1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Đánh giá công tác quản trị lãi suất và rủi ro lãi suất trong các ngân hàng thương mại Việt Nam.”

34 391 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Công Tác Quản Trị Lãi Suất Và Rủi Ro Lãi Suất Trong Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Thu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề Án
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 267 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế kế hoách hóa tập trung, vai trò của lãi suất ngân hàng rất mờ nhạt, luôn được định ra bởi quyết định chủ quan. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống ngân hàng đã phát triển. Chuyển sang mô hình hai cấp và thực hiện cơ chế tự do hóa lãi suất. Thực tế xây dựng và điều hành lãi suất tại các ngân hàng thương mại Việt Nam còn nhiều bất cập cả về nội dung chính sách, cơ chế quản lý và phương thức tổ chức vận hành để có thể thích nghi với cơ chế lãi suất thị trường. Nguyên nhân của những bất cập đó là do các ngân hàng thiếu quan tâm đến việc xây dựng một quy trình quản trị lãi suất thích hợp, do môi trường pháp lí chưa đầy đủ, do những thay đổi trong quản lý kinh tế hiện nay. Vì vậy em xin chọn đề tài : “Đánh giá công tác quản trị lãi suất và rủi ro lãi suất trong các ngân hàng thương mại Việt Nam.”

Trang 1

đủ, do những thay đổi trong quản lý kinh tế hiện nay Vì vậy em xin chọn

đề tài :

“Đánh giá công tác quản trị lãi suất và rủi ro lãi suất trong các ngân hàng thương mại Việt Nam.”

Trang 2

1 Cơ sở lý luận về quản trị lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại việt nam

1.1 Các khái niệm cơ bản

Lãi suất chính là chi phí cho việc sử dụng khoản vốn mà người đi thuê

sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và thường được biểu thịbằng tỷ lệ phần trăm của số tiền đi vay

Rủi ro lãi suất của các ngân hàng là chi phí nguồn vốn trở nên cao hơnthu nhập từ sử dụng nguồn vốn

Quản trị là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thểquản trị đến đối tượng chịu sự quản trị tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội đểđạt được mục tiêu đề ra

Quản trị lãi suất là một bộ phận của quản trị tài sản - nguồn vốn củangân hàng Vì thế mục tiêu của quản trị ngân hàng gắn liền với mục tiêucủa hoạt động quản lý tài sản - nợ là tạo lập và thực hiện các chiến lượccủng cố bảng cân đối kế toán nhằm đảm bảo cho xã hội đạt được mục tiêu

Như vậy lãi suất chiết khấu về bản chất là lãi suất tái cấp vốn FED chocác ngân hàng thương mại Mỹ Đây là lãi suất cho vay có điều kiện củaFED thông qua cửa sổ chiết khấu Về đặc điểm lịch sử, công cụ này củaFED hình thành nhằm để đáp ứng nhanh mức biến động bất lợi của một sốngân hàng thương mại trong cuộc khủng hoảng tài chính Còn về thực chấtcho vay thông qua cửa sổ chiết khấu là một trong những công cụ điều tiết

Trang 3

tổng lượng vốn của toàn bộ nền kinh tế Do vậy, việc cho vay lãi suất chiếtkhấu dự trữ liên bang xét về mặt cơ cấu chính là lãi suất chủ đạo của PED

ấn định để các ngân hàng thành viên làm cơ sở cho vay lẫn nhau

Ngoài ra ngân hàng thương mại có thể vay nóng theo hình thức tín dụng qua đêm

từ quỹ dự trữ của các ngân hàng thương mại khác có số dư vượt mức quy định Lãi suất tính trên sự vay mượn này được gọi là lãi suất liên ngân hàng, luôn cao hơn mứclãi suất chiết khấu nhưng không lớn.

