1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.

23 509 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 253 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là khát vọng của tất cả các quốc gia và trong mọi thời đại. Tuy nhiên việc đạt được mong muốn kép này là hết sức khó khăn, và trong thực tiễn đã có nhiều bằng chứng cho thấy sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Những chính sách dựa trên mục tiêu công bằng có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, những chính sách chỉ nhằm tăng trưởng có thể làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng. Do đó mà việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng, là vấn đề đang được lưu tâm hàng đầu ở hầu hết các quốc gia trong thời đại ngày nay. Nước ta bước vào nền kinh tế thị trường với nhiều thuận lợi và thách thức. Từ thực tiễn kết hợp với học hỏi kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới nước ta đã và đang từng bước chuyển mình phát triển. Đảng và nhà nước ta luôn đề cao vai trò của tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời để hướng tới xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đặt ra là phải đảm bảo công bằng xã hội. Đây là 2 mục tiêu xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế của nước ta. Trong giai đoạn 2001 – 2007 nước ta cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, bên cạnh đó cũng có còn nhiều hạn chế. Từ kết quả và các số liệu nghiêm cứu, bài luận bàn về “Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là khát vọng của tất cả các quốc gia vàtrong mọi thời đại Tuy nhiên việc đạt được mong muốn kép này là hết sức khó khăn, vàtrong thực tiễn đã có nhiều bằng chứng cho thấy sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế vớicông bằng xã hội Những chính sách dựa trên mục tiêu công bằng có thể dẫn đến triệt tiêucác động lực tăng trưởng kinh tế Ngược lại, những chính sách chỉ nhằm tăng trưởng có thểlàm gia tăng tình trạng bất bình đẳng Do đó mà việc giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng, là vấn đề đang đượclưu tâm hàng đầu ở hầu hết các quốc gia trong thời đại ngày nay

Nước ta bước vào nền kinh tế thị trường với nhiều thuận lợi và thách thức Từ thựctiễn kết hợp với học hỏi kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới nước ta đã vàđang từng bước chuyển mình phát triển Đảng và nhà nước ta luôn đề cao vai trò của tăngtrưởng kinh tế, nhưng đồng thời để hướng tới xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đặt ra là phải đảmbảo công bằng xã hội Đây là 2 mục tiêu xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế của nước ta.Trong giai đoạn 2001 – 2007 nước ta cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, bên cạnh

đó cũng có còn nhiều hạn chế Từ kết quả và các số liệu nghiêm cứu, bài luận bàn về

“Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.

Trang 2

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI:

1 Khái quát quan niệm về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:

1.1 Tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời giannhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăngtrưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa

so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập củanền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánhqua các chỉ tiêu và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người.Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tăng trưởng kinh tế có tính hai mặt: mặt lượng và mặt chất Trong quá trình phát triển,các quốc gia phải quan tâm đồng thời đến cả hai mặt của tăng trưởng kinh tế và xu hướng

vận động tích cực của nó Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự

tăng trưởng và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởngthu nhập Đứng trên góc độ toàn nền kinh tế, thu nhập thường được thể hiện dưới dạng giátrị: có thể là tổng giá trị thu nhập, hoặc có thể là thu nhập bình quân trên đầu người Tuynhiên, để phản ánh chính xác hơn sự tăng trưởng kinh tế của một quôc gia, người ta thườngchỉ tính sản lượng ròng của một nền kinh tế, tức là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), hoặcmức tăng GDP bình quân đầu người theo thời gian

Mặt chất lượng tăng trưởng là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế(còn số lượng tăng trưởng là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng), thể hiện qua các chỉtiêu phản ánh hiệu quả đạt được mặt số lượng của tăng trưởng và khả năng duy trì nó trongdài hạn Mặt chất lượng tăng trưởng còn được xem xét dưới tác động lan toả của tăngtrưởng kinh tế đến các đối tượng chịu ảnh hưởng, đó là: ảnh hưởng của tăng trưởng đếnchuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; tác động của sự gia tăng thu nhập đến sự cải thiện tìnhtrạng nghèo đói, bình đẳng, công bằng xã hội và cuối cùng là kết quả của tăng trưởng ảnhhưởng đến bền vững tài nguyên, môi trường Như vậy, nếu theo nghĩa rộng, chất lượng tăngtrưởng thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào, tạo nên tính chất, sự vận động của cácchỉ tiêu tăng trưởng và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xãhội - môi trường

