Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Đặc biệt sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, một Đại hội có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH) - hiện đại hoá (HĐH), xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh theo định hướng XHCN. Về đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH là xây dựng được một nền kinh tế phát triển cân đối và bền vững với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát huy được mọi năng lực của con người phục vụ vào quá trình xây dựng đất nước. Quà trình đẩy mạnh CNH - HĐH được thực hiện ở tất cả các ngành của toàn bộ nền kinh tế. Ở các địa phương và ở các vùng lãnh thổ với sự chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Để cho việc thực hiện quá trình đó một cách có hiệu quả nhất, và cũng cần có những cơ sở để kiểm tra hiệu quả, chất lượng qua quá trình đó chúng ta phải có một hệ thống chỉ tiêu phản ánh quá trình chuyến biến công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền kinh tế. Để thấy một phần nào thực trạng quá trình CNH - HĐH và có những đánh giá đúng đắn quá trình CNH - HĐH ở nước ta. Trong chuyên đề này em xin giới thiệu "Hệ thống chỉ tiêu CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn và áp dụng các phương pháp phân tích thống kê để phân tích quá trình CNH - HĐH ở tỉnh Hải Dương". Do vấn đề này có nội dung rất mới và rộng nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vậy em đề nghị các thầy, các cô cùng các bác ở Cục Thống kê Hải Dương. Đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn Trần Ngọc Phác và bác trực tiếp phụ trách thực tập Phạm Đức Đông hết sức giúp đỡ để cho đề tài được hoàn chỉnh.
Trang 1Mục lục
Lời nói đầu
CHƯƠNG I:SỰ CẦN THIẾT VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG CHUYÊN ĐỀ Ở TỈNH HẢI DƯƠNG 4
I - khái quát chung về hải dương trong 5 năm qua(1996-2000)
II - Cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp và điều kiện kinh tế ,văn hoá xã
hội nông thôn hải dương
1- Cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp
2- Điều kiện kinh tế văn hoá ,xã hội nông thôn Hải Dương
III, Diễn biến ,thực trạng nông nghiệp ,nông thôn hải dương trong 5 năm
qua (1996-2000):
1- Sản xuất nông nghiệp :
2-Sản xuất lâm nghiệp.
3-Sản xuất thuỷ sản.
Iv - sự cần thiết và khả năng vận dụng của chuyên đề ở hải dương
CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG CHỈ TIÊU
PHẢN ÁNH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
I - khái quát chung về quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá:
1- Khái niệm :
2- Tác dụng của công nghiệp hoá.
3- Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
3.1 - Tiến hành cách mạng khoa học - kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật
chất:
3.2 - Xây dựng cơ cấu hợp lý và phân công lại lao động xã hội:
3.3 - Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm
còn lại của thập kỷ 90 (1996-2000) ở Việt Nam
II - Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Trang 21- Khái niệm về chỉ tiêu thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê:
1.1 - Khái niệm về chỉ tiêu thống kê
1.2 - Hệ thống chỉ tiêu thống kê:
2 - Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ công nghiệp hoá
và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn:
2.1- Nhóm chỉ tiêu phản ánh qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tổng hợp của nền kinh tế:
2.2- Hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độ CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
CHƯƠNG III-ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỐNG
KÊ PHÂN TÍCH MỘT SỐ CHỈ TIÊU CƠ BẢN PHẢN ÁNH QUÁ TRÌNH CNH - HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở HẢI DƯƠNG
I - Khái niệm và các phương pháp về phân tích thống kê:
1-Khái niêm
2 - Các phương pháp phân tích thống kê thường sử dụng:
II - Phân tích một số chỉ tiêu cơ bản về quá trình CNH - HĐH:
CHƯƠNG IV-PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I - Hiệu quả quá trình thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn:
II - Về hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Lời nói đầu
Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện Đảng, Nhà nước vànhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt Đặc biệt sau 5năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, một Đại hội có ý nghĩa lịch sử, đánhdấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới Thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá (CNH) - hiện đại hoá (HĐH), xây dựng nước Việt Nam độc lập,dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh theo định hướng XHCN
Về đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là quá trình đẩy mạnhCNH - HĐH là xây dựng được một nền kinh tế phát triển cân đối và bền vữngvới tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát huy được mọi năng lực của con ngườiphục vụ vào quá trình xây dựng đất nước
Quà trình đẩy mạnh CNH - HĐH được thực hiện ở tất cả các ngànhcủa toàn bộ nền kinh tế Ở các địa phương và ở các vùng lãnh thổ với sự chỉđạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta
Để cho việc thực hiện quá trình đó một cách có hiệu quả nhất, và cũngcần có những cơ sở để kiểm tra hiệu quả, chất lượng qua quá trình đó chúng
ta phải có một hệ thống chỉ tiêu phản ánh quá trình chuyến biến công nghiệphoá, hiện đại hoá trong nền kinh tế
Để thấy một phần nào thực trạng quá trình CNH - HĐH và có nhữngđánh giá đúng đắn quá trình CNH - HĐH ở nước ta Trong chuyên đề này emxin giới thiệu "Hệ thống chỉ tiêu CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn và ápdụng các phương pháp phân tích thống kê để phân tích quá trình CNH - HĐH
Trang 4tiếp phụ trách thực tập Phạm Đức Đông hết sức giúp đỡ để cho đề tài đượchoàn chỉnh.
1.1 Điều kiện tự nhiên
Hải Dương nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với diện tíchđất tự nhiên là 1648,4 km2 (năm 2000) xấp xỉ bằng 1,866 lần diện tích đất tựnhiên tỉnh Hưng Yên,1,792 lần Hà Nội 1,11 lần Hải Phòng và 1,3 lần diệntích đất tự nhiên đồng bằng sông Hồng Điều đó cho ta thấy Hải Dương cũng
là một tỉnh có diện tích đất tự nhiên vào loại lớn ở đồng bằng sông Hồng ,chỉđứng sau Hà Tây và Nam Định
Theo số liệu Cục Thống kê tỉnh Hải Dương trong vòng 5 năm qua vềtình hình sử dụng đất cũng có nhiều sự nhiều thay đổi cả về các loại đất và cơcấu của nó
Như ta đã biết Hải Dương có một tuyến giao thông quan trọng nốithành phố Hà Nội với thành phố Hải Phòng đó là quốc lộ 5 Với sự phát triểncủa tuyến giao thông quan trọng này đã góp phần thúc đẩy sự trao đổi buônbán giữa Hải Dương với hai thành phố lớn đó Mặt khác phía bắc Hải Dươnggiáp với 3 tỉnh là Quảng Ninh ,Bắc Giang và Bắc Ninh,phía tây giáp vớiHưng Yên và đi xuống phía nam là giáp với Thái Bình
Trang 5Hải Dương có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và chịu ảnh hưởng lớn vàsâu sắc của gió mùa Châu Á.Trong năm hình thành hai mùa khá rõ rệt, phùhợp với quá trình sinh trưởng và phát triển của một số loại cây trồng Tiềmnăng nhiệt độ ,độ ẩm khá dồi dào và phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh
Nhiệt độ trung bình hàng năm xấp xỉ 23,2 0 C, nhiệt độ cao nhất trungbình là 36, 0 C và nhiệt độ trung bình thấp nhất 7,3 0 C Độ ẩm trung bình hàngnăm là 86 ở trạm Hải Dương và 80 ở trạm Chí Linh Số giờ nắng trungbình năm 1.427 giờ ở trạm Hải Dương và 1.455 giờ ở trạm Chí Linh Vớinhững thông tin về nhiệt độ và độ ẩm lượng mưa và số giờ nắng của HảiDương trung bình trong 5 năm qua như vậy là rất thuận lợi cho việc phát triểnsản xuất nông nghiệp ,lâm nghiệp và thuỷ hải sản
Nét đặc trưng của khí hậu của Hải Dương nói riêng và của đồng bằngchâu thổ sông Hồng nói chung là có một mùa đông lạnh từ tháng 11 nămtrước kéo dài đến hết tháng tư năm sau , có những tiết mưa phùn trong mùakhô do ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa châu Á Đó là điều kiện hết sức thuậnlợi cho việc tăng vụ trong năm ;vụ đông với các cây ưa lạnh như su hào, bắpcải v v
1.2 -Dân số lao động
Hải Dương hiện có 12 đơn vị huyện, thành phố với 238 xã ,14 thịtrấn Dân số trung bình năm 2000 là 1.664,7 nghìn người trong đó dân số namtrung bình là 805,7 nghìn người ,chiếm 48% tổng dân số ;nữ 859 nghìnngười ,chiếm 52% Dân số thành thị là 230 nghìn người ,chiếm 13,8% ;dân sốnông thôn là 1434,7 nghìn người ,chiếm 86,2% Mật độ dân số trung bìnhchung cho toàn tỉnh là 1009,9 người /km2 tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnhnăm 2000 là 10,6 0/0 0
