Hiện nay,Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hiện đại.Toàn đảng,toàn dân ta đang dốc hết mọi nguồn lực để thực hiện mục tiêu này.Việt Nam tuy có xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nghèo lạc hâu,cơ sơ vật chất thiếu thốn,nhưng nước ta lại có một lợi thế. Đó là lực lượng lao động dồi dào do kết cấu dân số trẻ.Hơn nữa người lao động Việt Nam lại có rất nhiều đức tính tốt đẹp siêng năng,cần cù và sáng tạo.Nguồn nhân lực này thật sư là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với một nước đang phát triển như Việt Nam.Tuy nhiên làm thế nào để nguồn lực quý báu này thực sự thể hiện được vai trò của mình trong điều kiện kinh tế toàn cầu,nước ta gia nhập vào thị trường thế giới.Nâng cao chất lượng lao động,nâng cao năng lực lao động là một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra.Trong các yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng lao động,thì giáo dục đào tạo là tối quan trọng.Chính vì thể mà Đảng và Nhà nước ta,trên con đường CNH luôn nhấn mạnh đến giáo dục đào tạo coi đây là quốc sách hàng đầu,thực hiện xã hội hoá giáo dục để toàn thể xã hội cùng tham gia vào nhiệm vụ này. Chính vì thế,em chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo-bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc”nhằm nghiên cứu khẳng đinh vai trò của giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay,Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá với mục tiêutrở thành một nước công nghiệp hiện đại.Toàn đảng,toàn dân ta đang dốc hếtmọi nguồn lực để thực hiện mục tiêu này.Việt Nam tuy có xuất phát điểm làmột nước nông nghiệp nghèo lạc hâu,cơ sơ vật chất thiếu thốn,nhưng nước talại có một lợi thế Đó là lực lượng lao động dồi dào do kết cấu dân số trẻ.Hơnnữa người lao động Việt Nam lại có rất nhiều đức tính tốt đẹp siêng năng,cần
cù và sáng tạo.Nguồn nhân lực này thật sư là yếu tố đóng vai trò quyết định đốivới một nước đang phát triển như Việt Nam.Tuy nhiên làm thế nào để nguồnlực quý báu này thực sự thể hiện được vai trò của mình trong điều kiện kinh tếtoàn cầu,nước ta gia nhập vào thị trường thế giới.Nâng cao chất lượng laođộng,nâng cao năng lực lao động là một trong những vấn đề cấp thiết đặtra.Trong các yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng lao động,thì giáo dục đào tạo
là tối quan trọng.Chính vì thể mà Đảng và Nhà nước ta,trên con đường CNHluôn nhấn mạnh đến giáo dục đào tạo coi đây là quốc sách hàng đầu,thực hiện
xã hội hoá giáo dục để toàn thể xã hội cùng tham gia vào nhiệm vụ này
Chính vì thế,em chọn đề tài “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục
đào tạo-bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc”nhằm nghiên cứu khẳng đinh
vai trò của giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực
Bài đề án của em được chia làm 3 phần rõ ràng.Phần thứ nhất đi sâu vàonghiên cứu và khẳng định vai trò của nguồn nhân lực ngày càng tăng trong nềnkinh tế hiện đại, đặc biệt là lực lượng lao động tri thức có tay nghề cao.Tiếptheo đó, ở chương II tập trung nghiên cứu về tác động của yếu tố giáo dục đàotạo đến chất lượng nguồn nhân lực.Sau đó,em chọn Hàn Quốc,một đất nước đã
có những thành tựu vượt bậc trong phát triển kinh tế,một trong những nướccông nghiệp mới thành công nhất,một “con rồng châu Á” để phân tích vềnhững chính sách,về kinh nghiệm họ đã áp dung trong lĩnh vực giáo dục đào
Trang 2tạo để đạt được những thành công to lớn như vậy.Những thành công không chỉtrên phương diện tăng trưởng phát triển kinh tế mà còn tạo dựng được một hệthống những người lao động với chuyên môn cao,kĩ năng thành thạo,và thêmvào đó là tinh thần kỉ luật và khả năng hợp tác,cùng với một bản lĩnh và hơnhết là tinh thần dân tộc sẵn sàng cống hiến hết mình cho đất nước.Phần cuồicùng,không thể thiếu được và cũng là mục tiêu nghiên cứu của bài đề án Đó là
em sẽ tập trung vào giáo dục đào tạo ở Việt Nam hiện nay,một số thành tựunhững mặt còn hạn chế và một vài giải pháp trước tình hình đó.Với mục đích là
để giáo dục đào tạo thực sự đóng góp vào nâng cao chất lượng lao động pháttriển nguồn nhân lực,tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển
Trong quá trình thực hiện,trước hết em xin cảm ơn sự giúp đỡ chỉ bảo hết sức
tận tình của cô giáo TS Phan Thị Nhiệm đã giúp em thực hiện đề án này từ
giai đoạn tìm hiểu đến lúc hoàn thành.Tuy nhiên do hạn chế về nhận thức cùngvới sự hạn hẹp của thời gian và tài liệu,trong khuôn khổ nhỏ của đề án này.Emxin chỉ trình bày những ý chính của vấn đề giáo dục đào tạo đối với phát triểnnguồn nhân lực theo kiến thức và hiểu biết của bản thân.Vì thế không thể tránhkhỏi những sai sót.Mong được các thầy cô góp ý,chỉ bảo
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội,ngày 3/12/2008
Trang 3CHƯƠNG I:VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI
I.Một số khái niệm cơ bản về lao động và nguồn lao động
1 Nguồn lao động và lực lượng lao động
lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan
trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động việc làm trong xã hội
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của
pháp luật có khả năng lao động,có nguyện vọng tham gia lao động và nhữngngười ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dânViệc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau ở các quốc gia,thậm chí
là khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước Điều đó phụ thuộc vào trình độphát triển của nền kinh tế Đa số các nước quy định cận dưới của độ tuổi laođộng là 15 tuổi còn cận trên là có sự khác nhau(60 tuổi hoăc 64 tuổi) Ở nướcta,theo quy định của Bộ luật Lao động(2002), độ tuổi lao động đối với nam là
từ 15 đến 60 tuổi và nữ là từ 15 đến 55
Nguồn lao động luôn được xem xét trên 2 mặt biểu hiện đó là số lượng
và chất lượng.Về mặt số lượng nguồn lao động gồm dân số từ 15 tuổi trở lên cóviệc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đangthất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc trong gia đình,không có nhu cầulàm việc và những người trong tình trang khác(bao gồm cả những người nghỉhưu trước tuổi quy định).Còn nếu xét trên mặt chất lượng,cơ bản được đánh giá
ở trình độ lao động chuyên môn,tay nghề(trí lực)và sức khoẻ(thể lực)
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế là bộ
phận dân số trong độ tuổi lao động.Theo quy định thực tế đang có việc làm vànhững người thất nghiệp
Ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau:lực lượng lao động là bộphận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp.Lực
Trang 4lượng lao động theo quan niệm như trên đồng nghĩa với dân số hoạt động kinhtế(tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội.
