1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI HỒI GIÁO TẠI ẤN ĐỘ DƯỚI GÓC NHÌN BÁO CHÍ

105 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ấn Độ có một nền văn hoá trên 5.000 năm lịch sử và phát triển rực rỡ vào bậc nhất của thế giới, là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Ấn Độ là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng những tôn giáo du nhập vào nơi đây. Trong đó, Hồi giáo (Islam) đươc nhắc tới trước tiên bởi vì Islam không chỉ du nhập vào Ấn Độ mà nó còn dần trở thành một tôn giáo quan trọng trên mảnh đất này. Islam ra đời vào đầu thế kỷ thứ VII tại khu vực Bán đảo Ả Rập do nhà tiên tri Mohammed sáng lập. Đây là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới sau Kitô giáo, với số lượng tín đồ là 1,6 tỷ người và là tôn giáo đang phát triển nhanh nhất về số lượng tín đồ, có mặt ở khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó khoảng hơn 40 quốc gia có số lượng tín đồ đông và coi Islam là quốc giáo. Do đặc điểm ra đời, phát triển và đặc thù tôn giáo, Islam là tôn giáo có nền văn hóa độc đáo, là một nền văn minh của nhân loại. Tôn giáo này đã có những điều chỉnh nhất định để thích nghi với bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa tại các nơi. Nó có ảnh hưởng lớn trong đời sống chính trị, xã hội và văn hóa tư tưởng của thế giới. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, với vai trò là một chủ thể trong quan hệ quốc tế, các tổ chức Islam ngày càng tăng cường các hoạt động quốc tế với nhiều hình thức đa dạng, vừa thể hiện những mặt tích cực trong quan hệ hợp tác vừa chứa những biểu hiện phức tạp, đặc biệt là xuất hiện nhiều hoạt động khủng bố đe doạ an ninh thế giới có liên quan đến Islam. Cộng đồng người theo Islam ở Ấn Độ tính đến năm 2011 có hơn 177 triệu người . Người theo Islam trong quá trình phát triển đều có quan hệ thường xuyên với những người có ngôn ngữ Urdu. Vì có cùng chung gốc ngôn ngữ, văn hoá và tôn giáo với cộng đồng Islam giáo các nước Pakistan, Bangladesh, cộng đồng Islam ở Ấn Độ có quan hệ mật thiết và ít nhiều chịu ảnh hưởng của Islam trong khu vực. Trong tình hình hiện nay, trước những tác động bên ngoài, những diễn biến phức tạp trong Islam giáo tại các nước trên thế giới và trong khu vực sẽ có ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến tình hình Islam ở Ấn Độ, đặc biệt là sau hậu quả của sự cố vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Trong bối cảnh của sự thù địch ngày càng tăng giữa Islam và phương Tây, các chính phủ phương Tây đã sử dụng báo chí của họ chống lại Islam và người theo Islam, đặc biệt là sau sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001. Báo chí về các vấn đề liên quan Islam đã thay đổi sâu sắc kể từ khi bắt đầu sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001, cả về số lượng và chất lượng, các thông tin tiêu cực về người theo Islam đã nhận được nhiều sự chú ý của giới báo chí truyền thông hơn so với những thông tin tích cực. Xuất phát lý do nêu trên, tôi đã bắt tay vào nghiên cứu đề tài Hình ảnh của người Hồi giáo tại Ấn Độ dưới góc nhìn báo chí. Với mong muốn giúp mọi người có cáí nhìn đúng đắn hơn về hình ảnh của người Hồi giáo (người theo Islam) ở Ấn Độ trên báo chí.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN ĐẮC TÙNG

HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI HỒI GIÁO TẠI ẤN ĐỘ

DƯỚI GÓC NHÌN BÁO CHÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Châu Á học

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin phép được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS

TS Đỗ Thu Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình, chu đáo đểtôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của khoaĐông phương học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốcgia Hà Nội, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiêncứu đề tài Sự thành công của tôi ngày hôm nay phải kể đến sự cổ vũ động viên

và tạo mọi điều kiện của gia đình, người thân và bạn bè Do sự hạn chế về thờigian, nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn Một lần nữa tôi xin bày tỏlòng biết ơn sâu sắc nhất đối với các thầy cô, bạn bè và người thân

Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Đắc Tùng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đỗ Thu

Hà Tôi xin cam đoan rằng: Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ một công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm

Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Đắc Tùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài

CHƯƠNG I Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài 8

1.1 Giới thiệu chung về Islam 8

1.1.1 Islam là gì 8

1.1.2 Mohammed - giáo chủ của Islam và sự ra đời của Islam 9

Trang 6

1.1.3 Kinh Koran-cuốn thánh kinh của Islam 11

1.1.4 Các tín đồ Islam 11

1.1.5 Islam trong bối cảnh toàn cầu 13

1.1.5.1 Sự phát triển của Islam ngày nay 13

1.5.2 Xu hướng phát triển của các nước Islam trong thế giới hiện đại 17

1.2 Islam ở Ấn Độ

19

1.2.1 Sự du nhập Islam vào Ấn Độ 19

1.2.2 Những đóng góp của Islam đối với Ấn Độ 20

1.3 Báo chí – tự do ngôn luận, một số lý thuyết 25

1.3.1 Thông tin trong báo chí 25

1.3.2 Các yếu tố và điểu kiện đảm bảo chất lượng thông tin

Trang 7

Tiểu kết 40

CHƯƠNG II: Báo chí của người theo Islam tại Ấn Độ 41

2.1 Vai trò của báo chí ở Ấn Độ 43

2.2 Báo chí bằng tiếng Urdu tại Ấn Độ 48

2.3 Chính sách của chính phủ Ấn Độ đối với báo chí bằng tiếng Urdu 53

2.4 Lược đồ phát triển của báo chí bằng tiếng Urdu tại Ấn Độ 56

Tiểu kết 60

CHƯƠNG III: Một số vấn đề liên quan đến hình ảnh sai lệch về người theoIslam - Ấn Độ qua báo chí 61

3.1 Thực trạng nhận thức về người Islam trên báo chí Ấn Độ 61

3.1.1 Nhận thức sai lệch hay sự thiếu hiểu biết về Islam 62

3.1.2 Hình ảnh của người dân Islam - Ấn Độ trên báo chí 64

3.1.3 Tiếng nói của người theo Islam trên báo chí Ấn Độ 67

3.2 Hình ảnh sai lệch về người theo Islam dưới góc nhìn báo chí 70

3.2.1 Hình ảnh khủng bố của người theo Islam 70

Trang 8

3.2.2 Những nhân vật báo chí quan tâm 76

3.2.3 Hình ảnh người phụ nữ theo Islam 80

3.3 Một số biện pháp để cải thiện tình hình 87

Tiểu kết 89

C KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

PTI Cơ quan tin tức Sự thật báo chí của Ấn Độ

NCPUL Hội đồng Quốc gia phát triển Tiếng Urdu

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Phân bổ tín đồ Islam trên thế giới 2010 Nguồn:: Pew Research

Center's Forum on Religion & Public Life, The Future of the Global

Muslim Population (Washington, DC: Pew Research Center, 2011).

Bảng 2 Tỷ lệ tăng trưởng của các nhánh phái Islam Nguồn: David B Barrett,

George Thomas Kurian, Todd M Johnson, ed (February 15, 2001) World

Christian Encyclopedia Oxford University Press USA ISBN 0195079639,

p.158

Bảng 3 Dự báo số lượng tín đồ Islam năm 2030 Nguổn: Pew Research

Center's Forum on Religion & Public Life, The Future of the Global

Muslim Population (Washington, DC: Pew Research Center, 2011).

Bảng 4 Số liệu về tình hình báo chí và truyền thông tại Ấn Độ năm 2000.

Nguồn: Government of India Ministry of Information and Broadcasting:Annual Report 2000-2001 Available from http://www.mib.nic.in

Trang 10

Bảng 5 Mức nghèo khổ ở Ấn Độ tính theo đẳng cấp 2011-2012 Nguồn:

Working Paper No 2013-02.Poverty by Social, Religious & EconomicGroups

in India and Its Largest States, 1993-94 to 2011-12

Bảng 6 Chính phủ tài trợ quảng cáo trên các tạp chí (ngôn ngữ thông dụng).

Nguồn: Kuldip Nayar, Muslims and the Indian press, Muslims and Media

Images, edited by Ather Farouqui, Oxford University Press, New Delhi, 2010,

p.61

Bảng 7 Biểu đồ tăng trưởng về số lượng và sự lưu hành báo chí Urdu Nguồn:

Mrinal Pande, Indian Press: The Vernacular and the Mainstream Babel,

Muslims and Media Images, edited by Ather Farouqui, Oxford University

Press, New Delhi.p.143

Bảng 8 Số liệu so sánh với sự tăng trưởng giữa năm 1957 và 1997 Nguồn: Bộ

Nội vụ Ấn Độ

Bảng 9 Số lượng báo chí và sự lưu hành của chúng trong các bang khác nhau.

Nguồn: số liệu của tổ chức RNI, 2001-2004

Bảng 10 Những tờ báo Urdu nổi tiếng tính đến 9/2014 Nguồn:

http://pressinstitute.in/history-of-urdu-journalism/

Bảng 11 Mười lăm tờ báo có số lượng độc giả lớn nhất tại Ấn Độ tính đến

tháng 9/2014 Nguồn: Users Research Council (MRUC) trong khảo sát độc giả Ấn

Độ (IRS) vào tháng 9/2014

Bảng 12 Dự đoán sự gia tăng của người theo Islam từ 2010-2050 Nguồn:

Pew Research Center 2015

Bảng 13 Tỷ lệ ủng hộ Luật Sharia trong số người theo Islam Nguồn: PEW

Research Center, trích theo FACTTANK, India, Muslims and Islam: Key

findings in the U.S and around the world by Michael Lipka, 7/12/2015.

Trang 11

Hình 4: Chandra Mohan và Anuradha, Nguồn: Indiantoday, 16/02/2007.