Ta có thể thấy công tác y tế và công tác kế hoạch hoá gia đình ở HảiDương là rất tốt vì đã giảm tỉ lệ sinh và tỉ lệ tăng tự nhiên dân số một cáchnhanh chóng vào năm 1997 tỉ lệ tăng tự nhiên dân số của tỉnh là 13,2 phần
Trang 6nghìn và tỉ lệ sinh là 18,2% Lực lượng lao động của tỉnh (1/7) năm 2000 là879.893 người Trong đó lao động trong các ngành kinh tế của địa phương là825.164 người chiếm 93,78%;trong khu vục nhà nước chiếm 6,22% tức là54.729 người Nếu phân chia lao động theo lao động nông thôn và lao độngthành thị thì lao động nông thôn có 719.840 người chiếm 81,81 % và lao độngthành thị có 160.053 ngưòi chiếm 18,19 % trình độ của lực lượng lao độngđược chia làm 4 cấp ;Chưa tốt nghiệp PTTH ,tốt nghiệp PTTH ,có trình độtrung học chuyên nghiệp-cao đẳng và có trình độ đại học trở nên Nếu lựclượng lao động phân chia theo ngành kinh tế chia ra lao động trong ngànhcông nghiệp, lao động trong ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ sản, lao độngtrong ngành dịch vụ và các ngành khác
II - CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ ,VĂN HOÁ XÃ HỘI NÔNG THÔN HẢI DƯƠNG
1- Cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp
Theo số liệu thống kê năm 2000 ,toàn tỉnh Hải Dương hiện có 98 393
ha đất nông nghiệp; diện tích đất canh tác là 82.200 ha; tổng số lao động trênđịa bàn là 879.893 người trong đó lao động nông, lâm nghiệp, thuỷ sản có739.048 người chiếm 83,99% ,có 871 trạm bơm lớn nhỏ trong toàn tỉnh phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp với tổng công xuất hoạt động 2.929.100 m3/giờ,vậy công suất trung bình của mỗi trạm bơm 3.362,9 m3/giờ ;có 1838 máy kéocác loại với tổng công suất hoạt động trung bình 23.968 CV hay công suấttrung bình của mỗi kéo là 13,04 CV /1 cái , cho thấy phần lớn các loại máykéo của tỉnh là máy kéo lớn (> 12CV) ;có 4130 máy bơm các loại với tổngcông suất thiết kế là 36.216.000 m3/giờ Diện tích có thể được tưới tiêu chủđộng cả năm là 80.930 ha tổng chiều dài kênh mương hiện có là 9.031 kmtrong đó có 30 km đã dược kiên cố hoá bằng ngân sách của địa phương vàtrung ương ,chiếm 0,33% tổng chiều dài kênh mương hiện có, đây là con sốrất nhỏ để phản ánh tình hình kiên cố hoá kênh mương của Hải Dương
Trang 7Việc phục vụ vận chuyển để sản xuất nông nghiệp cũng là một điềuhết sức quan trọng Hiện toàn tỉnh có 1.600 chiếc máy kéo, công nông phục
vụ sản xuất nông nghiệp; 4.200 hộ nông thôn đã mắc điện thoại Các trạmphục vụ sản xuất, trồng trọt chăn nuôi tuy có một số nhưng hoạt động khônghiệu quả
Do cơ chế thị trường và xoá bỏ làm ăn tập thể kiểu hợp tác xã chuyểnsang giao khoán thẳng cho hộ ,cho từng hộ nông dân tự hoạch toán và tự sảnxuất nên việc thống kê tình hình cung cấp vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu chonông nghiệp, nông thôn là điều hết sức khó khăn và có thể nói là không làmđược
Với thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp nông thôn của tỉnhHải Dương trong vòng 5 năm qua (1996-2000), cho ta thấy không ít yéu kém
và nhiều mặt còn hạn chế cần phải đầu tư mới và đầu tư bổ sung để taọ đượcmột cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp và nông thôn xứng đang để đẩy mạnh
và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôncủa cả nước nói chung và của tỉnh hải dương nói riêng, góp phần phát triểnnông nghiệp, nông thôn tương ứng với vị trí xứng đang của nó
2- Điều kiện kinh tế văn hoá ,xã hội nông thôn Hải Dương
Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Hải Dương trong vòng năm 5 nămqua theo giá hiện hành là 43,32% tương ứng với lượng tăng tuyệt đối là1.932.450 triệuVND Trong khi đó, tốc độ tăng trương GDP đầu người là37,94% hay 1,0564 triệu VND/người Qua đây ta cũng thấy được sự tăng nhanhcủa GDP trong vòng 5 năm qua
Một trong những biểu hiện về trình độ dân trí ở một địa phương trướchết phải kể đến trình độ học vấn Theo tài liệu của Cục Thống kê ,Sở lao động
và Sở khoa học công nghệ và môi trường trong năm 2000 của Hải Dươngnhư sau : Số lao động tốt nghiệp PTTH có 194.500 người chiếm 22,1% ;sốlao động có trình độ trung học chuyên nghiệp, cao đẳng là 36.500 chiếm
Trang 84,15% ;13.300 lao động có trình độ đại học trở nên ,chiếm 1,51% số lao độngchưa tốt nghiệp PTTH có 635.593 ,chiếm 72,23% Lao động nông, lâmnghiệp, thuỷ sản có 739.038 trong đó có 164.400 lao động đã tốt nghiệpPTTH chiếm 22,24% ;12.100 lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp,cao đẳng chiếm 1,64% ;640 lao động có trình độ trên đại học chiếm 0,09%còn lại 561.908 lao động chưa tốt PTTH chiếm 76,03% Từ kết quả trêncho ta thấy lực lượng tham gia lao động trong nghành nông nghiệp có trình độrất thấp chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo chiếm trên 75% , còn lao động
có trình độ cao tốt nghiệp đại học trở nên thì chỉ chiêm 0,09%
Trong toàn tỉnh hiện có 580 trường học trong đó : 276 trường tiểu họcchiếm 47,59 % ;271 trương PTCS chiếm 46,2%; 33 trường PTTH chiếm5,69% ; có 6.400 phòng học và 13.900 giáo viên các cấp,tính trung bình chotoàn tỉnh và cho cả 3 cấp học thì mỗi trường có khoảng 24 giáo viên
Trong tỉnh có 287 cơ sở y tế trong đó có 18 bệnh viện và 263 trạm y tếvới 3.700 giường bệnh ;3.200 cán bộ y tế trong đó có 600 bác sĩ chiếm18,75%
.Số giường bệnh bình quân cho một cơ sở y tế là 13 giường ,số giườngbệnh tính cho 10.000 dân là 22,3 giường ,số bác sĩ tính bình quân cho 10.000dân là 3,6 bác sĩ thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân trung cả nước hiệnnay
Toàn tỉnh hiện có 34.000 máy điện thoại ,bình quân 100 người dân thì
có 2,1 máy điện thoại Nhà ở và đồ dùng gia đình theo tài liệu điều tra năm
2000 số hộ nông thôn có nhà kiên cố trong tổng hộ nông thôn chiêm 38,95%hay 138.800 ;35.600 hộ có xe máy chiếm 9,99% ;249.500 hộ có ti vi chiếm70% ; số hộ có radio ,casset chiếm 36,98% tương ứng 131.800 hộ ;số hộ sửdụng nước sạch chiếm 90,52% hay có 322.600 hộ
Thông qua một số chỉ tiêu nói trên, có thể nói điều kiện kinh tế xãhội ,nông thôn Hải Dương có nhiều tiến bộ nhưng cũng chưa phải ở dạng cao
Trang 9còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết Điều kiện kinh tế chưa thực sự tốt ,mứcsống và mức thu nhập bình quân đầu người còn ở mức trung bình hay dướimức trung bình của cả nước
III- DIỄN BIẾN ,THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP ,NÔNG THÔN HẢI DƯƠNG TRONG 5 NĂM QUA (1996-2000):
Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản của Hải Dương trong 5 năm đãđạt được những thành quả to lớn nhịp độ phát triển cao; bảo đảm cung cấp,đáp ứng nhu cầu nhu cầu lương thực ,thực phẩm trên địa bàn tỉnh cũng như
để xuất khẩu; từng bước có nhiều chuyển đổi lớn do có sự thực hiện đúng đắncác Nghị quyết của Đại hội Đảng VIII nói chung và các Nghị quyết của Đạihội Đảng bộ tỉnh nói riêng và vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn; vấn
đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn trong chặngđường đẩy mạnh công nghiệp hoá ,hiện đại hoá Để hoàn thành những mụctiêu phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản toàn diện triệt để ; 5 nămqua toàn tỉnh đã đầu tư trung bình mỗi năm 4.725 Triệu VND cho ngành nôngnghiệp; gồm đầu tư cho tu bổ và kiên cố hoá kênh mương đê điều đầu tư xâydựng lại và xây mới cho các công trình thuỷ lợi trong đó có hệ thống kênhmương ,đặc biệt là việc kiên cố hoá kênh mương trong tỉnh để nâng cao diệntích tưới tiêu cho nông nghiệp; đầu tư cho các trạm trại để xây dựng cơ sở vậtchất để lai tạo giống cây, con mới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tạo ranhững cây trồng vật nuôi có chất lượng và năng suất cao ,phủ xanh đất trốngđồi trọc bảo vệ môi trường thiên nhiên, khu sinh thái đặc biệt là việc đầu tưcho các chương trình trồng và khai thác rừng một cách có hiệu quả nhất Sảnxuất nông,lâm ,thuỷ sản của tỉnh trong 5 năm (1996-2000) đạt được nhịp độphát triển vững chắc, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn; từng bướcchuyển dịch cơ cấu sản xuất nông, lâm, thuỷ sản theo hướng công nghiệphoá ,hiện đại hoá nông thôn mà nghị quyết của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dântỉnh đề ra trong kế hoạch hàng năm và trong 5 năm qua