2.Nguồn nhân lực và sự phát triển của nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là 2 khái niệm quan trọngchúng ta cần phải tìm hiểu khi đi nghiên cứu về lao động dưới góc độ là 1nguồn lực của quốc gia.Hiện nay,tồn tại rất nhiều cách định nghĩa về 2 kháiniệm này.Theo đinh nghĩa của Ngân hàng thế giới(WB),nguồn nhân lực đượchiểu là toàn bộ vốn con người gồm thể lực,trí tuệ,kĩ năng nghề nghiệp mà mỗi
cá nhân sở hữu.Liên hiệp quốc cũng có cách tiếp cận tương tự khi cho rằngnguồn lực con người là tất cả các kiến thức kĩ năng và năng lực con người cóquan hệ tới sự phát triển của đất nước.Quan điểm này xem xét nguồn lực conngười chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò,sức mạnh của nóđối với sự phát triển của xã hội
Như vậy có thể thấy rằng trong khi khái niệm nguồn lao động đề cấp đến
cả mặt số lượng và chất lượng của lao đông,còn nguồn nhân lực lại chú ý đếnchất lượng của nguồn lao động này Nguồn nhân lực được coi như 1 nguồn vốnbên cạnh các nguồn vốn khác như đất đai,tư bản,công nghệ,tài nguyên
Theo tổ chức lao động quốc tế(ILO) phát triển nguồn nhân lực là pháttriển sự lành nghề của dân cư nhằm hướng tới việc làm hiệu quả cũng như thoảmãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Định nghĩa này chú ý đến phát triểnnguồn nhân lực trên phương diện cá nhân, để tăng khả năng lao động của mỗingười.Trong khi đó,Liên hiệp quốc lại đưa ra một định nghĩa mang tính tổngquát hơn,phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng bao gồm giáo dục đào tạonghề nghiệp và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.Chúng ta có thể tổng hợp và đưa ramột định nghĩa chung như sau Phát triển nguồn nhân lực bao gồm các quá trìnhphát triển,giáo dục,tiếp thu kinh nghiệm tăng cường thể lực,kế hoạch hoá dânsố,phát triển nguồn vốn xã hội
Trang 5II.Vai trò của nguồn nhân lực với phát triển kinh tế
1.Nguồn nhân lực đóng góp cho tăng trưởng kinh tế
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế thôngqua năng suất lao đông.Vai trò của nguồn nhân lực được xem xét trên 2 khíacạnh
Trước hết lao động là một nguồn lực sản xuất chính không thể thiếu,làyếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.Nó có ảnh hưởng tới chi phí tương tự nhưviệc sử dụng các yếu tố đầu vào khác Đặc biệt trong điều kiện hạn chế của yếu
tố vốn và sự cạn kiệt của yếu tố tài nguyên thiên nhiên hiện nay,vai trò củanguồn nhân lực lại càng quan trong hơn bao giờ hết trong quá trình sản xuất xãhội
Thứ hai,lao động là người được hưởng các lợi ích của quá trình pháttriển.Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “phát triển vì con người và coi
đó là động lực của sự phát triển”.Trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội,hầuhết các nước đều đặt trọng tâm vào chiến lược phát triển con người
Một trong những lợi thế của các nước đang phát triển là lao động nhiều,giá laođộng rẻ.Tuy nhiên ở hầu hết các nước này,lao động lại chưa phải là động lựcmạnh cho tăng trưởng,nhất là các nước mà lao động nông nghiệp-nông thôncòn chiếm tỉ trọng cao trong tổng số lực lượng lao động
2.Nguồn vốn nhân lực đóng góp cho nâng cao năng suất,tăng thu nhập giảm đói nghèo và bất bình đẳng.
Nguồn vốn con người được xác định bao gồm các yếu tố như trình độgiáo dục,kinh nghiệm,sức khoẻ có vai trò quyết định đối với năng suất lao độngcủa một cá nhân.Do vậy ,là điều kiện quan trọng giúp cá nhân tăng thunhập,thoát khỏi cảnh nghèo,làm giảm bất bình đẳng xã hội.Vai trò to lớn củanguồn nhân lực như vậy là không chỉ được công nhận trong tăng trưởng mà còntrong các vấn đề xã hội
Nguồn vốn nhân lực cao sẽ là tiền đề cho tăng trưởng dài hạn nhờ các nỗ lựcnghiên cứu và ứng dụng tri thức và công nghệ mới.Trong điều kiện tự do hoá
Trang 6và toàn cầu hoá của nền kinh tế hiện đại ngày nay,vai trò này lại càng đượckhẳng định Điều này sẽ được phân tích ở phần sau.
III.Hệ thống sản xuất lấy con người làm trung tâm
1.Sự gia tăng vai trò của yếu tố nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế hiện đại
Quá trình phát triển nói chung và quá trình sản xuất nói riêng trong mọithời đại đều do 3 yếu tố quyết định là tài nguyên,vốn,con người.Tuy vậy,vaitrò của các yếu tố này thay đổi rất nhiều qua các thời đại
Từ thời nguyên thuỷ cho đến chế độ phong kiến thì tài nguyên là biến số chủchốt,quyết định sản lượng và tốc độ tăng trưởng kinh tế.Trong thời đạinày,người lao động bị phụ thuộc nặng nề vào các chủ nô lệ và địa chủ mà họchưa tự làm chủ được cái gọi là sức lao động của họ.Hơn nữa năng suất laođộng của người lao động lúc này phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên như thờitiết, độ màu mỡ của đất hơn là phụ thuộc vào bản thân anh ta.Tài nguyên dướithời kì phát triển ban đầu này được nhìn nhận chủ yếu dưới hình thức đấtđai.Các tiêu chí để xác định sự giàu có của một quốc gia,một bộ lạc hay một cánhân chủ yếu là phạm vi lãnh thổ,những vùng đất đai màu mỡ để phát triểnnông nghiệp.Trong các thời kì từ nô lệ cho đến phong kiến, đất đai là nguồnsống lớn nhất,bởi vì khi ngành kinh tế lớn nhất là nông nghiệp thì tất yếu đấtđai-yếu tố chính quyết định năng suất nông nghiệp phải nắm vai trò chi phốitrong quá trình sản xuất.Thực ra trong thời kì này,vốn cũng chính là đất đai.Dovậy,không phải tình cờ mà phần nhiều các cuộc chiến tranh dưới các chế độ từthời nô lệ đến thời phong kiến đều nhằm tranh giành đất đai và lãnh địa.Vìvậy,quá trình phát triển kinh tế trong các thời kì phát triển ban đầu của loài
người có thể chịu sự tác động của 3 biến số theo trật tự chi phối là đất
đai,vốn,con người.
Thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa,tư bản trở thành biến số chi phối trong quátrình phát triển kinh tế.Các nhà kinh tế trước thế kỉ XX,như Các Mác và AdamSmith đã đưa những luận thuyết tích luỹ tư bản khẳng định vai trò then chốt
Trang 7của tích luỹ tư bản trong việc tạo ra tiến bộ kinh tế dưới thời CNTB sơkhai.Tuy khẳng định vai trò chi phối của tư bản,các nhà kinh tế vẫn có nhữngnhìn nhận ban đầu về vai trò của lao động và giáo dục đối với quá trình sảnxuất Điều quan trọng khác với thời kì trước đó là dưới thời tư bản chủnghĩa,người lao động đã làm chủ được sức lao động của mình.Do vậy anh ta cóđộng cơ để nâng cao năng lực lao động của mình.Trật tự ưu tiên mới
là :Vốn,tài nguyên,con người.
Tuy vậy vai trò của giáo dục và nguồn vốn nhân lực đối với tăng trưởngkinh tế chỉ mới được nhìn nhận một cách đầy đủ từ giữa thế kỉ 20 trở lại đây
Để phản ánh vai trò gia tăng của yếu tố con người trong hàm sản xuất, đã cócác lý thuyết ra đời như một bộ phận của kinh tế học phát triển, đó là nhánhkinh tế học giáo dục và về sau được mở rộng thành nhánh kinh tế học nhânlực.Nguồn vốn nhân lực đã trở thành yếu tố quan trọng mang lại thành tựu tăngtrưởng kinh tế cao ở các nước Đông Á như Nhật Bản,các NICs Đây là nhữngnước tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện ban đầu ở mức rất thấp,với nềnkinh tế kiệt quệ do chiến tranh,nguồn vốn tích luỹ hầu như không có và tàinguyên nghèo nàn,duy nhất chỉ có con người là nguồn lực dồi dào
Trong thời gian gần đây, vai trò của nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng
và mang tính chi phối nhiều hơn trước xu thế phát triển mạnh mẽ của kinh tế trithức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng.Quá trình toàn cầu hoá đãlàm cho việc có được các nguồn vốn và tài nguyên trở nên dễ dàng hơn,nhờ các
cơ chế tín dụng thông thoáng và các kênh đầu tư đa dạng.Trong khi đó,với sựphát triển của kinh tế tri thức,vai trò của tri thức gia tăng và trở thành yếu tố chiphối giá trị sản phẩm.Trong điều kiện như vậy,trật tự chi phối của các biến số
trở thành :Con người,vốn,tài nguyên
2.Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực về chất.
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng bao gồm cả số lượng và chất lượng dânsố.Do vậy phát triển nguồn nhân lực thực chất liên quan đến cả 2 khía cạnhđó.Tuy nhiên,hiện nay về mặt số lượng, ở các nước đang phát triển dân số đang
Trang 8có xu hướng bùng nổ,vì vậy các nước đang muốn hạn chế tình trạng này Vì thếhướng phát triển nguồn nhân lực hiện nay đang đặc biệt quan tâm là quá trìnhnâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
3.Nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đối với nguồn nhân lực chất lượng cao
Mục đích trọng tâm của phần này là tìm mối liên hệ giữa PTNNL vớinền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá đang xuất hiện như một xu thế nổi trội cuốithế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI
Nền kinh tế tri thức có thể được hiểu là nền kinh tế mà sản phẩm của nó chứahàm lượng tri thức cao,thậm chí tri thức là đầu vào chủ chốt của sản phẩm.Nómang những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất,khoa học tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, đẩy nhanh đáng
kể tiến trình ra đời sản phẩm.Trước đây,khoa học công nghệ và sản xuất là 3giai đoạn tách biệt của một chu trình dài chế tạo sản phẩm.Thời kì “hái lượm”thông tin đã đươc thay thế bởi thời kì “lao động,chế tạo” thông tin.Thông tin cóđược phải qua quá trình sản xuất đã tạo bước đột biến về chất làm cho khoa học
có thể tham gia trực tiếp vào sản xuất và làm cho nền kinh tế tri thức xuấthiện.Sự biến đổi này cho phép rút ngắn tiến trình ra đời của sản phẩm
Thứ hai trong nền kinh tế tri thức,quá trình lao động của con người được cấu
thành chủ yếu từ quy trình sản xuất và sử dụng thông tin.Một tiền đề quantrọng ban đầu của nền kinh tế tri thức là sự ra đời của phương thức truyền tảithông tin mới,phương thức trao đổi và sản xuất thông tin trực tuyến.Với mạngthông tin toàn cầu,phương thức truyền tin theo mạng công nghệ số đã khắcphục được các bất cập về thời gian và không gian của các phương thức truyềntin trước đó.Thông tin được trao đổi và thu nhận theo cách nhanh nhất,do vậyđẩy nhanh diễn tiến và nâng cao chất lượng của quy trình sản xuất.Và hơn nữanhờ thế,nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá có một đặc trưng khác hẳn với cácnền kinh tế trước đó là tính toàn cầu hoá lấy thị trường toàn cầu làm địnhhướng chính