Hình 5: Phụ nữ Islam, Nguồn: http://evan.vnexpress.net.

Trang 13

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ấn Độ có một nền văn hoá trên 5.000 năm lịch sử và phát triển rực rỡvào bậc nhất của thế giới, là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại

Ấn Độ là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng những tôn giáo du nhập vào nơiđây Trong đó, Hồi giáo (Islam) đươc nhắc tới trước tiên bởi vì Islam không chỉ

du nhập vào Ấn Độ mà nó còn dần trở thành một tôn giáo quan trọng trên mảnhđất này

Islam ra đời vào đầu thế kỷ thứ VII tại khu vực Bán đảo Ả Rập do nhàtiên tri Mohammed sáng lập Đây là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới sau Kitôgiáo, với số lượng tín đồ là 1,6 tỷ người1 và là tôn giáo đang phát triển nhanhnhất về số lượng tín đồ, có mặt ở khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong

đó khoảng hơn 40 quốc gia có số lượng tín đồ đông và coi Islam là quốc giáo

Do đặc điểm ra đời, phát triển và đặc thù tôn giáo, Islam là tôn giáo có nền vănhóa độc đáo, là một nền văn minh của nhân loại Tôn giáo này đã có nhữngđiều chỉnh nhất định để thích nghi với bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa tại cácnơi Nó có ảnh hưởng lớn trong đời sống chính trị, xã hội và văn hóa tư tưởngcủa thế giới Trong bối cảnh thế giới hiện nay, với vai trò là một chủ thể trongquan hệ quốc tế, các tổ chức Islam ngày càng tăng cường các hoạt động quốc tếvới nhiều hình thức đa dạng, vừa thể hiện những mặt tích cực trong quan hệhợp tác vừa chứa những biểu hiện phức tạp, đặc biệt là xuất hiện nhiều hoạtđộng khủng bố đe doạ an ninh thế giới có liên quan đến Islam

Cộng đồng người theo Islam ở Ấn Độ tính đến năm 2011 có hơn 177triệu người2 Người theo Islam trong quá trình phát triển đều có quan hệ thườngxuyên với những người có ngôn ngữ Urdu Vì có cùng chung gốc ngôn ngữ,văn hoá và tôn giáo với cộng đồng Islam giáo các nước Pakistan, Bangladesh,cộng đồng Islam ở Ấn Độ có quan hệ mật thiết và ít nhiều chịu ảnh hưởng củaIslam trong khu vực Trong tình hình hiện nay, trước những tác động bên ngoài,

1 CIA World Factbook, Christian 31.4%, Muslim 23.2%, Hindu 15%, Buddhist 7.1%, folk religions 5.9%, Jewish 0.2%, other 0.8%, unaffiliated 16.4% (2010 est.)

2 CIA Factbook, As of 2011, there were about 177 Million Muslims in India, comprising 14.2% of the total population.

Trang 14

những diễn biến phức tạp trong Islam giáo tại các nước trên thế giới và trongkhu vực sẽ có ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến tình hình Islam ở Ấn Độ, đặcbiệt là sau hậu quả của sự cố vào ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Trong bối cảnh của sự thù địch ngày càng tăng giữa Islam và phươngTây, các chính phủ phương Tây đã sử dụng báo chí của họ chống lại Islam vàngười theo Islam, đặc biệt là sau sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001

Báo chí về các vấn đề liên quan Islam đã thay đổi sâu sắc kể từ khi bắtđầu sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001, cả về số lượng và chất lượng, các thôngtin tiêu cực về người theo Islam đã nhận được nhiều sự chú ý của giới báo chítruyền thông hơn so với những thông tin tích cực Xuất phát lý do nêu trên, tôi

đã bắt tay vào nghiên cứu đề tài Hình ảnh của người Hồi giáo tại Ấn Độ dưới

góc nhìn báo chí Với mong muốn giúp mọi người có cáí nhìn đúng đắn hơn về

hình ảnh của người Hồi giáo (người theo Islam) ở Ấn Độ trên báo chí.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Từ trước đến nay, đề tài nghiên cứu về người theo Islam ở Ấn Độ tạiViệt Nam đã thu hút không ít tổ chức và cá nhân nghiên cứu Có khá nhiều tàiliệu nghiên cứu về vấn đề này nhưng chủ yếu đề cập đến nền văn hóa - vănminh Islam ở Ấn Độ, cụ thể là:

+ Đại cương văn hóa phương Đông (GS Lương Duy Thứ chủ biên):

trình bày tổng quan về các nền văn hóa lớn ở phương Đông, trong đó phần Ấn

Độ được giới thiệu một cách khái quát Tác giả chỉ thuật lại phần lịch sử mộtcách sơ lược nhưng vẫn làm nổi bật lên tầm quan trọng của tiến trình lịch sửkhi xem lịch sử như một quá trình liên tục, như “sợi chỉ dài” xuyên suốt cácgiai đoạn lịch sử quyết định đến sự hình thành và phát triển của văn hóa Ấn Độ

Trong tác phẩm này, tác giả trình bày dưới hình thức giới thiệu các thành

tố của nền văn hóa: tôn giáo (trong đó có Islam), văn hóa vật chất, nghệ thuậttạo hình, nghệ thuật biểu diễn, khoa học – kỹ thuật, phong tục tập quán … Tácgiả đã giới thiệu khá đầy đủ những nét nổi bật và truyền thống của nền văn hóa

Trang 15

Ấn Độ xưa và nay Tuy nhiên, đúng như tên gọi của nó, quyển sách này chỉ giớithiệu chứ nó chưa đi sâu vào các vấn đề khoa học phức tạp.

+ Lịch sử văn minh Ả Rập (Will Durant): Tác giả đã khái quát nền văn

minh Ả Rập từ thời kỳ tiền Mohammed cho đến lúc đế quốc Ả Rập và Islam bịquân Mông Cổ tấn công và suy yếu

Durant đã trình bày rất kỹ về nền văn minh và Islam giáo ở Ấn Độ quacác thời kỳ lịch sử và các vùng lãnh thổ - những nơi mà các đội quân và Islam

đã đặt chân đến Tác giả làm rõ từ Kinh Koran, phép tắc, tín ngưỡng cho tới

chính quyền và cả kinh tế, xã hội và phong tục tập quán,…

+ Đại cương văn hóa Ấn Độ (PGS.T.S Đỗ Thu Hà) Trong chương II

của cuốn sách, giới thiệu một cách khái quát về sự du nhập của Islam vào Ấn

Độ và những đóng góp của Islam đối với Ấn Độ trong một số lĩnh vực như báochí, khoa học, y học, kiến trúc, hội họa, âm nhạc,…

+ Lịch sử Ấn Độ (GS Lương Ninh): Tác giả đã trình bày rất kỹ về sự du

nhập của Islam vào Ấn Độ và những đóng góp của Islam đối với Ấn Độ quacác thời kỳ lịch sử

+ Một cuốn sách rất hữu ích đối với tác giả luận văn trong khi khai mở

đề tài chính là cuốn Ngôn ngữ và tộc người Ấn Độ do PGS TS Đỗ Thu Hà viết

năm 2012 đã cung cấp cho tôi một cái nhìn khá đầy đủ về ngôn ngữ Urdu vàviệc sử dụng nó tại Ấn Độ từ sau năm 1947 đến nay

Về bài nghiên cứu viết về Islam và người theo Islam đăng trên tạp chí có

bài Phong trào cải giáo tại Ấn Độ thế kỷ XIX- XX của PGS TS Đỗ Thu Hà

đăng liên tiếp trên hai số liền của Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, ISSN:

1859-0403, số 06 và 07 (144 và 145), 2015 Trong bài nghiên cứu này, tác giả tậptrung tìm hiểu một trong những biện pháp được nhiều cộng đồng đẳng cấp thấptại Ấn Độ lựa chọn trong thế kỉ XIX-XX là rời bỏ Hinđu giáo để chuyển sangmột tôn giáo khác hay còn được gọi là “phong trào cải giáo” về nguyên nhânthúc đẩy phong trào cải đạo trong thế kỷ XIX-XX và bước đầu khảo sát liệucuộc sống của những nhóm người thấp kém trong xã hội Ấn Độ có thực sự thayđổi tốt hơn sau khi từ bỏ Hinđu giáo để chuyển sang một tôn giáo khác (trong

Trang 16

đó có Islam) như những gì vị lãnh tụ của phong trào Dalit Ambedkar từngkhẳng định hay không về các phương diện văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội vàchính trị.

Bài viết thứ hai cũng của PGS TS Đỗ Thu Hà tìm hiểu về Ảnh hưởng

của ngôn ngữ và văn học Ba Tư tại tiểu lục địa Ấn Độ đăng trong cuốn Việt Nam, Ấn Độ và Tây Nam Á: Những mối quan hệ trong lịch sử và hiện tại do

NXB Từ điển Bách khoa, 2013, từ trang 118 đến 135 Bài viết đề cập đến sựxâm nhập ban đầu của Islam và người theo Islam vào tiểu lục địa Ấn Độ vềphương diện văn học nghệ thuật và để lại những dấu ấn không bao giờ phainhạt Hai bài đăng trên tạp chí khác cũng do PGS TS Đỗ Thu Hà viết là bài

Xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hoá tại Ấn Độ (Tạp chí

Triết học, 11/2006, trang 46-55) và Toàn cầu hoá và các ngôn ngữ Ấn Độ

(trong Kỷ yếu Hội thảo Đông Phương học lần thứ ba, Hà Nội, Nxb ĐH Quốc

gia, 11/2006, tr 56-63) cũng giúp chúng tôi có được cái nhìn rõ ràng hơn khinhìn nhận sự phát triển và biến đổi của tiếng Urdu với tư cách một công cụchính trị của những người theo Islam tại Ấn Độ trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, chưa có tác giả nào tại Việt Nam đề cập trực tiếp đến đề tài

mà luận văn của chúng tôi phải giải quyết là hình ảnh của người theo Islamdưới góc nhìn báo chí tại Ấn Độ

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Tại nước ngoài, có một số công trình nghiên cứu đã được công bố liênquan đến hình ảnh của người theo Islam dưới góc nhìn báo chí tại Ấn Độ màtác giả được biết đến

Một xuất bản phẩm mới đây nhất tại Ấn Độ được mang tên Người theo

Islam và những hình ảnh trên truyền thông3 đã thể hiện những quan sát sắc sảocủa 19 nhà báo nghiên cứu về vấn đề Islam tại Ấn Độ được công bố đầu năm

2011 với nhiều nội dung đề cập đến những vấn đề hoàn toàn mới mẻ về ngườitheo Islam Đó không phải là nghiên cứu về những mặt trái của tôn giáo nàynhư các phần tử cực đoan, bạo động… hay vấn đề về an ninh và các vụ khủng

bố đe dọa đến xã hội Trong tác phẩm này, chúng ta sẽ được tiếp cận đến những

3 Muslim and Media Images, edited by Ather Farouqui, Oxford India Paperback, 2011

Trang 17

hình ảnh mởi mẻ của người theo Islam - Ấn Độ Đây chính là cuốn sách gợicảm hứng cho đề tài luận văn này của tôi.

