1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẬP VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG & ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘNG ĐẤT

12 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các đập vật liệu địa phương, đập đất là một loại công trình dâng nước rất phổ biến.. Những ưu điểm của đập đất bao gồm: 1 Cấu tạo đơn giản nhưng rất phong phú; 2 Cho phép sử dụng c

Trang 1

ĐẬP VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG &

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘNG ĐẤT

(trích tư liệu của đề tài “Nghiên cứu khả năng hóa lỏng của đê đập bằng vật liệu địa

phương chịu tải trọng động đất và giải pháp ổn định công trình” Mã số: KC.08.23/11-15)

PGS.TS Nguyễn Hồng Nam, Chủ nhiệm đề tài

ĐẠI HỌC THỦY LỢI

1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẬP VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG

Đập vật liệu địa phương là loại đập sử dụng vật liệu tại chỗ (đất, đá) ở khu vực xây dựng Đập đất và đập đất đá thuộc loại đập vật liệu địa phương được sử dụng rất rộng rãi Chi tiết

về đập vật liệu địa phương có thể tham khảo Trịnh Trọng Hàn (2004), USACE (1994), USBR (1987)

Theo thống kê của Hội đập cao thế giới (ICOLD), tính đến năm 2000, trên thế giới đã có khoảng 45.000 đập lớn phân bố ở 140 nước Năm nước hàng đầu về xây dựng đập trên thế giới bao gồm Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Tây Ban Nha và Nhật Bản Hiện nay đập bê tông trọng lực chiếm khoảng 12% trong tổng số các loại đập đã được xây dựng trên thế giới Với đập cao trên 100m, đập bê tông trọng lực chiếm khoảng 30% Trung Quốc hiện nay đang đứng đầu thế gới về số lượng đập được xây dựng

Việt Nam có khoảng 10.000 đập lớn nhỏ các loại, trong đó có khoảng gần 500 đập lớn đứng hàng thứ 16 trong số các nước có nhiều đập cao trên thế giới Trong số các đập có chiều cao nhỏ hơn 60m thì đập vật liệu địa phương chiếm tới hơn 80%, còn đối với đập có chiều cao lớn hơn 60m thì đập bê tông nói chung và đập bê tông trọng lực nói riêng lại chiếm một tỷ lệ đáng kể Đầu mối các công trình Hòa Bình, Trị An, Hàm Thuận-Đa My, Tuyên Quang, Plêikrông, Sê San 3 và Sê San 4, Sơn La, Lai Châu, Thạch Nham, Tân Giang, Lòng Sông, Nước Trong… có các đập bê tông trọng lực lớn với khối lượng tới hàng triệu m3, chiều cao đập đến hàng trăm mét

Đập còn được phân loại theo cấp công trình, đối với đập vật liệu địa phương căn cứ vào chiều cao đập và dạng đất nền (TCXDVN 285-2002)

Trong các đập vật liệu địa phương, đập đất là một loại công trình dâng nước rất phổ biến

Nó thường có mặt ở các hệ thống đầu mối thủy lợi - thủy điện với chức năng tạo ra hồ chứa

để điều tiết chế độ dòng chảy tự nhiên của sông suối phục vụ các mục đích khác nhau như phát điện, chống lũ, cấp nước tưới, vv

Những ưu điểm của đập đất bao gồm:

1) Cấu tạo đơn giản nhưng rất phong phú;

2) Cho phép sử dụng các loại đất có sẵn ở khu vực công trình;

3) Có thể xây dựng trên mọi loại nền và trong mọi điều kiện khí hậu;

4) Cho phép cơ giới hoá các công đoạn thi công từ khai thác vật liệu, chuyên chở, đắp, đầm nén, v.v ;

