1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ: Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

122 727 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 638 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khiếu nại, tố cáo là một là một trong những quyền cơ bản của công dân, là công cụ pháp lý để công dân đấu tranh đối với các hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đồng thời là hình thức dân chủ trực tiếp để công dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, với sự vào cuộc mạnh mẽ của các tổ chức chính trị - xã hội…, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của chúng ta trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo vẫn diễn ra hết sức phức tạp nhất là khiếu nại, tố cáo về đất đai; nhiều vụ trở thành điểm nóng, nhiều vụ khiếu nại, tố cáo đông người vượt cấp, cá biệt có vụ đã trở thành công cụ để các thế lực phản động lợi dụng chống phá Nhà nước Việt Nam XHCN. Nguyên nhân gia tăng số vụ việc khiếu nại, tố cáo và tính chất phức tạp của các vụ việc này là do chính sách pháp luật của chúng ta còn nhiều bất cập, chồng chéo, thiếu các quy định cụ thể; bản thân các cơ quan được giao nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa hợp lý; những người làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa được đào tạo nghiệp vụ chính quy. Là một cán bộ đang công tác tại cơ quan thanh tra thành phố, cơ quan chuyên môn giúp UBND thành phố trong công tác thanh tra và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, tôi luôn day dứt là làm thế nào để công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt được hiệu quả cao, hạn chế được số lượng các vụ khiếu nại, tố cáo nhất là khiếu nại, tố cáo về đất đai. Đây là lý do tôi chọn đề tài “Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội” để thực hiện Luận văn cao học chuyên ngành Bất động sản và Kinh tế tài nguyên.

Trang 1

trần trung

giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên

địa bàn thành phố hà nộiChuyên ngành: bất động sản và kinh tế tài nghuyên

ngời hớng dẫn khoa học: gs TSKH nguyễn đình thắng

Hà Nội – 201 201 1

Trang 2

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI 6

1.1 Khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 6

1.1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo về đất đai 6

1.1.2 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 13

1.2 Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 32

1.3 Hình thức giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 35

1.4 Phương pháp giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 36

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 38

2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố Hà Nội 38

2.2 Các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội 39

2.3 Đặc điểm của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội 42

2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà nội 49

2.4.1 Nhân tố con người 49

2.4.2 Nhân tố pháp luật 51

2.4.3 Nhân tố về cơ sở vật chất 53

2.5 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội 53

2.5.1 Những kết quả đạt được trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội 53

Trang 3

Hà Nội 66

2.6.1 Vụ tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình ông Nguyễn Văn Túc và ông Nguyễn Trọng Hải tại phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai 66

2.6.2 Vụ thanh tra đất đai tại địa bàn phường Định Công, quận Hoàng Mai 69

2.6.3 Về vụ tố cáo của công dân xã Liên Hà, huyện Đan Phượng 70

Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 72

3.1 Về nhận thức tư tưởng 72

3.2 Về xây dựng và hoàn thiện pháp luật 74

3.3 Tổ chức thực hiện pháp luật đất đai và pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 83

3.4 Bảo vệ pháp luật khiếu nại, tố cáo về đất đai 89

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 4

HĐND : Hội đồng nhân dân UBND : Uỷ ban nhân dân

TNMT : Tài nguyên môi trường

Trang 5

Bảng 2.1 Tổng hợp về KNTC có liên quan đến đất đai từ năm 2001 đến năm

2008 của toàn thành phố Hà Nội 56 Bảng 2.2 Phân tích thực trạng KNTC về đất đai từ năm 2001 đến năm 2008 trên

toàn thành phố Hà Nội 57 Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai từ năm 2001

đến năm 2008 trên địa bàn toàn thành phố Hà Nội 57 Biểu đồ 2.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai của Thành phố Hà Nội từ năm

2001 đến 2008 56

Trang 6

trần trung

giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên

địa bàn thành phố hà nộiChuyên ngành: bất động sản và kinh tế tài nghuyên

Hà Nội – 201 201 1

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khiếu nại, tố cáo là một là một trong những quyền cơ bản của công dân, là công

cụ pháp lý để công dân đấu tranh đối với các hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; đồng thời là hình thức dân chủ trực tiếp để công dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, với sự vào cuộc mạnh mẽ của các tổ chức chính trị - xã hội…, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của chúng ta trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến rất đáng khích lệ Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo vẫn diễn ra hết sức phức tạp nhất là khiếu nại, tố cáo về đất đai; nhiều vụ trở thành điểm nóng, nhiều vụ khiếu nại, tố cáo đông người vượt cấp, cá biệt có vụ

đã trở thành công cụ để các thế lực phản động lợi dụng chống phá Nhà nước Việt Nam XHCN

Nguyên nhân gia tăng số vụ việc khiếu nại, tố cáo và tính chất phức tạp của các vụ việc này là do chính sách pháp luật của chúng ta còn nhiều bất cập, chồng chéo, thiếu các quy định cụ thể; bản thân các cơ quan được giao nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa hợp lý; những người làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa được đào tạo nghiệp vụ chính quy

Là một cán bộ đang công tác tại cơ quan thanh tra thành phố, cơ quan chuyên môn giúp UBND thành phố trong công tác thanh tra và giải quyết đơn thư khiếu nại,

tố cáo, tôi luôn day dứt là làm thế nào để công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt được hiệu quả cao, hạn chế được số lượng các vụ khiếu nại, tố cáo nhất là khiếu nại,

tố cáo về đất đai Đây là lý do tôi chọn đề tài “Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

trên địa bàn thành phố Hà Nội” để thực hiện Luận văn cao học chuyên ngành Bất

động sản và Kinh tế tài nguyên.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bộ máy nhà nước về đất đai chưa thể hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của người dân một cách tốt nhất Những hạn chế về năng lực, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức và vận hành bộ máy nhà nước chưa có hiệu quả cao; đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn và sự hạn chế trong nhận thức của người dân đã làm cho khiếu nại, tố cáo nhất là khiếu nại, tố cáo về đất đai đã trở thành vấn đề mang tính thời sự

Chính vì vậy mà khiếu nại, tố cáo trở thành vấn đề nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học quản lý Với nhiều

Trang 8

góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có nhiều bài viết và một số cuốn sách, đề tài khoa học nghiên cứu làm rõ thực trạng khiếu nại, tố cáo; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, từ đó đề ra giải pháp để hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn, vì vậy, mục tiêu của Luận văn là phân tích làm rõ cơ sở lý luận của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội; đánh giá thực trạng của việc giải quyết đó, lập luận

để đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, Luận văn có nhiệm vụ phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức và phương pháp giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội và những điều kiện cần thiết cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội trên các phương diện ưu, khuyết điểm và vạch ra những nguyên nhân chủ yếu của ưu, khuyết điểm ấy; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội trên các mặt nhận thức tư tưởng, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở thành phố Hà Nội.

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của các cơ quan hành chính ở một địa phương, cụ thể là thành phố Hà Nội trong giai đoạn tám năm (từ năm 2001 đến năm 2008).

5 Ý nghĩa và dự kiến những đóng góp của Luận văn

Đây sẽ là đề tài đầu tiên nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

Những giải pháp mà Luận văn đưa ra sẽ giúp các nhà lãnh đạo, những người đang được giao trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các địa phương nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng vận dụng để nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Trang 9

6 Bố cục của Luận văn (ngoài phần mở đầu và kết luận) gồm:

Chương 1 Cơ sở khoa học của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; Chương 2 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn

thành phố Hà Nội;

Chương 3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo

về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội.

1.1.1 Khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

- Khái niệm khiếu nại

Theo khoản 1, Điều 2, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi bổ

sung năm 2004 và năm 2005) thì “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức

hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành

vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”

- Khái niệm khiếu nại về đất đai

Có thể hiểu khiếu nại về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức theo quy

định của Luật khiếu nại, tố cáo và Luật đất đai đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính hay hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình

- Khái niệm tố cáo

Theo quy định tại khoản 2, Điều 2, Luật khiếu nại, tố cáo thì “Tố cáo là việc

công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”

- Khái niệm tố cáo về đất đai

Trang 10

Có thể hiểu tố cáo về đất đai là việc công dân theo quy định của Luật khiếu

nại, tố cáo và Luật đất đai báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức về đất đai.