Khái quát về cuốn sách này được chia làm bốn phần chính Phần thứ

nhất English Media: Image and Depiction – truyền thông Anh ngữ: những hình

ảnh và miêu tả, phản ánh mối quan hệ của người theo Islam cũng như những

tôn giáo thiểu số với truyền thông đại chúng, Phần thứ hai: Transcending

boundaries – Những ranh giới vượt quá xa, nói về vấn đề Islam trong bối cảnh

toàn cầu Phần thứ ba: Muslim Journalism: A Phenomenal Dichotom – Báo chí

Islam: một hiện tương lưỡng cực, đề cập tới những sản phẩm báo chí tiếng

Urdu ở Ấn Độ là đại diện của người theo Islam Phần thứ tư Popular Images

and the Story of Stereotypes – Những hình ảnh phổ biến và câu chuyện về những sự ấn tượng khó phai, đưa ra những hình ảnh người theo Islam - Ấn Độ

thông qua phim ảnh

Ngoài ra, còn có môt số nghiên cứu về hình ảnh người theo Islam tại Ấn

Độ nhưng nói chung, vấn đề gây tranh cãi và rất nhạy cảm này ít người biết đếnhay vờ như không biết tới Có thể kể ra đây một số nghiên cứu như Vinod

Mehta, Muslim and Media Images: Where Things Went Wrong, Muslims and

Media Images, Oxford University Press, New Delhi, 2009; Chandan Mitra, The Print Media and Majority Images, Oxford University Press, New Delhi, 2010;

Arshad Amanullah, Is Urdu Journalism in India a Lost Battle?, Oxford

University Press, New Delhi; 2009 …Phần lớn những nghiên cứu này mô tảnhững thiệt thòi của cộng đồng Islam tại Ấn Độ trong cuộc chiến truyền thông

mà dù muốn hay không họ cũng bị buộc phải tham gia Có thể nói, trong phầnlớn trường hợp, người theo Islam là nạn nhân của những định kiến chết người!

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chủ yếu là người Hồi giáo(người theo Islam) ở Ấn Độ và hình ảnh về người theo Islam tại Ấn Độ trênbáo chí

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: từ khi đọc cuốn Người theo Islam và

những hình ảnh trên truyền thông của 19 nhà báo nghiên cứu về vấn đề Islam

Trang 18

tại Ấn Độ năm 2011, tác giả luận văn đã đọc 1263 bài báo về người theo Islam

và Islam tại Ấn Độ được viết từ 5/2010 đến 5/2014 trên 10 tờ báo được đọc

nhiều nhất tại Ấn Độ từ 5/2010 đến 5/2014 (Source: The quarterly Indian

Readership Survey by the Media Research Users Council (MRUC) đăng trên

Rediffbusiness.com ngày 5/5/2010)

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử: phương pháp này giúp ta thấy được một cáchtổng thể sự phát triển của và Islam các giai đoạn lịch sử cụ thể cũng như kháiquát được ảnh hưởng của nó đến Ấn Độ Phương pháp này cũng giúp tác giảluận văn tìm hiểu về báo chí bằng tiếng Urdu nói riêng và báo chí Ấn Độ nóichung trong tiến trình phát triển, biến đổi và ảnh hưởng lẫn nhau

- Phương pháp logic: để xem xét các sự kiện liên quan trong mối quan

hệ biện chứng của quá trình phát triển, quá trình nhận thức lịch sử, từ đó tìm racác vấn đề có tính mắt xích, quy luật của vấn đề cần nghiên cứu là cách nhìnnhận và phản ánh về Islam và người theo Islam tại Ấn Độ

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, dự báo, thống kê, so sánh, …cũngđược tác giả luận văn sử dụng khi thao tác nghiên cứu để làm tường minh vấn

đề đang được tìm hiểu

5 Mục đích của luận văn

- Cung cấp những thông tin cơ bản về Islam và báo chí của người theoIslam ở Ấn Độ

- Đánh giá vị trí, vai trò, ảnh hưởng của người Islam và báo chí củangười theo Islam ở Ấn Độ

- Đánh giá được nguyên nhân của hình ảnh sai lệch về người theo Islam

ở Ấn Độ trên báo chí

- Từ kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất những giảipháp để cải thiện hình ảnh sai lệch về người theo Islam ở Ấn Độ trên báo chínhằm nhìn nhận chính xác, qua đó nâng cao hình ảnh về người theo Islam ở Ấn

Độ nói riêng và thế giới Islam nói chung

6 Đóng góp của luận văn

Trang 19

 Đưa ra những hình ảnh sai lệch chủ yếu về người theo Islam ở Ấn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luậnvăn được chia làm 3 chương

Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Chương II Báo chí của người theo Islam tại Ấn Độ

Chương III Hình ảnh sai lệch về người theo Islam - Ấn Độ qua báo chí

Trang 20

B NỘI DUNG CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Giới thiệu chung về Islam

1.1.1 Islam là gì?

Từ Islam bắt nguồn từ một từ gốc “salam”, có nghĩa là hòa bình

Trong Kinh Koran, Thiên Chúa xác định rằng mục đích duy nhất mà Ngài đã

tạo dựng con người là để thờ phụng Ngài Islam thừa nhận rằng con người có

tự do lựa chọn trong việc vâng lời hay không vâng lời Chúa, nhưng cuối cùngchúng ta sẽ phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa trong cuộc sống tiếp theocho những lựa chọn mà chúng ta làm trong cuộc sống này

Từ “Hồi giáo” trong tiếng Ả Rập là Islam và còn có nghĩa là “vâng

mệnh, quy phục Thượng Đế”, “phục tùng” Người theo Islam, trong tiếng ẢRập gọi là Muslim, do đó có các chữ muslim, moslem tiếng Anh và musulmantiếng Pháp Danh từ “Hồi giáo” xuất xứ từ dân tộc Hồi Hột Hồi Hột là nướcláng giềng phương bắc của Trung Quốc từ năm 616 đến 840 Lúc rộng lớn nhấtlãnh thổ họ đông đến Mãn Châu, tây đến Trung Á, và họ đã giúp nhà Đườngdẹp được loạn An Lộc Sơn Với thời gian, cách gọi đổi thành “Hồi Hồi” Tàiliệu xưa nhất dùng danh từ “Hồi Hồi” là Liêu Sử, soạn vào thế kỷ 12 Đời nhàNguyên (1260 - 1368), tại Trung quốc, cụm từ “người Hồi Hồi” được dùng đểchỉ người Trung Á, bất luận theo tín ngưỡng nào Đến đời Minh (1368 - 1644),cụm từ “người Hồi Hồi” mới dần dần đổi nghĩa để chỉ tín đồ Islam Bởi vìngười Hồi theo tôn giáo này nên ta quen gọi là Đạo Hồi Thực ra hiện nay, theochúng tôi, ta nên gọi là Islam và người theo Islam chứ không nên gọi là Hồigiáo và người theo Hồi giáo vì chưa thật khoa học, chính xác

Islam là một tôn giáo chỉ thờ một vị thần Vị thần duy nhất mà Islam tônthờ là thánh Allah Tín đồ Islam tin rằng ngoài thánh Allah không có vị thầnnào khác Tất cả những gì trên trời, dưới đất đều thuộc về thánh Allah Islamcũng tiếp thu nhiều quan niệm của các tôn giáo khác, nhất là của Đạo Do Tháinhư truyền thuyết về sáng tạo thế giới, thiên đường, địa ngục Islam còn bắt

Trang 21

chước một số nghi thức và tục lệ của Đạo Do Thái như: trước khi cầu nguyệnphải rửa mặt và tay chân, khi cầu nguyện phải hướng về thánh địa Mecca vàphải phủ phục trán chạm đất; cấm ăn thịt lợn, thịt chó, thịt các con vật chết vìbệnh, thịt đã cúng thần và cấm uống rượu.