1.2 Công bằng xã hội:

Trang 3

Trong quá trình phát triển kinh tế, sự tiến bộ và công bằng xã hội chính là mục tiêucuối cùng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế, còntăng trưởng là điều kiện cần của sự phát triển Các nước đang phát triển không thể thực hiệnđược mục tiêu phát triển nền kinh tế nếu không có một khả năng tích luỹ vốn cao, và mụctiêu phấn đấu của xã hội không phải là cho một sự công bằng trong đó ai cùng nghèo như

ai Một xã hội lành mạnh phải dựa trên cơ sở của một nền kinh tế vững chắc về vật chất,một sự công bằng hợp lý để thúc đẩy con người giao lưu hợp tác phát triển kinh tế

Khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế là cái có thể xác định được bằng những con số,khái niệm công bằng xã hội mang tính chuẩn tắc, nghĩa là tuỳ thuộc nhiều vào quan điểmcủa con người Theo nghĩa rộng, công bằng xã hội đồng nghĩa với bình đẳng xã hội, đó làquyền ngang nhau giữa người với người về mọi phương diện xã hội như kinh tế, chính trị,

xã hội, văn hoá v.v Như vậy công bằng xã hội không chỉ bó hẹp trong một lĩnh vực xãhội nào đó mà nó là sự công bằng trong sự tham gia và hưởng thụ kết quả hoạt động trongcác lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, dân tộc, giớiv.v Bình đẳng xã hội chỉ sự côngbằng toàn diện mà sự công bằng trong mỗi lĩnh vực chỉ là một bộ phận cấu thành của nó.Theo nghĩa đó, bình đẳng xã hội gắn với sự phát triển toàn diện con người và là kết quả của

sự phát triển đó

Trong các nền kinh tế đang phát triển, do vai trò quyết định nổi bật của kinh tế đối với

sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và xã hội, cho nên nội dung quan trọng nhất củabình đẳng xã hội trước tiên và chủ yếu là bình đẳng về kinh tế Bình đẳng về kinh tế là mộtkhía cạnh của bình đẳng, và đó chính là công bằng xã hội theo nghĩa hẹp (gọi chung là côngbằng xã hội) Công bằng xã hội theo nghĩa hẹp là sự ngang bằng nhau giữa người với người

về một phương diện hoàn toàn xác định, đó là phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ vớiquyền lợi, giữa cống hiến với hưởng thụ theo nguyên tắc công hiến lao động ngang nhau thìđược hưởng ngang nhau Hay nói cụ thể, công bằng xã hội về cơ bản gắn với sự công bằngtrong phân phối sản phẩm Công bằng trong phân phối sản phẩm bao gồm công bằng về thunhập, về phúc lợi xã hội, về điều kiện sống nhìn từ khía cạnh sinh hoạt – tiêu dùng của cánhân, hộ gia đình, của nhóm người Như vậy, nói theo ngôn ngữ hiện đại, công bằng xã hộitheo nghĩa hẹp chính là hàm nghĩa một sự “ngang nhau” nào đó về mức độ thoả dụng trongtiêu dùng của các cá nhân

Tính chất rộng và phức tạp của khái niệm công bằng xã hội cũng dẫn đến những khácbiệt trong việc thể hiện các thước đo công bằng xã hội Trong kinh tế học các công trình

Trang 4

nghiên cứu và các báo cáo phát triển chính thức thường sử dụng một số công cụ và thước

đo chủ yếu như: Đường cong Lorenz, Hệ số Gini, Mức độ nghèo khổ, Mức độ thoả mãnnhu cầu cơ bản của con người Thước đo sử đụng nhiều nhất trong thời gian gần đây là Chỉ

số phát triển con người (HDI)

2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:

2.1 Các quan điểm về việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:

Quá trình hình thành và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trưởng, đặc biệt là ởcác nước đang phát triển dẫn đến sự mâu thuẫn giữa việc thúc đấy tăng trưởng kinh tế vớigiải quyết công bằng xã hội Có nhiều quan điểm khác nhau về việc giải quyết mối quan hệgiữa tăng trưởng và thực hiện công bằng Nhìn chung thì có ba trường phái quan điểmmang tính tổng quát:

* Quan điểm “Tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, coi các vấn đề xãhội nảy sinh là cái giá phải trả của nền kinh tế thị trường” Theo quan điểm này thì tăngtrưởng kinh tế tất yếu dẫn đến bất bình đẳng và chính sự bất bình đẳng là điều kiện thúc đẩytăng trưởng Theo lập luận này thì chỉ tầng lớp có thu nhập cao mới có khả năng tích luỹ và

đó là nguồn bảo đảm đầu tư chủ yếu cho tăng trưởng Do đó mà bất kỳ sự phân phối nàolàm giảm mức độ tập trung thu nhập cho tầng lớp này đếu ảnh hưởng xấu đến tăng trưởngkinh tế Theo quan điểm này có các mô hình lý luận của D.Ricardo, lý thuyêt nhị nguyêncủa Lewis, mô hình tăng trưởng dạng chữ U ngược của S.Kuznét

* Quan điểm “Ưu tiên công bằng xã hội hơn tăng trưởng kinh tế” Quan điểm nàyđược biểu hiện rõ thông qua chính sách “phân phối trước, tăng trưởng sau” của các nước xãhội chủ nghĩa trong nhiều thập kỷ sau đại chiến thế giới thứ 2, với sự ngự trị của mô hình kếhoạch hoá tập trung Theo lý luận này thì bất bình đẳng và bất công chính là nguyên nhâncản trở sự phát triển Vì vậy trước tiên cần phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong

xã hội bằng nhiều biện pháp khác nhau để kích thích tăng trưởng

* Quan điểm “Thực hiện đồng thời tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội” Theoquan điểm này giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội có mối quan hệ mật thiết, haichiều với nhau, cụ thể: tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội, tăngtrưởng kinh tế cao và bền vững là biểu hiện của công bằng xã hội Ngược lại công bằng xãhội là một trong những điều kiện không thể thiếu được để có tăng trưởng kinh tế cao và bềnvững Như vậy theo quan điểm này, rõ ràng công bằng xã hội không đối lập với tăng trưởng

Trang 5

kinh tế, ngược lại là một yếu tố góp phần vào tăng trưởng kinh tế Lập luận này đã tạo tiền

đề và mở đường cho các chính phủ xây dựng và thực thi những chính sách kết kợp giữa tự

do kinh doanh với công bằng và đồng thuận xã hội

Những quan điểm này chi phối các chính sách kinh tế - xã hội của từng nước nhất địnhtrong từng giai đoạn phát triển cụ thể Trong những thập kỷ qua có không ít những bằngchứng cho thấy những chính sách quá nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ côngbằng và ngược lại, quá nhấn mạnh vào công bằng xã hội mà coi nhẹ tăng trưỏng kinh tế đều

dễ gây ra những trở lực ngăn cản sự phát triển Vì vậy để đảm bảo mục tiêu phát triển bềnvững quan điểm thứ ba ngày càng được nhấn mạnh trở thành cơ sở nhận thức quan trọng đểcác quốc gia lựa chọn các chính sách phát triển kinh tế của mình

2.2 Sự tương tác giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội:

* Vai trò của tăng trưởng kinh tế đối với công bằng xã hội:

Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần thiết để thực hiện những nhu cầu cớ bản và ngàycàng tăng của con người Xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển nếu không cónhững thành quả của tăng trưởng kinh tế Với các nước đang phát triển, tăng trưởng kinh tế

là yêu cầu tiên quyết để thoát khỏi sự ràng buộc với đói khát, đau yếu, bệnh tật…để nângcao khả năng cạnh tranh, khắc phục sự lệ thuộc và rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với cácnước đi trước Với các nước phát triển tăng trưởng kinh tế đã góp phần mở ra những khảnăng nhu cầu tiêu dùng mới, đáp ứng những khát vọng vô tận của loài người, đồng thời gópphần giải phóng con người khỏi lao động nặng nhọc lao động cơ bắp nhờ sự phát triển vượtbậc của khoa học và công nghệ