Lãi suất liên ngân

Mua bán quỹ dự trữ qua đêm của cácngân hàng thương mại với mức quyđịnh 1 triệu USD hoặc nhiều hơn

Lãi suất chiết khấu 4,50

Lãi suất bình quân của hơn 30 ngânhàng lớn nhất nước Mỹ cho các công

ty vayLãi suất cho vay đối

Đấu giá tín phiếu chính phủ, chiếtkhấu trên mệnh giá từ 10000 đến 1triệu USD

Chứng chỉ tiền gửi CD 4,44

Kỳ hạn: 1 tháng là 4,75%/năm, 3 tháng

là 4,8%/năm, 6 tháng là 4,98%/năm, 1năm là 4,93%/năm

Trang 4

Tại Pháp

Lãi suất chủ đạo do ngân hàng trung ương ấn định, trên cơ sở tính lãisuất các khoản cho vay lớn khác nhau của các ngân hàng thương mại có uytín Và về nguyên tắc, mỗi ngân hàng thương mại được định ra lãi suất chovay củamình trên cơ sở có sự nhất trí nào đó giữa các ngân hàng Do vậy,lãi suất chủ đạo chính là kết quả của những cuộc thương lượng giữa cácngân hàng thương mại Lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương Pháphoàn toàn không phụ thuộc vào lãi suất trên thị trường tiền tệ

Pháp dùng lãi suất mới chào vào lúc 11h hàng ngày, 18h ngân hànglớn để tính theo số trung bình cộng ra lãi suất chỉ đạo với cái tên TIOP Vìthế các ngân hàng thương mại phàn nàn là ngân hàng lớn áp đặt lãi suấtbuộc các ngân hàng phải theo

Singapore

Ngân hàng trung ương nước này là cơ quan tiền tệ Singapore –monetery Authorithy of Singapore sang do đặc điểm của thị trường tàichính và hoạt động của các ngân hàng ở gần đây, nên cơ quan tiền tệSingapore hầu như chỉ quan tâm về tỷ giá, còn lãi suất được thả nổi do thịtrường quyết định

Trang 5

Kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua kinh nghiệm của các nước cho thấy với mỗi cách lựa chọn lãisuất định hướng khác nhau, ngân hàng trung ương các nước đều xây dựngcác cơ chế, quy chế điều hành rất cụ thể

FED sử dụng lãi suất chiết khấu ( lãi suất sàn) và lãi suất liên ngânhàng định hướng (ped punds rate) để định hướng lãi suất thị trường

Sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ chủ yếu là nghiệp vụ thịtrường mở để tác động đến cầu nguồn vốn ped punds Qua đó làm cho lãisuất giao dịch giữa các ngân hàng đối với các khoản cho vay, đi vay nguồnvốn ped punds thực tế dao động sát với lãi suất ped punds định hướng.Trong khí đó, với lãi suất chiết khấu là lãi suất trên thị trường ped chỉ thựchiện cho vay chiết khấu với vai trò cho vay cuối cùng nhằm ổn định thịtrường lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại đối với khách hàng.Nước ta cần áp dụng từ kinh nghiệm của các nước trên cho phù hợpvới tình hình thực tế của mình

1.3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường

1.3.1Vai trò của lãi suất

1.3.1.1 Tác động của lãi suất tới các ngân hàng thương mại

*Lãi suất làm sâu sắc thêm cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trênlĩnh vực tiền tệ tín dụng Là doanh nghiệp tiến hành thường xuyên cácnghiệp vụ huy động vốn, làm công tác tín dụng Cung cấp phương tiệnthanh toán, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và cung cấp các dich vụ tàichính khác

Như chúng ta đã biết về việc mua và bán tiền đều phải có giá, đượcxác định theo quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế thị trường Lãi suất là

Trang 6

mua và lãi suất cho là giá bán của vốn bằng tiền Để cạnh tranh ngân hàngthương mại phải hạ lãi suất cho vay hoặc tăng lãi suất tiền gửi hoặc đồngthời vừa tăng giá vừa hạ giá bán.

Trong quá trình cạnh tranh các ngân hàng thương mại sẽ không thể đặt

ra một mức lãi suất huy động vốn thấp hơn các ngân hàng thương mạikhác Đồng thời cũng đặt ra mức lãi suất cho vay trội hơn các ngân hàngkhác Khách hàng, cả người cho vay lẫn người gửi đều được hưởng lợi.Không chỉ được lợi ở giá cả phù hợp mà còn hưởng lợi chỗ được phục vụtốt hơn

*Ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn trung, dài hạn .