Trang 10Để đạt được mục tiêu phát triển nông, lâm, thuỷ sản toàn diện ;trong 5năm qua toàn tỉnh đầu tư xấp xỉ 216,5 tỉ đồng cho ngành nông, lâm thuỷ sảngồm: Cho tu bổ hệ thống đê, kè cống 368,6 km đê ven các sông Thái Bìnhnạo, hút kênh mương, sửa chữa, xây dựng các trạm bơm đưa tổng công suất
từ 2.562,4 nghìn m3/h (1996) nên 3.621,6 nghìn m3/h (2000) đảm bảo tướitiêu chủ động 80.930 ha cây trồng các loại ,xây dựng cơ sở vật chất lai taọ cácgiống cây ,con phục vụ cho thâm canh tăng năng suất cây trồng ,vật nuôi ;phủxanh đất trống đồi núi trọc bảo vệ môi trường ,sinh thái khu di tích lịch sửKiếp Bạc ,Côn Sơn và An Phụ ;đầu tư chương trình 737 mỗi năm trên 2,0 tỉđồng khai thông dòng chảy và nâng cấp vùng đất trũng trên địa bàn.Với mứcđầu tư tích cực đã tạo điều kiện cho sản xuất Nông-Lâm ,Thuỷ sản như sau:
1- Sản xuất nông nghiệp :
Cùng với chủ trương chính sách phát triển nông nghiệp kinh tế nôngthôn của Đảng và Nhà nước ;tỉnh có nhiều giải pháp đổi mới khuyến khíchnông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển theo hướng kinh tế hàng hoá đạtđược những kết quả quan trọng nhất là thời kỳ (1996-2000) thành tựu nổi bậtcủa nông nghiệp trên địa bàn là đảm bảo vững chắc về lương thực ,bảo đảm
an ninh lương thực của địa phương và Quốc gia nói chung Sản xuất lươngthực tăng nên liên tục từ năm 1996 đến nay cụ thể là:
Tốc độ phát triển lương thực theo hướng năm sau cao hơn năm trướcđưa mức lương thực bình quân đầu người từ 482kg/người của năm 1996 lênmức 532 kg/người năm 2000 ,tăng bình quân hàng năm là 2,5% nhanh gấpđôi tốc độ dân số trên địa bàn Trong sản xuất lương thực cây lúa có tốc độtăng nhanh về năng suất và sản lượng
Trình độ thâm canh cây lúa từng vụ và cả năm của nông dân tăng cùngvới phong trào khuyến nông khuyến cáo khoa học kỹ thuật ,nhất là chuyểnđổi cơ cấu giống lúa mới gắn với đầu tư phân bón ,bảo vệ thực vật ,chủ độngthời vụ tạo ra sự phát triển đồng bộ và ổn định về năng suất Vì vậy tăng
Trang 11năng suất lúa là yếu tố tích cực cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh HảiDương Do đó tỉnh chủ trương ổn định diện tích canh tác cây lúa 2 vụ ăn chắc
là 72.000 ha ; đồng thời chuyển dịch diện tích chân lúa trũng năng suất thấpsang trồng cây ăn quả kết hợp nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế caohơn cây lúa
Cùng với trình độ sản xuất lúa, cây màu và cây chất bột lấy củ mấynăm qua phát triển ổn định bổ sung nguồn thức ăn cho chăn nuôi bình quânmỗi năm có 30.520 tấn ngô ,khoai lang là 69.190 tấn và các loại bột lấy củkhác ;cây màu và chất bột ở Hải Dương chủ yếu sản xuất là vụ đông thànhtập quán cấy lúa 2 vụ Do đó có điều kiện mở rộng diện tích và thâm canhtăng năng suất cây trồng trên nếu đầu ra của sản phẩm tiêu thụ cho chăn nuôi ,chế biến ổn định
Bên cạnh sản xuất lúa và màu,sản xuât cây thực phẩm (rau,đậu cácloại) vụ đông cũng là một thế mạnh của Hải Dương so với các tỉnh ỏ Đồngbằng Bắc bộ bao gồm nhiều loại có giá trị cao như: hành, tỏi,cà rốt, su hào,bắp cải, cà chua,dưa hấu,dưa chuột ,hành tây v.v Ở các vùng chuyên canhthuộc các huyện Gia Lộc ,Cẩm Giàng, Nam Sách, Kim Thành hàng 1.000 hamỗi vụ Sản xuất lượng rau mỗi năm lại tăng ,năm 1996 là 260.059 tấn đếnnăm 2000 là 312.000 tấn ,tăng bình quân hàng năm xấp xỉ 4,7% ngoài ra mỗinăm sản xuất được mỗi năm 510 tấn đậu hạt các loại cung cấp cho thị trườngnội ngoại tỉnh Cây công nghiệp hàng năm được quan tâm ở vùng đất đồi ,bãiven sông đã đưa sản lượng đậu tương từ 2.533 tấn (năm 1996) lên 3.320 tấn(năm 2000) cung cấp cho phát triển nông thôn và chế biến lương thực trên địabàn ngày một phong phú và đa dạng Trên diện tích đất canh tác ở HảiDương từng bước thực hiện phương châm đất nào ,cây ấy ; đồng thời hìnhthành công thức canh tác :2 lúa +rau vụ đông ,2 lúa + màu vụ đông ,2 lúa +đậu tương đông hoặc cây công nghiệp +l úa màu vv
Trang 12Các loại cây ăn quả đặc sản có chất lượng sản phẩm và kinh tế cao vàphát triển nhanh như: Táo Gia Lộc , Vải thiều Thanh Hà và Chí linh, Na ChíLinh và chuối xuất khẩu đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người sảnxuất ở nông thôn Những cây trồng đã góp phần đẩy nhanh tốc độ xoá đóigiảm nghèo ở các huyện vùng núi ,vùng sâu vùng xa trên địa bàn.Trong 5năm chuyển đổi ,diện tích cây ăn quả toàn tỉnh từ 9.509 ha ,trong đó Vải thiều5.552 ha (1996) đến năm 2000 diện tích cây ăn quả là 11.330 ha ,trong đó Vảithiều là 6.600 ha ;tăng bình quân xấp xỉ 4,4% Việc mở rộng diện tích gắn vớiđầu tư vốn ,kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất hàng năm ,năm
2000 toàn tỉnh thu hoạch sản lượng cây ăn quả các loại được trên 88 nghìntấn, trong đó vải thiều là 20.000 tấn ;so với năm 1996 tăng bình quân hàngnăm 7,5%
Đi đôi với trồng trọt, chăn nuôi phát triển ổn định vừa cung cấp phânbón và sức kéo cho trồng trọt, lại tiêu thụ sản phẩm chính và phụ của các loạicây trồng hàng năm từng vụ trên địa bàn Vì vậy trong 5 năm qua (1996-2000) tốc độ tăng trưởng bình quân của đàn bò là 2,0% ;đàn lợn 4% và giacầm ổn định ;sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 5,2%, thịt bò hơi tăng4,5% ,thịt gia cầm tăng 2,8%;trứng gia cầm tăng 2,4% v v nhờ có nguồnthức ăn dồi dào phong phú đã tạo điều kiện cho chăn nuôi phát triển đa dạngphong phú theo hướng đầu tư thâm canh như :chăn nuôi gà công nghiệp hàngtrăm con/hộ ,hàng chục con lợn thịt/hộ ;tốc độ tăng trọng bình quân mỗi đầucon trong tháng từ 15-20 kg/con đối với lợn và 1kg/con đối với gà (đối với gàcông nghiệp ) ở hộ chăn nuôi giỏi là những bài học kinh nghiệm quý để mởdiện rộng trên địa bàn.Từ đó từng bước đẩy mạnh phát triển ngành chăn nuôichính thành ngành sản xuất chính góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất giữa vàchăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp
Sản xuất của toàn tỉnh trong 5 năm (1996-2000) đã đạt được thành tựuđáng phấn khởi,đồng thời đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch về giá trị sản xuất
Trang 13trong đó trồng trọt là 4,7% ,chăn nuôi 3,3% và dịch vụ 24,6% Năm 2000 sovới năm 1996 các chỉ tiêu tổng hợp tính với giá trị thực tế có tốc độ tăng bìnhquân hàng năm như sau:Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp (+5,3%) trong
đó trồng trọt là 5,1% ,chăn nuôi là 5,2% và dịch vụ là 18% Giá trị tăng thêmtrồng trọt bình quân/ha đất nông nghiệp tăng 4,3% và đạt mức từ 17,02triệu/ha (năm 1996) lên mức 20,17 triêu/ha(năm 2000)
2- Sản xuất lâm nghiệp.
Diện tích đất lâm nghiệp của Hải Dương chỉ chiếm xấp xỉ 6% diệntích tự nhiên toàn tỉnh Song lại có một vị trí hết sức quan trọng về môi trườngcủa khu vực Đông bắc và khu du lịch Kiếp Bạc ,Côn Sơn và An Phụ thuộchuyện Chí Linh và Kinh Môn Được Nhà Nước đầu tư cho chương trình 327bình quân mỗi năm xấp xỉ 1.500 triệu đồng ,chăm sóc và bảo vệ rừng Thựchiện giao đất giao rừng lâu dài cho lâm trường viên và hộ cá thể làm chủ đấtrừng ;qua 4 năm thực hiện chương trình 327 ,toàn bộ đất rừng được phủ xanhđất trống ,đồi núi trọc mang lại kết quả tích cực Chương trình phát triển rừnggắn liền với việc lập trang trại đang đi vào cuộc sống của người dân các xãmiền núi ;đồng thời khai thác tiềm năng đất đai ,vốn và lao động của mọi chủ
hộ vừa bảo vệ rừng gắn với xoá đói ,giảm nghèo và làm giàu trên đất rừng Điđôi với việc phát triển lâm nghiệp ,phong trào trồng cây phân tán vào dịp tếttrồng cây nhân dân hàng năm đã cải tạo vườn đồi trồng cây ăn quả ;trồng cây
ăn quả ở các trụ sở ,trường học và giao thông đô thị (đường phố) đạt được kếtquả tốt ,tăng bình quân hàng năm 7,6% so với năm 1996
Sau khi có chủ trương của tỉnh đóng cửa rừng ,việc khoanh nuôi táisinh rừng đầu nguồn ,rừng phòng hộ góp phần cho các hoạt động lâm sinhkhôi phục được nhiều loại cây bản địa,các loại chim ,thú có chỗ dựa phát triển,mà bao năm đã mai một do vốn rừng bị cạn kiệt.Đến nay diện tích rừng trồngtập trung là 5.470 ha chiếm 59,8% tổng diện tích rừng toàn tỉnh ;diện tíchrừng được trồng tăng bình quân hàng năm 19,8% so với năm 1996
Trang 14Giá trị sản xuất nghành lâm nghiệp so với giá trị sản xuất nghànhNông-Lâm -Thuỷ sản trên địa bàn chiếm xấp xỉ 0,5% nhưng vị trí của nó lạirất quan trọng nằm giữa vùng trọng điểm kinh tế phía bắc Hà Nội - Hải Phòng
- Quảng Ninh nên được lãnh đạo các cấp từ tỉnh quan tâm chỉ đạo tích cực đểhình thành môi trường ,khu du lịch sinh thái và khu du lịch trọng điểm củatỉnh nối với 3 thành phố ở phía Bắc
3-Sản xuất thuỷ sản.