Trang 9Thứ ba,trong nền kinh tế tri thức các quy trình sản xuất mới được ứng dụng
rộng rãi,trong đó tri thức đóng góp nhiều hơn vào quá trình sản xuất.Một trongnhững sự kiện khác mang tính đột phá, đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tếtri thức là sự phát hiện ra các vật liệu mới năng lượng mới,sự phát triển củacông nghệ sinh học,công nghệ Nano.Những tiến bộ này làm thay đổi hẳn quytrình sản xuất,nói đúng hơn,tạo ra các quy trình sản xuất mới,theo đó tri thứcđóng góp nhiều hơn vào sản phẩm
Thứ tư với các tiền đề dựa trên phương thức thu nhận,trao đổi truyền tin mới
và các loại công nghệ mới,nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá mang một đặctrưng quan trọng khác, đặc trưng thứ tư,là tính biến động cao.Nền kinh tế mạngnhư một hệ sinh thái các cơ thể trong đó không tồn tại một sự cân bằng ổn địnhnào.Thay vào đó khi quá trình tiến hoá diễn ra,luôn có một sự đào thải và thaythế của cái mới.Do vậy,tạo ra độ khả thi cao của khả năng “đi tắt đón đầu” củacác nền kinh tế đi sau
Những đặc trưng trên của nền kinh tế tri thức đã tác động đến PTNNL trên những phương diện như sau
Nền kinh tế tri thức làm gia tăng vai trò của phát triển nguồn nhân lực.Xu thế phát triển kinh tế tri thức biến yếu tố con người trở thành mũi nhọn tạo sức cạnh tranh cho một công ty Điều này đúng với cả công ty hoạt động trong lĩnh
vực sản xuất truyền thống và các công ty hoạt động trong các ngành phi vậtchất mới
Đối với các công ty hoạt động trong các ngành sản xuất vật chất truyềnthống,cạnh tranh vì thị phần trở nền khốc liệt hơn bao giờ hết do quá trình tự dohoá thương mại Đồng thời trong thời đại ngày nay các yếu tố sản xuất như vốn
và các đầu vào sản xuất vật chất trở nên dễ đạt được hơn nhờ quá trình tự do hoádịch chuyển vốn và thương mại.Trong bối cảnh toàn cầu hoá,nguồn lực con ngườilại là yếu tố tương đối ít di chuyển nhất do các cản trở về chính sách di cư,các vấn
đề văn hoá và ngôn ngữ.Chính yếu tố ít “động” nhất này trở thành lực lượng tạo ra
sự khác biệt và do vậy tạo mũi nhọn cạnh tranh cho mỗi công ty
Trang 10Đối với các công ty hoạt động trong các lĩnh vực mới phi vật chất thì rõ ràngnguồn nhân lực không chỉ là nguồn tư bản lớn nhất mà còn là yếu tố sản xuất chiphối bảo đảm cho quá trình sản xuất được vận hành.Do vậy,chắc chắn chỉ có yếu
tố con người là chủ lực tạo sức cạnh tranh và phát triển cho loạt công ty này Đồng thời,con người trở thành yếu tố mũi nhọn phát triển cho một quốcgia.Trong thời đại tư do mở cửa cạnh tranh mang tính chất quốc tế.Hơn nữa đốivới các quốc gia kém phát triển,tính biến động cao trong nền kinh tế tri thức tạokhả năng đi tắt đón đầu của một nước phụ thuộc vào tính “hợp lý” của mô hình
và chiến lược lựa chọn.Trong việc thiết kế và thực thi con đường đi tắt đónđầu,nếu nguồn vốn tài chính có thể huy động được từ bên ngoài,thì nguồn lựccon người lại phải dựa vào chính khả năng bên trong quốc gia đó.Chỉ có cácchính khách,các nhà làm chính sách và các học giả trong nước mới là yếu tốquyết định tìm ra mô hình riêng thích hợp cho dân tộc để phát huy tối đa nộilực và chỉ có các quan chức và nhân dân đồng lòng quyết tâm và đặc biệt là lựclượng lao động giàu kĩ năng và sáng tạo mới thực hiện được khả năng vượt lêntrên để phát triển
Nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá làm tăng nhu cầu đối với lao động có kỹ năng do sử dụng công nghệ dùng nhiều kĩ năng và cách thức tổ chức lao động mới.Trong nền kinh tế tri thức,chu trình sống của sản phẩm được rút ngắn,tuy
trực tiếp dựa trên bước chuyển tham gia của khoa học vào sản xuất tạo ra côngnghệ mới nhanh chóng,lại có nguồn gốc sâu xa từ sự thay đổi thị hiếu củangười tiêu dùng.Sản phẩm của phương thức sản xuất hàng loạt không còn thuhút được người tiêu dùng trên toàn cầu.Sự tinh tế và khác biệt trong mỗi sảnphẩm trở thành một thị hiếu nổi trội.Hệ quả là mô hình sản xuất linh hoạt đangdần chiếm lĩnh nền sản xuất hiện đại,thay thế cho mô hình sản xuất hàngloạt.Mô hình này đòi hỏi công nhân đa chức năng, đa kĩ năng và luôn có ý thức
về sáng kiến đổi mới.Nói cách khác,mô hình kinh doanh mới đòi hỏi một lựclượng lao động đại chúng trực tiếp tham gia quá trình sản xuất có độ linh hoạt
Trang 11cao hơn, được đào tạo công phu hơn,trung thành hơn,có trình độ nhân lực tốthơn và được đãi ngộ hơn.