5) Làm việc tin cậy kể cả ở vùng có động đất

Trang 2

Đập đá đổ thuộc loại đập vật liệu địa phương bằng đất đá thi công theo phương pháp đổ trực tiếp, trong đó phần khối lượng chủ yếu của đập là đá cỡ lớn Để chống thấm qua thân đập đá đổ, người ta sử dụng các loại kết cấu chống thấm khác nhau bằng vật liệu ít thấm như đất á sét, đất sét hoặc các kết cấu không phải là đất như bê tông, bê tông cốt thép, gỗ, kim loại, bê tông atphan, chất dẻo tổng hợp v.v Đá đổ thường là hỗn hợp đá núi được khai thác từ các mỏ đá và đưa thẳng vào vị trí đắp đập không qua khâu xử lý hay sàng lọc nào cả

Đập đá đổ có những ưu điểm chính là:

1) Sử dụng được khối lượng lớn để xây dựng đập bằng vật liệu tại chỗ, kể cả vật liệu đào ở hố móng công trình, vì vậy giảm đến mức tối đa khối lượng vật liệu phải chuyên chở từ xa đến công trình;

2) Cho phép xây dựng đập ở điều kiện địa chất phức tạp kể cả trên nền đất cát sỏi;

3) Làm việc tin cậy trong môi trường tải trọng động như ở vùng có động đất;

4) Đập có cấu tạo từ vật liệu thiên nhiên là đất đá nên có độ bền vững cao (tuổi thọ lớn); 5) Công việc xây dựng đập có thể tiến hành quanh năm trong điều kiện thời tiết khác nhau

kể cả vùng khí hậu băng tuyết bắc cực;

6) Có khả năng cơ giới hoá toàn bộ các khâu thi công từ khai thác, vận chuyển và đắp đập, do đó có thể rút ngắn thời gian thi công, hạn chế đến mức tối thiểu số lao động thủ công và giảm giá thành xây dựng đập;

7) Trong điều kiện nhất định có thể xây dựng đập không cần làm đê quây và xử lý nền, bằng cách đổ đá vào trong nước có dòng chảy (trong quá trình đổ đá, các loại hạt mịn như cát nhỏ, đất bùn v.v sẽ bị dòng chảy cuốn trôi, nhờ vậy chất lượng nền được nâng cao hơn);

8) Trong một số trường hợp có thể tháo lưu lượng thi công qua phần đập đá đổ đang xây dựng

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho đến nay nước ta có khoảng 1.959 hồ chứa có dung tích từ 200.000 m3 trở lên (chưa kể các hồ thủy điện) Trong đó, 81

hồ có dung ích trên 10 triệu m3 nước (hồ Phú Ninh, Quảng Nam 344 triệu m3, hồ Dầu Tiếng, Tây Ninh, 1.58 tỷ m3, ), 66 hồ có dung tích từ 5 triệu đến 10 triệu m3 nước, 442 hồ

có dung tích từ 1 đến dưới 5 triệu m3 nước, 1370 hồ còn lại có dung tích từ 200.000 m3 đến dưới 1 triệu m3

Bảng 1 Hồ chứa có dung tích lớn hơn 200.000 m3 (Nguyễn Đình Thành, 2013)

Tỉnh, Thành phố Số lượng hồ Tỉnh, Thành phố Số lượng hồ

Trang 3

Tổng dung tích trữ nước là 5,793 tỷ m3 nước, tưới ổn định cho 502.883 ha đất canh tác Bảng 1 thống kê các hồ chứa có dung tích trên 200.000 m3 nước Bảng 2 thống kê các hồ đập lớn ở nước ta, không kể các đập thủy điện, theo chiều cao đập

Bảng 2 Các hồ đập lớn tại Việt Nam (không kể hồ thủy điện) theo chiều cao đập

(Nguyễn Đình Thành, 2013)

(106m3)

Hmax (m)

Năm xây dựng

Năm hoàn thành

2 TÌNH HÌNH XÂY DỰNG ĐẬP VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG TẠI MỘT SỐ TỈNH CHỊU ẢNH HƯỎNG THƯỜNG XUYÊN CỦA ĐỘNG ĐẤT