- Khái niệm giải quyết khiếu nại và thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Tại khoản 13, Điều 2 của Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi,

bổ sung năm 2004, năm 2005) thì giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và

ra quyết định giải quyết của người giải quyết khiếu nại

- Giải quyết khiếu nại về đất đai

Cũng như việc giải quyết khiếu nại nói chung, giải quyết khiếu nại về đất đai

là hoạt động xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người có thẩm quyền đối với việc khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong việc quản lý đất đai.

- Khái niệm giải quyết tố cáo và thẩm quyền giải quyết tố cáo

Theo quy định tại khoản 14, Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa

đổi bổ sung năm 2004, 2005) thì Giải quyết tố cáo là việc xác minh, kết luận về nội

dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người tố cáo.

Thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo Cụ

thể như sau: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết; tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức

nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Tố cáo hành vi

vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.

- Giải quyết tố cáo về đất đai

Theo quy định tại Điều 139 Luật đất đai năm 2003 giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo Tức là cũng tiến hành xác minh, kết luận, quyết định xử lý tố cáo và thẩm quyền cũng được quy định như trường hợp giải quyết tố cáo nói chung Tuy nhiên, giải quyết tố cáo về đất đai thường phức tạp, kéo dài do hồ sơ, tài liệu có liên quan thường nằm ở nhiều cơ quan, trải qua nhiều năm và hơn nữa là vì giá trị của đất đai ngày càng lớn.

1.2 Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

- Nghiên cứu đơn của người khiếu nại, tố cáo về đất đai xem họ khiếu nại, tố

Trang 11

cáo quyết định, hành vi của ai, của cơ quan, tổ chức nào; họ có đòi quyền lợi không

và là quyền lợi gì

- Tổ chức tiếp người khiếu nại, tố cáo về đất đai để làm rõ nội dung khiếu nại, tố cáo có đủ điều kiện để thụ lý không, đồng thời làm rõ các vấn đề nêu trong đơn của họ.

- Làm việc với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan để thu thập hồ

sơ, tài liệu, chứng cứ cần thiết làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Đối chiếu các quy định của pháp luật để giải quyết khiếu nại, tố cáo Trên

cơ sở các thông tin, tài liệu đã thu thập được, cơ quan có thẩm quyền đối chiếu với các quy định của pháp luật để quyết định nội dung khiếu nại là đúng hay sai, tố cáo

có cơ sở hay không có cơ sở.

1.3 Hình thức giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

- Theo Luật Khiếu nại, tố cáo sửa đổi, bổ sung năm 2005: Mọi khiếu nại được

giải quyết theo hai cấp hành chính, người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ việc ra Tòa

án ở bất kỳ lần giải quyết nào trong quá trình giải quyết khiếu nại.

Còn đối với tố cáo thì trên thực tế hành vi tố cáo rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực nên giải quyết thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau, do vậy cần phải

có những nguyên tắc chung nhất để xác định thẩm quyền của các cơ quan trong việc giải quyết tố cáo Trên tinh thần đó, Điều 59 Luật khiếu nại, tố cáo đưa ra nguyên tắc sau: “Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.”

1.4 Phương pháp giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai.

Để làm rõ nội dung khiếu nại là đúng hay sai, nội dung tố cáo có cơ sở hay không có cơ sở Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải tiến hành xác minh, xem xét, thẩm tra đối với các quyết định, hành vi bị khiếu nại, tố cáo Cụ thể: làm việc với người khiếu nại, tố cáo; thu thập hồ sơ, tài liệu; làm việc với cơ quan, tổ chức,

cá nhân có liên quan; kiểm tra hiện trường; đối thoại với người khiếu nại, tố cáo; cần thiết thì tổ chức đối thoại giữa các bên hoặc trưng cầu giám định

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

2.1 Đặc điểm cơ bản của thành phố Hà Nội

Hà Nội là thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích tự nhiên và đứng thứ hai về diện tích đô thị sau thành phố Hồ Chí Minh, nó cũng đứng

Trang 12

thứ hai về dân số với 6,472 triệu người Do đặc điểm về diện tích và dân số lớn như vậy, dẫn đến công tác quản lý về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội trở nên rất khó khăn và phức tạp Hệ lụy đó dẫn đến các khiếu nại và tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố thường xuyên diễn ra với số lượng lớn về số vụ và tính chất phức tạp của các vụ việc.

Hà Nội là trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của cả nước Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay có diện tích 3.344,7 km², gồm một thị xã, 10 quận và 18 huyện ngoại thành Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả quốc gia Việc hợp nhất Hà Nội và Hà Tây có nhiều lợi thế cũng như thách thức lớn hơn đối với Đảng bộ chính quyền thành phố Các vụ việc khiếu nại, tố cáo không chỉ tập trung vào việc giải quyết tranh chấp đất của đơn lẻ các hộ gia đình cá nhân mà còn tăng về số vụ việc liên quan đến đất các dự án khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, sinh thái Điều này liên quan phần lớn đến cơ chế chính sách của Hà Nội và Hà Tây có sự khác biệt tạo điều kiện cho một số tổ chức sử dụng đất chiếm dụng đất bất hợp pháp, trốn tránh nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất bằng cách lách các kẽ hở của luật pháp…

2.2 Các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, Luật đất đai năm 2003, quyền khiếu nại, tố cáo vẫn được khẳng định là một trong các quyền cơ bản của người sử dụng đất Tại điều 105, Khoản 6 Luật đất đai đã quy định rõ người sử dụng đất có

quyền “khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất

hợp pháp của mình và những hành vi khác vi pháp luật về đất đai”.

Các quy định chủ yếu về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội:

Thực hiện Thông báo số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị về

“Tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới”, Chương trình hành động số 35-Ctr/TU ngày 13/6/2008 của

Thành uỷ; Ngày 03/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 05/ KH-UBND tập trung thực hiện tốt công tác tiếp công dân và xem xét, kết luận các

vụ khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền

Ngày 01/4/2010, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 13/2010/QĐ-UBND về Quy định tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc

Thành phố Hà Nội (thay thế cho Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008

của UBND Thành phố) để phù hợp với quy định tại Điều 21 Nghị định

Trang 13

84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định về quy trình giải quyết đơn thư của công dân phản ánh, khiếu nại về cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở trên địa bàn Thành phố.

Ngày 17/9/2009, UBND thành phố ban hành Quyết định số 4825/QĐ-UBND

về việc thành lập và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức Ban Tiếp công dân của UBND thành phố Hà Nội

Ngoài ra, khi xem xét một vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai, ngoài các văn bản kể trên còn phải sử dụng Luật đất đai, Luật cán bộ, công chức và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan theo từng thời kì để ban hành quyết định giải quyết chính xác, công minh.