Nền kinh tế tri thức làm tăng mạnh nhu cầu đối với lực lượng lao động trong các ngành liên quan đến xử lý thông tin và công nghệ thông tin.Ngành công
nghiệp thông tin,bao gồm cả dòng thông tin và công nghệ thông tin,làm nảysinh nhu cầu đối với các kỹ sư máy tính,quản lý mạng và các nhà xử lý và phântích thông tin Đồng thời trong nền kinh tế tri thức,mũi nhọn cạnh tranh thayđổi về cơ bản so với nền kinh tế công nghiệp trước đó.Sự cạnh tranh không đơnthuần chỉ là các sản phẩm mà còn là sự cạnh tranh giữa các khối óc,sự sángtạo,khả năng kiến tạo mô hình mới và sản phẩm mới.Trong điều kiện rút ngắnchu trình sinh tồn của sản phẩm,sự lựa chọn mũi nhọn cạnh tranh chỉ dựa vàosản phẩm có sức cạnh tranh nhất thời tại một thời điểm sẽ là nhất thời và không
ổn định.Duy trì sức canh tranh lâu dài cho một công ty hay một đất nước dovậy phải dựa vào tri thức,khối óc với khả năng thường xuyên liên tục
Rõ ràng,nhu cầu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao tồn tại ở mọi xãhội,song trong nền kinh tế tri thức nhu cầu này đã có một sự phát triển về chất
và trở thành nhu cầu đại chúng Đặc trưng về tính biến động cao đã tạo cơ hộicho các nước đi sau khả năng “đi tắt đón đầu”,mà cơ hội thành công phụ thuộcvào khả năng lựa chọn và quyết tâm thực hiện mô hình phát triển đất nước.Nằmsâu thẳm trong nền tảng của việc lựa chọn và thực thi mô hình đó chính làchiến lươc PTNNL, đặc biệt thông qua phát triển GD-ĐT của đất nước
Trang 12CHƯƠNG II:VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ KINH NGHIỆM
CỦA HÀN QUỐC
I.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động
Chất lượng của lao động được đánh giá qua trình độ học vấn,chuyên môn
và kĩ năng của lao động cũng như sức khoẻ Điều này là phụ thuộc vào hoạtđộng giáo dục, đào tạo và các dịch vụ chăm sóc y tế sức khoẻ
1.Giáo dục và việc cải thiện chất lượng lao động
Vai trò của giáo dục đối với việc nâng cao chất lượng lao động đượcphân tích qua các nội dung sau:
Giáo dục là cách thức để tăng tích luỹ vốn con người đặc biệt là tri thức sẽgiúp cho việc sáng tạo ra công nghệ mới,tiếp thu công nghệ mới do đó thúc đẩytăng trưởng kinh tế dài hạn
Giáo dục tạo ra một lực lượng lao động có trình độ,có kỹ năng làm việc vớinăng suất cao là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để người dânđặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cường sứckhoẻ,dinh dưỡng
Vai trò của giáo dục thường được các nhà kinh tế đánh giá bằng chỉ tiêu “tỷsuất lợi nhuận cho giáo dục”.Về lý thuyết,tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư giáo dụccũng giống như lợi nhuận đầu tư vào bất kỳ dự án nào khác Đó là tỷ lệ phầntrăm của lợi nhuận từ đầu tư ở một mức độ giáo dục nhất định với tổng các chiphí.So sánh chỉ số này giữa các cấp giáo dục có thê giúp cho việc đánh giá lợiích kinh tế của đầu tư giáo dục ở cấp học nào hiệu quả hơn Kết quả nghiên cứu
ở các nước cho thấy tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào cấp tiểu học cao hơn các cấphọc khác.Như vậy có nghĩa là giáo dục tiểu học và giáo dục cơ bản có hiệu quảđặc biệt là với các nước đang phát triển.Do vậy,chính sách giáo dục ở các nước
Trang 13đang phát triển cũng tập trung nhấn mạnh vào và ưu tiên nhiều hơn cho giáodục tiểu học.
2.Dịch vụ y tế,chăm sóc sức khỏe và cải thiện chất lượng lao động
khoẻ có tác động tới chất lượng lao động cả hiện tại và tương lai.Ngườilao động có sức khoẻ tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc giántiếp bằng việc nâng cao sức bền,dẻo dai và khả năng tập trung cao trong khilàm viêc.Sức khoẻ của người lao động thường được đánh giá ở thể lực.Mà điềunày lại phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ
Đối với người làm việc,thể lực và tuổi thọ của họ một mặt phụ thuộc vào yếu
tố dinh dưỡng song mặt khác còn phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc sức khoẻthường xuyên và chính sách bảo hiểm y tế cho người lao động
Trên thực tế hầu hết các nước còn quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lựctrong tương lai.Thể hiện ở việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khoẻ tốt cho trẻ em.Đây là cách thức giúp cho thế hệ trẻ phát triển tốt thể lực,lành mạnh về tinhthần và do đó cũng giúp trẻ có đủ năng lực, để nhanh chóng tiếp thu kiếnthức,kỹ năng qua giáo dục ở nhà trường
Như vậy có thể nói các hoạt động giáo dục và y tế chăm sóc sức khoẻ có tácđộng hỗ trợ lẫn nhau,bổ sung nhau trong cải thiện chất lượng nguồn lao động
3.Tác phong công nghiệp,tính kỉ luật của người lao động và chất lương lao động
Bên canh 2 yếu tố trên thì ngày nay các nhà quản lý cho rằng chất lượnglao động hiệu quả lao động còn liên quan đến tác phong tinh thần,thái độ vàtính kỉ luật của người lao động.Trong điều kiện làm việc hiện nay ngày càng có
xu hướng hiện đại hoá, đòi hỏi người lao động phải có tác phong côngnghiệp,tinh thần tự chủ sáng tạo,thái độ hợp tác và tính kỷ luật chặt chẽ
Trang 14II.Vai trò của giáo dục đào tạo
1.Khái niệm giáo dục, đào tạo
Giáo dục là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào
một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề nghiệp thích hợp hơn trong tươnglai.Theo nghĩa rộng,giáo dục có thể được hiểu là tất cả các dạng học tập củacon người nhằm nâng cao kiến thức và kĩ năng trong suốt cuộc đời
Đào tạo là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực
hiện có hiệu quả hơn chức năng,nhiệm vụ của mình,làm cho người lao độngnắm vững hơn về công việc của mình,là những hoạt động học tập để nâng caotrình độ,kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả hơn
2.Vai trò của giáo dục và đào tao
GD là điều kiện cần với phát triển kinh tế.Kết quả của giáo dục cùng với
sự cạnh tranh trong giáo dục đại học sẽ thúc đẩy các nước đang phát triển thuhút được người tài
Tiềm năng kinh tế của đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ
mà trình độ này lại phụ thuộc vào điều kiện GD
Giáo dục nằm ở trung tâm của sự phát triển.Các mục tiêu của giáo dục địnhhướng tương lai được định rõ bởi quá trình phát triển là sự nhìn nhận có tínhchất cộng động xã hội.Với tư cách là tri thức,giáo dục là một trong nhữngphương tiện quan trọng nhất để thực hiện chương trình hành động của conngười vươn lên phía trước.Sự phát triển chỉ xảy ra khi có sự giao nhau của cácyếu tố khoa học xã hội mang tính kiến tạo tri thức cơ sở,sự tham gia của nguồnnhân lực và cuộc cách mạng về nền tảng các giá trị.Quá trình phát triển lúc đótrở nên một cấu trúc toàn thể và không 1 yếu tố nào trong các yếu tố kinhtế,văn hoá,xã hội hay tri tuệ đứng ngoài cấu trúc đó.GD có vai trò tác động lênmỗi thành tố cũng như đến quá trình phát triển của tổng thể.Nói 1 cách khácgiáo dục chính là phát triển
Quá trình đào tạo làm tăng đáng kể các yếu tố sang tạo của con người,giúp họthực hiên tư cách chủ thể phát huy tích cực năng lực của mình
Trang 15Sự cất cánh của 1 nước gắn chặt với chính sách và chiến lược phát triển nguồnnhân lực, đặc biệt là phát triển giáo dục.