Trang 4

Hiện nay trên địa bàn cả nước đã có hàng ngàn đập hồ chứa lớn nhỏ được xây dựng Theo truyền thống vật liệu đắp đập phần lớn là đất có hàm lượng hạt sét lớn (đất ít thấm), các loại đất có nhiều hạt to hoặc đất pha cát ít được sử dụng Trước sự bùng nổ dân số, di dân

từ nông thôn ra thành thị dẫn đến nhu cầu cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình đầu mối thủy lợi để tạo nguồn cấp nước tưới và sinh hoạt đòi hỏi ngày càng lớn, nhưng vật liệu đất đắp đập ngày càng khan hiếm Thực tế ở nước ta, nguồn vật liệu đất phong hóa có chứa trên 20% các hạt to (đường kính 2mm) rất phong phú tại ngay gần vị trí xây dựng công trình (Vũ Văn Thặng, 2004) Nếu nguồn vật liệu này được sử dụng để đắp đập sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao Trước tình hình đó, việc nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ mới sử dụng vật liệu đất hỗn hợp tại chỗ để đắp đập hồ chứa là một yêu cầu thực tế rất bức bách

Các tỉnh vùng tây bắc như Điện Biên, Lai Châu, Sơn La thường chịu ảnh hưởng của động đất với tần suất cao so với các địa phương khác trong nước Ngoài động đất, các tỉnh nói trên còn thường xuyên chịu các thiên tai như sạt lở đất, lũ quét, đặc biệt trong mùa mưa lũ Trong thời gian qua, nhiều công trình xây dựng thủy lợi, thủy điện đã được xây dựng trong khu vực tây bắc Đáng chú ý là các công trình thủy điện lớn như Sơn La, Nậm Chiến 1 v.v

2.0 Tình hình làm việc của đập vật liệu địa phương

Trong quá trình xây dựng, khai thác, đập vật liệu địa phương chịu một số nguyên nhân sau

có thể ảnh hưởng đến sự làm việc, an toàn của đập

- Động đất mạnh

- Lũ vượt cấp

- Thấm

- chất lượng thi công

2.1 Tình hình xây dựng đập vật liệu địa phương tại tỉnh Sơn La

Hiện tại trên địa bàn tỉnh Sơn La có 87 hồ chứa lớn nhỏ cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng Để tăng cường năng lực phòng lũ, cần phải nâng cấp cải tạo những hồ chứa đã xuống cấp và xây dựng mới thêm 52 hồ chứa, đồng thời dự kiến xây dựng mới hồ chứa Pa Ma trên sông Mã diện tích lưu vực 3.460km2 là hồ chứa lợi dụng tổng hợp có tác dụng phòng chống lũ cho hạ du, phát điện và kết hợp tưới, với dung tích

hồ khoảng 900 triệu m3, có tác dụng chống lũ có hiệu quả cho vùng hạ du sông Mã Theo quyết định số 289/QĐ-UBND ngày 15/2/2011 phê duyệt Quy hoạch Thuỷ lợi tỉnh Sơn la giai đoạn 2011-2020, trong thời gian tới cần xây mới hoàn toàn 137 đập, 52 hồ, không kể nâng cấp, sửa chữa các công trình thủy lợi hiện có Bảng 3-1 cho thấy số liệu tổng hợp tưới sau quy hoạch toàn tỉnh Sơn La

