có thể xếp trường hợp này vào lỗi dùng từ không phù
hợp sắc thái, sai ngữ cảnh So sánh nghĩa hai từ, hâm mộ có sắc thái khác so với ngưỡng mộ Mặc dù đều có chung một nghĩa đó là “yêu mến”
Theo từ điển tiếng Việt (2008) Hoàng Phê chủ biên có định nghĩa:
Hâm mộ (động từ): yêu thích và mến phục
Ví dụ: hâm mộ bóng đá, ca sĩ được nhiều người hâm mộ
Ngưỡng mộ (động từ): kính phục và yêu mến
Ví dụ: ngưỡng mộ tài năng, nhìn bằng ánh mắt ngưỡng mộ
Như vậy, nét nghĩa của hai từ chỉ khác nhau ở chỗ hâm mộ là sự mến phục và ngưỡng mộ là sự kính phục.
Về sự khác biệt về sắc thái nghĩa và cách dùng có thể dẫn chứng thêmmột số ngữ cảnh như:
Hâm mộ ca sĩ, hâm mộ người nổi tiếng.
Ngưỡng mộ tình yêu đẹp của họ, ngưỡng mộ người giỏi, người tốt.
Như vậy, hâm mộ thường dùng đối với người nổi tiếng trong ngànhnghệ thuật như điện ảnh, ca nhạc, Ngưỡng mộ thường dùng với một hiệntượng, con người tốt, người có tài năng, đáng để người khác học hỏi, làmtheo Theo đó, với ngữ cảnh ở câu chứa lỗi của người học ở trên nên dùng từ
ngưỡng mộ thay cho hâm mộ thì câu mới tròn nghĩa.
Như vậy có thể thấy, việc phân loại các lỗi vào dạng này hay dạng kia
là một việc làm mới chỉ mang tính chất tương đối Trường hợp dùng sai từtrên đây đã minh chứng cho luận điểm đó
Trang 39Dưới đây, chúng tôi xin trình bày những phân tích, mô tả về những dạnglỗi thu được qua quá trình khảo sát tư liệu viết của người học Trung Quốc.
2.5 Tình hình lỗi sử dụng từ Hán Việt
2.5.1 Lỗi chính tả từ Hán Việt
Lỗi chính tả là dạng lỗi rất phổ biến và tần số mắc lỗi này rất cao ởngười nước ngoài học tiếng Việt nói chung và sinh viên Trung Quốc học tiếngViệt nói riêng Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các lỗi về chính
tả từ Hán Việt chiếm tỉ lệ cao ở tất cả các trình độ Tất cả có 79 lỗi, chiếm16.7% tổng số lỗi thu thập được Đây là tỉ lệ lỗi lớn thứ hai sau lỗi chuyển di
từ Hán hiện đại sang tiếng Việt
Lỗi về chính tả từ Hán Việt được chia làm ba trường hợp phân bố ở cả
ba bộ phận cấu thành âm tiết đó là lỗi viết sai phụ âm đầu, viết sai thanh điệu
và vần
2.5.1.1 Lỗi viết sai phụ âm đầu
Lỗi giao thoa về âm vị điển hình của người Trung Quốc học tiếng Việt
là nguyên nhân dẫn đến việc viết sai từ Hán Việt Trong hệ thống âm vị tiếngViệt có các âm vị phụ âm không có âm vị tương đương trong tiếng Hán Dovậy, việc thụ đắc cách phát âm các âm vị đó trong tiếng Việt là rất khó đòi hỏingười học phải trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài mới có thể thích nghi
và luyện phát âm chuẩn được
a Viết sai phụ âm đầu “đ” thành “t”:
Có thể kể đến đó là âm vị phụ âm [d] (thể hiện chữ viết là “đ”)là một
âm vị không có tương đương trong tiếng Hán Do vậy, sinh viên Trung Quốchọc phát âm âm vị này rất khó khăn, thậm chí là mãi mãi không thể phát âmchuẩn được ở những người học nhiều tuổi Chính vì cách phát âm khôngchuẩn xác đã dẫn đến viết sai các âm tiết chứa âm vị [d] nói chung và âm tiếtHán Việt nói riêng Chẳng hạn:
CCL: Nhấm mạnh mục tích của sự phấn đấu
Trang 40CĐS: Nhấm mạnh mục đích của sự phấn đấu
CCL: Con thỏ tắc chí rồi.
CĐS: Con thỏ đắc chí rồi.
CCL: Nói chuyện với giám tốc của công ty.
CĐS: Nói chuyện với giám đốc của công ty.
Lỗi sai phụ âm đầu “đ” xuất hiện 21 lần với tổng cộng 12/34 từ Hán Việt
bị viết sai chính tả Đó là lỗi sai các từ như mục đích -> mục tích, đối thoại ->
tối thoại, đắc chí -> tắc chí, cô đơn -> cô tơn, thông qua -> tông qua,
b Viết sai phụ âm đầu “th” thành “t”:
Ngoài lỗi sai trường hợp phụ âm đầu “đ” ra, kết quả khảo sát còn thu
được 14 lần viết sai phụ âm đầu “th” thành “t” trong các từ thu thập -> thu
tập, thỏa mãn -> tỏa mãn, thông minh -> tông minh, thông báo -> tông báo, Nguyên nhân của lỗi này cũng là do trong hệ thống phiên âm tiếng Hán
không có phụ âm “th” mà chỉ có phụ âm “t” Trong phiên âm tiếng Hán, /t/tương đương với /t’/ trong tiếng Việt