2.3 Đặc điểm của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.3.1 Về văn hoá và nhận thức của người khiếu nại, tố cáo về đất đai

Cũng như mặt bằng trong cả nước, ở Hà Nội những người khiếu nại, tố cáo nói chung và người khiếu nại, tố cáo về đất đai nói riêng thường có mặt bằng văn hoá thấp, nhận thức pháp luật nhất là pháp luật khiếu nại, tố cáo về đất đai còn hạn chế

2.3.2 Về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

- Về cơ cấu, tổ chức các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo

Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và phân cấp thẩm quyền của hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo chính là hệ thống ba cấp cơ quan quản lý địa phương gồm: UBND xã, phường, thị trấn; UBND huyện, quận, thị xã; UBND thành phố; Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn; Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã; Chủ tịch UBND thành phố và Thủ trưởng các phòng, ban trực thuộc UBND huyện, quận, thị xã; thuộc các sở, ban ngành

- Về thẩm quyền của các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo

Do đặc điểm của tổ chức bộ máy hành chính và thẩm quyền, trách nhiệm được pháp luật đất đai và khiếu nại, tố cáo quy định, các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo có thẩm quyền: tự mình hoặc giao cho các cơ quan chuyên môn trực thuộc tổ chức tiếp người khiếu nại, tố cáo để làm rõ nội dung khiếu nại, tố cáo và kiến nghị; xác minh, xem xét, thẩm tra, thu thập hồ sơ tài liệu, kiểm tra hiện trường làm cơ sở giải quyết; trưng cầu, giám định; đối thoại với giữa các bên có liên quan; ban hành kết luận, quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo Như đã nêu trên, do hệ thống phân cấp quản lý và quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo thì nhiều trường hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo là do cơ quan cấp trên xem lại việc

Trang 14

làm của cơ quan cấp dưới, do đó trong trường hợp này cơ quan giải quyết có quyền buộc cơ quan bị khiếu nại, bị tố cáo phải thực hiện quyết định, kết luận giải quyết của mình

2.3.3 Về pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Trên cơ sở các quy định của Luật đất đai năm 2003, Luật nhà ở năm 2005, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật xây dựng năm 2003, Luật thanh tra năm 2004, Luật đầu tư năm 2005 Thành uỷ, Hội đồng nhân dân và UBND thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyết định để điều chỉnh các hoạt động quản lý đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo như các Chỉ thị số 20-CT/TU ngày 31/8/2007, số 35-CT/TU ngày 13/6/2008 của Thành uỷ; Quyết định số 19/QĐ- UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố; các Nghị quyết số 03/NQ-HĐND ngày 05/8/2005, số 12/NQ-HĐND ngày 06/12/2007, số 22/NQ-HĐND của HĐND thành phố Với các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của Thành uỷ, Hội đồng nhân dân

và UBND, các cơ quan quản lý nhà nước cũng như người sử dụng đất, người khiếu nại, tố cáo đã có đường lối cụ thể để thực hiện

2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà nội

2.4.1 Nhân tố con người

- Về các nhà lãnh đạo

Trong thời gian vừa qua các nhà lãnh đạo của Thành uỷ, UBND thành phố

Hà Nội luôn quan tâm đặc biệt đến vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là khiếu nại, tố cáo về đất đai; đã xác định giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong năm nhiệm vụ trọng tâm của thành phố

- Về những người trực tiếp làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

Thông qua các chính sách thu hút nhân tài như miễn thi tuyển công chức đối với số sinh viên tốt nghiệp đại học đỗ thủ khoa, những thạc sỹ, tiến sỹ trẻ

- Những người làm việc trong hệ thống các tổ chức chính trị, xã hội.

Đây chính là một trong những điểm mạnh trong công tác giải quyết khiếu nại,

tố cáo của Hà Nội Trong thời gian vừa qua các tổ chức chính trị, xã hội như Mặt trận

tổ quốc, hội cự chiến binh, hội luật gia, hội liên hiệp phụ nữ đã tham gia tích cực vào việc vận động người khiếu nại, tố cáo thực hiện các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo nhất là trong các vụ khiếu nại, tố cáo về bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư khi thực hiện giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phát triển kinh

tế, đô thị

Trang 15

- Những người làm việc trong các Bộ, ngành trung ươngViệc tham gia của

cán bộ, công chức các Bộ, ngành đã giúp cho các cơ quan có thẩm quyền của thành phố hướng giải quyết đối với các vấn đề mà pháp luật chưa quy định cụ thể hoặc do

có mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật.

- Về người khiếu nại, tố cáo

Nhờ được sống và làm việc tại Thủ đô, trung tâm văn hoá chính, chính trị lớn của cả nước, người dân nói chung và những người khiếu nại, tố cáo nói riêng luôn được tiếp nhận lượng thông tin lớn về các vấn đề chính trị, xã hội, pháp luật

2.4.2 Nhân tố pháp luật

Hà Nội là địa phương đi đầu trong việc sớm triển khai thực hiện các văn bản pháp luật mới thông qua hình thức ban hành các văn bản pháp quy nhằm thực hiện các văn bản pháp luật đó

2.4.3 Nhân tố cơ sở vật chất

Là thành phố đứng đầu trong cả nước về các điều kiện kinh tế, xã hội do đó

cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng được chú trọng như: tủ sách pháp luật, máy tính sách tay, mạng internet giúp cho việc truy cập, tìm hiểu các thông tin pháp luật phục vụ cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được dễ dàng; các trang thiết bị và phương tiện đi lại, như: máy ảnh, máy ghi

âm, ô tô đã giúp cho người cán bộ, công chức làm nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp dân, đi lại, xác minh được đảm bảo.

2.5 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.5.1 Những kết quả đạt được trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Kết quả cụ thể số vụ khiếu nại, tố cáo về đất đai đã được giải quyết.

Trong những năm qua công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

nói chung và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ Cụ thể: đã kiến nghị thu hồi 29.886 triệu đồng, 289.930m 2 đất; điều chỉnh bổ sung cho người dân 588 phương án bồi thường khi giải phóng mặt bằng; kiến nghị trả cho dân 30.548 triệu đồng và 5.524

m 2 đất; thu hồi 31 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm

218 cán bộ có vi phạm và chuyển cơ quan điều tra 09 vụ Góp phần đáng kể vào việc ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố, tạo sự chuyển biến tích cực về hoạt động quản lý bộ máy các cơ quan nhà nước của thành phố

Trang 16

2.5.2 Những hạn chế, bất cập trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.5.2.1 Hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Thứ nhất, việc tiếp công dân ở nhiều quận, huyện, xã, phường còn mang tính

hình thức, kém hiệu quả; chưa gắn với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo Chưa tranh thủ thời gian tiếp dân để đối thoại với người khiếu nại, tố cáo; chất lượng đối thoại của cán bộ tiếp dân còn hạn chế Tình trạng hứa hẹn, đùn đẩy, né tránh hoặc giải quyết quá chậm làm cho người khiếu nại, tố cáo bức xúc, thiếu niềm tin

Thứ hai, việc giải thích, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo nhiều khi

không chính xác, không đúng thẩm quyền; có hiện tượng đơn chuyển đi rồi nhưng người khiếu nại, tố cáo không biết, dẫn đến việc họ lại gửi đơn đi nhiều nơi, thậm chí còn trực tiếp đến nhà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và thành phố.

Thứ ba, việc thực hiện quy trình giải quyết các vụ việc có một số khâu chưa

hợp lý, có nhiều lỗi trong quá trình thực hiện thủ tục tiến hành thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo

Thứ tư, thể thức và hình thức văn bản của các kết luận, quyết định giải quyết

khiếu nại, tố cáo chưa đúng quy định của pháp luật, thiếu thành phần

Thứ năm, ở một số UBND quận, huyện việc tiến hành hoạt động thanh tra,

thẩm tra, xác minh nội dung khiếu nại, tố cáo còn kéo dài

Thứ sáu, chất lượng giải quyết vụ việc của một số đơn vị chưa cao dẫn đến

việc người dân lại tiếp tục khiếu nại, tố cáo lên cấp trên

Thứ bảy, việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra kết quả thực hiện các quyết định giải

quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo chưa sát sao, chưa cụ thể

Thứ tám, công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm đối với các cấp, các ngành

trong việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo chưa được thực hiện thường xuyên

Thứ chín, công tác thông tin, báo cáo và quản lý, lưu trữ hồ sơ giải quyết

khiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế Số liệu báo cáo tình hình khiếu nại, tố cáo từ cấp dưới lên cấp trên không được chính xác, chưa phản ánh đầy đủ, kịp thời về tình hình khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo

2.5.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

- Nguyên nhân khách quan

+ Do cơ chế chính sách luôn thay đổi, thiếu đồng bộ nên khi kết luận, quyết định nhiều cơ quan đã áp dụng chính sách không giống nhau, từ đó làm cho việc khiếu nại của người dân ngày càng gay gắt, nhất là chính sách về đất đai, bồi

Trang 17

thường giải phóng mặt bằng có một số quy định chưa rõ ràng, chưa phù hợp với thực tiễn

+ Phần lớn người dân nhận thức về sở hữu đất đai không đồng nhất với quy

định của pháp luật hoặc một số người khi được Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã quan niệm đất đai là của họ và có quyền làm gì cũng được

+ Đối với các vụ việc khiếu nại về đất đai, tâm lý của người khiếu nại là không

muốn gửi đơn đến cơ quan Toà án nhưng lại thiếu tôn trọng quyết định giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước, dẫn đến việc khiếu nại kéo dài, khó có điểm kết thúc.