Bảng 1-1. Tổng hợp tưới sau quy hoạch toàn tỉnh Sơn La

Hạng mục Đơn vị

Lưu vực sông Đà

Lưu vực sông Mã Toàn tỉnh

I Diện tích cần tưới

Lúa đông xuân Ha 8470 2990 11.460

Lúa mùa Ha 12762 4068 16.830

Màu, cây lâu năm Ha 24656 9255 33.911

Trang 5

Hạng mục Đơn vị

Lưu vực sông Đà

Lưu vực sông Mã Toàn tỉnh

II Diện tích thực tưới hiện tại

2.1 Số công trình 888 562 1.450 Gồm: +Hồ Cái 20 0 20 + Đập Cái 127 126 253 + Phai rọ thép Cái 39 23 62 + Công trình tạm Cái 702 413 1115 2.2 Diện tích tưới Lúa đông xuân Ha 6435 2059 8494 Lúa mùa Ha 10099 3258 13357 Màu, cây lâu năm Ha 421 2 423 III Nâng cấp sửa chữa 3.1 Số công trình 525 9 534 Gồm: +Hồ Cái 67 0 67 + Đập Cái 150 4 154 + Phai rọ thép Cái 60 5 65 + Công trình tạm Cái 248 0 248 3.2 Diện tích tưới tăng thêm Lúa đông xuân Ha 530 4 534

Màu, cây lâu năm Ha 1448 0 1448 Cấp nước sinh hoạt Người 42900 0 42900

Xây mới, kiên cố CT hiện có 19 209 228 Gồm: +Hồ Cái 0 0 0 + Đập Cái 5 0 5 + Phai rọ thép Cái 10 0 10 + Công trình tạm Cái 4 209 213 Xây mới hoàn toàn 277 170 447 Gồm: +Hồ Cái 29 23 52 + Đập Cái 114 23 137 + Phai rọ thép Cái 134 124 258 4.2 Diện tích tưới Lúa đông xuân Ha 1810 1034 2844 Lúa mùa Ha 2194 963 3157 Màu, cây lâu năm Ha 10239 2363 12602 Cấp nước sinh hoạt Người 130844 21000 151844

V Diện tích tưới sau quy hoạch 5.1 Số công trình 1709 950 2.659 Gồm: +Hồ Cái 116 23 139 + Đập Cái 396 153 549 + Phai rọ thép Cái 243 152 395 + Công trình tạm Cái 954 622 1.576

Trang 6

2.2 Tình hình xây dựng đập vật liệu địa phương tại tỉnh Điện Biên

Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn là sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông Trong đó, riêng lưu vực sông Đà trên các huyện: Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay có diện tích khoảng 5.300km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Hiện nay, Điện Biên có khoảng 800 công trình thủy lợi lớn nhỏ đang hoạt động, đã phục vụ công tác tươi tiêu cho 7.676 vụ chiêm xuân và 12.632 vụ mùa Tại tỉnh Điện Biên, trong quá trình khai thác sử dụng, cùng với những diễn biến bất thường của thời tiết, một số công trình hồ và kênh mương đã xuống cấp, ảnh hưởng đến công tác vận hành, điều tiết nước Một số công trình hồ chứa bị xuống cấp như hồ Huổi Phạ (dung tích 1,8 triệu m3), một số đập hồ khác bị lún võng, rò nước, mái thượng lưu lún võng, thấm nước như các hồ Hồng Sạt, Sái Lương, Na Hươm Tại hồ Pa Khoang (dung tích 37,2 triệu m3; Hình 3-1), tại mái thượng lưu đồi B xuất hiện phần lát đá bị thụt tại nhiều điểm; các đầu ống lọc nước chân đập đồi B bị tắc; cửa vào của cống bị bùn, đất, rác bồi lấp Một

số công trình hồ chứa không cung cấp đủ diện tích tưới theo thiết kế như hồ Sái Lương, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên

Bảng 1-2 Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư giai đoạn 2006 – 2010, tỉnh Điện Biên