Islam không giống các tôn giáo khác là tuyệt đối không thờ ảnh tượng vì

họ quan niệm rằng Allah tỏa khắp mọi nơi, không có một hình tượng nào có thểthể hiện được Allah Bởi vậy trong thành thất Islam chỉ trang trí bằng chữ Ảrậpchứ không có tượng và tranh ảnh Chỉ riêng trong đền Caaba ở Mecca có thờmột phiến đá đen từ xưa để lại mà thôi

Tóm lại, “Islam là gì?” Theo truyền thuyết, thiên thần Gabrien đã hỏiMohammed như vậy Mohammed đáp: Islam là tin vào Allah và vị tiên tri củaNgài, đọc những kinh cầu nguyện đã chỉ định, bố thí cho người nghèo, nhịn ănvào tháng Ramađan và hành hương ở thánh địa Mecca Cầu nguyện, bố thí,nhịn ăn và hành hương là 4 bổn phận của người theo Islam Thêm lòng tin vàoAllah và vị tiên tri nữa là thành năm trụ cột của Islam

1.1.2 Mohammed - giáo chủ của Islam và sự ra đời của Islam

Sự ra đời và phát triển của Islam

Sự ra đời của Islam gắn liền với tên tuổi của Mohammed Mohammedsinh năm 570 ở Mecca, nay là tỉnh Hijaz ở phía Tây nước Ả rập-Xêút Cha ôngqua đời trước khi ông sinh ra và mẹ Amina mất khi ông 6 tuổi Al-Muttalib ôngnội của ông đã nuôi ông và qua đời 2 năm sau đó Chú Abu Talib đã nuôiMohammed trong gia đình mình và Mohammed lớn lên như con ruột củachú Ở tuổi 12, chàng trẻ tuổi Mohammed đã được đưa vào một đoàn doanhthường đến Syria Trong 13 năm tiếp theo người ta ít được biết đến cuộc đờiông, ngoại trừ việc ông đã tham gia vào đoàn giao dịch trong và ngoài Ả Rập

Ở tuổi 25, Mohammed cưới một góa phụ 40 tuổi giàu có tên là Khadijah-người sở hữu một thương đoàn Ông có tiếng là người trung thực và hào hiệp.Các sử gia miêu tả ông là một người điềm tĩnh và trầm tư Mohammed mangbản chất tôn giáo sâu sắc, và đã từ lâu ghét sự suy đồi của xã hội của mình

Trang 22

Ông thường có vẻ trầm tư mặc tưởng, và hay vào động Hira gần Mecca ngồithiền

Năm 610, ông bắt đầu truyền bá Islam Năm 622, bị tầng lớp quý tộcMecca phản đối và hãm hại, Mohammed cùng tín đồ của mình phải chạy lênthành phố Yatơríp ở phía Bắc (cách Mecca 400 km) Năm xảy ra sự kiện nàyđược coi là năm thứ nhất của kỉ nguyên Islam Ông tự xưng là Nhà tiên tri, nên

từ đó thành phố Yatơríp đổi tên thành Medina, nghĩa là “thành phố của tiên tri”.Cũng tại đây, Mohammed đã thành lập được một lực lượng chính trị kết hợpvới tôn giáo do ông đứng đầu Mohammed cũng thường xuyên tấn công các độibuôn của Mecca, do đó chiến tranh giữa Medina và Mecca đã diễn ra nhiều lần.Năm 628, Mohammed kí hòa ước ngừng chiến Hudaybiah 10 năm với Mecca.Năm 629, Mohammed dẫn 2.000 tín đồ ở Medina đến Mecca và đến thăm đềnCaaba Nhiều người ở Mecca và vùng xung quanh cũng theo Islam

Năm 630, Mohammed đem 10.000 người tiến xuống thành phố này.Mecca không dám chống cự Mohammed trở thành người đứng đầu nhà nước

Ả Rập mới thành lập Các tượng thần bộ lạc trong đền Caaba bị vứt bỏ ĐềnCaaba trở thành thánh thất chính của Islam và Mecca trở thành thánh địa chủyếu của tôn giáo này Năm 632, Mohammed mất Từ đó, người đứng đầu nhànước và tôn giáo ở Ả Rập gọi là Calipha (nghĩa là người kế thừa của tiên tri)

Sau khi chinh phục thành Mecca, Islam đã trở thành một đế quốc bànhtrướng thế lực, tiếp tục mở rộng “thánh chiến” tấn công để mở rộng thế giớiIslam Mục tiêu trước hết là tiêu diệt người Do Thái ở Ả Rập, tàn sát và bắtnhững người có thái độ chống đối làm nô lệ cho người Islam chiến thắng Từnăm 636, Islam bắt đầu những cuộc viễn chinh tấn công, mở đầu cho một thời

kỳ truyền bá Islam sang các quốc gia khác Cho đến thế kỷ XI, Islam trở thànhmột tôn giáo quốc tế, thống soái các quốc gia dân tộc từ Địa Trung Hải đếnVịnh Ba Tư Vào khoảng ba thế kỷ sau (từ thế kỷ XIV đến XVI), Islam truyền

bá xuống vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

1.1.3 Kinh Koran-cuốn thánh kinh của Islam

Trang 23

Nền tảng tín lý Islam là Kinh Koran, tiếng Ả Rập viết là “Kur an”, nghĩa

là “bài đọc”, “bài giảng” Kinh Koran được chia làm 30 phần (Just), 144

chương (Suras), 6.236 câu (Ayat, nghĩa là “điều lành”, điều kỳ diệu”) và

323.015 từ, được sắp xếp theo nguyên tắc dài để trên, ngắn để dưới Kinh

Koran có hai phần: phần Mecca và phần Medina Phần thứ nhất gọi là

phần Mecca, có 85 chương, 4.780 câu, nội dung chủ yếu nói về Allah, vị thánhtoàn năng, siêu việt và là người sáng tạo ra muôn loài Các tín đồ nếu làm đúngtheo lời dạy của Allah thì sẽ được lên thiên đường, còn ngược lại sẽ bị đày đọa

ở địa ngục Phần thứ hai là phần Medina, phần này có 29 chương, 1.456 câu,nội dung chủ yếu đề cập đến các giáo pháp của Islam giáo như nghi lễ thờphụng, trai giới, triều bái…

Người Muslim tin rằng đây là những lời phán dạy của Thượng đế Allah

Kinh Koran nói về Allah và sự cao cả của Người; về bổn phận của bầy tôi phải

vâng phục Allah; về vai trò của Mohammed là người truyền đạt thông điệp của

Allah Kinh Koran còn ghi những lời dạy về gia đình và cộng đồng Kinh này được bổ sung bằng sunnah là bộ tổng tập về những việc lảm và lời dạy của Rasul Mohammed Kinh Koran và sunnah hình thành nguồn giáo luật Islam.

Kinh Koran được Allah mặc khải cho Mohammed thông qua thiên thần

Gabrien suốt thời gian 20 năm Người Muslim đọc Kinh Koran bằng tiếng Ả

Rập là ngôn ngữ chính trong nguyên bản

1.1.4 Các tín đồ Islam

Trong quá trình phát triển của mình, Islam ngày càng vươn xa tới nhiềuvùng, miền khác nhau trên thế giới và qua mỗi thời kỳ, tôn giào này đã cónhững điều chỉnh nhất định để thích nghi với bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóatại các địa phương Một trong những biến động lớn của Islam là sự kiện Nhàtiên tri Mohammed mất (năm 632) và các tranh cãi về quyền kế thừa đã khiếncho Islam tách thành hai dòng lớn: Islam dòng Sunni và Islam dòng Shia (còngọi là Islam Shiite) Mặc dù sự phân chia theo hai dòng Islam như trên cónguyên nhân lịch sử từ nhiều thế kỷ trước đây nhưng các khuynh hướng pháttriển Islam hiện đại lại thể hiện nhiều đặc điểm mới khiến cho sự chia tách như

Trang 24

vậy đang trở thành vấn đề sâu xa đằng sau nhiều sự kiện biến động nổi bật củagiai đoạn hiện nay.

Phái Sunni

Chiếm 87%- 90% Muslim trên thế giới theo phái Sunni tức khoảng 1,4

tỷ tín đồ Người Islam Sunni tự coi mình là dòng chính thống và truyền thốngcủa Islam Từ Sunni xuất phát từ cụm từ “ahl al-Sunna”, nghĩa là con người củatruyền thống Người Islam Sunni sùng kính tất cả các đấng tiên tri được nêu

trong Kinh Koran, đặc biệt là Mohammed

Sunni từ chữ “sunnah” nghĩa là con đường của Mohammed đã vạch raqua lời giảng và việc làm của ông Muslim theo Sunni công nhận nhữngCalipha đầu tiên là kế vị hợp thức của Mohammed và đề cao quan điểm cùngtập tục của số đông Umma Islam

1 Malikite: Thành lập vào giữa thế kỷ VIII tại Bắc Phi.

2 Shafi (Tiếng Pháp ngữ gọi là Chafeite): Thịnh hành tại Ai Cập, Syria, Ấn Độ

và Việt Nam (người Chăm)

3 Hanbalite: Islam của đế quốc Ottoman, thịnh hành tại Thổ Nhĩ Kỳ.

4 Hanbali: Islam của nước Ả rập-Xêút.

Phái Shia (Shiite)

Chiếm khoảng 10%-13%, tức khoảng 200 triệu tín đồ Người theo IslamShia theo nghĩa đầy đủ là “Shiat Ali” tự coi mình là nhóm thừa hưởng cácquyền lợi của Ali, con rể Mohammed và tự coi là những người đi theo đườnglối chính trị, nối dõi trong việc lãnh đạo cộng đồng Islam Họ đề cao sự hysinh gian khổ và tôn kính Hussein (con của Ali) vì vị này đã tử đạo ở Kerbela(năm 680 SCN) Phái Shiite hình thành hệ thống giáo luật riêng Trào lưu cấptiến hơn của Shiiite đã được dấy lên qua cuộc cách mạng Iran

Phe thiểu số Shia cũng bị chia thành 3 giáo phái và thường tranh chấp lẫn nhau:

1 Giáo phái Twelvers nắm ưu thế chính trị tại Iran.

2 Giáo phái Druge xuất hiện và thịnh hành tại Li Băng và Syria từ thế kỷ 11

đến 19 Ngày nay giáo phái này bị suy tàn chỉ còn trên 1 triệu tín đồ

Trang 25

3 Giáo phái Assassin được thành lập năm 1090 tại Ba Tư gồm toàn những

người liều mạng để ám sát tiêu diệt những kẻ thù của Islam Giáo phái này chiathành hai nhóm: Nhóm thám báo truy tầm, điều tra, đánh dấu nhà của các kẻthù Sau đó nhóm khủng bố sẽ tìm đến để thanh toán Giáo phái Assassin gieokinh hoàng khắp nơi trong suốt hai thế kỷ 11 và 12, đến nỗi khắp Âu Châu,người ta loan truyền rất nhiều chuyện kinh dị về giáo phái này Về sau, danh

từ “ASSASSIN” trở thành một danh từ mới của Âu Châu có nghĩa là “Kẻ ám

sát” Năm 1256, quân Mông Cổ tàn phá bình địa đại bản doanh của Assassin tạiBaghdad và sau đó tận diệt giáo phái này