Hoạt động nuôi ươm thuỷ sản của Hải Dương có tốc độ phát triểnnhanh trong mấy năm ,nhất là việc giao diện tích mặt nước (ao ,hồ, sôngcụt,đầm) và diện tích chân trũng cây lúa năng suất thấp cho người lao độngsản suất thuỷ sản Năm 1996 mới có 5.540 ha thì đến năm 2000 diện tích nuôiươm thuỷ sản trên địa bàn là 6.500 ha ,tăng bình quân hàng năm 4,1% ;cáctrại trạm nhà nước đầu tư vốn kỹ thuật sản xuất cá giống các loại đủ cung cấpcho diện tích nuôi thả trên địa bàn Nhờ chủ động được giống tốt ,các trangtrại và hộ cá thể được cơ quan khuyến nông phổ biến kỹ thuật nuôi cá theohướng thâm canh tăng năng suất /ha mặt nước tăng một cách rõ rệt Năm
1996 sản lượng cá đạt 1,19 tấn/ha tăng nên 1,73 tấn /ha năm 2000 ;năng suấttăng bình quân hàng năm xấp xỉ 10% Các hộ chăn nuôi giỏi đạt trên 3 tấn /ha
;sản lượng cá nuôi toàn tỉnh năm 1996 mới chỉ đạt khiêm tốn 6.601 tấn đếnnăm 2000 ước đạt 11.238 tấn, tăng bình quân hàng năm 14,2%
Sản xuất được mở rộng không những tạo thêm công ăn việc làm chongười lao động chủ hộ và người làm thuê ,đồng thời tăng đáng kể nguồnlương thực phẩm “sạch” cho xã hội và các chủ hộ sản xuất phấn khởi đầu tưvốn,kỹ thuật đạt kỹ thuật cao hơn nữa và góp phần phát triển thuỷ sản ở địaphương và cơ cấu kinh tế nông nghiệp ,nông thôn thành các ngành sản xuấtchính về giá trị và tỉ trọng Vị trí của ngành thuỷ sản trong cơ cấu kinh tếnông nghiệp, nông thôn từng bước được hình thành từ 2,64% (năm 1996)nâng lên 3,36%(năm 2000)
Trang 15Những kết quả đạt được trong ngành nông,lâm và thuỷ sản trong 5năm (1996-2000) của toàn tỉnh bước vào giai đoạn sản xuất nông sản hànghoá và đảm bảo vững chắc an toàn lương thực ,thực phẩm ở địa bàn ,và dưthừa cho xuất khẩu Đặc biệt là nông ,lâm ,thuỷ sản phụ thuộc vào điều kiệnthời tiết không thuận lợi mà vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định Vì vậycàng thấy hết đường nối đổi mới ,các chính sách của Đảng và các giải pháptích cực của lãnh đạo địa phương đúng đắn đã phát huy tác dụng trong nôngnghiệp và đẩy mạnh kinh tế nông thôn từ nông thôn đến miền núi ,từ vùng sâuđến ven đô Sản xúât nông lâm thuỷ hải sản đã xuất hiện mô hình mới như :kinh tế trang trại ,hợp tác xã tự nguyện làm dịch vụ cho kinh tế hộ các khâucung ứng vật tư ,thuỷ nông làm đất ,phòng trừ sâu bệnh v v
Đến nay toàn tỉnh có 126 trang trại theo tiêu chí nhà nước ,còn hàngnghìn hộ có quy mô nhỏ hơn trang trại nhưng giá trị hàng hoá thu nhập trongnăm hàng chục triệu đồng vượt trội so với kinh tế hộ gia đình nông dân Quan
hệ sản xuất và nông thôn đã bắt đầu chuyển đổi theo hướng công nghiệphoá ,hiện đaị hoá ,tính đến nay toàn tỉnh có 376 hợp tác xã chuyển đổi theohợp tác xã đổi mới gồm: dịch vụ thuỷ nông với 376 hợp tác xã ,dịch vụ làmđất với 118 hợp tác xã ,dịch vụ bảo vệ thực vật là 330 hợp tác xã và dịch vụtổng hợp bằng 95 hợp tác xã Hoạt động của các hợp tác xã dịch vụ bước đầuđem lại hiệu quả ,hỗ trợ tích cực cho kinh tế hộ phát triển Thông qua hợp tác
xã dịch vụ góp phần tạo điều kiện cho hộ nông nghiệp vừa tiếp cận kỹ thuậtmới ,được cung cấp giống cây,phân bón,thuốc sâu Với giá rẻ bảo đảm chấtlượng ;hạn chế được tư thương ép giá và không phải mua hàng giả Vì vậy cónhiều hợp tác xã kinh doanh có lãi tăng thu nhập cho xã viên và tin tưởng vàođường lối chuyển đổi cơ chế mới của Đảng và Nhà nước
Sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản toàn tỉnh trong mấy năm đổimới ,công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phát triển khả quan và tận dụngđược lao động nông nhàn và cải thiện đời sống dân cư nông thôn Từ đó tạođiều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp,lâm
Trang 16nghiệp,thuỷ sản nói riêng và kinh xã hội nói chung ở nông thôn Tuy giá trịtăng thêm ngành nông ,lâm và thuỷ sản tăng bình quân hàng năm thời kỳ(1996-2000) là 4,5% nhưng tỉ trọng GDP của ngành so với GDP toàn tỉnh đãgiảm dần từ 41,8% (1996) xuống còn 36,6% Công nghiệp và thủ công nghiệpnông thôn gắn với các hoạt động chế biến nông sản như: xay xát sấy khô bảoquản,sửa chữa ,bảo dưỡng máy móc ,thiết bị phục vụ nông nghiệp kịp thời và
đa dạng
Với thành tựu phát triển kinh tế nông thôn trong 5 năm qua thu nhậpcủa hộ nông thôn tăng đều ;nhiều thôn không có hộ đói nghèo và hình thànhlàng văn hoá mới làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc cả về vậtchất và tinh thần góp phần xoá dần tệ nạn xã hội phi bản sắc dân tộc ViệtNam .Cơ sở hạ tầng nông thôn từng bước được củng cố và phát triểngồm:238/238 xã và 1115/1115 thôn có điện phục vụ sinh hoạt và sảnxuất ,trong đó có 97,5% số hộ được dùng điện ;100% số xã có đường ô tô vềđến xã ,đường gạch ,đá ,bê tông liên thôn liên xóm phát triển nhanh theo hìnhthức nhà nước và nhân dân cùng làm Đến nay,toàn tỉnh có 450 km đườngnhựa,bê tông ;1250 km đường cấp phối liên huyện,liên xã và liên thôn ;kênhmương có 9031 km ,trong đó đã được kiên cố hoá 30km đảm bảo chủ độngtưới tiêu cho trên 80 nghìn ha gieo trồng từng vụ Điện cấp cho khu vực nôngthôn từ 268,3 triệu kw/h năm 1996 nâng lên 385 triệu kw/h năm 2000 tăngbình quân hàng năm 10,9 %, giá điện bình quân từ 834 đồng/kwh năm 1996xuống 710 đồng/kwh năm 2000 do khâu quản lý chặt chẽ về kỹ thuật hạn chếhao hụt ở nông thôn Toàn tỉnh có 62 bưu cục và 100% xã có điện thoại đồngthời cứ 85 hộ nông thôn có 1 điện thoại ;về hạ tầng cơ sở nông thôn phục vụđời sống văn hoá tinh thần được quan tâm tích cực như:trạm xá,nhà trẻ ,mẫugiáo, nhà văn hoá và hầu hết các xã có trường học được xây dựng kiên cố vớitốc độ nhanh
Nhờ có sự tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông lâm và thuỷ sản
Trang 17các khâu thay thế lao động thủ công ;đến nay toàn tỉnh có 1.706 máy kéotrong đó máy kéo nhỏ là 1.553 cái; máy bơm nước có 1709 cái ;máy nghiềnthức ăn có 797 cái ;tàu thuyền đánh bắt hải sản có 167 cái và 14.644 máy tuốtlúa các loại thuộc quyền sở hữu của chủ hộ nông dân cá thể phục vụ.
Hoạt động dịch vụ các khâu làm đất,tưới tiêu,bảo vệ thực vật ,xayxát ,vận chuyển ,tuốt lúa v v Ở nông thôn theo phương thức liên kết ,tựnguyện rất linh hoạt và có hiệu quả thiết thực theo mùa vụ tạo điều kiệngiảm bớt hư hao sản phẩm thu hoạch và chế biến ở địa phương ;đồng thờihình thành cụm dân cư đô thị hoá ở nông thôn Vì vậy năm 1990 có 7 thị trấntăng lên 10 thị trấn trong 1996 và 14 thị trấn năm 2000 ;việc xây dựng ,muasắm đồ dùng gia đình và tiện nghi đắt tiền của các hộ chiếm tỉ trọng tổng hộ
số nông thôn tăng nên như sau:
Số hộ có nhà kiên cố năm 1990 chiếm 18,1% ; năm 2000 chiếm38,9%
Số hộ có xe máy năm 1990 chiếm 1,5%; năm 2000 chiếm 10%
Số hộ có ti vi năm 1990 chiếm 11,8% ; năm 2000 chiếm 70%
Số hộ có radiô năm 1990 chiếm 30%; năm 2000 chiếm 37%
Số hộ dùng nước sạch năm 1990 chiếm 65%; năm 2000 chiếm 90% Kết thúc kế hoạch 5 năm 1996-2000 ,toàn Đảng ,toàn dân tỉnhHải Dương đã đạt được các mục tiêu đề ra và nông lâm thuỷ sản và phát triểnkinh tế nông thôn đồng thời tạo tiền đề vững chắc cho kế hoạch 5 năm tới(2001-2005) sẽ đạt được các mục tiêu mới về nông nghiệp ,nông thôn cao hơn
Đời sống của hộ nông thôn được cải thiện là do cơ chế và chính sáchcủa Đảng và nhà nước, các nghị quyết ban hành về vấn đề phát triển nôngnghiệp và nông thôn; các giải pháp sáng tạo của cấp uỷ, chính quyền ,địaphương cho trên 3.500 nghìn hộ nông thôn trên địa bàn nỗ lực phấn đấu vàchủ động khai thác tiềm năng đất đai, vốn, lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật
Trang 18hiện có nhằm đẩy mạnh sản xuất xây dựng nông thôn mới theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá
IV - SỰ CẦN THIẾT VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG CỦA CHUYÊN ĐỀ Ở HẢI DƯƠNG
Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.Hơn nữa, nước ta là một nước nông nghiệp gần 80% dân số sống ở nông thônlàm nông nghiệp là chủ yếu Do đó, nông nghiệp có một vai trò cực kỳ quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thời gian tớicũng như trong tương lai.Việc không ngừng hiện đại hoá bằng việc áp dụngcác tiến bộ khoa học, khoa học công nghệ vào ngành này là một việc hết sứckhó khăn cũng như không kém phần quan trọng Nông nghiệp cung cấp mộtkhối lượng lớn nguyên liệu cho các ngành khác đặc biệt là công nghiệp chếbiến lương thực, thực phẩm các sản phẩm thô của ngành nông nghiệp; bảođảm nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng cao của nhân dân cả về mặtchất lượng cũng như mặt số lượng; góp phần đẩy lùi và dần xoá hẳn cảnh đóinghèo của người dân nông thôn
Ngành nông nghiệp phát triển góp phần tạo công nhiều công ăn việclàm cho xã hội, thu hút một lực lượng dư thừa rất lớn của nông thôn ViệtNam nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung, tận dụng một cáchtriệt để lao động nông nhàn của nông thôn khi chưa có thời vụ từ đó tạo cho
xã hội ổn định, đời sống người dân nông thôn ngày càng nâng lên một bước
Nông nghiệp, nông thôn còn là một nguồn thu ngoại tệ lớn, bằng việcxuất khẩu các mặt hàng truyền thống có giá trị cao trên thị trường quốc tế.Góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm pháttriển mạnh mẽ, giảm thâm hụt ngoại tệ, tạo ra một khối lượng tích luỹ đầu tư
từ trong nước rất lớn
Trang 19Nông nghiệp, nông thôn còn là một thị trường rộng lớn để tiêu thụ cácsản phẩm hàng hoá của các ngành khác Đó là những vai trò rất lớn của ngànhnông nghiệp chúng ta cần nghiên cứu xem xét
Ngay từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn khảng định tầm quantrọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn Trong quá trình đổimới, đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển nông nghiệp và nông thôn đãnêu trong các Nghị quyết cuả các Đại hội V,VI,VII và nhiều Nghị quyếtTrung ương, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội VIII với Nghị quyết Trung ương
số 06/NQ-TƯ về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn trongchặng đường đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước : Coi côngnghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là nhiệm vụ quan trọnghàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiên đại trong giai đoạn hiện nay.Trong một số chủ trương, chính sách lớn được đề ra trong Nghị quyết đượcnhấn mạnh: Đẩy mạnh thực hiện công nghiệp, hiện đại hoá trong phát triểnnông nghiệp và xây dựng nông thôn
Hơn nữa, trong dự thảo báo cáo chính trị của ban chấp hành Trungương Đảng khoá VIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cótiêu đề là : “ Phát huy sức mạnh toàn dân tộc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh côngnghiệp hoá ,hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ViệtNam.” Từ Đại hội VIII, đất nước ta đã chuyển sang chặng đường mới đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp
Tuy đã thực hiện xong 5 năm kế hoạch của Đại hội VIII, đã đạt đượcnhiều thành tựu đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều yếu kém khuyết điểm, đứngtrước những thời cơ và thách thức mới Do đó chặng đường tiếp theo cần phảilàm tiếp và hoàn thành một số nhiệm vụ của những chặng đường trước Trong
dự thảo có đoạn viết: Đường lối kinh tế là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, xây dựng nền công nghiệp kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở
Trang 20thành một nước công nghiệp ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thờixây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, pháthuy cao độ nội lực trong nước đồng thời tranh thủ sụ giúp đỡ từ bên ngoài vàchủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bềnvững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiệnđời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ công bằng xãhội; kết hợp kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh.