5.2 Diện tích tưới

Lúa đông xuân Ha 8775 3097 11.872

Lúa mùa Ha 13146 4262 17.408

Màu, cây lâu năm Ha 12108 2365 14.473

Cấp nước sinh hoạt Người 173744 21000 194.744

Danh mục Địa điểm Quy mô Đầu mối giao dịch

1 Kè chỉnh trị sông Nậm Rốm Tp Đ.Biên Phủ 10 km BQLDACND

4 Hồ Nậm Khẩu Hú Điện Biên 400 ha Sở NN&PTNT

5 Thủy nông Nậm Núa Điện Biên 150 ha Điện Biên

6 Hồ Na Hươm Điện Biên 220 ha Sở NN&PTNT

7 Thủy lợi Huội ún Điện Biên 200 ha Sở NN&PTNT

8 Thủy lợi Nâm Khúm -

Mương Luân

Đ.Biên Đông 120 ha Đ.Biên Đông

9 Thủy lợi Nậm Pố Mường Nhé 200 ha Sở NN&PTNT

10 Thủy lợi Nậm Nhé Mường Nhé 300 ha Sở NN&PTNT

11 Thủy lợi Phụ Phang Mường Nhé 250 ha Sở NN&PTNT

14 Hồ thủy lợi Nậm Chím Mường Chà 500 ha Sở NN&PTNT

15 Hồ thủy lợi Bản Phủ Tuần Giáo 150 ha Tuần Giáo

18 Hồ Nậm Ngám Đ.Biên Đông 1.000 ha Sở NN&PTNT

19 Thủy lợi Nậm Pô Mường Nhé 150 ha lúa Sở NN&PTNT

20 Hồ Huổi Cánh H Điện Biên 150 lúa H Điện Biên

21 Thủy lợi bản Cang - Búng

Lao

Tuần Giáo 600 ha Tuần Giáo

22 Thủy lợi Xuấn Lao Tuần Giáo 270 ha Tuần Giáo

23 Hồ bản Cang Tuần Giáo 350 ha Tuần Giáo

24 Hồ bản Phủ Tuần Giáo 550 ha Sở NN&PTNT

26 Thủy lợi bản Hiệu Tuần Giáo 150 ha Tuần Giáo

27 Hồ Huổi Vẻ Điện Biên 200 ha Điện Biên

28 Hồ Na Hươm H.Điện Biên 200 ha lúa Sở NN&PTN

Trang 7

Theo kế hoạch số 979/KD-UBND ngày 5/7/2011 về việc kế hoạch phát triển kinh tế –xã hội 5 năm 2011-2015 của tỉnh Điện Biên thì cần hoàn thiện việc sửa chữa, nâng cấp các công trình thuỷ lợi hiện có, kiên cố hoá hệ thống kênh mương nhằm phát huy tối đa công suất thiết kế của các công trình Phấn đấu nâng tổng công suất tưới của các công trình giai đoạn đến năm 2015 thêm trên 1.000 ha Kiên cố hóa 417 km kênh mương, trong đó có 100% chiều dài kênh cấp 1 và 2 được bê tông hóa Tập trung xây dựng hoàn thành một số công trình thủy lợi trọng điểm là: Lọong Luông, Nậm Khẩu Hu (Điện Biên), Nậm Pố, Nà

Hỳ, Mường Toong (Mường Nhé), Nậm Ngám (Điện Biên Đông), Ảng Cang (Mường Ảng),

Hồ Huổi Bẻ, hồ Trạng Tai …Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư giai đoạn 2006 – 2010, tỉnh Điện Biên được thể hiện trong Bảng 3-2

Hình 1-1 Hồ Pa Khoang-Điện Biên (Nguồn: Báo

Quân đội nhân dân ngày 23/04/2009)

2.3 Tình hình xây dựng đập vật liệu địa phương tại tỉnh Lai Châu

Theo Quyết định số 87/2006/QĐ-TTG ngày 20 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, danh mục các chương trình, dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư giai đoạn

2006 – 2020, tỉnh Lai Châu được thể hiện trong Bảng 3-3 Nhìn chung có sự ưu tiên đầu tư phát triển thủy lợi, từng bước đáp ứng nhu cầu về nước tưới cho nông nghiệp và nước phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh hoạt

Tuy nhiên, qua khảo sát của Ban Kinh tế - Ngân sách (HĐND tỉnh Lai Châu), năm 2011, tại một số đơn vị như Công ty TNHH Xây dựng và Cấp nước thị xã Lai Châu; các huyện: Phong Thổ, Tam Đường, Than Uyên và các công trình trên địa bàn được hưởng nguồn đầu tư của Dự