Cả hai dòng Islam này đều tôn thờ thánh Allah và Mohammed, cùngthực hiện 5 trụ cột cơ bản của Islam Tuy nhiên, ngay sau khi Nhà tiên triMohammed mất, hai dòng Islam trên đã có những xung đột liên quan đến việc

ai sẽ là người lãnh đạo Islam Qua nhiều thế kỷ phát triển, sự khác biệt giữa haidòng Islam ngày càng gia tăng với những tranh cãi liên quan tới quan điểmchính trị, những khác biệt về lý luận logic và một số khác biệt khác về cáchthức thực hiện nghi lễ tôn giáo

1.1.5 Islam trong bối cảnh toàn cầu

1.1.5.1 Sự phát triển của Islam ngày nay

Hiện nay, Islam và Thiên Chúa giáo đã nhanh chóng trở thành một trong

hai tôn giáo lớn nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng tín đồ rất cao và hiện hữutại mọi vùng, miền, mọi châu lục Nghiên cứu mới đây của Pew ResearchCenter đã đưa ra thông tin mang tính tổng thể về sự phát triển mạnh mẽ củaIslam thể hiện ở số lượng tín đồ Islam tăng nhanh tại hầu hết các quốc gia trênthế giới Khảo sát tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã cho kết quả là tínhđến năm 2010, toàn thế giới có khoảng 1,6 tỷ tín đồ Islam thuộc mọi thànhphần dân số, mọi lứa tuổi và số lượng tín đồ này chiếm tới 23,2% dân số toàncầu ước tính gần 7 tỷ người

Số liệu về tín đồ Islam cập nhật mới nhất cho thấy sự gia tăng đáng kể

về số lượng cũng như phạm vi ảnh hưởng của tôn giáo này trên khắp thế giớikhi so sánh với một số ước tính trong thập niên 1990 cho rằng tín đồ Islam giai

Trang 26

đoạn này có dưới 1 tỷ người Khuynh hướng biến động của Islam nhìn nhận từgóc độ số lượng tín đồ cũng cho thấy nhiều đặc điểm đáng chú ý bao gồm:

- Trong khi tín đồ Islam hiện diện ở tất cả 5 lục địa lớn trên thế giới thì có tớihơn 60% trong số họ tập trung ở châu Á và khoảng 20% sinh sống tại khu vựcTrung Đông và Bắc Phi Đây cũng là khu vực tập trung cao nhất các quốc gia

có Islam là quốc giáo và tín đồ Islam chiếm đa số trong dân chúng với số liệu

cụ thể là hơn một nửa trong số khoảng 20 quốc gia, vùng lãnh thổ tại TrungĐông và Bắc Phi có người theo Islam chiếm hơn 90% dân số

- Một số lượng lớn tín đồ Islam, ước tính hơn 300 triệu người hoặc 1/5tổng số tín đồ Islam trên thế giới đang sống tại các quốc gia mà Islam khôngphải là tôn giáo chính Đây thường là các quốc gia có dân số rất đông, đa dạng

về sắc tộc, tín ngưỡng và Islam chỉ là một trong rất nhiều tôn giáo đang tồn tại

ở các quốc gia này Có thể lấy ví dụ như Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ haitrên thế giới và cũng là nơi có cộng đồng Islam đông thứ 3 toàn cầu TrungQuốc có nhiều tín đồ Islam hơn toàn bộ tín đồ Islam tại Syria, Liên bang Nga

có đông người Islam hơn so với cả Jordan và Libya cộng lại

Bảng 1 Phân bổ tín đồ Islam trên thế giới 2010

Số lượng(ngàn người) % trong tổng số tín đồ Islam

Trang 27

Nguồn:: Pew Research Center's Forum on Religion & Public Life, The

Future of the Global Muslim Population (Washington, DC: Pew Research

Center, 2011)

Số liệu trong bảng 1 đưa ra minh họa rõ ràng về tình hình tín đồ Islamtrên thế giới với tổng số ước tính trên 1,6 tỷ người Số liệu thống kê cho thấyphần lớn tín đồ Islam (62,1%) sống tập trung tại khu vực châu Á – Thái BìnhDương4 và khu vực Trung Đông – Bắc Phi (19,9%) và châu lục có ít ngườiIslam sinh sống nhất là châu Mỹ với tỷ lệ chiếm khoảng 0,3% tổng số tín đồ

Sự phân bổ tín đồ Islam trên thế giới như vậy đã phản ánh đúng thực tế về quátrình phát triển của tôn giáo này trong giai đoạn nhiều thế kỷ trong đó TrungĐông – nơi Islam ra đời đến nay vẫn là nơi sinh sống của đa số tín đồ và hầuhết đều ở các quốc gia có Islam là quốc giáo với số lượng tín đồ chiếm đa sốtrong dân chúng

Bảng sau đây mô tả tỷ lệ tăng trưởng của các nhánh phái Islam như đã

được trình bày trong cuốn Từ điển bách khoa toàn thư về Thiên Chúa giáo thế

giới - World Christian Encyclopedia 5

4 Esposito, John L (2011) What everyone needs to know about Islam Oxford University Press.

tr 21 ISBN 9780199794133 Mecca, like Medina, is closed to non-Muslims

5 David B Barrett, George Thomas Kurian, Todd M Johnson, ed (February 15, 2001) World

Christian Encyclopedia Oxford University Press USA ISBN 0195079639, p.158.

Trang 28

Bảng 2 Tỷ lệ tăng trưởng của các nhánh phái Islam

6 Esposito, John L (2011) What everyone needs to know about Islam Oxford University Press.

tr 25 ISBN 9780199794133 Mecca, like Medina, is closed to non-Muslims

Trang 29

Bảng 3 Dự báo số lượng tín đồ Islam năm 2030

Số lượng (ngàn người)

% trong tổng số tín đồ

Nguồn: Pew Research Center's Forum on Religion & Public Life, The

Future of the Global Muslim Population (Washington, DC: Pew Research

Center, 2011)

Dự báo về biến động số lượng tín đồ Islam cho thấy trong thời gian từnay đến năm 2030 cho thấy số lượng tín đồ Islam đang và sẽ tăng với tốc độnhanh gấp đôi tốc độ tăng trưởng dân số không theo Islam và PEW ResearchCenter đưa ra tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm giai đoạn 2010 – 2030của tín đồ Islam là 1,5% so với 0,7% của dân số không theo đạo Islam và vớitốc độ tăng dự kiến như vậy thì vào năm 2030, tín đồ Islam sẽ chiếm tới 26,4%trong tổng số 8,3 tỷ dân số toàn cầu

1.1.5.2 Xu hướng phát triển của các nước Islam trong thế giới hiện đại Chính trị

Trong vài thập kỷ qua đã thấy đảng của người Islam giành chiến thắngtrong cuộc bầu cử tại một số quốc gia Islam, bao gồm Algeria, Palestine, vàThổ Nhĩ Kỳ, và hình thành phe đối lập mạnh nhất để chống lại việc phươngTây liên kết với chế độ thống trị ở một loạt các nước như Ai Cập, Jordan vàMorocco Đảng của người Islam đã giành chế độ ở một loạt các nước như AiCập, Jordan và Morocco Hơn nữa, đảng của người Islam đã giành tỷ lệ đáng

kể của cuộc bỏ phiếu tại nhiều nước Islam giáo khác, bao gồm Indonesia,

Malaysia, và Pakistan

Trang 30

Từ giữa tháng 12 năm 2010 đến nay, cái gọi là “Cách mạng hoa Nhài”,

“Mùa Xuân Ả Rập” của người Islam tại các nước Bắc Phi, Trung Đông đã xảy

ra những biến động chính trị to lớn

Ngoài ra hiện nay còn xuất hiện nhà nước Islam IS gây đẫm máu ở vùng

Trung Đông và Bắc Phi

Xã hội

Thế giới Islam Ả Rập ngày nay hầu hết đều là xã hội khép kín Giới lãnhđạo hầu như đều cấm các phương tiện truyền thông quốc tế Nhiều nước Islamban hành luật cấm TV, Video, phim ảnh và các sách báo ngoại văn Trong cuộchọp của Tổ Chức Các Quốc Gia Islam (OIC) gồm các đại biểu của 56 quốc giathành viên họp tại thủ đô Kualua Lumpur của Malaysia ngày 27/2/2000, nhiềuđại biểu đã hô hào các nước Islam đoàn kết để chống lại kỹ thuật tin họcInternet vì nó có thể “tiêu diệt các giá trị Islam”

Kinh tế

Tại hầu hết các nước Islam, sự phát triển của các nền kinh tế thị trường

bị các biện pháp hạn chế chính trị, nạn tham nhũng, chi tiêu quá mức vào vũkhí, vào các dự án đầy tham vọng cũng như sự phụ thuộc quá đáng vào nguồnthu nhập từ dầu mỏ ngăn cản.Từ cuối thập kỷ 1990, toàn bộ Trung Đôngkhông những bị bỏ lại sau Châu Âu, mà sau cả Ấn Độ, Trung Quốc và nhiềunước đang phát triển khác

Nền kinh tế của khối Ả Rập Trung Đông hiện nay chủ yếu dựa vào dầu

mỏ thiên nhiên ở mấy nước vùng Vịnh với trữ lượng bằng 1/4 khối lượng dầucủa thế giới Nhưng họ không có độc quyền tăng giá dầu vì các việc tiêu thụ,phân phối và sản xuất không nằm trong tay họ Lợi nhuận khổng lồ của những

mỏ dầu không đem lại lợi ích nào cho quần chúng vì nó đã chui hết vào túi củagiới lãnh đạo tại các nước Bahrain, Jordan, Maroc, Koweit, Ả rập-Xêút

1.2 Islam ở Ấn Độ

1.2.1 Sự du nhập Islam vào Ấn Độ

Trước năm 1947, Ấn Độ là một lãnh thổ rất rộng lớn, thường được gọi làTiểu Lục Địa Ấn Độ (The Subcontinent of India) vì nó bao gồm cả nước Ấn

Trang 31

Độ, Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka Tổng số tín đồ Islam trên tiểu lục địanày là 250 triệu người7.