Đảng ta đã quán triệt: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp củatoàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước là chủ đạo
Trong bối cảnh đó, ngành thống kê có nhiệm vụ thu thập, xử lý, cungcấp và phân tích thông tin thống kê phản ánh thực trạng nền kinh tế xã hội vớinhững xu hướng phát triển để dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn giúp chocác cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan có liên quan có căn cứ đểđánh giá đúng và kịp thời thực trạng và diễn biến sự phát triển của nền kinh tếtrong tương lai, thực trạng diễn biến và hiệu quả của quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra trong các chiến lược pháttriển kinh tế xã hội trong các Đại hội vừa qua, để có giải pháp điều chỉnh, bổsung, thúc đẩy có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá hiện, đại hoá đất nướcnói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Từ những năm thực hiện đổi mới đến nay, đặc biệt là việc thay đổi hệthống tài khoản MPS sang hệ thống tài khoản quốc gia SNA của liên hợpquốc, hệ thống chỉ tiêu của kinh tế xã hội của nước ta ngày càng hoàn chỉnh,dần phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý và điềutiết của Nhà nước Hệ thống chỉ tiêu này về cơ bản phản ánh tương đối toàndiện sư phát triển của đất nước nói chung cũng như các ngành và các lĩnh vựctrọng yếu trong thời kỳ hiện đại hoá, đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu thống kêphản ánh trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và hệ thống kêphản ánh trình độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Trang 21việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở nước ta là vấn đề hết sức quan trọng, nó có ý nghĩa trong việcđánh giá đúng đắn những thành tựu đã đạt được cũng như những mặt yếu kémcòn tồn tại trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của đất nước.Đồng thời phản ánh kịp thời kết quả thực hiện những mục tiêu đề ra của Nhànước cho từng thời kỳ để làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ phát triển củanền kinh tế nước ta nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng, làm tiêu đềcho việc so sánh giữa các vùng, các khu vực và quốc tế
Với những điều kiện tự nhiên kinh tế văn hoá xã hội nông nghiệp, cơ
sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp nông thôn của Hải Dương như đã trình bày ởcác phần trước và vị trí, vai trò của ngành nông nghiệp, cho chúng ta thấy HảiDương là một tỉnh nông nghiệp tương đối điển hình cho vùng đồng bằngsông Hồng cũng như của cả nước Việc thực hiện các chiến lược kinh tế củaĐảng và Nhà nước đề ra trong những năm đổi mới đặc biệt trong Nghị quyếtĐại hội VIII của Đảng được Đảng bộ và Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiệnmột cách đúng đắn đó là đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn; coi công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay
CHƯƠNG II
Trang 22NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN -
I - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ:
Ở Việt Nam, công nghiệp hoá là quá trình chuyển từ một nước sảnxuất nhỏ công nghiệp lạc hậu, công nghệ và năng suất lao động thấp, thànhmột nước có cơ cấu công- nông nghiệp và dịch vụ hiện đại, khoa học và côngnghệ tiên tiến, năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân
Công nghiệp hoá và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật có quan hệ chặtchẽ với nhau, song không hoàn toàn đồng nhất với nhau Công nghiệp hoá chỉ
là một cách thức tiến hành còn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật lại là mụctiêu và công việc phải tiếp tục qua các giai đoạn phát triển của phương thức sảnxuất
2-Tác dụng của công nghiệp hoá.
Thực hiện đúng đắn quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá cónhững tác dụng to lớn về nhiều mặt
- Tạo điều kiện để biến đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất laođộng tăng sức chế ngự của con người đối với tự nhiên ,tăng trưởng và pháttriển kinh tế, do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân; gópphần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
Trang 23- Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố tăng cường vai trò kinh tếcủa Nhà nước, nâng cao năng lực tích luỹ tăng công ăn việc làm, nhờ đó làmtăng sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội -con người nhân tố trung tâm của nền sản xuất xã hội
- Tạo điều kiện vật chất cho việc tăng cường củng cố an ninh và quốcphòng
- Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ,
đủ sức thực hiện sự phân công lao động và hợp tác quốc tế
- Với điều kiện về cơ sở vật chất- kỹ thuật nước ta còn yếu kém vềnhiều mặt : Lực lượng sản xuất có trình độ rất thấp và nhỏ bé, đặc biệt là tưliệu lao động - các công cụ lao động, hệ thống các yếu tố vật chất phục vụtrực tiếp, gián tiếp quá trình sản xuất (như nhà xưởng, kho, bến, bãi, ống dẫn,băng truyền, đường xá, các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc)
Mà đây là một yếu tố quan trọng trong lực lượng sản xuất, có ý nghĩa quyếtđịnh nhất (Mác gọi là hệ thống xương cốt và cơ bắp của nền sản xuất xã hội)
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự ứng dụng của các phátminh, sáng chế vào sản xuất còn rất yếu và lẻ tẻ chỉ tập chung ở những khucông nghiệp các thành phố lớn, các khu vực phát triển còn các vùng sâu vàvùng xa chưa được tiếp cận Khoa học cơ bản chưa tạo nền tảng cho các khoahọc khác ứng dụng, phát triển đi sâu Mặt khác, tính chất và trình độ của cácmối quan hệ xã hội còn ở thời kỳ sơ khai, chưa thoát khỏi mối quan hệ xã hộicủa thời kỳ kế hoạch hoá tập trung Như vậy quá trình thực hiện công nghiệphoá - hiện đại hoá càng có ý nghĩa và tác dụng lớn đối với nước ta
- Chúng ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong khi các nướckhác đã thực hiện trước đó hơn một thế kỷ hay đang thực hiện nhưng cónhững thành quả rất cao Vì vậy chúng ta là một nước đi sau cần phải học hỏi
kế thừa những kinh nghiệm quý báu của họ, đón đường và đi tắt những bướccần thiết dể rút ngắn quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đaị hoá ở nước
Trang 24ta và sao cho nó có kết quả nhất , giảm bớt được những chi phí về nguồn lựcvật chất và con người.
3-Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
Từ việc nghiên cứu khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tácdụng của nó ở trên có thể thấy công nghiệp hoá, hiện đại hoá có hai vấn đề :Trình độ cơ sở vật-kỹ thuật của xã hội đó và cơ cấu kinh tế giữa các ngành,giữa các vùng kinh tế, các lĩnh vực kinh tế, các thành phần kinh tế từ hai vấn
đề ta thấy hai nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chungcũng như công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
3.1 - Tiến hành cách mạng khoa học - kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật chất:
Thế kỷ 20 là thế kỷ của KHCN, nhiều cuộc cách mạng KHCN xuấthiện.Con người đã chứng kiến những thay đổi to lớn, trên nhiều lĩnh vực của đờisống kinh tế , chính trị, xã hội
Cuộc cách mạng này có nhiều nội dung, song có 5 nội dung chủ yếu sau:
Về tự động hoá : Nhiều loại máy tự động hoá ra đời có thể thay thếcon người trong những công việc nguy hiểm, độc hại đến những công việc đòihỏi độ chính sách cao, sức sáng tạo như máy tự dộng quá trình, máy công cụdiều khiển bằng số, rôbôt
Về năng lượng: Ngày nay con người không những khai thác nhữngnăng lượng truyền thống như nhiệt điện,thuỷ điện mà ngày càng đi sâu khaithác những năng lượng mới và dần dần những năng lượng này đang thay thếnhững năng lượng truyền thống Một trong những dạng năng lượng mới cótriển vọng nhất đó là năng lượng nguyên tử, mặt trời, gió, thuỷ triều
Về vật liệu mới những năm cuối của thế kỷ 20 nhiều loại vât liệu mớivới chủng loại rất phong phú và đa dạng có nhiều tính năng quý báu mà cácdạng vật liệu cũ không thể có Thí dụ :Vật liệu tổ hợp hay còn gọi compositvới các tính năng mong muốn, gốm zincom hoặc cacbuasilic chịu nhiệt cao
Trang 25Về công nghệ sinh học :công nghệ vi sinh học, kỹ thuật cuzin, kỹthuật gen và nuôi cấy tế bào, kỹ thuật sinh sản vô tính bằng cách nuôi cấyphôi, đặc biệt là bước đầu hoàn thành bản đồ gen người càng mở ra cho conngười những bước đi vững chắc tiến vào tương lai về việc chữa các loại bệnhhiểm nghèo thế giới đang bó tay ứng vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệptạo ra những sản phẩm hàng hoá có chất lượng và năng suất cao.