án ODA từ năm 2008 - 6/2011 cho thấy chỉ có 7/34 dự án thực hiện đảm bảo đúng tiến độ như các công trình: Thủy nông Mí Mu, thủy lợi Nậm Sẻ (huyện Mường Tè); thủy lợi Nậm Lưng, Ngà Phát – Sang Ngà (huyện Than Uyên); thủy lợi Nậm Bon (huyện Tân Uyên)… Còn lại, hầu hết các công trình chậm tiến độ và không đạt kế hoạch giao Một số dự án quá chậm so với kế hoạch đã phê duyệt Cụ thể: tại huyện Tam Đường, Dự án Thủy nông Khun

Há thời gian thực hiện từ năm 2006, theo kế hoạch năm 2008 hoàn thành, song đến nay vẫn còn 15% khối lượng công việc chưa hoàn thành Công trình thủy lợi Đông Pao (Bản Hon) theo kế hoạch sẽ hoàn thành vào tháng 12/2011 song đến tháng 8/2011 công trình vẫn chưa được triển khai thi công Tại địa bàn huyện Phong Thổ, công trình nâng cấp, cải tạo tuyến đường Pa Tần – Huổi Luông – Pa Nậm Cúm khởi công ngày 26/5/2011, dự kiến hoàn thành cuối tháng 4/2012, song đến nay mới triển khai thi công được 20% khối lượng

Trang 8

Bảng 1-3 Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên nghiên cứu đầu tư giai đoạn 2006 –

2020, tỉnh Lai Châu (Ban hành kèm theo Quyết định số 87/2006/QĐ-TTG ngày 20 tháng 4 năm 2006

của Thủ tướng Chính phủ)

Tên dự án đầu tư Địa điểm Năng lực

thiết kế

Vốn đầu tư (tỷ đ)

Nguồn vốn

Thời gian thực hiện

1

Thủy điện Bản Chát Than Uyên 220 MW 3140 Trong nước +

vay

2004 -

2010

2

Thủy điện Lai Châu Mường Tè 1200 MW 24000 - 2010 -

2020

3 Xây dựng một số thủy điện nhỏ

trên các huyện 1 - 30 MW 100

Vốn doanh nghiệp

2005 -

2020

1

Hồ Hoàng Hồ (thị trấn Sìn Hồ) Thị trấn Sìn Hồ 70 27 Trái phiếu

CP

2006 -

2007

2

Thủy lợi Nậm Múng 1 và Hồ

chứa nước Pa Khóa Nậm Cha

150 ha 2 vụ,

320 ha 1 vụ;

NSH 2500 người

32 Trái phiếu

CP

2006 -

2007

3

Hồ Nậm Mạ Dao Sìn Hồ 70 27 Trái phiếu

CP

2006 -

2007

4

Hồ Đông Pao Bản Hon 800 120 Trái phiếu

CP

2006 -

2007

5

Cum công trình Mường Kim Than Uyên 700 60 Trái phiếu

CP

2006 -

2007

6

Cụm công trình Mường Than Than Ủyên 1700 100 Trái phiếu

CP

2006 -

2007

7

Cụm công trình Thân Thuộc Than Uyên 385 19 Trái phiếu

CP

2006 -

2007

8

Cụm công trình Bình Lư Tam Đường 1770 208 Trái phiếu

CP

2006 -

2008

9

Cụm công trình Phong Thổ Phong Thổ 877 70 Trái phiếu

CP

2006 -

2008

10

Cụm công trình Dào San Phong Thổ 460 84 Trái phiếu

CP

2006 -

2008

11

Cụm công trình vùng thấp Sìn Hồ Sìn Hồ 710 80 Trái phiếu

CP

2006 -

2008

12 Cụm công trình Mường Mô -

Nậm Hàng Mường Tè 440 37

Trái phiếu

CP

2006 -

2008

13 Các công trình sửa chữa, nâng

cấp khác Trong tỉnh 50

Trái phiếu

CP

2006 -

201

Qua phân tích nguyên nhân, người ra thấy rằng tỷ lệ giải ngân các công trình đạt thấp (67%