Theo lịch sử Islam thì đạo này đã được truyền bá vào tiểu lục địa Ấn Độlần đầu tiên vào năm 711, khi quân Islam Ả Rập đánh chiếm tỉnh Sind, nay làPakistan Vai trò truyền đạo chủ yếu do những người Thổ Nhĩ Kỳ nói tiếng Ba

Tư vì họ là những người theo Islam rất sớm Họ có biệt tài cưỡi ngựa, bắncung, đấu kiếm và rất hiếu chiến như quân Mông Cổ sau này Trong hai thế kỷ

7 và 8, những đoàn kỵ binh Thổ Nhĩ Kỳ đã lấn chiếm toàn Bắc Ấn và Trung Á.Đến thế kỷ 11, toàn miền Bắc Ấn theo Islam, trong đó có tỉnh Ghaznawid, nay

là nước Afganistan Vào năm 1206, Thổ Nhĩ Kỳ cai trị Ấn Độ đã biến nước nàythành “Quốc Gia Islam Ấn Độ” (Muslim State of India) đặt thủ đô tại La Hore.Năm 1555, Hoàng Đế Humayun của đế quốc Mông Cổ Islam (Mughuls) chiếmtoàn thể lãnh thổ Ấn Độ và cai trị xứ này từ đó đến năm 1858 (303 năm) thì bị

đế quốc Anh thay thế Trong 3 thế kỷ dưới sự thống trị của đế quốc Mughuls,nhiều người Ấn Độ đã bỏ đạo Hindu theo Islam

Từ đầu năm 1946, tại khắp nước Ấn Độ xảy ra nhiều vụ xung đột đẫmmáu giữa Islam và Ấn Giáo Ngày 14-8-1947, người Anh trao trả độc lập cho

Ấn Độ nhưng tách tỉnh Sind có đại đa số dân theo Islam thành một nước riênggọi là Pakistan Theo tiếng địa phương, Pakistan có nghĩa là “Đất của ngườitheo Islam” (Land of Muslims) Người Hoa gọi Pakistan là Hồi Quốc HồiQuốc có hai phần là Đông Hồi và Tây Hồi

Sau khi tiểu lục địa Ấn Độ chia ra thành hai nước theo tôn giáo, những cuộc di

cư vĩ đại đã xảy ra: Những người Islam từ các vùng thuộc Hindu giáo di cư đếnPakistan Ngược lại, những người Hindu giáo tại Pakistan di cư về Ấn Độ Tuynhiên, có nhiều người đã không di cư và đành phải ở lại với những người kháctôn giáo Riêng tại vùng thung lũng sông Hằng (The Ganges Valley) còn ở lại

40 triệu người Hindu giáo Những tỉnh có đông dân theo Islam như Kashmire,Jammu, Punjale và Bengal lại được người Anh chia cho Ấn Độ kiểm soát Tổng

số người theo Islam tại các tỉnh này lên tới 20 triệu Từ 1948 đến nay, tại những

7

Sharma, Usha Cultural and Religious Heritage of India: Islam Mittal Publications, 2004 ISBN 7099-960-X, 9788170999607

Trang 32

81-vùng xôi đậu này thường xuyên xảy ra những vụ xung đột đẫm máu giữanhững người anh em cùng một chủng tộc nhưng khác tôn giáo Trên toàn lãnhthổ Ấn Độ có gần 160.9 triệu (2009)8 dân theo Islam.

1.2.2 Những đóng góp của Islam đối với Ấn Độ

có nghĩa là “Arabic” thuộc về Ả Rập) Maharaja Jaisigh ở Jaipur (1743-1800)

đã cho xây dựng những đài quan sát ở Jaipur, Delhi, Mathura, Benares và

Ujjain, ông cũng đã dịch cuốn Al – Majisti từ tiếng Ả Rập sang tiếng Sanskrit.

Nghệ thuật phong thủy cũng được vay mượn từ Ba Tư

Về y học

Người Islam đã giới thiệu đến Ấn Độ những phương pháp chữa bệnhcủa Hy Lạp mà người Ả Rập đã học được từ người Hy Lạp Chính bản thân họ

đã học hỏi Ayurveda của Ấn Độ và học cách sử dụng tro kim loại và các chất

axit hóa học trong việc trị bệnh cho con người Cùng với việc du nhập giấy,những cuốn sách trước kia được viết trên lá cọ và lá cây bulô thì giờ đây đượcviết bằng giấy

Về kiến trúc

Quá trình kết hợp những yếu tố Islam và Hinđu giáo được bắt đầu từnhững ngày đầu của vương triều Sultan Delhi Các nhân tố mới được giới thiệutrong kiến trúc Ấn Độ bao gồm: sự sử dụng các khuôn mẫu (thay vì các hìnhdáng tự nhiên), nghệ thuật khắc chữ sử dụng chữ thư pháp hay các chữ trangtrí;trang trí khảm và sử dụng đá cẩm thạch màu sắc, sơn tường và ngói được látmen màu sắc rực rỡ Nhà thờ Islam Quwwat-ul-Islam được xây dựng năm

1193 CE là nhà thờ đầu tiên được xây dựng tại tiểu lục địa Ấn Độ; “Tháp chiếnthắng” kế bên nó, Qutb Minar cũng bắt đầu vào khoảng năm 1192 CE, đánh

8 CIA's The World Factbook – India

Trang 33

dấu sự chiến thắng của Muhammad Ghori và Qutbuddin Aibak, từ Ghazni,Afghanistan, vượt qua những vị vua Rajput, hiện nay là một di sản văn hóa thếgiới được UNESCO công nhận tại Dehli.

Đối lập với kiến trúc Ấn Độ bản địa, là một kiểu kiến trúc có xà ngangnhư tất cả các khoảng trống được nối với nhau bằng các xà ngang, kiến trúcIslam đều hình cung, ví dụ một mái vòm hoặc một mái hình cung được chọnlàm đại diện cho cách thức vắt ngang khoảng trống Khái niệm về mái vòm hayvòng cung không được phát hiện ra bởi người Islam nhưng thực tế, nó đượcmượn và được làm cho hoàn thiện hơn bởi người Islam từ phong cách kiến trúchậu thời La Mã cổ đại Người theo Islam đã sử dụng một chất (xi- măng) dướidạng hồ, vữa cho lần đầu tiên trong xây dựng nhà cửa tại Ấn Độ Họ tiếp tục sửdụng phương pháp máy móc và khoa học hơn Phương pháp này được tìm thấynguồn gốc bởi những kinh nghiệm từ những nền văn minh khác, trong xâydựng tại Ấn Độ Sự sử dụng các nguyên lí như vậy đã giúp không chỉ giànhđược sự bền vững và chắc khỏe hơn trong các vật liệu xây dựng mà còn cungcấp sự linh động hơn đối với các kĩ sư và người xây dựng Một thực tế mà phảiđược nhấn mạnh ở đây là rằng, các yếu tố Islam trong kiến trúc đã vượt quađược các giai đoạn thực nghiệm khác nhau trong các nước khác như Ai Cập,Iran và Iraq trước khi chúng được giới thiệu đến Ấn Độ Không giống như hầuhết các đài tưởng niệm tại các quốc gia này, phần lớn được xây dựng bằnggạch, vôi và cao su, các đài tưởng niệm Ấn Độ- Islam là những tác phẩm bằngvữa điển hình đã tạo nên những khối đá đẹp mắt Người ta cũng nhấn mạnhrằng sự phát triển của kiến trúc Islam Ấn Độ đã được làm cho dễ dàng bởinhững kiến thức và kĩ năng được sở hữu bởi những thợ thủ công Ấn Độ, nhữngngười tinh thông nghệ thuật của các công trình đá nhiều thế kỉ và đã áp dụngnhững kinh nghiệm của mình trong khi xây dựng các đài tưởng niệm Islam tại

Ấn Độ

Kiến trúc Islam tại Ấn Độ có thể được chia làm hai phần: tôn giáo vàkhông thuộc tôn giáo Các nhà thờ và lăng mộ đại diện cho kiến trúc tôn giáo,trong khi đó các cung điện và các pháo đài là điển hình cho kiến trúc thế tục(tức không thuộc tôn giáo) Các pháo đài thì vững chắc và thực dụng cần thiết

Trang 34

với một thành phố rất nhỏ bên trong và các công sự để chiến đấu và đẩy lùi kẻthù.