+ Chất lượng các dự án quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp chưa cao,

chưa đánh giá hết được tác động, hệ quả khi triển khai thực hiện dự án trên các khía cạnh như môi trường, sự thay đổi tâm lý cộng đồng dân cư, việc làm cho người bị thu hồi đất,

+ Luật đất đai, Luật khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án hành chính còn chồng chéo mâu thuẫn Chính sách, pháp luật về đất đai chưa theo kịp cơ chế kinh tế thị trường; đặc biệt là chính sách tài chính đất đai chưa điều tiết hoặc đã điều tiết, phân phối nhưng chưa hợp lý phần giá trị tăng thêm mang lại

từ đất cho các dự án đầu tư như trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư Luật khiếu nại, tố cáo còn nhiều bất cập, chưa cụ thể, khó thực hiện.

- Nguyên nhân chủ quan

+ Lãnh đạo một số đơn vị, cơ sở chưa thấy hết được tầm quan trọng và tính

cấp bách của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

+ Trong quá trình thực hiện chính sách đất đai, xây dựng ở nhiều cơ sở còn

thiếu công khai dân chủ, không đảm bảo trình tự, thủ tục, quy trình, quy phạm theo quy định

+ Khi thực hiện một số dự án giải phóng mặt bằng thu hồi đất của dân còn

nhiều thiếu sót trong thực hiện quy trình, chưa công khai minh bạch trong nhân dân về chính sách bồi thường nhất là các số liệu kiểm kê, áp giá bồi thường để nhân dân biết

+ Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức

hoạt động trong lĩnh vực quản lý đất đai ở địa phương còn nhiều hạn chế

+ Việc xử lý cán bộ vi phạm ở cơ sở và xử lý những sai phạm thông qua

giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo có nơi chưa kịp thời, chưa nghiêm túc

+ Công tác chỉ đạo giải quyết đơn thư thiếu tập trung, chưa kiên quyết, còn hữu

khuynh, né tránh, thiếu những biện pháp thiết thực để giải quyết dứt điểm từng vụ việc.

Trang 18

+ Việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật hành chính trong lĩnh vực giải quyết

khiếu nại, tố cáo có nơi chưa nghiêm; chỉ đạo của cấp trên chưa được cấp dưới thực hiện nghiêm túc

CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QỦA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1 Về nhận thức tư tưởng

- Nâng cao nhận thức của người dân nói chung và nhận thức của người khiếu nại, tố cáo về đất đai nói riêng.

Để giảm bớt các vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai thì trước hết, phải

thường xuyên chăm lo, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai, khiếu nại, tố cáo cho nhân dân, các quyết định giải quyết khiếu nại, xử lý tố cáo của cơ quan nhà nước được nghiêm túc thực hiện sẽ làm giảm đáng kể các vụ việc khiếu nai, tố cáo tiếp theo, tạo lòng tin đối với nhân dân.

- Nâng cao nhận thức của người làm chính sách đất đai, chính sách khiếu nại, tố cáo.

Khi xây dựng hay sửa đổi một văn bản qui phạm pháp luật mới, người làm chính sách cần thấm nhuần tinh thần xây dựng các điều khoản phải rõ ràng, dễ hiểu, đồng thời nắm chắc các quy định của các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan,

để các cơ quan hay cá nhân có thể hiểu mà thực hiện một cách tự giác và việc thực hiện không bị chồng chéo, khó thực hiện.

- Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức làm công tác quản lý đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Cần làm cho người cán bộ, công chức làm công tác quản lý đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai nhận thức đầy đủ việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật không chỉ là trách nhiệm mà còn làm giảm khiếu nại, tố cáo và mang lại sự ổn định về chính trị an ninh trật tự trên địa bàn thành phố

3.2 Về xây dựng và hoàn thiện pháp luật

- Yêu cầu chung về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên các lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo và quản lý đất đai

Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo tính hợp hiến, hợp

pháp, thống nhất, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn Trách việc ban hành các văn bản đối kháng, văn bản sau mâu thuẫn với văn bản trước.

Trang 19

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật đất đai.

Khẩn trương xây dựng Luật đất đai mới thay thế Luật đất đai năm 2003 (có

hiệu lực từ 01/7/2004), trong đó cần quy định rõ hơn các vấn đề sau đây:

+ Đối với nhà đất mà Nhà nước đã quản lý qua các giai đoạn thực hiện chính sách đất đai tuy pháp luật về đất đai hiện nay quy định là không trả lại nhưng không quy định việc không tiếp nhận hay chấm dứt tiếp nhận, dẫn đến các cơ quan có thẩm quyền vẫn phải thụ lý xem xét.

+ Toàn bộ các vụ tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan Toà án, còn các cơ quan quản lý hành chính chỉ có thẩm quyền xác nhận về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.

+ Bổ sung các quy định cụ thể, chi tiết theo hướng tăng mức xử lý các hành

vi vi phạm trong việc chậm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản trên đất; để đất hoang hoá, chậm sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích, lấn chiếm đất; không thực hiện đúng các quy định đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất trong trường hợp giải phóng mặt bằng; không xử lý kịp thời đối với các hành vi vi phạm của pháp luật đất đai

+ Điều chỉnh các quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo hướng đảm bảo quyền lợi của người bị thu hồi đất, quyền lợi của Nhà nước và quyền lợi của doanh nghiệp, tạo sự công bằng cho người bị thu hồi đất và người được hưởng lợi từ sự thu hồi đất mang lại.

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo.

Tách Luật khiếu nại, tố cáo thành Luật khiếu nại và Luật tố cáo; Quy định

cụ thể về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, về thẩm quyền giải quyết tố cáo; Quy định cụ thể về thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, các quyết định xử lý tố cáo có hiệu lực pháp luật; Quy định cụ thể về khen thưởng, xử lý đối với người tố cáo đúng, tố cáo sai; Quy định vụ thể về thời gian thực hiện giải quyết khiếu nại, tố

cáo của các cơ quan có thẩm quyền; ban hành Luật tiếp công dân riêng.

- Áp dụng các biện pháp đảm bảo Luật khiếu nại, tố cáo và Luật đất đai được thực hiện nghiêm chỉnh, cụ thể:

+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

+ Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ trong giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai nói riêng

+ Tăng cường giám sát, kiểm tra của Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND và các tổ chức chính trị, xã hội đối với công tác quản lý đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Trang 20

+ Tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với công tác quản lý đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

KẾT LUẬN

Là một thành phố lớn, Hà Nội cũng như nhiều địa phương trong cả nước tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai những năm gần đây có chiều hướng gia tăng Dù các ngành, các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhưng do những nguyên nhân khách quan như tình trạng quản lý đất đai có thời gian bị buông lỏng, cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, việc triển khai các dự án phát triển công nghiệp,

đô thị còn chậm; trình độ nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế và nguyên nhân chủ quan như cán bộ làm công tác quản lý đất đai có tiêu cực, thiếu tinh thần trách nhiệm, nhận thức tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của đội ngũ cán bộ tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chưa đúng; chính sách đất đai còn nhiều bất cập; việc thực hiện các chính sách pháp luật trong công tác giải phóng mặt bằng còn chưa được đảm bảo, cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền còn chưa tốt, năng lực và phẩm chất của cán bộ tiếp dân còn hạn chế

Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo sẽ hạn chế đến mức tối đa những sai sót trong hoạt động quản lý nhà nước của các cấp chính quyền địa phương; ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân, để nhân dân cùng với cơ quan nhà nước đoàn kết, chung tay phát triển kinh tế - xã hội địa phương Chính vì vậy yêu cầu phải nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại,

tố cáo về đất đai ở Hà Nội những năm tiếp theo là hết sức cần thiết

Tóm lại yêu cầu nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở

Hà Nội là đòi hỏi mang cả tính khách quan và chủ quan Những giải pháp mà tác giả đưa ra có thể chưa đầy đủ, nhưng là những gợi ý mang tính nghiên cứu khoa học thực tiễn mà tác giả đã dày công tìm hiểu về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai nói riêng ở thành phố, nơi tác giả đang sinh sống và công tác Hy vọng những giải pháp mà tác giả đưa ra

sẽ được những nhà lãnh đạo của thành phố Hà Nội áp dụng; góp phần nâng cao chất lượng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Hà Nội Để trong thời gian không xa thành phố Hà Nội sẽ trở thành một trong những địa phương đứng đầu trong cả nước về quản lý nhà nước, góp phần xây dựng Hà Nội trở thành một thủ đô văn minh hiện đại trong khu vực và trên thế giới./.

Trang 21

trần trung

giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên

địa bàn thành phố hà nộiChuyên ngành: bất động sản và kinh tế tài nghuyên

ngời hớng dẫn khoa học: gs TSKH nguyễn đình thắng

Hà Nội – 201 201 1

Trang 22

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khiếu nại, tố cáo là một là một trong những quyền cơ bản của công dân,

là công cụ pháp lý để công dân đấu tranh đối với các hành vi vi phạm phápluật nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân; đồng thời là hình thức dân chủ trực tiếp để công dân tham gia quản

lý nhà nước, quản lý xã hội

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, với sự vào cuộc mạnh mẽ củacác tổ chức chính trị - xã hội… công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo củachúng ta trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến rất đáng khích lệ Tuynhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo vẫn diễn ra hết sức phức tạp, nhất là khiếunại, tố cáo về đất đai; nhiều vụ trở thành điểm nóng, nhiều vụ khiếu nại, tốcáo đông người vượt cấp, cá biệt có vụ đã trở thành công cụ để các thế lựcphản động lợi dụng chống phá Nhà nước Việt Nam XHCN Đặc biệt, các vụviệc khiếu nại, tố cáo thường bùng phát vào các thời điểm diễn ra các cuộchọp của Hội đồng nhân dân (HĐND), Quốc hội, Đại hội Đảng hay các giaiđoạn bầu cử HĐND, bầu cử Quốc hội; nhiều vụ người dân còn kéo nhau đếnnhà của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước làm ảnh hưởng đến an ninh,trật tự và an toàn xã hội

Nguyên nhân gia tăng số vụ việc khiếu nại, tố cáo và tính chất phức tạpcủa các vụ việc này là do chính sách pháp luật của chúng ta còn nhiều bất cập,chồng chéo, thiếu các quy định cụ thể; bản thân các cơ quan được giao nhiệm

vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa hợp lý; những người làm công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa được đào tạo nghiệp vụ chính quy Đa

số các vụ việc khiếu nại là về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; khiếu nại vềviệc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; khiếu nại quyết định xử lý

Trang 23

vi phạm hành chính đối với vi phạm trong việc sử dụng đất; khiếu nại đòi lạinhà, đất mà Nhà nước đã quản lý qua các thời kỳ thực hiện chính sách đất đai.

Đa số các vụ tố cáo là liên quan đến cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trụclợi thông qua việc lập phương án hoặc điều chỉnh phương án quy hoạch; tố cáoviệc giao đất trái thẩm quyền, sai đối tượng; tố cáo hành vi gian lận trong việclập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để tham ô

Là một cán bộ đang công tác tại cơ quan Thanh tra thành phố, cơ quanchuyên môn giúp UBND thành phố trong công tác thanh tra và giải quyết đơnthư khiếu nại, tố cáo, tôi luôn day dứt là làm thế nào để công tác giải quyếtkhiếu nại, tố cáo đạt được hiệu quả cao, hạn chế được số lượng các vụ khiếunại, tố cáo nhất là khiếu nại, tố cáo về đất đai Đây là lý do tôi chọn đề tài

“Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội” để

thực hiện Luận văn cao học chuyên ngành Bất động sản và Kinh tế tài nguyên

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang ở thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, bộ máy nhà nước về quản lý đất đai chưa thể hoàn thiện để đápứng nhu cầu của người dân một cách tốt nhất Những hạn chế về năng lực,đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức và vận hành bộ máy nhà nướcchưa có hiệu quả cao; đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn và sự hạnchế trong nhận thức của người dân đã làm cho khiếu nại, tố cáo nhất là khiếunại, tố cáo về đất đai đã trở thành vấn đề mang tính thời sự

Chính vì vậy mà khiếu nại, tố cáo trở thành vấn đề nhận được sự quantâm, nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học quản lý.Với nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có nhiều bài viết và một số cuốnsách, đề tài khoa học nghiên cứu làm rõ thực trạng khiếu nại, tố cáo; công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo, từ đó đề ra giải pháp để hạn chế tình trạng khiếu

nại, tố cáo Có thể kể ra một số công trình đã được nghiên cứu như: “Một số

Trang 24

vấn đề đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam” của TS.

Nguyễn Văn Thanh và Luật gia Đinh Văn Minh – Nhà xuất bản Tư pháp năm

2004; “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết

khiếu nại, tố cáo của TS Trần Văn Sơn – Nhà xuất bản Tư pháp năm 2007;

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, đầy đủ vềtình hình khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đaitại một địa phương, cụ thể là ở thành phố Hà Nội

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn, vì vậy, mục tiêu củaLuận văn là phân tích làm rõ cơ sở lý luận của việc giải quyết khiếu nại, tốcáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội; đánh giá thực trạng của việcgiải quyết đó, lập luận để đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả giảiquyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

Để đạt được mục tiêu nêu trên, Luận văn có nhiệm vụ phân tích làm rõkhái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức và phương pháp giải quyết khiếunại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội và những điều kiện cầnthiết cho việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; đánh giá thực trạng giải quyếtkhiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội trên các phươngdiện ưu, khuyết điểm và tìm ra những nguyên nhân chủ yếu của ưu, khuyếtđiểm ấy; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo vềđất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội trên các mặt nhận thức tư tưởng, xây dựng

và hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật giảiquyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật vềkhiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; tình hình khiếu nại,

tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở thành phố Hà Nội

Trang 25

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo vềđất đai của các cơ quan hành chính ở một địa phương, cụ thể là thành phố HàNội trong giai đoạn tám năm (từ năm 2001 đến năm 2008) và loại trừ cáckhiếu nại, tố cáo về đất đai đối với đất nông nghiệp.

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật - biện chứng

và duy vật - lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh;đường lối, quan điểm của Đảng và chủ trương chính sách của Nhà nước vềgiải quyết khiếu nại, tố cáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong khi thực hiện

đề tài là: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử, phươngpháp so sánh, phương pháp thống kê và điều tra xã hội học

6 Ý nghĩa và dự kiến những đóng góp của Luận văn

Đây là đề tài nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo và công tác giảiquyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn sẽgiúp cho các nhà quản lý của thành phố Hà Nội nhìn nhận một cách đúng đắn

về thực trạng tình hình khiếu nại, tố cáo cũng như những mặt đã làm được,chưa làm được, nguyên nhân của tồn tại trong công tác giải quyết khiếu nại,

tố cáo về đất đai

Những giải pháp mà Luận văn đưa ra sẽ giúp các nhà lãnh đạo, nhữngngười đang được giao trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các địaphương nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng vận dụng để nâng cao chấtlượng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp phần ổn định chính trị, trật

tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Trang 26

Luận văn còn là tài liệu để những nhà khoa học nghiên cứu phát triểnchế định pháp luật về khiếu nại, tố cáo; nghiên cứu so sánh về thực trạng; giảipháp giải quyết khiếu nại, tố cáo

7 Bố cục của Luận văn (ngoài phần mở đầu và kết luận) gồm:

Chương 1 Cơ sở khoa học của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai; Chương 2 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn

thành phố Hà Nội;

Chương 3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố

cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 27

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI

1.1 Khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giải quyết

khiếu nại, tố cáo Người quan niệm “đồng bào có oan ức mới khiếu nại hoặc

vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng, Chính phủ mà khiếu nại Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào mới thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm, lo lắng đến quyền lợi của nhân dân do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng

và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn”.