Diễn biến lãi suất hiện nay ít có tác dụng tích cực đến việc tăng cườnghuy động vốn trung và dài hạn Tỷ lệ vốn trung và dài hạn trong tổng sốvốn huy động của các ngân hàng thương mại hiện tại rất nhỏ, nguyên nhânchính của tình trạng này là do huy động vốn trung dài hạn thì lãi suất phảicao, trong khi ngân hàng nhà nước liên tục giảm lãi suất Mặt khác, do tồntại trong một thời gian rất dài, lãi suất cho vay trung và dài hạn lại thấp hơnlãi suất cho vay ngắn hạn, tình trạng này mới chỉ được thay đổi trong thờigian gần đây, lãi suất cho vay trung hạn bằng lãi suất cho vay ngắn hạn.Nhu cầu vay vốn trung, dài hạn thì rất lớn Nhưng nguồn vốn trung,dài hạn huy động được thì lại rất hạn chế Qua bảng số liệu của một ngânhàng thương mại dưới đây cho chúng ta thấy, hiện tại đang dùng nguồn vốnngắn hạn để cho vay trung, dài hạn Nên chăng nếu có dùng nguồn vốn huyđộng ngắn hạn để cho vay dài hạn chỉ nên dừng lại ở một tỷ lệ nhỏ nào đó

so với vốn huy động, nếu sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn cho mục đíchtrung, dài hạn sẽ làm suy yếu khả năng an toàn thanh toán khi có một dòngtiền gửi bị rút ra Về lâu dài, cần có chính sách để tăng trưởng nguồn vốnhuy động trung và dài hạn

Dư nợ và cho vay trung,dài hạn của ngân hàng nông nghiệp và pháttriển nông thôn

Trang 7

2 Cho vay

trung, dài hạn 106 133 207 819 1259 2266 2438 4912 6860

88853.Tỷ lệ dư nợ

16,22

18,32

13,87

21,85

22,4

* Xuất hiện khả năng tiềm tàng về rủi ro lãi suất bất khả kháng

có nhiều NHTM do không lường hết được biến động của lãi suấttheo chiều hướng liên tục giảm, đã huy động vốn có thời hạn từ 1 đến 3năm để cho vay trung, dài hạn Đặc biệt trong năm 1999, NHNN đã liên tục

5 lần quyết định giảm trần lãi suất cho vay tối đa Có đợt giảm lãi suất,NHNN còn quy định buộc các NHTM giảm ngay cả lãi suất dư nợ đã chovay, trong khi đó, vốn huy động theo lãi suất thời kì trước vẫn được giữnguyên cho tới kì đáo hạn Tình hình này đã làm cho các NHTM rơi vàotình trạng rủi ro lãi suất Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huyđộng vốn rất nhỏ, có khi không có chênh lệch thậm chí lãi suất cho vay thời

kì hiện tại thấp hơn lãi suất huy động vốn của thời kì trước đó đang còn só

dư có Trường hợp khi NHNN quy định không giảm lãi suất đối với cáckhoản cho vay ở một ngân hàng khác có lãi suất thấp hơn để trả nợ cũ cólãi suất cao Kết cục rủi ro lãi suất luôn luôn đặt gánh nặng lên các NHTM

* Các NHTM đang còn phải bao cấp qua lãi suất cho vay

Thực tế hiện nay, NHTM đang phải bao cấp cho tài chính trong việccho vay các đối tượng chính sách với lãi suất thấp như cho vay giảm 15%

Trang 8

và 30% lãi suất đối với khu vực III và khu vực VI theo quy định tại Nghịđịnh 20/CP của Chính phủ, cho vay khắc phục hậu quả thiên tai theo chỉđịnh của Chính phủ với lãi suất 0,5%/tháng đối với cho vay trung, dàihạn…Trong khi đó, lãi suất huy động bình quân đầu vào của NHTMthường cao hơn lãi suất này, có nghĩa là NHTM cho vay lỗ hoặc không cóthu nhập và lỗ về chi phí huy động vốn, chi phí cho vay và rủi ro tín dụngkhông có nguồn bù đắp, nhất là cho vay các đối tượng chính sách thườngrủi ro sẽ lớn hơn Nếu cứ phải thực hiện các khoản tín dụng bao cấp ngàycàng lớn, thời gian kéo dài, NHTM không còn là một NHTM không còn làmột NHTM theo đúng nghĩa của nó Tính kinh doanh sẽ bị triệt tiêu.NHTM sẽ không còn hăng hái huy động vốn để cho vay vì cho vay bao cấp

lỗ không ai bù, doanh lợi ngân hàng, thu nhập người lao động bị giảm sút

* Chính sách lãi suất chưa khai thác hết động lực giảm lãi suất huy động vốn bình quân nhằm giảm lãi suất cho vay.