Nhà thờ Islam giáo: nhà thờ hay masjid là đại diện cho cho nghệ thuậtIslam trong dạng thức đơn giản nhất của nó Nhà thờ cơ bản là một cửa mởđược bao quanh bởi một bờ hiên cột, bao quanh đỉnh là một mái vòm MộtMihrab chỉ ra hướng cầu nguyện Qibla cho người cầu nguyện Hướng tới bênphải của Mihrab là Mimbar hay còn gọi là bục giảng kinh nơi mà các Imam chủtrì các nghi thức Một nền cao hơn, thường là tháp từ nơi mà các tín đồ sùngđạo được triệu tập để tham gia cầu nguyện là một phần bất biến trong một nhàthờ Islam giáo Những nhà thờ lớn hơn nơi mà các tín đồ tập trung vào thứ 6được gọi là Jama Masjids

Các lăng mộ: các lăng mộ hay Maqbara được giới thiệu như là một kháiniệm kiến trúc hoàn toàn mới Trong khi các Masjid chủ yếu được biết đến vìtính đơn giản thì một lăng mộ có thể xếp từ một thứ đơn giản (phần mộ củaAurangazeb) đến một kiến trúc huy hoàng được bao phủ bởi sự hùng vĩ (TajMahal) Lăng mộ này thường bao gồm một phần vắng vẻ hoặc một căn phòngđược biết đến như là hurzah mà chính giữa nó là bia tưởng niệm hay Zarih.Kiến trúc đơn thuần này được bao phủ bằng một mái vòm phức tạp Trong cănphòng dưới mặt đất đặt một nhà xác hay Maqbara, nơi mà các xác chết đượcchôn cất trong một ngôi mộ hay qabr Những lăng mộ nhỏ hơn có thể có mộtmihrab, mặc dù các lăng mộ lớn hơn có một nhà thờ riêng đặt tại một khoảngcách từ lăng mộ chính Thông thường, khu liên hợp lăng mộ tổng thể hay rauzađược bao quanh bởi một hàng rào

Lăng mộ của một vị Thánh Islam được gọi là Dargah Hầu hết, tất cả cácđài tưởng niệm Islam với giả thiết là sử dụng những vần thơ tự do từ kinhQuran và một số lượng lớn thời gian được trải nghiệm trong khắc ra những chitiết kĩ lưỡng trên tường, trần nhà, cột nhà và mái vòm

Kiến trúc Islam tại Ấn Độ có thể được phân loại thành ba phong cách:Dehli hay phong cách uy nghi (1191 đến 1557 sau công nguyên), phong cáchtỉnh lẻ, bao quanh bởi các vùng lân cận như Jaunour và Deccan, và phong cáchkiến trúc Mughal (1526 đến 1707 SCN)

Trang 35

Luật pháp và chính trị

Người theo Islam tại Ấn Độ được cầm quyền bởi “luật Islam” (Shariat)hoạt động ứng dụng,1937.” Điều này hướng dẫn sự áp dụng luật Islam đối vớingười Islam trong việc kết hôn, Mahr (của hồi môn), ly hôn, tiền cấp dưỡng,quà, di chúc và thừa kế Các tòa án nói chung sẽ áp dụng luật Hanafi Sunni choIslam Sunnis, người Islam Shia khác nhau căn bản với tục lệ của Islam Sunni.Hiến pháp Ấn Độ đã đưa ra các quyền bình đẳng đối với tất cả các công dân bấtchấp tôn giáo của mình Điều 44 trong hiến pháp đã đưa ra một bộ luật chocông dân cả hai giới Tuy nhiên, những nỗ lực bởi người lãnh đạo chính trịthành công tại Ấn Độ để hợp nhất xã hội Ấn Độ dưới bộ luật công dân nóichung bị phản đối mạnh mẽ với tư cách là một nỗ lực để pha loãng đặc tính vănhóa của nhóm người thiểu số tại đất nước này Ủy ban luật Islam Ấn Độ đượcthành lập vì sự bảo vệ và tiếp tục sự áp dụng “Luật Islam” chẳng hạn như hànhđộng áp dụng Shariat tại Ấn Độ

Về hội họa

Thông qua sự kết hợp của phong cách Ấn Độ cổ và phong cách Iran, hội họa cũng phát triển một phong cách mới, tổng hợp được những néthấp dẫn của cả hai phong cách cơ sở

Về văn học và thơ ca

Có thể nói rằng văn học và thơ ca Urdu đạt được những thành tựu to lớn

và rực rỡ nhất là trong thời gian trị vì của vương triều Mughal Vào thờiMughal, tuy tiếng Ba Tư là ngôn ngữ thống trị và chính thức nhưng Urdu mới

là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong các tầng lớp Dưới thời cáchoàng đế Shah Jehan and Aurangzeb Alamgir, Urdu đã đạt đến độ hoàn thiện

Trang 36

Thế kỉ XVII, tiếng Urdu được coi là ngôn ngữ chính thức của tòa án Đây làmột bước phát triển mới của tiếng Urdu khi mà ngôn ngữ nay không đơn thuầnchỉ là ngôn ngữ văn học Bước sang thế kỉ XVIII la thời kì chứng kiến sự nở rộcủa các tác phẩm văn học Urdu đặc biệt là thơ Cũng tại thời điểm này, Urdu đãthay thế tiếng Ba Tư để trở thành ngôn ngữ chung của khu vực Các hoàng đếMughal rất chú ý đến ngôn ngữ này và đã khuyến khích việc phổ biến Urdutrong quần chúng Đặc biệt, Hoàng đế Mughal Shah Zafar Bahadur rất coitrọng các nhà thơ tiếng Urdu bởi vì phong cách độc đáo của mình Trong sốnhững nhà thơ của thế kỷ 19 Allama Iqbal Mohamad (1877-1938) là nhân vậtnổi bật, ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm và ý tưởng mang tính cáchmạng trong thơ Faiz Ahmad Faiz là nhà thơ nổi tiếng nhất và một nhà thơ xuấtsắc của thơ ca Urdu hiện đại Tác phẩm của ông xoay quanh các khái niệm củachủ nghĩa cộng sản và công bằng xã hội Ngoài thơ ca, các thể loại khác củavăn học Urdu cũng đạt được nhiều thành to lớn: truyện ngắn, văn xuôi, tiểuthuyết….

1.3.Báo chí – tự do ngôn luận, một số lý thuyết

Trong lí luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng đang tồn tại hai cáchhiểu: Một là, tri thức, tư tưỏng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộcsống Hai là, sự loan báo cho mọi người biết Theo cách hiểu thứ nhất, thông tinthể hiện tính chất khởi đầu, khởi điểm (tương tự với khái niệm hình tượngtrong nghệ thuật, hàng hoá trong kinh tế - chính trị v.v ) Đây chính là một đặctrưng cơ bản của báo chí nói chung Còn theo cách hiểu thứ hai là sử dụng cácphương tiện kĩ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thếgiới xung quanh Như vậy thì thông tin cũng chính là chức năng của báo chí(theo nghĩa là sử dụng phương tiện kĩ thuật để phổ biến kết quả lao động sángtạo của nhà báo) Sau đây, chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm thông tin với tưcách là đặc trưng của báo chí

Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thựchiện mục đích của mình Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công

9 Dương Xuân Sơn, Cơ Sở Lý Luận Báo Chí Truyền Thông, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2011.

Trang 37

chúng Nó là “dụng cụ làm việc” của nhà báo, với sự giúp đỡ của dụng cụ đó,những công việc đa dạng và quan trọng được thực hiện Có thể coi những côngviệc của báo chí như một hệ thống xã hội đặc biệt Đó là lí do giải thích tại saobáo chí lại bao gồm tất cả các phương tiện thông tin thuộc những loại hình khácnhau (phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí và các phương tiện hỗ trợ khác) và ởnhững cấp độ khác nhau (từ trung ương đến địa phương), với ý nghĩa là “cácphương tiện thông tin đại chúng”

Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều cách sử dụngkhác nhau Có trường hợp, các nhà báo sử dụng nó đề biểu thị tính chất chungnhất của các thông báo ngắn, không kèm theo lời phân tích, bình luận về một

sự kiện mới (như tin vắn hay tin ngắn) Trong trường hợp khác, nó được dùng

đế chỉ tất cả các thể loại được dùng để ghi chép những sự kiện, hiện tượng mớinhư: tin tức, tường thuật, phỏng vấn Nhiều khi một tin ngắn cũng được gọi là

“thông tin” (Ví dụ: tôi vừa nhận được một thông tin quan trọng) Đầy là cáchhiểu theo nghĩa hẹp, vì tin trên báo chí chỉ là một phần nhỏ của tất cả các tưliệu được công bố (Một chương trình thời sự của đài truyền hình, bản tin mớicủa đài phát thanh hay “tin tức thế giới” trên các báo ) Nhưng bất cứ tácphẩm báo chí nào (tin vắn, phim tài liệu, tin của đài phát thanh ) cũng đềuchứa đựng thông tin Mặt khác, các tiêu để cũng hàm chứa một lượng thông tinnhất định: vị trí của tác phẩm trên các cột báo, chương trình truyền hình, giọngđọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo dườngnhư chúng đều có chứa đựng thông tin, nghĩa là chúng đều có tác dụng làm chotác phẩm hấp dẫn hơn nhưng vẫn giữ nguyên phần tư liệu của nó (Ví dụ như

cỡ chữ của một bài báo có tác dụng nhấn mạnh tầm quan trọng của thông tinchứa đựng trong bài báo đó) Tóm lại, “thông tin” là cách gọi truyền thôngtrong nghề báo, theo nghĩa chính xác nhất của từ này thì đó là “thông tin sựkiện” Ngoài ra, trên báo, trong chương trình phát thanh hay trên vô tuyếntruyền hình còn có “thông tin lí luận”, “thông tin giải thích”, “thông tin nghệthuật” v.v

Thuật ngữ “thông tin” còn có cách hiểu rộng hơn Để hiểu thuật ngữ nàymột cách đầy đủ, đòi hỏi phải xem xét từ sự ứng dụng riêng biệt Chúng ta có

Trang 38

thể gọi “toàn bộ các tác phẩm”, hay “hệ thống những tin tức” là thông tin.Như vậy, thuật ngữ “thông tin” nhiều khi còn được hiểu như một danh từ tậphợp Khi xem xét khái niệm thông tin trong? hệ thống khái niệm của lí luận báochí thì cách hiểu như vậy không phù hợp, vì ý nghĩa riêng của thuật ngữ “thôngtin” thường dược sử dụng theo thói quen hay theo kinh nghiệm Ví dụ, khi ngheđài hay đọc báo mà người đọc không thu nhận được điều gì mới mẻ, họ sẽ nói:

“tác phẩm nghèo thông tin” thậm chí là “không có thông tin” Điều này đườngnhư vô lí Nhiệm vụ của báo chí là mang thông tin đến cho công chúng nhưngtại sao họ lại không tìm thấy chúng trong tác phẩm? Thế nhưng đây là điều cóthật khi thông tin không phản ánh được thực tế cuộc sống, không thoả mãn nhucầu của công chúng