Thực hiện quan điểm chủ trương đó của Người, Nhà nước ta luôn quantâm tới việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo nóichung, khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai nói riêng

Năm 1991, Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được banhành; Năm 1998, Luật Khiếu nại, tố cáo ra đời đã pháp điển hóa các quy định

về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo một cách rõ ràng, chínhxác, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ởnước ta Luật này đã được bổ sung sửa đổi vào các năm 2004, 2005

1.1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo về đất đai

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận:

“Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào”

- Khái niệm khiếu nại về đất đai.

+ Theo từ điển tiếng Việt: “Khiếu nại là việc đề nghị cơ quan có thẩm

Trang 28

quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý” Theo khoản 1, Điều 2, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa

đổi bổ sung năm 2004 và năm 2005) thì “Khiếu nại là việc công dân, cơ

quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” Từ khái niệm trên chúng ta thấy rằng:

Khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếpbởi quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc đề nghị của cán bộcông chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổchức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Đề nghị này xuất phát từ

từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại cho rằng quyền và lợi ích hợppháp của mình bị xâm phạm

Chủ thể khiếu nại có thể là công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, côngchức Bên cạnh đó, các cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng có quyền khiếu nại.Tuy nhiên, công dân Việt Nam vẫn là chủ thể sử dụng quyền khiếu nạithường xuyên và tích cực nhất Như vậy, mọi công dân Việt Nam đều cóquyền khiếu nại ngay cả những người phạm tội hình sự, có thể bị hạn chế một

số quyền công dân như quyền tự do đi lại, quyền ứng cử, quyền bầu cử…nhưng họ vẫn là công dân Việt Nam và vẫn có quyền khiếu nại trong một sốtrường hợp nhất định

Công dân thực hiện quyền khiếu nại phải là người có năng lực hành vidân sự đầy đủ Công dân là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thầnhoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mìnhthì thông qua người đại diện theo pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại.Người ốm đau, già yếu, người có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách

Trang 29

quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì có thể uỷ quyền cho người đạidiện là cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc ngườikhác để thực hiện việc khiếu nại Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáonăm 2005, công dân có quyền nhờ Luật sư giúp đỡ mình thực hiện quyềnkhiếu nại.

Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghềnghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân Việc quy định cơ quan, tổchức có quyền khiếu nại, bởi vì trong quá trình quản lý nhà nước nhiều khicác cơ quan nhà nước cũng có những quyết định làm ảnh hưởng đến quyền vàlợi ích của các cơ quan, tổ chức khác Việc khiếu nại của cơ quan, tổ chứcđược thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó.Chỉ những người có thẩm quyền đại diện mới được thay mặt cơ quan, tổ chứcthực hiện quyền khiếu nại

Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật khi có căn cứcho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp phápcủa mình

Đối tượng của khiếu nại hành chính là quyết định hành chính, hành vihành chính hay quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của người có thẩmquyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc chính là cơ quan hành chínhnhà nước đó

Theo quy định tại các khoản 10, 11, 12 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáonăm 1998 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2004 và năm 2005) thì quyết định

hành chính có thể trở thành đối tượng của khiếu nại hành chính “là quyết

định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động

Trang 30

quản lý hành chính”; hành vi hành chính có thể trở thành đối tượng của khiếu

nại hành chính là: “là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người

có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ” Hành vi, có thể là hành động hoặc không hành động; quyết định kỷ

luật cán bộ, công chức “là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ

quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc đối với cán

bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật

về cán bộ, công chức”

+ Theo quy định tại khoản 6, Điều 105 của Luật đất đai năm 2003 thì

một trong các quyền chung của người sử dụng đất là: “khiếu nại…về những

hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai’ Khoản 1, Điều 138 của Luật đất đai năm

2003, quy định: “Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành

chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai”.

Như vậy, có thể hiểu khiếu nại về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ

chức theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và Luật đất đai đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính hay hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai khi có căn

cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình

Từ khái niệm trên chúng ta thấy chủ thể khiếu nại về đất đai cũng làcông dân, cơ quan, tổ chức nhưng là công dân, cơ quan, tổ chức sử dụng đất(gọi chung là người sử dụng đất) có nhận thức chủ quan cho rằng quyền và lợiích hợp pháp về đất đai của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính hayhành vi hành chính của của cơ quan hành chính hoặc người có thẩm quyềntrong cơ quan hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai

Trang 31

Đối tượng khiếu nại về đất đai cũng là quyết định hành chính, hành vihành chính được phát sinh trong quá trình quản lý đất đai mà theo quy địnhtại Điều 136 của Luật đất đai năm 2003, thì quyết định hành chính trong quản

lý đất đai bị khiếu nại, bao gồm: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồithường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứngnhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất

Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán

bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định nêu trên.Ngoài hai đối tượng khiếu nại về đất đai nêu trên, trong thực tế vẫn còn có quanđiểm cho rằng còn một đối tượng khiếu nại về đất đai nữa đó là quyết định giảiquyết tranh chấp về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước

Có quan điểm như vậy là xuất phát từ quy định của Luật đất đai về thẩmquyền giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan quản lý nhà nước và cũng

từ việc quy định chưa thống nhất giữa Luật đất đai năm 2003 và Luật khiếunại, tố cáo năm 2005 Tại khoản 26, Điều 4 của Luật đất đai năm 2003 có quy

định: tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử

dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Tại khoản 1, khoản

2, Điều 160 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 đã khôngdùng từ “khiếu nại” quyết định giải quyết tranh chấp mà quy định “Trườnghợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND…thì các bêntranh chấp có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp…” Tuy nhiên, Luậtkhiếu nại, tố cáo không quy định có hay không khiếu nại quyết định giảiquyết tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước Theo quy địnhcủa Luật khiếu nại, tố cáo thì đối tượng khiếu nại là quyết định hành chính vàquyết định giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước

là quyết định hành chính

Trang 32

- Khái niệm tố cáo về đất đai

Theo từ điển tiếng Việt thì “tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ

quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó… vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn”.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 2, Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005 thì

“Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” Như vậy, về bản chất, tố cáo thể

hiện ý thức bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật đối với mỗi công dân trướccác hành vi vi phạm, qua đó người tố cáo không chỉ nhằm bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của mình mà còn bảo vệ lợi ích của cộng đồng Chỉ khi côngdân có được ý thức pháp luật tốt, tinh thần đấu tranh vì sự công bằng, vì sựnghiêm minh của pháp luật, vì lợi ích chung hay nói cách khác khi công dân

đó trở thành công dân xã hội thì mới thực hiện tốt quyền tố cáo Và chỉ khi có

xã hội công dân thì quyền tố cáo mới được sử dụng một cách triệt để và dầndần các sai phạm sẽ ít đi, quyền tố cáo sẽ dần mất đi khỏi đời sống xã hội.Theo quy định pháp luật thì chỉ có công dân mới có quyền tố cáo Quyđịnh này nhằm cá thể hoá trách nhiệm của người tố cáo, đồng thời làm choviệc tố cáo và giải quyết tố cáo đạt hiệu quả hơn Người tố cáo có nhữngquyền và nghĩa vụ nhất định, phải chịu trách nhiệm về những thông tin màmình đã cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu có hành vi tố cáosai phải hoàn toàn chịu trách nhiệm và bị xử lý sai phạm tuỳ theo tính chất vàmức độ So với chủ thể của quyền khiếu nại thì chủ thể của quyền tố cáo cóhẹp hơn nhưng chủ thể của quyền tố cáo không nhất định phải là người bịxâm hại trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân mình như quy

Trang 33

định đối với chủ thể khiếu nại; người tố cáo có thể tố cáo hành vi vi phạmxâm hại đến quyền và lợi ích của người khác, của tập thể hay của nhànước và công dân.