- Tại nhiều quốc gia, ngân hàng không trả lãi cho tiền gửi của các tổchức kinh tế, ngân hàng cũng không thu phí dịch vụ chuyển tiền, thanhtoán, nhưng ở Việt Nam, tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế đượctrả lãi Các NHTM tự quy định lãi suất tiền gửi thanh toán của các đơn vịkinh tế trong khung trần lãi suất cho vay mà NHTM cho là hợp lý dẫn tới:+ Các NHTM để tranh dành khách hàng, đã nâng lãi suất tiền gửithanh toán lên khá cao làm tăng lãi suất huy động vốn bình quân, tăng chiphí NHTM Trong khi lãi suất cho vay của Việt Nam còn cao hơn nhiều sovới khu vực và quốc tế, thì cơ chế lãi suất cần được quy định sao cho vừaphù hợp với thông lệ quốc tế, vừa góp phần giảm mặt bằng lãi suất huyđộng bình quân (ví dụ: Lãi suất ngắn hạn ở Đức va Pháp là 3.3%/năm, TâyBan Nha 4,25%/năm Giới phân tích tài chính quốc tế thống nhất nhận địnhlãi suất cho vay ngắn hạn ở 11 quốc gia thuộc Liên minh tiền tệ Châu Âu sẽ

ở dưới mức 4%/năm vào năm 1999 trong khi lãi suất cho vay của nước ta

là 12%/năm)

Trang 9

+ Tổng số vốn huy động của toàn ngành Ngân hàng không tăng lên

mà chỉ chạy từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, gây bất ổn định trongkinh doanh, cạnh tranh trở nên không lành mạnh và đặc biệt nguy hiểm chocác NHTM nhỏ, vốn không lớn, các quỹ tín dụng Trong trường hợp cómột hoặc hai NHTM lớn vì lý do nào đó tăng lãi suất huy động vốn đủ sứchấp dẫn tạo thành một luồng tiền chạy từ các NHTM nhỏ, quỹ tín dụngsang các NH đang huy động vốn với lãi suất cao, có thể làm cho cácNHTM này lâm vào hoàn cảnh khó khăn về thanh toán Thực tế hiện nay,các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các tổng công ty 90, 91, các tổ chức có sốtiền gửi lớn như bảo hiểm xã hội, quỹ dự trữ quốc gia thưòng mở tài khoảntiền gửi tại nhiều NHTM Khi lãi suất tiền gửi của ngân hàng nào nâng caohơn, chủ tài khoản lập tức chuyển tiền từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãisuất cao

Như vậy, với diễn biến lãi suất chưa ổn định như hiện nay, việc huyđộng vốn trung, dài hạn là rất khó khăn,có nhiểu rủi ro về lãi suất choNHTM Khi lãi suất liên tục giảm, ngân hàng chưa thể sẵn sàng huy độngvốn trung, dài hạn Ngược lại,lãi suất liên tục biến đổi theo chiều hướngtăng, người gửi tiền không muốn gửi tiền vì lo trượt giá và sợ bị thiệt thòi,

dù cho ngân hàng muốn huy động được vốn trung, dài hạn nhưng sẽ không

có người gửi Lãi suất còn mang một phẩn bao cấp không có tác dụng tíchcực trong kinh doanh, đồng thời cũng xuất hiện nhân tó mới là sự thoả hiệpgiữa các NHTM lớn trong cạnh tranh nói chung và trong cạnh tranh lãi suấtnói riêng nhằm bảo vệ lợi ích của hệ thống

Chính sách lãi suất phù hợp sẽ có vai trò rất lớn trong hoạt động kinh

tế - xã hội nói chung và các NHTM nói riêng, góp phần thúc đẩy nền kinh

tế phát triển theo hướng CNH – HĐH, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhhội nhập