Về điện tử và tin học: Một lĩnh vực vô cùng rộng lớn và hấp dẫn, nhất
là lĩnh vực máy tính bây giờ nó đã ứng dụng vào mọi hoạt động từ sản xuấtđến vui chơi giải trí và y tế giáo dục
Từ những nội dung của KHKT có nhiều ý kiến nói về nó song vẫnđược nhất kiến cho rằng cuộc cách mạng nay có hai đặc trưng chủ yếu
Một là: Khoa học đã thành lực lượng sản xuất trực tiếp nói khoa học
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là nó bao gồm cả khoa học tự nhiên - kỹthuật lẫn khoa học xã hội, nhất là khoa học kinh tế ;nó do con người tạo rathông qua con người -nhân tố trung tâm, nhân tố chủ thể tác động đến lựclượng sản xuất nó đỏi hỏi phải có chính sách đầu tư cho khoa học - kỹ thuật.Ngày nay bất cứ sự tiến bộ nào của kỹ thuật, công nghệ sản xuất đều phải dựatrên những thành tựu của khoa học làm cơ sở lý thuyết cho nó
Hai là: Thời gian cho một phát minh mới của khoa học ra đời thay thế
cho phát minh cũ có xu hướng rút ngắn và phạm vi ứng dụng của một thànhtựu khoa học vào sản xuất và đời sống ngày càng mở rộng Đặc trưng này làmtài sản cố định trong quá trình sản xuất, sử dụng vừa mới xây dựng songkhông chỉ hao mòn hữu hình mà còn hao mòn vô hình; không chỉ liên quanđến sự tích luỹ vốn mà còn liên quan đến biến động của giá thành sản phẩm
và liên quan tốc độ thay đổi nhanh chóng của các ngành có công nghệ mũinhọn Nó đòi hỏi cần được kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược khoa học - côngnghệ với chiến lược kinh tế
Trang 26Việt Nam một nước bỏ qua chế độ TBCN để đi nên CHXH, tiến hànhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện thế giới đã trải qua hai cuộccách mạng khoa học - kỹ thuật; hơn nữa nước ta tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá trong điều kiện cơ cấu kinh tế và công nghệ mở cửa gắn với điềukiện bên ngoài Do vậy cách mạng khoa hoc - kỹ thuật ở nước ta có thể và cầnphải bao hàm cả hai nội dung cả hai cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật màthế giới trải qua
Trong hoàn cảnh đó, vị trí của cuộc cách mạng này ở nước ta tất yếuphải được xác định là then chốt và khoa học kỹ thuật được xác định là mộtquốc sách, một động lực cần đem toàn lực lượng để nắm lấy và phát triển nó.Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật ở nước ta có thể khai thác thành hai nộidung chủ yếu gắn với mục tiêu và nhiệm vụ của qúa trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá : Một là, xây dựng thành công cơ sở vật chất xã hội cho CNXH
để dựa vào đó mà trang bị công nghệ hiện đại cho các ngành kinh tế quốcdân; hai là tổ chức việc nghiên cứu, thu thập, phổ biến và ứng dụng thông tinnhững thành tịu mới vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống với hình thứcbước đi ,quy mô và trình độ thích hợp
3.2 - Xây dựng cơ cấu hợp lý và phân công lại lao động xã hội:
Từ một nền sản xuất nhỏ lên một nền sản xuất lớn XHCN không quagiai đoạm phát triển TBCN trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tấtyếu phải phân công lại lao động xã hội
Phân công lại lao đông xã hội là sự chuyên môn hoá lao động xã hội
do đó chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành trong nội bộ từng ngành giữacác vùng trong toàn bộ nền kinh tế Phân công lao động có tác động to lớn:
Nó là đòn bẩy của sự phát triển công nghệ và năng suất lao động Cùng vớicách mạng KHCN nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp
lý Sự phân công lại lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá tuân thủ các quá trình có tinh chất quy luật sau:
Trang 27- Tỉ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần, tỉ trọng và
số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày một tăng
- Tỉ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với laođộng giản đơn trong tổng lao động xã hội
- Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất tăngnhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất
Ở Việt Nam, phương hướng phân công lại lao động xã hội hiện naycần triển khai trên cả hai địa bàn: Tại chỗ và nơi khác để phát triển về chiềurộng kết hợp phát triển theo chiều sâu
Như lý luận ở trên nói đến vấn đề phân công lao động xã hội có liênquan chặt chẽ với việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
Cơ cấu kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm : cơ cấu ngành và lĩnhvực kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và hướng phát triển trên các vùng kinh tế
Cơ cấu kinh tế theo nghĩa hẹp là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa cácngành, các lĩnh vực kinh tế, giữa các vùng kinh tế trong đó quan hệ giữa côngnghiệp, nông nghiệp và dịch vụ là bộ phận có tầm quan trọng - Bộ xươngsống của cơ cấu kinh tế Các quan hệ này được xem xét dưới các khía cạnh:Trình độ công nghệ, quy mô, nhịp độ phát triển giữa chúng
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là yêu cầu cần thiết khách quan củamỗi nước trong thời kỳ công nghiệp hoá vấn đề quan trọng là tạo ra một cơcấu kinh tế tối ưu Một cơ cấu kinh tế xây dựng được gọi là tối ưu khi nó đápứng được các yêu cầu: Phản ánh đúng các quy luật khách quan, nhất là cácquy luật kinh tế; phù hợp vơi sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã vàđang diễn ra như vũ bão trên thế giới; cho phép khai thác mọi tiềm năng củađất nước, ngành, xí nghiệp cả chiều rộng và chiều sâu; thực hiện phân công vàhợp tác quốc tế theo xu hướng sản xuất và sinh hoạt ngày càng được quốc tếhoá Do vậy, cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là cơ cấu mở ;xây dựng cơcấu kinh tế là một quá trình trải qua những chặng đường nhất định, do vậy
Trang 28xây dựng cơ cấu kinh tế của chặng đường trước phải sao cho phải tạo đà được chochặng đường sau.
3.3 - Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm còn lại của thập kỷ 90 (1996-2000) ở Việt Nam
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là thời kỳ lịch sử lâudài được phát triển qua các chặng đường nhất định Do vậy công nghiệp hoácủa thời kỳ này cũng phải nội dung tương ứng với mỗi chặng đường nhất định
Việt Nam đang ở những năm đầu của thế kỷ 21 vừa trải qua 15 nămthực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hộiVIII của Đảng trong đó có nội dung về công nghiệp hoá, hiện đại hoá là đặcbiệt quan trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông nghiệp nôngthôn; phát triển toàn diện nông lâm ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biếnnông, lâm, thuỷ sản; phát triển ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vàhàng xuất khẩu Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểmkết cấu hạ tầng kinh tế, trước những khâu ách tắc và yếu kém nhất trong sựphát triển, xây dựng có chọn lọc một số công nghiệp nặng có trọng yếu và hếtsức cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường phát huy tác dụngnhanh và hiệu quả Mở rộng thương nghiệp, du lịch và dịch vụ Đẩy mạnhcác hoạt động kinh tế đối ngoại Hình thành một số ngành kinh tế mũi nhọnnhư chế biến nông, lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biến dầu khí và một sốngành cơ khí chế tạo, ngành điện tử và một số ngành công nghệ thông tin, dulịch Phát triển mạnh giáo dục và đào tạo ,khoa học và công nghệ
3.3.1 - Công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Phát triển toàn diện nông, lâm, thuỷ sản hình thành các vùng tập trungchuyên canh, cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi có sản phẩm hàng hoánhiều về số lượng tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn lương thực trong xã hội
Trang 29đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoàinước
Thực hiện thuỷ lợi hoá điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá
Phát triển công nghệ chế biến nông, lâm, thuỷ sản với công nghệ ngàycàng cao gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị
Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghềmới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phinông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thànhnông thôn mới văn minh hiện đại
Hoàn thành cơ bản việc giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân Điềuchỉnh việc phân bố vốn và huy động thêm nhiều nguồn vốn cho phát triểnnông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn Có chính sách khuyến khích vàtrợ giúp nông dân trong xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển giao công nghệ,giải quyết các khó khăn về vốn, về giá cả vật tư nông nghiệp và hàng nôngsản, về thị trường tiêu thụ sản phẩm
3.3.2 - Phát triển công nghiệp:
Ưu tiên các ngành chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêudùng, hàng xuất khẩu công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin Phát triển
có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng (năng lượng - nhiên liệu, vật liệuxây dưng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa tầu thuỷ, luyện kim, hoá chất) tăngthêm năng lực sản xuất tương ứng với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nâng cao khảnăng độc lập tự chủ về kinh tế và quốc phòng
Kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng và phát triển công nghiệpquốc phòng nhằm đap ứng những nhu cầu tối thiểu cần thiết trong từng thời kỳ
Trang 30Cải tạo khu công nghiệp hiện có và kết cấu hạ tầng và công nghiệpsản xuất và xây dựng mới một số khu công nghiệp, phân bố rộng trên cácvùng.