3.Các chương trình đào tạo
Giáo dục có thể chia làm 2 dạng giáo dục phổ thông(giáo dục cơbản)nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản để phát triển năng lực cánhân.Giáo dục nghề và giáo dục đại học(đào tạo) vừa giúp người học có kiếnthức đồng thời còn giúp cung cấp tay nghề kĩ năng và chuyên môn.Với mỗitrình độ đào tạo nhất định,người được đào tạo biết được họ sẽ phải đảm nhậnnhững công việc gì.Yêu cầu kĩ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp nhưthế nào
Hiện nay có rất nhiều các phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhânlực.Mỗi một phương pháp có cách thức thực hiện, ưu nhược điểm riêng.Dovậy,các doanh nghiệp cũng như tổ chức cần lựa chọn cho mình một phươngpháp tối ưu vừa đạt được các mục tiêu đặt ra vừa tiết kiệm được kinh phí đàotạo.Dưới đây là một số phương pháp các doanh nghiệp thường lựa chọn
-Đào tạo trong công việc có; đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc.Bao gồm:
+Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc
+Đào tạo theo kiểu học nghề
+Kèm cặp và chỉ bảo
+Luân chuyển và thuyển chuyển công việc
-Đào tạo ngoài công việc:người học tách khỏi sự thực hiện các công việc thựctế.Bao gồm:
+Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp
+Cử đi học các ở các trường chính quy
+Đào tạo theo kiểu chương trình hoá,với sự trợ giúp của máy tính
+Đào tạo theo phương thức từ xa
+Đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm
+Mô hình hoá hành vi
Trang 16III.Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quá trình tiến hành tập trung phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo.
1.Thành tựu chung của Hàn Quốc
Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á vàđứng thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006 Sau Chiến tranh Triều Tiên,kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèonhất thế giới trở thành một trong những nước giầu nhất Cuối thế kỷ 20, HànQuốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất tronglịch sử thế giới hiện đại GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhẩyvọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và25.000 USD vào năm 2007 Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủnghoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng vàvững chắc Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hànquốc như là "Huyền thoại sông Hán", đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục.Hàn Quốc cũng là một nước phát triển có sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất,với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 5% mỗi năm - một phân tích gần đâynhất bởi Goldman Sachs năm 2007 đã chỉ ra Hàn Quốc sẽ trở thành nước giầuthứ 3 trên thế giới vào năm 2025 với GDP bình quân đầu người là 52.000 USD vàtiếp 25 năm sau nữa sẽ vượt qua tất cả các nước ngoại trừ Hoa Kỳ để trở thànhnước giầu thứ hai trên thế giới, với GDP bình quân đầu người là 81.000 USD
Từ những năm 1960,kinh tế Hàn Quốc có tốc độ tăng trưởng thuộc loại nhanhnhất thế giới.GNP đầu người của Hàn Quốc tăng trung bình từ 6,7% một năm,đạt được mức 2.370 đô la Mỹ từ năm 1986 và trở thành nước công nghiệp pháttriển từ giữa những năm 1990.Tốc độ gia tăng này cao hơn cả Nhật Bản và cácnước công nghiệp khác.Với chiến lược hướng ngoại,xuất khẩu của Hàn Quốctăng trung bình 27,3%/năm trong thời kì 1965-1980 và 13,1%/năm thời kì1980-1986.Hàn Quốc là một trong những nước công nghiệp hoá mới đạt đượcthành tựu nhanh vượt bâc,trở thành một trong những ‘con rồng của châuÁ”.Một trong những nguyên nhân là chính phủ đã biết tận dụng lợi thế về lao
Trang 17động để phát triển một nguồn nhân lực kĩ thuật cao đáp ứng nhu cầu côngnghiệp hoá Ở phần này chúng ta sẽ tập trung tìm hiểu về chính sách giáo dụcđào tạo phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc để rút ra những kinh nghiệmtiêu biểu của nước này.
Hàn Quốc là một nước đã đạt những thành tựu về phát triển nguồn nhân lựctrong một thời gian khá ngắn.Trước hết đó là nhờ quyết tâm của chính phủ,các
tổ chức giáo dục,hội phụ huynh học sinh và chính bản thân học sinh Ý chímuốn xoá bỏ đói nghèo đã giúp các nhà lãnh đạo chính trị đưa ra những kếhoạch phát triển kinh tế trung hạn và ngắn hạn tạo ra những khuyến khích xãhội như tiền công cao và chênh lệc về tiền lương dựa vào trình độ học vấn, điềunày đã làm cho giáo dục phát triển nhanh hơn
2.Chính sách đào tạo nguồn nhân lực của Hàn Quốc đặt con người ở vị trí trung tâm.
Ở Hàn Quốc,có những nhân tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nộidung và chất lượng của nền giáo dục đó là
a,Tư tưởng truyền thống Khổng giáo
b,Những sức ép chính trị và sự sống còn phát triển của đất nước do thiếu tàinguyên thiên nhiên và sự phân chia hai miền Nam-Bắc
c.Thực hiện dân chủ hoá
d,Sự khát khao hiện đại hoá đất nước và tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến.Những yếu tố trên góp phần tạo nên một đội ngũ lao động tinh hoa của đấtnước.Người Hàn Quốc tự trang bị cho mình những năng lực,tri thức và tinhthần kỉ luật cần thiết phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.Chính phủ luônthừa nhận tầm quan trọng của giáo dục,coi giáo dục là nhân tố thúc đẩy sự tăngtrưởng và phát triển kinh tế của đất nước.Có thể nói,Hàn Quốc đã đạt được mộtnền giáo dục toàn diện.Sự bùng nổ giáo dục diễn ra ở các cấp,bất chấp sự hỗnđộn của cuộc nội chiến đầu những năm 1950 Đến đầu nhưng năm 1990,tỉ lệnhập học của học sinh trung học đã tăng lên gấp 10 lần và tỉ lệ nhập học cáctrường cao đẳng và đại học tăng gấp 4,3 lần so với năm 1952.Năm 1994,Hàn