Trang 10

1.3.1.2 Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh

nghiệp Một lãi suất hợp lý cho phép các doanh nghiệp tính toán được lợinhuận, thu về từ các dự án khả thi vì vậy sẽ chiếm lĩnh được các cơ hộikinh doanh, đồng thời với một lãi suất hợp lý các doanh nghiệp sẽ có lợinhuận sau khi chi phí trả lãi tiền vay Kich thích các doanh nghiệp mở rộngđầu tư thực hiện tái sản suất, đẩy mạnh hoạt động của doanh nghiệp Nước Nhật đã cung cấp một ví dụ thành công về chình sách lãi suất.Trong giai đoạn tăng trưởng nhanh của mình, mặc dù cầu tiền tệ có lúc tăngrất cao, chính phủ Nhật vẫn duy trì một lượng cung tiền tệ tăng chậm chạp

và một mức lãi suất cho vay được khống chế rất thấp trong nhiều năm từ

1955 – 1965 kết quả là nước Nhật đã khuyến khích được một khối lượngđầu tư khổng lồ vào các chương trình phát triển công nghiệp hướng ngoạiMột lãi suất bất hợp lý (lãi suất cao hoặc thấp) đều ảnh hưởng tiêu cựcđến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.khi lãi suất quá cao,cácdoanh nghiệp sẽ không dám vay vốn của các ngân hàng, thì nhiều dự án cóhiệu quả cao sẽ không được thực hiện,nhiều cơ hội kinh doanh của cácdoanh nghiệp bị cắt bỏ, nguồn vốn ngân hàng bị ứ đọng dẫn tới giảm sút lợinhuận, thậm chí là thua lỗ.Mặt khác nếu lãi suất qui định quá thấp cácdoanh nghiệp sẽ vay vốn dễ dàng, thậm chí vốn vay không sử dụng đúngmục đích dẫn đến sử dụng vốn lãng phí không hiệu quả Sự rủi ro của cácdoanh nghiệp kéo theo sự rủi ro của các ngân hàng và ảnh hưởng đến sựphát triển kinh tế chung

1.3.1.3 Lãi suất là công cụ gián tiếp điều hành nền kinh tế vĩ mô Lãi suất góp phần giữ vững cân đối giữa cung và cầu hàng hóa.Tổnglượng hàng hóa sản xuất ra phải cân bằng với tổng lượng hàng hóa yêu cầu,điều này sẽ làm cho quá trình sản xuất của xã hội được liên tục giúp chocác doanh nghiệp phát triển nhanh vòng quay vốn, phát triển lợi nhuận thúcđẩy phát triển thành phần kinh tế

Trang 11

Lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư, đến xuất khẩu dòng,

từ đó ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc dân theo chiều hướng lãi suấtgiảm, tổng sản phẩm quốc dân tăng Công chúng sẽ giảm bớt tiêu dùng đểmua chứng khoán hoặc tiền gửi vào ngân hàng giảm và ngược lại

Lãi suất góp phần thực hiện mâu thuẫn của chính sách tiền tệ quốc giakích kthích đầu tư nền kinh tế

Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ của ngân hàng thương mại

là ổn định tiền tệ Khi ngân hàng thay đổi chính sách tiền tệ sẽ dẫn đến sựthay đổi dự trữ các ngân hàng thương mại dẫn đến sự thay đổi mức cungtiền tệ từ đó dẫn đến biến đổi về lãi suất Sự thay đổi về lãi suất tạo tổngmức cầu của xã hội về đầu tư và phát triển kinh tế Tổng mức cầu này sẽtác động đến khối cung của nền kinh tế bao gồm lao động , tài nguyên , tưliệu tiêu dùng , tư liệu sản xuất tạo nên các hiện tượng kinh tế là sự thay đổi

về sản lượng , về công ăn việc làm , về ổn định tiền tệ Sự thay đổi về lãisuất tạo ra tổng mức cầu của xã hội về đầu tư và phát triển kinh tế bởi vì lãisuất tác động đến chi phí đầu tư và do đó là một yếu tố quan trọng trongquy dịnh đầu tư

Khi lãi suất phát triển, những dự án đầu tư có lợi nhuận nhỏ hơn lãi suấttiền vay sẽ tự động cắt giảm Khi lãi suất giảm làm gia tăng dự án đầu tư có lợinhuận thấp.Như vậy sự thay đổi về lãi suất sẽ kích thích đầu tư trong nền kinh

tế dẫn đến tăng sản lượng và tăng công ăn việc làm trong xã hội

Lãi suất phát triển sẽ tác động đến cung cầu tiền tệ nhằm đảm bảo quyluật lưu thông tiền tệ , từ đó ổn định tiền tệ thông qua lãi suất tái chiếtkhấu , ngân hàng thương mại co thể “bơm” tiền vào lưu thông hoặc “hút”tiền từ lưu thông về nhằm đảm bảo khối lượng tiền cần tiêu thụ trong lưuthông