3.3.3 - Xây dựng kết cấu hạ tầng:
Khắc phục sự xuống cấp của hệ thống giao thông hiện có khôi phục vànâng cấp, mở thêm một số tuyến giao thông trọng yếu, kết hợp giao thông vớithuỷ lợi, tận dụng giao thông đường thuỷ, mở thêm đường đến cả vùng sâuvùng xa, cải thiện giao thông ở các thành phố lớn, cải tạo nâng cấp một sốcảng sông, cảng biển, sân bay; xây dựng cảng biển nước sâu.Tiếp tục pháttriển và hiện đại hoá mạng thông tin liên lạc quốc gia, mở liên lạc điện thoạihầu hết đến các xã Phát triển nguồn điện cải tạo và mở rộng mạng lưới điệnđáp ứng nhu cầu và cung cấp điện ổn dịnh Cải thiện việc cấp thoát nước ở đôthị thêm nguồn nước sạch cho nông thôn
Tăng mức đầu tư cho kết cấu hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế ,khoahọc, văn hoá - thông tin, thể thao
3.3.4 - Phát triển nhanh du lịch, thương mại, các dịch vụ hàng không,
hàng hải, bưu chính-viễn thông, vận tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảohiểm, công nghệ, pháp lý, thông tin và các dịch vụ phục vụ cuộc sống nhân dân
Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại dịch vụ có tầm cở trong khu vực cũng như trên thế giới
xã hội để những vùng còn kém phát triển nhất là các vùng cao, biên giới hảiđảo, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu vùng căn cứ cách mạng có
Trang 31bước tiến nhanh, dần giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triểnkinh tế và xã hội giữa các vùng Coi đây là một trọng tâm chỉ đạo của cácngành, các cấp Đặc biệt quan tâm phất triển kinh tế biển, kết hợp an ninh vớiquốc phòng.
Từng bước hình thành mạng lưới đô thị hợp lý, tránh không tạo thànhcác siêu đô thị Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị
3.3.6 - Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại:
Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và trọng điểmcủa kinh tế đối ngoại Tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Tăng sứccạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường Giảm tỉ trọng sản phẩm thô vàsản phẩm sơ chế, tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh trong hàng xuấtkhẩu Tăng nhanh xuất khẩu và dịch vụ Nâng cao tỉ trọng phần giá trị giatăng trong giá trị hàng xuất khẩu Tăng nhanh xuất khẩu, giảm dần nhập siêu,
ưu tiên việc nhập khẩu để phát triển sản xuất, phục vụ xuất khẩu, hạn chếnhững hàng tiêu dùng chưa thiết yếu Có chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất trongnước
Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hộ nhập khu vực vừa hộ nhậpquốc tế vừa hộ nhập toàn cầu, xử lý đúng lợi ích giữa ta với các đối tác Chủđộng tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ chức cácđịnh chế quốc tế một cách có chọn lọc với bước đi thích hợp
Việc sử dụng vốn vay và thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoàiphải theo quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành và vùng lãnh thổ, đảm thực hiệncác mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra
Tính toán khả năng vay, sử dụng vốn vay có hiệu quả, trả được nợ.Cải thiện cán cân thanh toán Tăng dự trữ ngoại tệ làm rõ và thực hiện đúngtrách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý nợ nước ngoài của người đi vay
và người sử dụng vốn vay
Thử nghiệm để tiến tới đầu tư ra nước ngoài
Trang 32II - HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ PHẢN ÁNH QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN.
Khi nghiên cứu bất kỳ một tổng thể thống kê hay nói cách khác là khichúng ta nghiên cứu bất kỳ một vấn đề kinh tế xã hội nào ta không thể chỉdùng một chỉ tiêu duy nhất để nêu nên hết được các đặc điểm cần nghiên cứucần phản ánh Muốn nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện, một cách có ýnghĩa và hệ thống vấn đề đó ta phải dùng nhiều chỉ tiêu có liên quan với nhau
bổ sung cho nhau và hỗ trợ nhau Điều đó có nghĩa là chúng ta phải xây dựngcác hệ thống chỉ tiêu thống kê một cách khoa học nhất Vậy chỉ tiêu thống kê
và hệ thống chỉ tiêu là gì ? Khi xây dựng ta cần phải tuân thủ những vấn đề gì
để nó có thể phản ánh hết những điều cần nghiên cứu quan tâm cho mộtk mụcđích nào đó
1- Khái niệm về chỉ tiêu thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê:
1.1 - Khái niệm về chỉ tiêu về thống kê
Chỉ tiêu thống kê biểu hiện một cách tổng hợp đặc điểm về mặt lượngtrong sự thống nhất với mặt chất của tổng thể trong điều kiện không gian vàthời gian cụ thể
Thí dụ: Sản lượng lúa Việt Nam, tổng diện tích gieo trồng, tổng chiphí sản xuất v.v
Trong bản thân mỗi chỉ tiêu thống kê có bao hàm mặt chất và mặtlượng của tổng thể mặt chất của chỉ tiêu chính là nội dung kinh tế, chính trịthể hiện một đặc trưng cụ thể nào đó của hiện tượng nghiên cứu và khôngphụ vào một số lượng cụ thể hoặc đơn vị tính toán nào Mặt lượng của chỉtiêu là trị số cụ thể của chỉ tiêu thuộc về thời gian và không gian nhất định.Mỗi chỉ tiêu thống kê thường được biểu hiện bằng các trị số khác nhau, các trị
số thay đổi tuỳ theo điều kiện thời gian và không gian cả theo phuơng pháptính và đơn vị tính
Trang 33Chỉ tiêu thống kê thường mang tính chất tổng hợp biểu hiện đặc điểmcủa cả tổng thể nghiên cứu bao gồm nhiều đơn vị, nhiều hiện tượng Đâycũng là căn cứ để phân biệt giữa chỉ tiêu thống kê và tiêu thức thống kê tuynhiên do đối tượng nghiên cứu cụ thể của thống kê thay đổi rất khác nhau,cho nên trong trường hợp này một đặc điểm nào đó được coi là chỉ tiêu và còntrường hợp khác cũng đặc điểm đó lại được coi là tiêu thức Thí dụ: Số côngnhân trong một xí nghiệp công nghiệp là một chỉ tiêu của xí nghiệp đó cònđược nghiên cứu phân tích cùng với các chỉ tiêu khác như tổng sản lượngtổng chi phí nhưng cũng số công nhân đó lại là tiêu thức của đơn vị tổng thể
là các xí nghiệp công nghiệp được điều tra cùng các tiêu thức khác cho một mụcđích nào đó
Việc xác định đúng đắn chỉ tiêu thống kê ,nội dung và phương pháptính mỗi chỉ tiêu là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Muốn giải quyết vấn đề nàyphải căn cứ vào lí luận kinh tế, chính trị và đường lối chính sách của Đảng vàNhà nước trong từng thời kỳ cụ thể
Các chỉ tiêu thống kê được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳtheo mục đích nghiên cứu.người ta thường phân chia một cách quy ước cácchỉ tiêu thống kê thành 2 nhóm: Nhóm chỉ tiêu khối lượng và nhóm chỉ tiêu chấtlượng
Chỉ tiêu khối lượng là chỉ tiêu nêu lên các đặc điểm chung về quy mô,khối lượng của tổng thể nghiên cứu Chỉ tiêu chất lượng là chỉ tiêu nêu lêntrình độ phổ biến, trình độ phát triển của hiện tượng.Việc phân việc 2 loại chỉtiêu nói trên có tác dụng đốivới một số phương pháp phân tích thốngkê,nhưng chỉ có một tínhchất quy ước và chỉ bao gồm một số chỉ tiêu kinh tếthường dùng nhất
1.2 - Hệ thống chỉ tiêu thống kê:
Trang 34Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp nhiều các chỉ tiêu thống kê cóliên quan với nhau và bổ sung cho nhau để chùng ta nhận biết một cách sâusắc và toàn diện về một vấn đề nào đó
Hệ thống chỉ tiêu thống kê phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm cácyêu cầu sau đây Thứ nhất, là hệ thống chỉ tiêu thống kê phải phù hợp với hệthống chỉ tiêu kế hoạch tương ứng về các mặt: Số lượng chỉ tiêu cơ bản, têngọi mỗi chỉ tiêu nội dung và phương pháp tính toán Hệ thống chỉ tiêu đượcxác định xây dựng phải có nhóm chỉ tiêu cơ bản đóng vai trò quan trọng trong
hệ thống và có các nhóm chỉ tiêu phản ánh xu hướng biến động của hiệntượng Có nhóm chỉ tiêu nhân tố phản ánh các nhân tố tác động đến hệ thốngchỉ tiêu
Hệ thống chỉ tiêu thống kê được xây dựng phải đơn giản và hợp lýkhông nên bao gồm quá nhiều chỉ tiêu làm cho nội dung tổng hợp và phântích trở nên phức tạp tốn kém cho việc xây dựng thu thập số liệu và tính toáncác chỉ tiêu đó Hệ thống chỉ tiêu thống kê cũng không thể coi là cố định màcần được luôn luôn cải tiến cho thích hợp với yêu cầu nghiên cứu mới vànhững vấn đề mới đang được đặt ra
2 - Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn:
Như ở phần trên đã cho ta thấy để có những thông tin đầy đủ về đốitượng cần nghiên cứu thì chúng ta phải xác định đối tượng nghiên cứu đó ởphạm vi đối tuợng nào có nghĩa là chúng ta phải xem nghiên cứu ở tầm vĩ mô
và vi mô, khái quát hay cụ thể để xây dựng nên một hệ thống chỉ tiêu thống
kê phản ánh chúng một cách xác thực nhất
Nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận quan trọng của tổng thể nềnkinh tế ở nước ta nó chiếm một tỉ trọng rất lớn về mọi mặt: GDP, lao động,TLSX, không gian và bị nhiều yếu tố khác tác động ảnh hưởng đặc biệt là cácyếu tố về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
Trang 35Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh quá trình côngnghiệp hoá và hiện đại hoá là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trongviệc đánh giá đúng đắn những thành tựu đã đạt được, những mục tiêu mà đấtnước ta đã đặt ra trong các đại hội trong Đại hội Đảng là đẩy mạnh côngnghiệp hoá hiện đại hoá, hơn nữa là rút ra những mặt yếu kém còn tồn tạitrong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá để có những bài học kinhnghiệm cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các giai đoạn sau đạtđược những kết quả mong muốn, đồng thời phản ánh kịp thời kết quả đã thựchiện những mục tiêu đã đề ra của Nhà nước trong từng thời kỳ để làm cơ sởcho việc đánh giá mức độ phát triển kinh tế nước nhà trong những năm đổimới và khả năng hội nhập của nền kinh tế Nước ta vào nền kinh tế khu vựccũng như thế giới Hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độ công nghiệp hoá, hiệnđại hoá trước hết phải là những chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp của nềnkinh tế; Các chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế phản ánh mức độtăng trưởng khối lượng xuất khẩu ;Các chỉ tiêu phản ánh tình hình đầu tư, cơ