Trang 18Quốc có 5900 trường tiểu học,2645 trường phổ thông cơ sở,1784 trường trunghọc và 514 trường đại học.Trường học dành cho người già và người tàn tật là
106 trường.Hệ thống các trường học đã đào tạo ra một lực lượng lao động cógiáo dục tốt và kỉ luật cao vào bậc nhất trong khu vực.Năm 1991,tỉ lệ biết chữcủa người lớn là 97,2%,tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục là 90%,chỉ số giáo dục
là 0,95,chỉ số phát triển con người HDI của Hàn Quốc luôn có thứ hạng caotrong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới.Bảng 1 đưa ra một sốcác chỉ số phát triển con người ở một số nước châu Á,năm 1997.Ta thấy các chỉ
số này của Hàn Quốc cao hơn khá nhiều so với các nước ở trong khu vực.Bảng 1:Chỉ số phát triển con người ở một số nước châu Á
Nước Tuổi
thọ (năm)
tỉ lệ người lớn biết chữ
tỉ lệ nhập học các cấp(%)
GDP thực
tế bình quân đầu người(PPP)
chỉ số giáo dục
hạng trên thế giới
Nguồn nhân lực của Hàn Quốc có giáo dục cao nhờ vào chính sách đào tạo ởnước ngoài vào cuối những năm 1970,và chính sách thu hút những người HànQuốc có học thức cao đang sinh sống tại nước ngoài trở về nước,kể cả họ chưa
có việc làm.Nguồn nhân lực có kĩ năng được đảm bảo bằng một thời gian họcviệc đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài và học tại chức.Khoảng ½ số tiến sĩ của
Trang 19Hàn Quốc đều du học ở Mĩ về Đây chính là nhờ chính sách khuyến khích duhọc ở Mỹ của Chính phủ Hàn Quốc.Chính sách trọng dụng nhân tài trong nước
đã tạo cơ hội tốt cho những người có bằng cấp trở về.Bảng 2 cho ta thấy tỉ lệtiến sĩ đi học ở Hàn Quốc là rất cao và ngang bằng với số lượng học trong nước
và tỉ lệ cao hơn rất nhiều so với Nhật Bản Điều này có được chính là nhờnhững chính sách ưu đãi khuyến khích của chính phủ Hàn Quốc với nhữngngười tài để họ học tập và trở về phục vụ đất nước
Bảng 2 :Tỉ lệ tiến sĩ của một số nước châu Á năm 1990
Chính phủ mở rộng cơ hội giáo dục đến tất cả những bộ phận của cộng đồng
xã hội như người già,người tàn tật và phụ nữ.Tỉ lệ đến trường của phụ nữ luôncao gần bằng với nam giới Đặc biệt Hàn Quốc là quốc gia đi tiên phong trongviệc giảm tỉ lệ sinh đẻ.Người ta tính rằng tỉ lệ sinh đẻ của phụ nữ có trên 7 nămhọc chỉ bằng 54% tỉ lệ sinh đẻ của phụ nữ không được đi học.Giảm tỉ lệ sinh đẻ
có nghĩa là giảm dân số và giảm dân số cũng có nghĩa là nâng cao mức tăngtrưởng,vì dân số tăng 1% thì GDP sẽ giảm 3%.Mặt khác,sinh đẻ sẽ khuyếnkhích sự tham gia của lao động nữ trên thị trường.Cuối cùng,chính nhờ việcgiảm tỉ lệ sinh đẻ,tỉ lệ tăng dân số đến tuổi đi học sẽ giảm bớt góp phần làmtăng chi các chi phí công cộng cho giáo dục cơ bản,do đó cũng có nghĩa là tăngcao hơn nội dung và chất lượng giáo dục
Hệ thống các trường dạy nghề cũng đào tạo ra một số lượng lớn các công nhân
kĩ thuật,phục vụ cho công nghiệp hoá.Hàng năm,các trung tâm dạy nghề đàotạo khoảng 12.000 người Đặc biệt hệ thống giáo dục ở Hàn Quốc chú trọngđến yếu tố tinh thần và kỉ luật.Yếu tố trên đã tạo cơ sở đạo đức mới cần thiết
Trang 20cho công nghiệp hoá.Người Hàn Quốc có thể làm việc 60 giờ một tuần khi đấtnước đã phát triển ở trình độ cao,cao hơn 10 giờ so với các nước công nghiệpkhác Đức tính tiết kiệm và tinh thần cộng đồng thể hiện ở chỗ đồng lương củangười Hàn Quốc thấp hơn nhiều so với các nước khác cùng thời kì công nghiệphoá,nhưng con người Hàn Quốc nổi tiếng là có tinh thần kỉ luật cao trong làmviệc và biết hi sinh khi phấn đấu đạt được những mục tiêu chung của đất nước.Chính nhờ sự chú trọng đến yếu tố con người đặt con người vào vị trí trungtâm của quá trình phát triển đã trở thành nhân tố quan trọng góp phần vào sựphát triển và tăng trưởng nhanh kéo dài của Hàn Quốc.
3.Liên kết phát triển kinh tế và nhân lực ở Hàn Quốc
Bí quyết của Hàn quốc là dựa vào phát triển nguồn nhân lực trong mộtnước nghèo tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế.Giáo dục là nhân tố chủyếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chính sách về giáo dục luônđược xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Luôn có một sự liên kếtgiữa phát triển kinh tế và nhân lực.Quan sát bảng 3 dưới đây,có thể thấy mốiliên hệ mật thiết giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển kinh tế qua cácgiai đoạn
Bảng 3:Chính sách giáo dục qua các giai đoạn phát triển kinh tế
Những năm 50, khi nền công nghiệp đòi hỏi nguồn chủ yếu là nhân công taynghề thấp thì chính sách của giáo dục là chống mù chữ, làm cho ai cũng biếtđọc biết viết Những năm 60 khi công nghiệp nhẹ đòi hỏi công nhân có taynghề thì giáo dục chủ trương phát triển mạnh giáo dục hướng nghiệp trong các
Trang 21trường trung học Những năm 70, nền công nghiệp năng đòi hỏi kỹ thuật viênđáp ứng nhu cầu của công nghệ sản xuất phức tạp thì giáo dục chủ trương pháttriển mạnh các trường dạy nghề kỹ thuật Những năm 80, khi tính cạnh tranhcủa nền kinh tế phụ thuộc vào nền công nghệ kỹ thuật cao thì chính phủ chủtrương đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và giáo dục trên lĩnh vực khoa học cơbản và công nghệ Hàn quốc đã lần lượt thực hiện phổ cập tiểu học rồi trunghọc, nay lại đang dồn sức phát triển giáo dục đại học, nâng cao chất lượng giáodục và học suốt đời