kế hoạch) Đặc biệt vài năm trở lại đây, tình trạng lạm phát cao, lãi suất của các ngân hàng tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ khủng hoảng về tài chính, do đó ảnh hưởng lớn đến tiến độ xây dựng công trình, trong đó có các công trình sử dụng nguồn vốn ODA Bên cạnh đó, chất lượng thiết kế một số dự án chưa cao và chưa sát với thực tế dẫn đến có trên 10 dự án phải thay đổi, điều chỉnh lại quy mô như: Thủy lợi Hua Đán

Trang 9

(huyện Than Uyên); thủy lợi Lở Thàng, thủy nông Khun Há, thủy lợi Nậm Pé, tuyến đường Tam Đường – Thèn Sin – Bản Mấn (huyện Tam Đường)… Quá trình lựa chọn nhà thầu xây lắp chưa kỹ dẫn đến nhiều nhà thầu không đảm bảo tiến độ dự án so với kế hoạch vốn

đã bố trí Có nhà thầu không thực hiện nghiêm túc các hợp đồng đã ký kết, điển hình như

Dự án thủy nông Khun Há (xã Khun Há, huyện Tam Đường) có tổng mức đầu tư 18 tỷ đồng, chia làm 3 gói thầu trong đó 2 gói thầu (1, 2) đã hoàn thành và bàn giao cho chủ đầu

tư, song gói thầu số 3 với tổng dự toán gần 6,2 tỷ đồng, hiện còn 15% khối lượng công việc nhưng nhà thầu là Công ty TNHH tổng hợp Trường Giang (tỉnh Lào Cai) không tiếp tục triển khai thi công Cùng một công trình nhưng đập đầu mối và tuyến đầu kênh mương nhiều đá, khó thi công thì đã xong, còn tuyến cuối mương dẫn nước về ruộng thì đến nay vẫn chưa hoàn thành

Bên cạnh đó, công tác giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa cũng là một trong những nguyên nhân gây chậm tiến độ các công trình Điều đó cũng thể hiện sự phối hợp giữa đơn vị chủ đầu tư với cấp ủy, chính quyền địa phương chưa chặt chẽ đã dẫn đến những vướng mắc chưa được tháo gỡ kịp thời Cụ thể, Dự án Thủy lợi Dao Chải 2 (xã Bản Lang, huyện Phong Thổ) do UBND huyện Phong Thổ làm chủ đầu tư, được phê duyệt từ năm 2008 song đến nay vẫn chưa hoàn thành; công trình cấp nước thị xã Lai Châu giai đoạn 1 thi công từ tháng 1/2007, đến nay chưa bàn giao Cả 2 công trình trên đều vướng ở công tác giải phóng mặt bằng do người dân không hợp tác, trong khi đó, cấp ủy, chính quyền địa phương chưa tích cực vào cuộc để giải quyết dứt điểm sự việc

Bảng 3-4 Tình hình xây dựng một số công trình đập hồ chứa tại các tỉnh Tây Bắc

STT Tên công trình Loại đập Địa điểm xây

dựng

Thời gian xây dựng

Mục đích Chiều

cao

1 Nậm Ngám-Pú

2010-2013 Tưới, cấp

nước

29m

3 Pa Khoang Đập đất đồng

chất Điện Biên

1974-1979 Tưới

3700ha

26m

150ha

24m

ha

250ha

Ngày 17.5.2007 phòng thường trực Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão (PCLB) T.Ư - Văn phòng Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn đã có công điện gửi Cục Thủy lợi (Bộ Nông