Tăng trưởng kinh tế tạo ra nguồn lực vật chất quan trọng để giải quyết những vấn đề

xã hội đa dạng, phức tạp, nâng cao mức sống và điều kiện sống của người dân Nhờ nhữngthành quả của tăng trưởng kinh tế, các quốc gia có chỗ dựa về vật chất và tài chính để thựcthi các chính sách giáo dục, y tế, văn hoá, cũng như các công trình công cộng và cácchương trình phúc lợi chung khác Tăng trưởng kinh tế còn tạo ra nhiều khả năng hơn trongviệc thực hiện chăm sóc những nhóm yếu thế trong xã hội như người đau ốm, tàn tật, thiểunăng… và những người gặp rủi ro thông qua các hoạt động bảo đảm xã hội của quốc gia vàcác tổ chức, các chương trình tương hỗ phi Chính phủ

Tuy nhiên một sự tập trung quá mức cho tăng trưởng kinh tế sẽ làm nảy sinh nhữngvấn đề xã hội phức tạp như nạn tham nhũng và buôn bán ma tuý, nạn ô nhiễm môi trường

Trang 6

và cạn kiệt tài nguyên, sự chênh lệch giàu nghèo sự bất bình đẳng xã hội, sự xuống cấp vềđạo đức và lối sống, sự lan tràn các hành động bạo lực…

*Tác động của công bằng xã hội đến tăng trưởng kinh tế

Việc thực hiện công bằng xã hội trước hết dựa trên mục tiêu quan trọng nhất của sựphát triển xã hội là bản thân con người và những quyền lợi chính đáng của con người Bất

kỳ mô hình tăng trưởng nào cũng phải nhằm vào mục tiêu này đối với mọi thành viên chứkhông phải chỉ với những nhóm nhỏ cá nhân trong cộng đồng Sự công bằng xã hội thực thi

và mở rộng các quyền của con người như tuyên ngôn về nhân quyền năm 1948 đã khẳngđịnh:” Tất cả mọi người đều có quyền hưởng một mức sống đủ cho sức khoẻ và hạnh phúccủa bạn thân và gia đình, bao gồm thức ăn, thức mặc, nhà ở, sự chăm sóc y tế và nhữngdịch vụ xã hội cần thiết… Tất cả mọi người đều có quyền được học hành, được làm việc…

và được hưởng bảo hiểm xã hội”

Bên cạnh đó công bằng xã hội còn là yếu tố quan trong thúc đẩy khả năng tái sản xuấtlao động xã hội, tạo ra động lực đối với khả năng tăng trưởng kinh tế Ngược lại sự bất côngcùng với các vấn đề xã hội bức xúc không được giải quyết kịp thời không chỉ tác động xấutới sự phát triển xã hội, mà còn là nhân tố kìm hãm sức tăng trưởng của nền kinh tế

Tóm lại, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có thể coi như hai mặt tương hỗtrong một chỉnh thể xã hội Chúng tồn tại một cách khách quan và sự mâu thuẫn giữa chúng

là mâu thuẫn nội tại mang tính biện chứng của sự phát triển: Tăng trưởng kinh tế vừa làmôi trường nảy sinh các vấn đề xã hội, vừa là điều kiện cần thiết để thực hiện công bằng xãhội Đồng thời công bằng xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhằm từng bướcphát triển toàn diện, song nếu nhấn mạnh thái quá các mục tiêu xã hội, đặt các vấn đề xã hộitách rời khỏi điều kiện vật chất thì sẽ thúc đẩy nền kinh tế vào trạng thái trì trệ

II THỰC TRẠNG VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG

XÃ HỘI Ở VIÊT NAM GIAI ĐOẠN 2001- 2007:

Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đề ra những chủ trương mở ra một quá trình đổimới toàn diện đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế- xã hội Đường lối đổi mới này đãđược làm rõ và sâu sắc thêm tại các kỳ Đại hội Đảng tiếp đó( Đại hội Đảng VII năm 1991,Đại hội VIII năm 1996, Đại hội IX năm 2001).Các Đại hội đã khẳng định mô hình kinh tế

tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”, đồng thời khẳng dịnh phương châm chung là “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt

Trang 7

quá trình phát triển” Sau hơn hai mươi năm đổi mới, với sự nỗ lực của Đảng và toàn dân,

công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử

1 Tăng trưởng kinh tế:

Giai đoạn 2001 - 2007 là giai đoạn Việt Nam đạt được những thành tựu rất đáng kểtrong lĩnh vực kinh tế Một trong những thành tựu đó là chúng ta đã đạt được tăng trưởngGDP trung bình 7.74% trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 7 năm 2001 - 2007

Bảng 1: (%)Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP theo nghành năm

Xem xét ở khía cạnh cơ cấu kinh tế theo 3 ngành:

Bảng 2: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế năm 2001 - 2007 (%)

100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00Nông lâm -

thủy sản

24.53 23.24 23.03 22.54 21.81 20.70 17.17 17.97

Công nghiệp

xây dựng 36.73 38.13 38.49 39.47 40.21 40.80 40.97 41.83Dịch vụ 38.73 38.63 38.48 37.99 37.98 38.50 38.01 40.2

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trong nhiều năm qua, xét theo tỷ trọng tăng thêm trong GDP, cơ cấu kinh tế chủ yếubiến đổi theo sự chuyển dịch của 2 nhóm ngành nông-lâm-thuỷ sản và công nghiệp xâydựng Tỷ trọng khu vực nông-lâm-thuỷ sản giảm từ 24.53% của năm 2000 xuống còn17.97%năm 2007 và tỷ trọng khu vực công nghiệp-xây dựng tăng từ 36.73% lên 41.83%

Tỷ trọng dịch vụ vẫn giao động trong mức 38%-40%.(do hầu hết các nghành dịch vụ quantrọng, có khả năng tạo giá trị tăng thêm, đêu có tỷ trọng nhỏ trong GDP)

Xem xét ở khía cạnh cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế:

Bảng 3: Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng theo thành phần kinh tế 2001 - 2007

Trang 8

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2007

Cơ cấu GDP 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00Kinh tế nhà nước 38.52 38.40 38.38 39.08 39.23 38.42 38.40Kinh tế ngoài quốc

doanh 48.20 47.84 47.86 46.45 45.61 45.68 46.00Kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài 13.27 13.76 13.76 14.47 15.17 15.89 15.90

Nguồn: Tổng cục thống kê

Nhìn tổng thể, trong giai đoạn 2001-2007, chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phầnkinh tế diễn ra chậm Khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao và tương đối ổnđịnh trong GDP Sự chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế diễn ra giữa khu vực kinh

tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Tỷ trọng trong GDP của khu vực kinh tế nhà nước rất ít thay đổi, vào năm 2000 chiếm38.52% thì cho đến 2007 giảm ít xuống 38.40% Trong khi đó tỷ trọng GDP của khu vựckinh tế ngoài quốc doanh đã giảm từ 48.20% năm 2000 xuống còn 46.00% năm 2007 Khuvực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng thể hiện rõ là 1 bộ phận cấu thành của nềnkinh tế VN, tỷ trọng trong GDP của khu vực này đã tăng từ 13.27% năm 2000 lên 15.90%năm 2007

2 Thực hiện công bằng xã hội:

2.1.Thực hiện xoá đói giảm nghèo:

Việt Nam là 1 trong ít số nước chuyển đổi và đang đạt được đồng thời tăng trưởngkinh tế cao và giảm đói nghèo rõ rệt

Tính theo chuẩn nghèo quốc tế, tỷ lệ nghèo của VN đã giảm từ 58.1% năm 1993xuống 15.5% năm 2007 Xu thế giảm đói nghèo cũng diễn ra khá rõ nét ở cả nông thôn lẫnthành thị, và cả vùng dân tộc thiểu số sinh sống, ngoại trừ năm 2004 đối với khu vực thànhthị Cụ thể:

Bảng 4: Tỷ lệ người nghèo chung và nghèo lương thực, thực phẩm của VN theo chuẩn

Khu vực nông thôn

Khu vực các dân tộc thiểu số

58.125.166.486.4

37.49.245.575.2

28.96.635.669.3

24.110.827.5-

15.5 -

Trang 9

Tỷ lệ người nghèo lương thực, thực phẩm

Cả nước

Khu vực thành thị

Khu vực nông thôn

Khu vực các dân tộc thiểu số

24.97.929.152.0

15.02.518.641.8

10.91.913.641.5

7.81.58.9-

6.4 -Chuẩn nghèo quốc tế:

Chuẩn nghèo chung là thu nhập dưới 1USD/ngày/người

Chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm là số tiền để mua đủ lương thực thực phẩm đủtích nạp 2100Kcalo/ngày/người.)