Từ năm 1992, một cuộc cải cách giáo dục rộng lớn được triển khai với mụctiêu là tái cấu trúc hệ thống giáo dục thành một hệ thống giáo dục mới, bảo đảmcho nhân dân được học suốt đời Mục tiêu đào tạo của hệ thống này là làm chongười học trở thành: người có quan hệ tốt đẹp với nhân dân và môi trường;người biết sáng tạo và ứng dụng tri thức về thông tin và công nghệ; người cảmthông và nhạy cảm với người khác nền văn hoá và chủng tộc; người làm việchữu hiệu Xã hội học tập ở Hàn quốc hướng đến việc bảo đảm cho người dânđược tiếp thu nền giáo dục mình cần, bất kể tại đâu, bất kể lúc nào Mỗi côngdân được bảo đảm có cơ hội để phát triển năng lực của mình và ứng dụng vàođời, bất kể giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn và sức khoẻ Ở Hàn Quốc có hẳnmột câu khẩu hiệu kêu gọi "Học suốt đời từ lúc nằm nôi đến khi vào huyệt" Năm 1999, để tăng cường giáo dục suốt đời nhằm hướng đến việc phát triểnnguồn nhân lực cho thế kỷ 21 với hiệu quả cao nhất, Luật Giáo dục xã hội đãđược thay thế bằng Luật Giáo dục suốt đời Bộ Giáo dục được đổi tên thành BộGiáo dục và phát triển nguồn nhân lực và Bộ trưởng Bộ này có hàm Phó Thủtướng Cùng với Bộ này, các Bộ Tài chính và Kinh tế, Bộ Lao động, Bộ Khoahọc và Công nghệ sẽ cùng nhau xây dựng các đường lối và thực hiện các chínhsách liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, hướng nghiệp và dạy nghề Cóbốn nguồn tài chính chủ yếu cho giáo dục là: nguồn từ ngân sách trung ương(chiếm tỷ trọng 84%); nguồn từ ngân sách địa phương, nguồn từ người họccùng gia đình; cuối cùng là nguồn từ các pháp nhân đầu tư Hàn Quốc hiện
Trang 22dành 5% GDP cho giáo dục Chỉ số phát triển con người (HDI) của Hàn Quốc
đã có những bước tiến thần kỳ, đến năm 2005 thì đạt 0,921 điểm, đưa HànQuốc đã chiếm vị trí thứ 26 trong các nước cho chỉ số HDI phát triển nhất thếgiới Hàn Quốc có 97% số người từ 25 đến 34 tuổi tốt nghiệp THPT, tỷ lệ caonhất trên thế giới
4.Chính sách đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
a,Giai đoan 1 (1945-1960) :giai đoạn đặt nền móng
Trước năm 1945,nền giáo dục của Hàn Quốc chịu sự chi phối của NhậtBản do vậy phát triển rất chậm.Năm 1948,luật Giáo dục mới được ban hànhtrên nguyên tắc tự do dân chủ.Giáo dục bắt buộc được thể chế hoá,và chínhsách xoá nạn mù chữ của người lớn được thực hiện.Chính phủ đã cho xây dựnglại hàng loạt các trường học, đào tạo giáo viên và in sách giáo khoa do nhànước quản lý.Chương trình giáo dục trong giai đoạn này được thực hiện theo 4cấp:tiểu học,trung học cơ sở,trung học phổ thông,và đại học.Nhờ đó sự bùng nổgiáo dục không chỉ diễn ra trong các trường tiểu học,mà còn ở các trường phổthông và trung học.Chính phủ còn công bố những nghị định khẩn cấp phục hồi hệthống giáo dục sau chiến tranh và hoàn thành các tiểu chuẩn xét tuyển quốc giakhi xét tuyển học sinh vào bậc trung học
Mặc dù giáo dục phát triển nhanh thời kì nay,nhưng chưa được nhà nước gắnchặt với lợi ích kinh tế nên yếu tố nhân lực trong thời kì này chưa được phát huỵ
b,Giai đoan 2(1961-1979):Giai đoạn phát triển số lượng.
Chính sách giáo dục thời kỳ này đó là phát triển nhanh nguồn nhân lựcmột cách thích hợp để phục vụ trực tiếp cho quá trình công nghiệp hoá.Do vậy
có sự gia tăng mạnh mẽ số lượng giáo viên và phương tiện dạy học,hệ thốngtrường học được mở rộng bao gồm cả trường công và trường tư.Hệ thống giáodục đại học được mở rộng Điều chỉnh quan trọng nhất trong giai đoạn này làphát triển nhanh hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, đào tạo lực lượng công nhân
kỹ thuật,cán bộ quản lý đáp ứng việc mở rộng cơ cấu công nghiệp và phát triểnnhanh các ngành phục vụ xuất khẩu Sau khi luật đào tạo nghề được ban bố
Trang 23năm 1967,số học sinh theo học các trường nghề cấp trung học đã tăng lên.Đồng thời các môn học nghề được đưa thêm vào chương trình trung học cơ sở Song song với nó,chương trình xoá nạn mù chữ cho người lớn tiếp tục đượcthực hiện thông qua các tổ chức giáo dục như hội bà mẹ Hàn Quốc,Hội nữ sinhviên Hàn Quốc,Cơ quan về những vấn đề lao động
Năm 1966 chính phủ cho thành lập viện Khoa học kĩ thuật công nghệ HànQuốc(KIST),Bộ khoa học kĩ thuật,trung tâm thông tin liên lạc,viện máymóc,viện năng lượng và tài nguyên,Tổ hợp phát triển năng lượng nguyêntử nhằm đào tạo các kỹ sư công nhân kỹ thuật và phát triển công nghệ phục vụquá trình phát triển công nghiệp nặng và hóa chất
c.Giai đoan 3(1980-1990):Giai đoạn nâng cao chất lượng
Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá dựa vào các ngành công nghiệp có
kỹ thuật cao,chất lượng giáo dục được đặc biệt quan tâm kể từ đầu những năm1980.Chính phủ tiến hành cải cách giáo dục từ tháng 3-1985,trong đó nhấnmạnh đến vấn đề cải cách trường học,cải cách hệ thống thi cử,tăng cường chấtlượng giáo dục,tăng cường bổ sung các phương tiện dạy và học,nâng cao chấtlượng đội ngũ giáo viên,cập nhật nội dung và phương pháp giảng day mới,pháttriển nhân lực có trình độ khoa học cao,duy trì chương trình giáo dục đại học ởtrình độ cao,và áp dung cơ chế giáo dục suốt đời.Nhà trường được phân cấpquản lý và điều hành
Cũng trong giai đoạn này,ngân sách dành cho giáo dục tăng cao,chiếm trên20% ngân sách quốc gia.Năm 1984,giáo dục địa phương chiếm 88,4%ngânsách của Bộ giáo dục,trường quốc lập chiếm 9,1%,đại học và sau đại học chiếm5,4%,các khoản kinh phí đặc biệt chiếm 2,6% và kinh phí xây dựng các cơ sởgiáo dục chiếm 10,5%.Do mức đầu tư ngân sách cao,tỷ lệ học sinh tiểu họcnhập học trong giai đoạn này đat 100%,trung học cơ sở 70% và trung học 60%.d,Giai đoan 4(1990 đến nay):giai đoạn tiên tiến của giáo dục