1.3.1.4 Lãi suất là công cụ tác động mạnh mẽ đến lạm phát

Trang 12

Một khi nền kinh tế có lạm phát cao,nó sẽ gây ra những tác hại đối vớicác lĩnh vực của nền kinh tế.Tình thế đó bắt buộc nhà nước phải có cácbiện pháp để chống lạm phát.Một trong các biện pháp được đánh giá cóhiệu nghiệm là nâng cao lãi suất tiền gửi khi đó lượng tiền lưu thồng quaytrở về ngân hàng vàmức giá cả hàng hóa giảm.Từ đó làm lạm phát giảm.1.3.1.5 Lãi suất là công cụ đo lường sức khỏe của nền kinh tế

Người ta có thể căn cứ vào sự biến động của lãi suất để dự báo tìnhhình kinh tế và các yếu tố như : tính sinh lời của các cơ hội đầu tư , mứclạm phát dự tính

1.3.2 Tác động của rủi ro lãi suất

- Rủi ro lãi suất ảnh hưởng đến:

+ Người đầu tư (ngưòi gửi tiền)

- Khi lãi suất tăng, những người gửi tiền có kỳ hạn ở ngân hàng hoặcmua kỳ phiếu, trái phiếu của ngân hàng sẽ gặp rủi ro

Đối với người kinh doanh vay tiền: Khi lãi suất giảm họ vẫn phải trảtheo lãi suất cũ cho đến hết kỳ hạn vay do đó khi kỳ hạn vay dài, lãi suất thịtrường giảm, người vay tiền sẽ bị thiệt hại hơn so với những người vay tiềntheo lãi suất mới

- Đối với người phát hành trái phiếu

Khi lãi suất tăng, giá trái phiếu giảm, người phát hành trái phiếu thấyrằng tình hình tài chính của mình tốt lên khi các khoản nợ giảm: tăng khảnăng cạnh tranh của họ với người phát hành mới

-Đối với ngân hàng

Rủi ro lãi suất không khớp nhau về thời gian sử dụng vốn và nguồnvốn.ví dụ cho vay 3 tháng với lãi suất cố định.đi vay 12 tháng với lãi suất

cố định.khi lãi suất giảm,lợi nhuận ngân hàng giảm,thậm chí âm

Trang 13

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất

1.4.1 Mức cung cầu tiền tệ

Hình vẽ

Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toántrên thị trường

Khi cung tiền tệ giảm  lãi suất tăng

Khi cung tiền tệ tăng  lãi suất giảm

1.4.2 Tỷ suất lợi nhuận

Lãi suất tiền của của lãi suất tín dụng chính là tỉ suất sẻ lợi nhuận Do

đó sự tăng hay giảm tỷ suất lợi nhuận sẽ tạo ra giao động của lãi suất tíndụng.Trong đó cầu tiền tệ tăng à lãi suất tăng và cầu tiền tệ giảm à lãi suấtgiảm

1.4.3 Lạm phát

nền kinh tế có mức lạm phát tăng vừa phải sẽ làm cho nền kinh tế pháttriển vững chắc, ổn định Tuy nhiên nếu lạm phát tăng nhanh dẫn đến lãisuất tăng làm cho nền kinh tế không ổn định

1.4.4 Sự ổn định của nền kinh tế

Khi nền kinh tế ổn định và phát triển làm cho của cải tăng Côngchúng chỉ muốn gửi ít tiền dẫn đến cung quỹ cho vay tăng cao và làm cholãi suất giảm

D

Tiền tệ Lãi suất (%/

năm)

Trang 14

Còn Khi nền kinh tế đang phát triển nhanh làm cho cầu quỹ cho vaytăng dẫn đến lãi suất tăng.