Đối tượng của tố cáo là bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổchức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Mục đích của tố cáo là nhằmbảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơquan, tổ chức Hành vi tố cáo thể hiện ý thức và trách nhiệm của công dântrước các hành vi vi phạm pháp luật diễn ra trong xã hội

+ Theo quy định tại khoản 6, Điều 105 Luật đất đai năm 2003 thì một

trong các quyền chung của người sử dụng đất là « tố cáo về những hành

vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác

vi phạm pháp luật về đất đai » Tại khoản 1, Điều 139, Luật đất đai năm

2003 quy định: « cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý

và sử dụng đất đai».

Như vậy, có thể hiểu tố cáo về đất đai là việc công dân theo quy định

của Luật khiếu nại, tố cáo và Luật đất đai báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức

cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức về đất đai.

Từ khái niệm trên chúng ta thấy rằng :

Chủ thể tố cáo về đất đai là công dân có thể là người sử dụng đất hoặckhông sử dụng đất, họ báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền vềhành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại quyền và lợiích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, người khác hoặc quyền và lợi ích củachính họ về đất đai

Trang 34

Đối tượng tố cáo về đất đai là những hành vi và không chỉ là hành vi củacác cơ quan hành chính hay nói đúng hơn là các cơ quan quản lý đất đai màđối tượng tố cáo về đất đai là bao gồm hành vi của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cánhân nào gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chứchoặc người khác về đất đai Những hành vi là đối tượng tố cáo về đất đai cóthể phát sinh trong quá trình sử dụng đất, nhưng cũng có thể phát sinh trongviệc quản lý đất đai của các cơ quan nhà nước

1.1.2 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai

- Giải quyết khiếu nại về đất đai

Theo từ điển tiếng Việt thì giải quyết là làm cho không còn thành vấn đề

nữa [trang 388] Tại khoản 13, Điều 2 của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005 thì giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người giải quyết khiếu nại

Việc giải quyết khiếu nại hành chính về cơ bản đều phải thực hiện theocác bước sau:

- Tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại;

- Chuẩn bị giải quyết vụ, việc khiếu nại;

- Thẩm tra, xác minh vụ, việc khiếu nại;

- Ra quyết định và công bố quyết định giải quyết khiếu nại;

- Thi hành quyết định và lưu trữ hồ sơ vụ việc

1 Tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại: Tiếp nhận và xử lý đơn là một

khâu quan trọng có ý nghĩa to lớn trong quá trình xem xét, giải quyết các đơnthư khiếu nại, tố cáo Xử lý đơn kịp thời, chính xác và khoa học các đơn thưkhiếu nại, tố cáo sẽ là tiền đề cho các bước tiếp theo của quá trình giải quyết.Trước hết xử lý đơn có ý nghĩa như một bước xác định thẩm quyền, làm cơ sởcho việc thụ lý để giải quyết Đồng thời, xử lý đơn thư cũng có ý nghĩa đối

Trang 35

với công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về công tác giảiquyết khiếu nại, tố cáo nói riêng Thông qua việc xử lý đơn, các cơ quan nhànước có thể nắm được, đánh giá được tình hình khiếu nại, tố cáo (như sốlượng vụ việc phát sinh, những lĩnh vực phát sinh nhiều khiếu nại, tố cáo…).Qua xử lý đơn thư cũng có thể cung cấp cho người lãnh đạo, người quản lýnhững thông tin mang tính tổng hợp, thậm chí mang tính dự báo về tình hình

xã hội của một vùng miền, một địa phương Mặt khác, qua công tác xử lý đơnthư cũng có thể đánh giá được hiệu quả của công tác giải quyết các khiếu nại,

tố cáo từ việc tổng hợp, xử lý những thông tin về đơn thư vượt cấp, về sốlượng các vụ việc đông người, gay gắt hoặc các vụ việc khiếu kiện kéo dài

2 Chuẩn bị giải quyết khiếu nại:

Bước chuẩn bị giải quyết khiếu nại được bắt đầu từ khâu nghiên cứu hồ

sơ vụ việc đến khi xây dựng được kế hoạch, giải quyết bước này cần thựchiện các công việc sau:

a Nghiên cứu sơ bộ vụ việc khiếu nại:

Là một khâu quan trọng của bước chuẩn bị, mục đích của khâu nàynhằm làm rõ và củng cố nội dung chủ yếu về vụ, việc, kết quả nghiên cứu sơ

bộ vụ, việc là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định theo một trong haihướng sau: thông báo không thụ lý hoặc giải quyết vụ việc

b Thụ lý giải quyết vụ việc:

Đây là khâu tiếp theo sau khi đã hoàn tất việc nghiên cứu sơ bộ vụ, việc.Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giảiquyết của mình, người giải quyết khiếu nại lần đầu, người giải quyết khiếu nại lầnhai phải thụ lý giải quyết và thong báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết.Căn cứ vào hồ sơ và báo cáo của cán bộ nghiệp vụ, người có thẩm quyềngiải quyết khiếu nại quyết định thụ lý giải quyết vụ, việc

Trang 36

Quyết định thụ lý giải quyết khiếu nại của cấp có thẩm quyền là căn cứpháp lý để tiến hành giải quyết theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

c Xây dựng kế hoạch giải quyết vụ việc

Kế hoạch giải quyết cần nêu ra các công việc phải làm, tiến độ thời giancủa từng vụ việc cụ thể, dự kiến được các tình huống phát sinh khi thực hiện

và các điều kiện đảm bảo cần thiết khi tiến hành giải quyết vụ, việc khiếu nại

Kế hoạch giải quyết chi tiết, đầy đủ ở mức nào hoàn toàn phụ thuộc vào tínhchất, đặc điểm cụ thể của từn vụ việc

Kế hoạch giải quyết vụ, việc được báo cáo người đã ra quyết định thụ lý

vụ, việc và là căn cứ để tiến hành thanh tra, xác minh, thu thập chứng cứ vàgiải quyết vụ việc

d Tập hợp và nghiên cứu tài liệu liên quan

Người thụ lý giải quyết phải sưu tầm, tập hợp các tài liệu có liên quan như:+ Văn bản, tài liệu do đơn thư khiếu nại đề cập làm căn cứ để khôi phục,bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại

+ Văn bản, tài liệu liên quan đến quyết định, hành vi bị khiếu nại Đâycũng là tài liệu phục vụ cho việc xem xét, bảo đảm tính đúng đắn, hợp phápcủa quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại

+ Văn bản tài liệu nghiệp vụ hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết khiếu nại vàcác lĩnh vực có liên quan

+ Văn bản, tài liệu tham khảo; đặc điểm lãnh thổ, dân cư, tài liệu phục

vụ đã giải quyết tương tự…

3 Thẩm tra, xác minh vụ, việc:

Quyết định giải quyết khiếu nại của cấp có thẩm quyền phụ thuộc vàonhững báo cáo, kết luận, kiến nghị của cán bộ thụ lý giải quyết Báo cáo, kếtluận phải trên cơ sở các tài liệu, thông tin về vụ, việc đã thu thập, kiểm tra,xác minh phù hợp những quy định của pháp luật

Trang 37

Do vậy, đây là bước quyết định trong xem xét, giải quyết vụ, việc khiếunại Đồng thời, nó cũng là bước đòi hỏi cao nhất về trình độ nghiệp vụ, nănglực hoạt động nghề nghiệp của cán bộ thụ lý giải quyết vụ việc.