Tính theo chuẩn nghèo quốc gia thì tỷ lệ nghèo của VN trong giai đoạn 2000-2005,

VN đã giảm được tỷ lệ hộ nghèo từ 17.18% năm 2000 xuống 7% năm 2005, nghĩa là giảmđược 59.3% số hộ nghèo.Cụ thể:

Bảng 5: Tỷ lệ hộ đói nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005 theo chuẩn nghèo

quốc gia

Vùng lãnh thổ Tỷ lệ hộ nghèo so với tổng số hộ cả nước(%)

Chuẩn nghèo quốc gia 2000-2007: Thu nhập người dân ở khu vực thành thị từ 130nghìn VNĐ/người/tháng; nông thôn đồng bằng từ 90nghìn đến 100 nghìnVNĐ/người/tháng; nông thôn miền núi từ 75 nghìn đến 80 nghìn VNĐ/người/tháng

Như vậy cho đến năm 2005, VN đã gần như hoàn thành mục tiêu giảm hộ nghèo đượcđặt ra đến năm 2010 trong mục tiêu thiên niên kỷ cũng như trong chiến lược toàn diện vềtăng trưởng và giảm nghèo(CPRGS)

2.2 Các cơ hội được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư:

Doanh nghiệp nhà nước được đổi mới và sắp xếp lại theo chủ trương của Đảng và luậtdoanh nghiệp nhà nước, trong đó nhiệm vụ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là trọngtâm và nặng nề nhất Tính đến hết tháng 6 năm 2007 đã có 3120 doanh nghiệp được cổ

Trang 10

phần hoá Qua thực hiện chủ trương đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp, cơ cấu doanh nghiệpnhà nước đã được sắp xếp hơn, có tác động tích cực đến quá trình tích tụ và tập trung vốn,hình thành một số doanh nghiệp mới có trình độ công nghệ cao và sức cạnh tranh Nhìnchung doanh nghiệp nhà nước vẫn phát triển ổn định và có đóng góp quan trọng trong nềnkinh tế, chiếm khoảng gần 40% trong tổng GDP và giá trị xuất khẩu cả nước Doanh nghiệpnhà nước là lực lượng hàng đầu để nhà nước thực hiện công bằng xã hội.

Kinh tế tập thể, mà nòng cốt là hợp tác xã, đã được đổi mới từng bước theo luật hợptác xã và các chính sách của Đảng và nhà nước.Các hợp tác xã đã chứng minh được vai trò,

vị trí đối với kinh tế hộ trong sản xuất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Năm 2007,kinh tế tập thể đóng góp 6,5% GDP

Kinh tế tư nhân được Đảng và Nhà nước khơi dậy và cổ vũ tinh thần kinh doanh, ý chílàm giàu của mọi tầng lớp dân cư Luật doanh nghiệp với sự hiện diện của các loại hình đãghi nhận những quyền cơ bản của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường: quyền tự dokinh doanh, quyền tự chủ, quyền quyết định các công việc của mình, quyền được bình đẳngkhi gia nhập thị trường Đến cuối năm 2007 cả nước có khoảng 25 vạn doanh nghiệp tưnhân được thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp và đóng góp khoảng 38% GDP.Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 được các nhà đầu tư nước ngoài hưởng ứng, tạobước phát triển mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, biểu hiện cụ thể cho điều này là vốn đầu tưnước ngoài theo số đăng ký mới và bổ sung lên đến trên 60 tỉ USD, thực hiện đạt khoảng33tỉ USD, nguồn vốn ODA đạt trên 30 tỉ USD, giải ngân đạt khoảng 16 tỉ USD

2.3 Thực hiện công tác phát triển giáo dục, y tế:

Mức độ bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản như chăm sóc sức khoẻ, y tế vàcác dịch vụ xã hội khác của người dân Việt Nam ngày càng được gia tăng, thể hiện rõ néthơn cả về chất và lượng