Trang 10

nghiệp và Phỏt triển nụng thụn), Ban chỉ huy PCLB Bộ Cụng nghiệp, Ban chỉ huy PCLB

cỏc tỉnh: Điện Biờn, Sơn La và Lai Chõu Theo đú, để đề phũng những diễn biến xấu do

trận động đất mạnh 6,1 độ richte gõy ra, Văn phũng thường trực Ban chỉ đạo PCLB T.Ư -

Văn phũng Ủy ban quốc gia tỡm kiếm cứu nạn yờu cầu cỏc bộ, ngành và địa phương kể trờn

nhanh chúng tiến hành ngay việc kiểm tra cỏc cụng trỡnh hồ chứa nước thủy lợi, hồ chứa

nước thủy điện và hồ chứa nước tại cỏc tỉnh Điện Biờn, Sơn La, Lai Chõu; cú biện phỏp xử

lý ngay những hư hỏng của cỏc hồ chứa nước để trỏnh thảm họa do vỡ đập gõy ra

2.4 Nhận xột chung

Qua phõn tớch cú thể thấy rằng tại cỏc tỉnh Tõy Bắc, nhu cầu xõy dựng đập vật liệu địa

phương ngày một gia tăng Do vấn đề khan hiếm vật liệu đất đắp đồng nhất, đặc biệt đối

với cỏc đập cao, việc thiết kế đập nhiều khối đó trở nờn phổ biến (Hỡnh 3-2) Đối với cỏc

đập thấp, hỡnh thức đập đồng chất vẫn cũn được sử dụng (Hỡnh 3-3 đến 3-5)

Tại vị trớ lũng sụng, nền đập thường cú tầng cỏt cú chiều dầy phõn bố nhất định Nền cỏt

bóo hũa nước cú khả năng húa lỏng trong điều kiện động đất mạnh Việc búc bỏ triệt để

cỏc lớp cỏt cuội sỏi nền là giải phỏp chống thấm và chống húa lỏng tốt nhất, tuy nhiờn trờn

thực tế trong cỏc hồ sơ thiết kế cho thấy lớp cỏt lũng sụng chỉ được búc bỏ một phần như

cỏc bản vẽ mặt cắt ngang đập Nậm Khẩu Hu, Loọng Luụng, Huổi Vanh Một trong những

nguyờn nhõn cú thể là do khối lượng đào lớn dẫn đến kinh phớ cao Do đú trong hồ sơ thiết

kế một số đập vẫn cũn tồn tại cỏc lớp cỏt dưới đỏy đập Chớnh vỡ vậy, phõn tớch khả năng

húa lỏng đập vật liệu địa phương là rất cần thiết

Hỡnh 0-1 Mặt cắt ngang thiết kế đập Nậm Khẩu Hu, Điện Biờn

(mặt cắt lũng sụng MC 4-4)

Hỡnh 0-2.Mặt cắt ngang thiết kế đập Loọng Luụng, Điện Biờn (mặt cắt lũng sụng MC 4)

tỉ lệ 1:500

mặt cắt 4-4

Cao độ tự nhiên (m)

Khoảng cách (m)

Mốc so sánh:

990.00

995.00

1000.00

1005.00

1010.00

1015.00

1020.00

1025.00

1030.00

985.00

1035.00

+1024.00

+1016.00 +1016.00

+1008.81

+1024.70 MNDBT = +1022.10 MNLTK = +1023.17 MNLKT = +1023.37

+1000.10

Trồng cỏ

Đất màu dày 15cm

Trồng cỏ

Đất màu dày 15cm

Đất đắp: Lớp 5 - Mỏ VL1+ Mỏ VL3

 kTK = 1,58T/m3; K t = 2,53.10 cm/s

K đ = 0,97

-6

Vải địa kỹ thuật

1:1

1:1.5 +1006.00 +1002.00

m = 2.75

m = 3.0

m =

m = 5

MNC = +1009.50

1:1.5 +1007.00 Vải địa kỹ thuật

Ngày đăng: 08/07/2018, 12:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w