a Khi tiến hành thẩm tra, xác minh vụ, việc cần vận dụng một số biệnpháp nghiệp vụ cơ bản sau:

- Làm việc với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có liên quan.Thực chất, đây là quá trình khai thác thông tin từ các đối tượng có liênquan đến vụ, việc Phải chủ động và chuẩn bị kỹ về nội dung, về nghiêncứu đối tượng, thủ pháp nghiệp vụ để nhanh đi đến vấn đề cần quan tâmxác minh

- Kiểm tra đối chiếu, xem xét thực tế:

+ Đây là một trong những biện pháp chủ yếu của công tác thanh tra giảiquyết khiếu nại và tố cáo Đưa ra kết luận nội dung gì, điều gì sau khi đã thẩmtra, xác minh các tài liệu sự kiện, là khâu kết thúc đánh giá chứng cứ, nhưngcũng có thể là khâu khởi đầu cho việc đưa đến thu thập thông tin, xác địnhchứng cứ tiếp theo

+ Khâu chuẩn bị cho công việc bao gồm những vấn đề đã thu thập được,những vấn đề còn phải làm rõ, những số liệu, hiện vật, địa điểm đã được cungcấp… Đó là nội dung cần thiết phải làm rõ

- Tổ chức đối chất, đối thoại giữa các đối tượng liên quan

+ Khi cần thiết, tổ chức đối chất giữa các đối tượng cung cấp thông tinkhông phù hợp để khẳng định tích trung thực của mỗi bên là cơ sở để đánhgiá tính đúng đắn của tài liệu thông tin làm chứng cứ cho việc kết luận vụ,việc Đối chất có thể tiến hành khi một trong hai bên đề nghị hoặc do chủđộng của cán bộ thẩm tra, xác minh yêu cầu

+ Đối thoại bao gồm làm rõ nội dung, yêu cầu của người khiếu nại,hướng giải quyết vụ, việc Cần có chuẩn bị kĩ về mục đích nội dung, phươngpháp tiến hành đối thoại

Trang 38

+ Để việc vân dụng các biện pháp nghiệp vụ trên có kết quả tốt, cán bộnghiệp vụ cần phải chuẩn bị nghiên cứu kĩ đối tượng và dự kiến về quá trìnhtác nghiệp.

- Trưng cầu giám định (nếu cần)

Trưng cầu giám định được sử dụng khi các thông tin, tài liệu, vật chứngthu thập được mà ta không đủ trình độ, khả năng và phương tiện để xem xét,kết luận Khi đó, cán bộ thụ lý phải báo cáo người có thẩm quyền để yêu cầucác cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành giám định Thủ tục trưng cầugiám định và giao, nhận kết quả giám định phải thực hiện theo quy định củapháp luật

- Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền:

+ Trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, nếu thấy cần thiết người

có thẩm quyền có thể yêu cầu các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhậnnội dung nào đó giúp cho quá trình giải quyết khiếu nại được thuận lợi

+ Văn bản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận cung cấp làmột căn cứ pháp lý để cán bộ nghiệp vụ xem xét, kết luận vấn đề trong quátrình thẩm tra xác minh vụ việc

- Sử dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ:

Các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ như máy ảnh, máy ghi âm, ghi hình,computer cùng các phương tiện kỹ thuật khác bảo vệ thông tin, tài liệu trongthanh tra, xét khiếu nại, tố cáo phải được xác định đúng vị trí trong hoạt độngnghiệp vụ Người sử dụng cần thiết phải nghiên cứu để sử dụng chúng mộtcách hiệu quả, hợp lý

- Đánh giá thông tin và xác định chứng cứ:

Khác với các biện pháp trên, ở đây cán bộ nghiệp vụ tiến hành phân tích,tổng hợp, so sánh trên tài liệu, qua tiếp xúc với các bên, qua đối chất, kiểm tra,xem xét thực tế… để đánh giá thông tin đã thu thập được xác định, kiểm trachứng cứ cho chính xác để làm cơ sở cho việc kết luận, giải quyết khiếu nại

Trang 39

Bằng phân tích, tổng hợp, so sánh … đối chiều các quy định của văn bảnpháp luật, chính sách của Nhà nước để đưa ra những nhận xét, kết luận chính;làm rõ nguyên nhân sai phạm, mục đích, động cơ của các hành vi vi phạm…,xác định tính đúng sai, chân thực của từng nội dung cụ thể để giải quyết khiếunại đạt hiệu quả.

b Báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh:

- Khi kết thúc bước thu thập thông tin, các cán bộ nghiệp vụ được phâncông thẩm tra, xác minh vấn đề nào phải làm báo cáo kết quả thẩm tra, xácminh vấn đề đó

- Báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh phải trả lời được những vấn đề của

kế hoạch giải quyết và văn bản thụ lý yêu cầu Đây là cơ sở để cấp có thẩmquyền ra quyết định giải quyết vụ, việc

4 Ban hành quyết định và công bố quyết định:

a Tổng hợp báo cáo, chuẩn bị tài liệu:

Đây là khâu tổng hợp toàn bộ phần công việc đã làm của quá trình thụ lýgiải quyết Báo cáo tổng hợp chỉ rõ công việc đã thẩm tra, xác minh để đi đếnkết luận, kiến nghị phục vụ cho việc đưa ra quyết định giải quyết khiếu nại.Báo cáo tổng hợp kết quả thẩm tra, xác minh và tài liệu kèm theo đượctrình lên cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết khiếu nại

b Dự kiến và hoàn chỉnh phương án giải quyết:

Phương án giải quyết được dự kiến và hoàn chỉnh sau khi đã có báo cáotổng hợp cuối cùng, cần phải được tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức

và những người có liên quan và thông báo cho họ biết trước khi ra quyết địnhchính thức

Trong những trường hợp cụ thể, đối với vụ, việc phức tạp liên quan đếnnhiều ngành, nhiều cấp, nếu cần thiết có thể mở Hội nghị tư vấn, tham khảo ýkiến các cơ quan liên quan

Trang 40

c Ban hành quyết định và công bố quyết định giải quyết khiếu nại:

- Ban hành quyết định giải quyết là khâu kết thúc việc xem xét, giảiquyết khiếu nại theo thẩm quyền Quyết định giải quyết khiếu nại được banhành khi đã có báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh và xem xét các khía cạnhkhác nhau của phương án dự kiến

- Quyết định giải quyết khiếu nại phải đảm bảo được những yêu cầu vềhình thức, nội dung theo quy định

- Công bố quyết định giải quyết khiếu nại phải gửi cho người giải quyếtkhiếu nại lần đầu, người đã chuyển đơn đến trong thời hạn chậm nhất là 07ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết, phải công bố công khai

5 Thi hành quyết định và lưu trữ hồ sơ:

a Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại:

Người ban hành quyết định có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra và áp dụngcác biện pháp cần thiết hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ápdụng các biện pháp cần thiết yêu cầu những người có trách nhiệm nghĩa vụphải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Thủ trưởng cơ quan hành chính có vụ, việc bị khiếu nại căn cứ vào quyếtđịnh giải quyết để kịp thời sửa đổi hoặc thay thế quyết định hành chính, điềuchỉnh hành vi hành chính có vi phạm; bồi thường thiệt hại; khôi phục quyền,lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật

b Lưu trữ hồ sơ:

- Hồ sơ vụ, việc được lập gửi vào lưu trữ để giúp cho quản lý, theo dõicông tác giải quyết khiếu nại, tố cáo Đồng thời nó còn là căn cứ cho các cơquan có thẩm quyền xem xét giải quyết khiếu nịa ở cấp tiếp theo hoặc các vụ,việc có liên quan khác

- Hồ sơ giải quyết phải được đánh số trang theo thứ tự và lưu giữ theoquy định Khi người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính thì hồ sơ có thểchuyển giao theo yêu cầu của Tòa án

Ngày đăng: 09/07/2018, 07:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w