1.4.5 Các chính sách của nhà nước

Các chính sách của nhà nước như : chính sách tài chính , tiền tệ , thunhập , chính sách quản lý ngoại hối

Các chính sách này đều tác động trực tiếp đến việc quản lý lãi suất

1.5.Quản trị lãi suất và rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng

1.5.1 Quản trị lãi suất

Mục tiêu chủ yếu của quản trị lãi suất ngân hàng là :Tối đa hoá, hoặc

ít lãi suất là ổn định thu nhập từ lãi.Tối đa hoá hoặc ít lãi suất là bảo vệ

được tài sản của ngân hàng với mức rủi ro hợp lý

Các phương thức quản trị lãi suất

*Cố định lãi suất

Các ngân hàng đưa ra thang lãi suất đã lập sẵn để thông qua báo chokhách hàng , khách hàng chỉ có việc chấp nhận mức lãi suất đấy nếu muốnvay

 Ưu điểm : giúp các ngân hàng nhà nước tính khá chính xác đượcthu nhập được từ mỗi khoản cho vay , ngân hàng có thể chủ động tính lãisuất cần đưa ra để huy động tiền gửi và các loại tài sản nợ khác

 Nhược điểm : cố định lãi suất làm cho ngân hàng tự hạn chếmình về khả năng cho vay và đầu tư , cán bộ ngân hàng không thể cho vaydưới mức ấn định , vì thế nhiều khi thừa mà không thể hoặc không dám chovay Cố định lãi suất làm tuyệt đường thương lượng về chi phí vốn giữa

KH và ngân hàng Khi KH không thể thương lượng được về giá cả trongviệc di vay hoặc vấn đề trở nên đơn giản , nếu chấp nhận được mức lãi nóitrên thì đến với ngân hàng , không chấp nhận được mức lãi đó đến cũng vôích Với lãi suất cố định , ngân hàng phải chạy theo KH chứ không phảingười cần vay chạy theo ngân hàng thương mại Khi ngân hàng có nhu cầuphải tìm KH để giải quyết vốn thừa do lãi suất cố định , việc rất dễ làm

Trang 15

thay đổi nhận định của nó theo hưởng cảm tính về độ an toàn của thương

vụ dẫn đến khả năng rủi ro trong cho vay sẽ lớn

các ngân hàng thương mại thực hiện quản trị lãi suất theo phương thức

cố định lãi suất, thường đưa ra các thang lãi suất đã được lập sẵn , thậm chí

là lãi suất quy định cho toàn hệ thống đó ( do hội sở chính chỉ thị cho cácngân hàng ) Vì thế , khi giao dịch với khách hàng các bộ ngân hàng chỉcần thông báo cho khách hàng lãi suất và khách hàng chỉ việc chấp nhậnmức lãi suất đó nếu muốn gửi hoặc vay tiền

Từ những nhược điểm trên , cách cố định lãi suất trong hoạt động sảnxuất kinh doanh ngân hàng chỉ thịnh hành từ thập kỷ 60 trở về trước (lúcnày tiền mặt của các ngân hàng thừa vào cuối mỗi kỳ rất lớn chiếm xấp xỉ20% tổng tài sản vốn có nguyên nhân chủ yếu là do các ngân hàng cố địnhlãi suất đẻ đảm bảo an toàn cho lợi nhuận dẫn đến hoạt đông ngân hàngkém hiệu quả và rủi ro cao Do vậy từ những năm 1970 trở đi ngân hàng ởcác nước đã áp dụng lãi suất thả nổi

*Lãi suất thả nổi :

Ngân hàng chấp nhận tính lãi theo từng kết quả thương lượng củatừng thương vụ

Ưu: Khi ngân hàng thả nổi lãi suất và chấp nhận tính lãi theo từng kếtquả thương lượng của từng thương vụ sẽ có nhiều KH tìm đến và ngânhàng có nhiều cơ hội tốt đẻ lựa chọn việc đầu tư , không phải ngân hàngtìm KH một cách đơn phương nữa mà cả KH cũng tìm ngân hàng , vì cả haiđều tìm thấy được lợi ích qua thương lượng Ngân hàng sẽ có thế có mộtvài thương vụ cho vay với lãi suất thấp để giữ KH có uy tín

Nhược:Với lãi suất cố định,ngân hàng quan tâm đến lợi nhuận về mặtngắn hạn , mà bỏ quên KH quản lý tài sản kém hiệu quả Ngược lại , vớilãi suất thả nổi , ngân hàng quan tâm đến KH và mục tiêu dài hạn Gỉa sử

có tình huống đặt ra là ngân hàng đặt ra mục tiêu hoàn vốn va lãi suất sau 1

Trang 16

đã tính toán lãi suất của tổng số nợ bình quân là 8% và lãi suất tối thiểu củatài sản có là 1,02%

Một lãi suất tốt là một lãi suất mà hậu quả của nó là sự kích thích đầu

tư cho tăng trưởng lâu dài Mức lãi suất này có thể cao, có thể thấp Vấn đềđặt ra sẽ là cách nào các nhà làm chính sách tiền tệ có thể xác định mức lãisuất thích hợp và tối ưu cho mỗi thời kì Có thể nêu câu hỏi, liệu lãi suất cónên thả nổi theo lạm phát không ?