sỏ vật chất kỹ thuật, cán cân thanh toán Quá trình thay đổi cơ cấu lao động vàquá trình tăng tỷ lệ lao động kỹ thuật trong lực lượng lao động tham gia sảnxuất, tỉ lệ lao động tham gia trong các ngành truyền thống như nông nghiệpgiảm xuống, tỉ lệ tham gia trong các ngành công nghiệp dịch vụ và các ngành
s tăng lên, tỉ trọng lao động trí tuệ tăng , tỉ trọng lao động giản đơn của nền kinh tếgiảm
Đối với những ngành kinh tế phải xác định được những chỉ tiêu đặctrưng phản ánh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong các ngành đó.Trong ngành nông nghiệp, để phản ánh quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá nông nghiệp nông thôn phải xác định tính toán được các chỉ tiêu phản ánhquá trình chuyển dịch cơ cấu ở nông thôn, vấn đề điện khí hoá ở nông thôn cơgiới hoá, thuỷ lợi hoá, sinh học hoá và hoá học hoá trong sản xuất nôngnghiệp và những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất nông nghiệp ,nông thôn.Từng ngành sản xuất phải có những chỉ tiêu đặc trưng phản ánh được quá
Trang 36trình thực hiện và trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thông qua việc thựchiện các kế hoạch trong từng thời kỳ để đạt tới mục tiêu đề ra Các chỉ tiêuphản ánh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là những chỉ tiêu phản ánh
xu hướng đi lên trong quá trình phát triển của từng ngành Trong điều kiệnkhả năng thu nhập thông tin cần tìm ra những chỉ tiêu đặc trưng và có khảnăng tính toán được quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vì vậy, các chỉtiêu thống kê phản ánh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bộphận của hệ thống chỉ tiêu thống kê nói chung có nhiệm vụ phản ánh đượcnhững nhu cầu và nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá từng thời kỳ đó là
sự tác động của KHKT và công nghệ vào hoạt động của các ngành nhằm nângcao năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất sự chuyển dịch về cơ cấu giữa cácngành, các lĩnh vực một cách tương đối
Đối với từng ngành kinh tế sẽ lựa chọn những chỉ tiêu phản ánh quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá riêng cho từng ngành đó Tóm lại, hệthống chỉ tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm các nhóm chỉ tiêuchung cho toàn bộ nền kinh tế và các nhóm chỉ tiêu cho từng ngành kinh tế cụ thể
Trong phạm vi chuyên đề này đang xem xét quá trình thực hiện, trình
độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở một tỉnh thuộcvùng đồng bằng sông Hồng Do vậy, chuyên đề chỉ đi sâu phân tích và làm rõvấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở phạm vi mộttỉnh.Nhưng để đánh giá một cách chính xác kết quả thực hiện quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và mối quan hệ đóng góp của nông nghiệp, nôngthôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hải Dương, cũngphải đưa ra nhóm chỉ tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá tổng hợp của nềnkinh tế tỉnh nhà Như chúng ta đã thấy, nếu dựa vào tính chất của các chỉ tiêuthống kê chúng ta có thể chia ra hai nhóm chỉ tiêu sau: Nhóm chỉ tiêu thống
kê phản ánh trực tiếp kết quả của quá trình công nghiệp hoá và nhóm chỉ tiêuphản ánh gián tiếp kết quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chung cho
Trang 37Việc tiến hành phân loại hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh quátrình, trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá có thể tiến hành theo nhiều cáchkhác nhau Tuỳ theo mục đích yêu cầu cung cấp thông tin để đáp ứng các yêucầu phân tích và quản lý khác nhau của mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi vùng
và mỗi địa phương Việc phân loại hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá làm sao có thể vừa đáp ứng được cả yêu cầu cungcấp thông tin cho những người hoạch định chính sách và quản lý ở tầm vĩ mô
và vi mô, cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Vấn đề quan trọng là việc lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh trình độ côngnghiệp hoá, hiện đaị hoá phải phù hợp với những mục tiêu mà Đảng và Nhànước đã đề ra trong các Nghị quyết Đại hội Đảng, phù hợp với mục đíchnghiên cứu và tính khả thi của việc thực hiện thu thập thông tin hệ thống chỉ tiêu
Đối với nông nghiệp, nông thôn phải xác định được những chỉ tiêuđặc trưng phản ánh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông nghiệp
và nông thôn của tỉnh Từng ngành sản xuất phải có những chỉ tiêu đặc trưngphản ánh được quá trình thực hiện và trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoáthông qua việc thực hiện các kế hoạch trong từng thời kỳ để đạt tới các mụctiêu đề ra Các chỉ tiêu thống kê phản ánh trình độ công nghiệp hoá, hiện đạihoá là một bộ phận của hệ thống chỉ tiêu thống kê nói chung có nhiệm vụphản ánh những yêu cầu và nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá trongtừng thời kỳ đó là sự tác động của công nghiệp hoá, khoa học công nghệ tiêntiến vào hoạt động của các ngành nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệuquả trong sản xuất kinh doanh
2.1- Nhóm chỉ tiêu phản ánh qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tổng hợp của nền kinh tế:
Nhóm chỉ tiêu phản ánh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tổnghợp của nền kinh tế bao gồm các nhóm chỉ tiêu sau :
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp
Trang 38- Nhóm chỉ tiêu phản ánh về kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình đầu tư ,cơ sở vật chất kỹ thuật
2.1.1 - Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu phản ánh quy mô, cơ cấu GDP theo ngành kinh tế của nềnkinh tế
- Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người: Chỉ tiêu này xác định bằng cách:
GDP
GDP bình quân đầu người =
Dân số bình quân cùng thời kỳ
- Chỉ tiêu phản ánh năng suất lao động xã hội, chỉ tiêu này phản ánh
cả năng suất lao động sống và lao động vật hoá, ký hiệu là (W)
- t : Là tốc độ phát triển GDP của thời kỳ i
2.1.2 Nhóm chỉ tiêu về kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Một nền kinh tế được coi là phát triển là một nền kinh tế luôn tạo ra sựchuyển dịch cơ cấu, trong quá trình chuyển dịch sẽ tạo ra sự biến động cấu
Trang 39ngày một hợp lý hơn theo quy luật và xu hướng của sự phát triển kinh tế vàkhao học kỹ thuật công nghệ Có nghĩa là chuyển dịch từ ngành có giá trịtăng sang ngành có giá trị tăng thêm cao, cũng đồng nghĩa với việc từ cácngành có hàm lượng lao động thấp với trình độ công nghệ và kỹ năng thấp,phương thức quản lý thấp sang các ngành có hàm lượng lao động cao vớitrình độ khoa học công nghệ kỹ thuật cao, phương thức quản lý khoa học.Đặc trưng lớn của một nền kinh tế phát triển là có sự chuyển dịch liên tụctheo quy luật trên của cơ cấu sản xuất, cơ cấu xuất khẩu, cơ cấu lao động, cơcấu nông nghiệp, nông thôn.
- Hệ thống chỉ tiêu và kết quả chuyến dịch bao gồm các chỉ tiêu sau:
a- Các chỉ tiêu về cơ cấu sản xuất:
- Chỉ tiêu về cơ cấu sản xuất theo ngành kinh tế: Ngành nông, lâmnghiệp, thuỷ sản; Ngành công nghiệp, xây dựng, ngành dịch vụ
- Chỉ tiêu về cơ cấu sản xuất theo vùng kinh tế: Vùng đồng bằng sôngHồng, đồng bằng sông Cửu long v.v
- Chỉ tiêu về cơ cấu sản xuất theo địa giới hành chính các tỉnh, thành phố
b- Các chỉ tiêu về cơ cấu xuất khẩu:
- Chỉ tiêu tỷ trọng hàng tinh chế trong tổng kim ngạch xuất khẩu
- Chỉ tiêu tỷ trọng hàng thô (nông, lâm, thuỷ sản, nguyên liệu trongkim ngạch xuất khẩu
- Chỉ tiêu tỷ trọng hàng nông nghiệp trong tổng kim ngạch XNK
- Chỉ tiêu tỷ trọng hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch XNK
- Chỉ tiêu tỷ trọng sản phẩm dịch vụ trong tổng kim ngạch XNK
c- Các chỉ tiêu về cơ cấu lao động:
- Chỉ tiêu về cơ cấu lao động theo 3 khu vực: Nông, lâm nghiệp, thuỷsản, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ
Trang 40- Chỉ tiêu về cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo: Chưa tốt nghiệpPTTH, tốt nghiệp PTTH, tốt nghiệp CĐ, THCN, tốt nghiệp đại học trở lên.
- Chỉ tiêu về cơ cấu lao động theo ngành kinh tế: Ngành kinh tế khuvực I, ngành kinh tế khu vực II, ngành kinh tế khu vực III
- Chỉ tiêu về cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế: Khu vực I(khai thác sản phẩm tự nhiên), khu vực II (chế biến sản phẩm từ sản phẩmkhai thác), khu vực III (sản xuất sản phẩm dịch vụ)
- Chỉ tiêu về cơ cấu lao động phân theo lao động thành thị và lao độngnông thôn
Ta có số liệu về các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu lao động trong 5 năm(1996 - 2000) của tỉnh Hải Dương
B1: Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo
B2: Cơ cấu lao động theo 3 khu vực
Đơn vị tínhn v tính: L nị tính ần
Năm
Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000
Tỷ trọng lao động công nghiệp, XD 0,08 0,08 0,07 0,08 0,08
Tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 0,83 0,83 0,84 0,84 0,84
Tỷ trọng lao động dịch vụ và khác 0,09 0,09 0,09 0,08 0,08
B3: Cơ cấu lao động theo lao lao động nông thôn và lao động thành thị
Đơn vị tínhn v tính: L nị tính ần