Ở dạng hoàn chình, khái niệm thông tin chứa đựng nội dung rất phongphú; nó có quan hệ trực tiếp đến chức năng và hiệu quả của công tác báo chí,đến “nguyên tắc” cung cấp thông tin, đến những yêu cầu nghiệp vụ báo chí vànhững nguyên tắc tác động lẫn nhau của các mặt nói trên Khái niệm “thôngtin” là nền tảng của công tác báo chí, cho nên khi nghiên cứu lí luận báo chícần chú ý đến ý nghĩa của thuật ngữ này Nhận thức về thông tin phát triển songsong vói nhận thức về chức năng và đối tượng phản ánh của báo chí Muốn có

sự nhận thức đúng đắn về thông tin, cần xác định được mục đích hoạt động củabáo chí, đồng thời phải nêu lên định hướng có tính nguyên tắc cho những hoạtđộng thực tiễn của một nền báo chí Sự định hướng rõ ràng sẽ trang bị cho nhàbáo phương pháp thông tin và biết cách vận dụng thông tin có hiệu quả để thựchiên chức năng của báo chí: Một hướng quan trọng trong cách tiếp cận thôngtin báo chí là mỗi chương trình, mỗi tác phẩm phải được xem xét kĩ lưỡngtrong hệ thống những mối quan hệ giữa báo chí và công chúng Tác phẩm báochí (trong lí luận về thông tin thường dùng thuật ngữ “bài báo”) là điểm trunggian (cầu nối) của hệ thống Nhà báo - Tác phẩm - Công chúng

Tác phẩm (bài báo, chương trình phát thanh hay truyền hình) do nhà báochuẩn bị và được in trên báo hay phát sóng Đối với công chúng, tác phẩm báochí mới chỉ thê hiện qua chất lượng của thông tin tiềm năng Bởi vì nhữngthông tin đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận Có nhiều tác phẩm (bài

Trang 39

báo) giữ vai trò là “cầu nối”, phục vụ cho việc trao đổi thông tin giữa nhà báo

và công chúng, nhưng công chúng không tiếp nhận, mặc dù tác phẩm (haychương trình) đã được đăng báo hay phát sóng Hiện tượng đó diễn ra khi côngchúng không đọc báo, không xem truyền hình hay không nghe đài (có nhiều lí

do dẫn đến hiện tượng này, chẳng hạn như kĩ thuật in kém, sóng truvển hìnhyếu v.v nhưng quan trọng hơn cả mà người làm báo cần chú ý là bài viết, haychương trình phát thanh, truyền hình không hấp dẫn được người đọc, ngườixem, người nghe) Trong những trường hợp như vậy, mối quan hệ nhà báo - tácphẩm - công chúng bị phá vỡ Điểu đó dẫn đến tình trạng là không có khả năngchuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực Thông tin hiện thực lànhững thông tin được nhà báo sáng tạo và được công chúng tiếp nhận qua cácphương tiện thông tin đại chúng hoặc có thể họ là “người nhận thứ hai” (nghengười đã từng nghe, xem, đọc kể lại) Khi tìm hiểu về hiệu quả của thông tinnơi người nhận, chúng ta thấy là không phải các bản tin hay chương trình phátthanh, truyền hình đều được họ thừa nhận do nhiều người không đọc báo, họkhông hiểu được nội dung của bài báo Điều này nhắc nhở các nhà báo phảiquan tâm đến hiệu quả của chương trình Việc đảm bảo sự ổn định trong mốiquan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng được thể hiện qua các tác phẩm

và chương trình là rất cần thiết, đảm bảo cho thông tin tiềm năng trở thànhthông tin hiện thực Vì thế mà trong khoa học hiện đại có một cách định nghĩa

về thông tin như sau: Thông tin không chỉ đơn giản là tác phẩm báo chí mà lànhững tác phẩm báo chí khi đã được công chúng tiếp nhận Trong hoạt độngbáo chí, khi tìm hiểu về khái niệm thông tin cần đặt nó trong mối liên hệ trựctiếp với vấn để hiệu quả, tức là ảnh hưởng trực tiếp của thông tin đổi vối côngchúng, hướng dẫn nhận thức và giáo dục đạo đức cho họ để họ có hành độngđúng đắn Vì vậy, có thê đồng tình với định nghĩa: Thông tin là phần tri thứcđược sử dụng để định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản lí

xã hội, thực hiện mục đích giữ gìn những đặc điểm phẩm chất, sự hoàn thiện và

sự phát triển hệ thống (Như là phương tiện tác động trong mối quan hệ báo chí

- công chúng)

1.3.2 Các yếu tố và điểu kiện đảm bảo chất lượng thông tin

Trang 40

Trình độ nghiệp vụ của nhà báo được xác định bằng giá trị thực tiễn củathông tin, bằng khả năng sử dụng chúng vào những hoạt động thường xuyên.

Vì thế, vấn đề cơ bản của việc tiếp nhận thông tin - lí luận của báo chí là hìnhthành những nguyên tắc, dựa vào những nguyên tắc đó, nhà báo có thể điềuchỉnh hoạt động của mình để tạo ra những thông tin đạt tiêu chuẩn Những

“nguyên tắc” này phù hợp với ba hình thái quan hệ mà nhà báo thâm nhậptrong khi xây dựng từng tác phẩm riêng lẻ hay toàn bộ các tác phẩm trong mộtchương trình, hoặc trong cả hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng Mộttác phẩm báo chí đạt được các tiêu chuẩn của thông tin khi tác phẩm đó tổnghợp được các khía cạnh như ngữ nghĩa, cấu trúc (bố cục) và thực tiễn Ngữnghĩa của tác phẩm thể hiện mối liên hệ của tác phẩm đó với hiện thực, bố cục

là tính chất của cấu trúc tác phẩm, thực tiễn thể hiện các mối quan hệ của tácphẩm vối công chúng Bởi vì, thực tiễn là hướng chủ đạo, chứa đựng nhữngyếu tố tích cực trong quan hệ với ngữ nghĩa (phản ánh cái gì trong tác phẩm) vàvới bố cục (phản ánh như thế nào) Vì vậy, trước hết cần xem xét khía cạnhthực tiễn của tác phẩm

Khía cạnh thực tiễn xác định những điều kiện và nhân tố làm cho thôngtin tác động đến công chúng có hiệu quả nhất cho nên, tính chất thực tiễn củathông tin là tiêu chuẩn đế đánh giá giá trị của thông tin cao hay thấp, tức là cómang đến cho công chúng những thông tin phù hợp với nhu cẩu của họ không

và có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực không Muốn cho thông tin trong một tác phẩm báo chí có giá trị thực tiễn, ảnh hưởngtích cực đến công chúng, cần đảm bảo những điều kiện sau:

Một là: tính độc đáo của thông tin Sự biểu hiện của tính độc đáo rất

đơn giản Đó là cái mới của thông tin Cái mới là cái mà công chúng chưa biết.Nhưng cái mới không phải là yếu tố duy nhất thể hiện tính độc đáo Cùng với

sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, cỏ thể tái hiện thông tin cũ đã bị lãng quên, giúpcho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tôt hơn sự kiện mới Sự so sánhvới những cái đã biết sẽ giúp cho công chúng nhận thức cái mới tốt hơn để giảiquyết những vấn đề trước mắt, trả lời những câu hỏi mới Khi dùng lại nhữngthông tin cũ, cần được hệ thông hoá rõ ràng hơn, đầy đủ hơn và nghiêm túc hơn

Ngày đăng: 09/07/2018, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Iran- Đất nước và con người, Hossein Ebrahim Khani, Đỗ Thu Hà, Nguyễn Thị Thanh Hoa và Trần Thị Thái Hà biên soạn, NXB. Văn hoá Thông tin, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iran- Đất nước và con người
Nhà XB: NXB. Văn hoá Thông tin
3. Đỗ Thu Hà, Ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn học Ba Tư tại tiểu lục địa Ấn Độ, trong Việt Nam, Ấn Độ và Tây Nam Á: Những mối quan hệ trong lịch sử và hiện tại, NXB. Từ điển Bách khoa, 2013, trang 118 -135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn học Ba Tư tại tiểu lục địa ẤnĐộ, "trong "Việt Nam, Ấn Độ và Tây Nam Á: Những mối quan hệ trong lịch sử vàhiện tại
Nhà XB: NXB. Từ điển Bách khoa
4. Đỗ Thu Hà, Xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hoá tại Ấn Độ, Tạp chí Triết học, 11/2006, trang 46-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hoá tạiẤn Độ
5. Đỗ Thu Hà, Phong trào cải giáo tại Ấn Độ thế kỷ XIX- XX, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, ISSN: 1859-0403, số 06 và 07 (144 và 145), 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào cải giáo tại Ấn Độ thế kỷ XIX- XX
7. Bế Thị Hòa, (2008), Bản chất xung đột tôn giáo?, khóa luận, ĐH KHXH-NV (ĐH Quốc gia Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất xung đột tôn giáo
Tác giả: Bế Thị Hòa
Năm: 2008
9. Charlie Nguyễn, Thế giới Islam xưa và nay, NXB Giao Điểm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới Islam xưa và nay
Nhà XB: NXB Giao Điểm
10. Hồ Anh Thái, Xin chào Ấn Độ, NXB Văn nghệ, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xin chào Ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn nghệ
11. Thái Vĩnh Thắng, Hệ thống pháp luật Hồi giáo, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống pháp luật Hồi giáo
12. Trần Thị Minh Thu, Khái quát về Hồi giáo, theo Ban tôn giáo chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về Hồi giáo
13. Dương Xuân Sơn, Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, NXB. Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí truyền thông
Nhà XB: NXB. Đại Học QuốcGia Hà Nội
2. Lịch sử Trung Cận Đông in lần II, do Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Bích Hồng, Nguyễn Văn Sơn biên soạn, NXB. Văn hoá Thông tin, năm 2004 Khác
6. Lê Thanh Hà, Khái quát về lịch sử ra đời, phát triển của Islam và nội dung cơ bản của Hồi giáo Khác
8. Lê Anh Huy, Những sự kiện về Mohammed-giáo chủ Hồi giáo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w