Còn với cơ chế lãi suất thả nổi của ngân hàng đã có những thương vụvẫn đảm bảo an toàn nhưng lợi nhuận cao như : kinh doanh xuất – nhậpkhẩu bất động sản … Ngân hàng có thẻ tính lãi suất cao hơn 10,2% .Nhưng có những loại đầu tư khác khi cần thực hiện để giữ KH vẫn có thểcho vay bằng hoặc dưới mức lãi suất 10,2% tùy theo khả năng thươnglượng của nhân viên ngân hàng Sự bù qua lại giữa các tài sản có thể làchiến lược chủ chốt để đạt lãi suất mong muốn của ngân hàng Không thểchối cãi rằng lãi suất thả nổi tăng năng lực cạnh tranh và hiệu quả quản lýtài sản của ngân hàng lên rất nhiều.Ngân hàng cần nên quy định áp dụng lãisuất cố định hay lãi suất thả nổi, các khách cho vay ngắn hạn nên dùng lãisuất cố định, Các khách cho vay dài hạn có thể dùng lãi suất thả nổi Tuynhiên quy định áp dụng lãi suất nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như :mức cầu tín dụng … Chứ không chỉ phụ thuộc vào kỳ hạn cho vay

1.5.2.các nguyên tắc xác định lãi suất

Nguyên tắc đòi hỏi phải đảm bảo cho người gửi và ngân hàng đượchưởng lãi suất thực dương và tạo được tiền đề cho việc huy động mọinguồn nhàn rỗi trong xã hội

Lf <Ltg<Lnbq

Lf :lạm phát

Ltg :lãi suất tiền gửi

Lnbq : lợi nhuận bình quân

Trang 17

*Lãi suất đối với ngân hàng cho vay phải bù đắp được chi phí và có lãi

Lãi suất cho vay phải cao hơn lãi suất huy động vốn, nhằm đảm bảocho hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính, các ngân hàng thươngmại huy động vốn cho vay phải có lãi Những người cho vay cũng phải bùđắp được chi phí hợp lý khi cho vay, nộp thuế, những rủi ro có thế sảy ra để

ấn định lãi suất Đồng thời họ luôn mong muốn có một mức lợi nhuận cao

Do đó, lãi suất cho vay ít nhất cũng phải bao gồm lãi suất huy động vốncộng với chi phí hoạt động xã hội, thúê, rủi ro và lợi nhuận phù hợp

Lf <Ltg<Lcv

Lcv Lãi suất cho vay

*Lãi suất đối với các doanh nghiệp vay vốn phải thấp hơn lợi nhuận bình quân

Đòi hỏi lãi suất cho vay phải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân.Những người cho vay hoặc các ngân hàng thương mại cũng phải tính toánhiệu quả vốn vay của mình, sao cho vốn vay về đưa vào doanh nghịêp saukhi đã trừ đi chi phí và thuế vẫn đảm bảo mức lợi nhuận vừa phải Đồngthời những người đi vay cũng có thế hưởng được lợi nhuận

1.5.3 Định giá lãi suất

Theo 3 hướng chủ yếu:

+ Định giá hướng vao chi phí : các ngân hàng thương mại quốc doanh

Việt Nam thường định giá lãi suất theo chi phí bằng cách tính toán lãi suấtbình quân đầu vào , kết hợp với một số nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất đểđịnh giá lãi suất đầu ra , đảm bảo cho ngân hàng có lãi

+ Định giá hướng vào cạnh tranh trên thị trường : Dựa vào tham

khảo giá sẵn có từ các ngân hàng cạnh tranh , ít quan tâm đến chi phí và giátrị cảm nhận trong hoạt động kinh doanh ngân hàng , giá thường khôngchênh lệch nhiều giữa các ngân hàng nên các ngân hàng có quy mô nhỏ

Ngày đăng: 07/08/2013, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w