Tỷ lệ học sinh tiểu học nhập học đúng độ tuổi (6 tuổi) tăng đáng kể, từ khoảng 90%năm 1990 lên 93% năm 2002 và đạt 94,4 % năm 2004 Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đihọc đúng độ tuổi năm học 2003-2004 đạt 76.86% Đến năm 2005 cả nước đã hoàn thànhphổ cập tiểu học

Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ cho người dân có nhiều tiến bộ.Mạng lưới phục vụ công tác y tế và chăm lo sức khoẻ cộng đồng tiếp tục mở rộng Đến năm

2007 cả nước đã có 98% số xã có trạm y tế Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi đãgiảm từ 33,1 % năm 2000 xuống còn 27% năm 2007 Sức khoẻ của người dân được chăm

Trang 11

sóc tốt hơn đã góp phần đưa tuổi thọ bình quân của dân số nước ta từ 67.8 tuổi năm 2000lên 73.7 tuổi năm 2007.

Người nghèo nói chung và dân tộc thiểu số nói riêng ngày càng được ưu tiên, thuận lợihơn trong tiếp cận các dịch vụ xã hội Hàng năm, trên 3triệu học sinh nghèo và dân tộc ítngười được miễn giảm học phí Công tác giảng dạy, phổ biến tiếng dân tộc đã được đẩymạnh Các hộ nghèo ngày càng thuận lợi hơn trong vay vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách

xã hội; các hộ đồng bào thiểu số được hỗ trợ sản xuất Trong các cơ quan dân cử và chínhquyền các cấp, tỷ trọng cán bộ người dân tộc thiểu số ngày càng gia tăng, hiện chiếm tới17.3% tổng số đại biểu quốc hội Ngoài ra chính phủ VN đã chú trọng tới việc mở rộng viêccung cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu cho 1919 xã đặc biệt khó khăn( vùng sâu vùng xa)

2.4 Chỉ số HDI, GDI đạt được kết quả cao:

Với các thành tựu đã nêu trên thì sự phát triển toàn diện của con người VN đã đượckhẳng định thông qua sự gia tăng vững chắc của chỉ số HDI trong vòng 10 năm qua Chỉ sốHDI của VN đã tăng từ 0.539 năm 1994 lên 0.691 năm 2004

Bảng 6: Báo cáo v ch s phát tri n con ng ề chỉ số phát triển con người của VN qua các năm ỉ số phát triển con người của VN qua các năm ố phát triển con người của VN qua các năm ển con người của VN qua các năm ười của VN qua các năm ủa VN qua các năm i c a VN qua các n m ăm

Báo cáo năm Số liệu năm HDI Xếp thứ/Số nướcxếp hạng

vụ con người và đảm bảo công bằng xã hội một cách bền vững

Ngày đăng: 07/08/2013, 15:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: (%)Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP theo nghành năm - “Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.
Bảng 1 (%)Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP theo nghành năm (Trang 7)
Bảng 3: Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng theo thành phần kinh tế 2001 - 2007 - “Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.
Bảng 3 Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng theo thành phần kinh tế 2001 - 2007 (Trang 7)
Bảng 4: Tỷ lệ người nghèo chung và nghèo lương thực, thực phẩm của VN theo chuẩn - “Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.
Bảng 4 Tỷ lệ người nghèo chung và nghèo lương thực, thực phẩm của VN theo chuẩn (Trang 8)
Bảng 5: Tỷ lệ hộ đói nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005 theo chuẩn nghèo - “Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.
Bảng 5 Tỷ lệ hộ đói nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005 theo chuẩn nghèo (Trang 9)
Bảng 6 : Báo cáo v  ch  s  phát tri n con ng ề chỉ số phát triển con người của VN qua các năm ỉ số phát triển con người của VN qua các năm ố phát triển con người của VN qua các năm ển con người của VN qua các năm ười của VN qua các năm ủa VN qua các năm i - “Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.
Bảng 6 Báo cáo v ch s phát tri n con ng ề chỉ số phát triển con người của VN qua các năm ỉ số phát triển con người của VN qua các năm ố phát triển con người của VN qua các năm ển con người của VN qua các năm ười của VN qua các năm ủa VN qua các năm i (Trang 11)
Bảng 9: Hệ số GINI tính theo chi tiêu tại các vùng - “Đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007”.
Bảng 9 Hệ số GINI tính theo chi tiêu tại các vùng (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w