Trước xu thế phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, của toàn cầu đặc biệt là sự nổi lên của nền kinh tế tri thức và các nguồn lực ngày càng trở nên khan hiếm hơn. Thì ngày nay con người được xem xét là yếu tố cơ bản, yếu tố năng động cho sự phát triển bền vững. Chính vì vậy con người được đặt vào vị trí trung tâm, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia là do con người quyết định. Việt Nam là một quốc gia có truyền thống nông nghiệp lâu đời, lao động nông thôn hiện đang chiếm hơn 70% lao động xã hội và đây là một nguồn lực dồi dào, đầy tiềm năng cho sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nhưng đây cũng là thách thức lớn cho vấn đề sử dụng lao động ở nông thôn, khi mà tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm đang còn rất lớn và có nguy cơ gia tăng làm kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy mà em chọn đề tài “ Sử dụng nguồn lao động nông thôn nước ta hiện nay” để có thể góp một phần ý kiến của mình vào việc giải quyết việc làm ở nông thôn nước ta hiện nay. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phan Thị Nhiệm đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Tuy nhiên hiểu biết của em về vấn đề này còn hạn chế nên em hy vọng cô giáo cho em ý kiến để em có thể hoàn thiện đề tài hơn và có thể áp dụng nó vào việc giải quyết việc làm ở nông thôn quê hương em một cách tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trước xu thế phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, của toàncầu đặc biệt là sự nổi lên của nền kinh tế tri thức và các nguồn lực ngàycàng trở nên khan hiếm hơn Thì ngày nay con người được xem xét là yếu
tố cơ bản, yếu tố năng động cho sự phát triển bền vững Chính vì vậy conngười được đặt vào vị trí trung tâm, con người vừa là mục tiêu vừa là độnglực của sự phát triển kinh tế xã hội, tốc độ phát triển kinh tế của một quốcgia là do con người quyết định
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống nông nghiệp lâuđời, lao động nông thôn hiện đang chiếm hơn 70% lao động xã hội và đây
là một nguồn lực dồi dào, đầy tiềm năng cho sự phát triển kinh tế xã hội,góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đấtnước Nhưng đây cũng là thách thức lớn cho vấn đề sử dụng lao động ởnông thôn, khi mà tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm đang còn rất lớn và
có nguy cơ gia tăng làm kìm hãm sự phát triển của đất nước Chính vì vậy
mà em chọn đề tài “ Sử dụng nguồn lao động nông thôn nước ta hiện nay”
để có thể góp một phần ý kiến của mình vào việc giải quyết việc làm ởnông thôn nước ta hiện nay
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phan Thị Nhiệm đã giúp
đỡ em hoàn thành đề tài này Tuy nhiên hiểu biết của em về vấn đề này cònhạn chế nên em hy vọng cô giáo cho em ý kiến để em có thể hoàn thiện đềtài hơn và có thể áp dụng nó vào việc giải quyết việc làm ở nông thôn quêhương em một cách tốt hơn Em xin chân thành cảm ơn
Trang 2CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
I) Các khái niệm cơ bản
1) Lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạtđộng đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành nhữngvật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con ngưòi
•Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản:
Xét về thể chất: hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) củacon người, đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao động củacon người và lao động có bản năng của con vật
Xét về mục đích: lao động phải tạo ra sản phẩm nhằm thoả mãn nhucầu nào đó của con người, đặc trưng này để phân biệt với hoạt động có mụcđích không nhằm thoả mãn nhu cầu chính đáng của con người
Xét về nội dung: hoạt động lao động phải là sự tác động vào tự nhiênlàm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất, đặc trưng này
để phân biệt với các hoạt động không tạo ra sản phẩm, các hoạt động mangtính chất phá hoại tự nhiên
2)Nguồn lao động
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quyđịnh của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia laođộng và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đanglàm việc trong các ngành kinh tế quốc dân
Theo khái niệm trên, nguồn lao động được xem xét trên hai mặt sốlượng và chất lượng
•Nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm:
Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm
Trang 3 Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đangthất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không
có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác( bao gồm cảnhững người nghỉ hưu trước tuổi quy định)
•Nguồn lao động về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độchuyên môn, tay nghề ( trí lực), và sức khỏe( thể lực) của người lao động
3)Nguồn lao động ở nông thôn
Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làmviệc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam
từ 15-60, nữ từ 15-55) có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia laođộng và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong khu vựcnông thôn
Sử dụng nguồn lao động nông thôn là hình thức phân công người laođộng ở khu vực nông thôn vào mỗi công việc có đặc tính khác nhau về hìnhthái và chuyên môn Yêu cầu đặt ra là phải sử dụng nguồn lao động nôngthôn một cách hợp lý và có hiệu quả, phát huy được nguồn lực này
4) Lực lượng lao động
Lực lượng lao động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm vànhững người thất nghiệp Lực lượng lao động theo quan niệm như trên làđồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế( tích cực) và nó phản ánh khănăng thực tế về cung ứng lao động của xã hội
II) Đặc điểm lao động nông thôn Việt Nam
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểmcủa các ngành khác Vì vậy lao động nông thôn cũng có những đặc điểmkhác với lao động ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặtsau:
1)Lao động nông thôn mang tính thời vụ
Đây là đặc điểm đặc thù không thể xóa bỏ được của lao động nôngthôn Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do đối tượng của sản xuất nông
Trang 4nghiệp là những cây trồng vật nuôi có chu kỳ sinh trưởng và phát triển khácnhau; mặt khác do điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu và truyền thống sảnxuất nông nghiệp khác nhau của từng vùng.
Yêu cầu đặt ra là tìm cách giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp,
từ đó đặt ra vấn đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sảnxuất, đặc biệt là vấn đề sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý; mặtkhác phát triển kinh tế thâm canh, tăng vụ, tái sản xuất kinh tế đan xemnhau và tạo việc làm cho người lao động vào thời điểm nông nhàn
2) Chất lượng lao động nông thôn chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
Chất lượng nguồn lao động nông thôn được đánh giá qua trình độ họcvấn, chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe
•Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật: nguồn lao động nước tađông về số lượng nhưng sự phát triển của nguồn nhân lực nước ta cònnhiều hạn chế, nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe trong bốicảnh đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế
Riêng lao động nông thôn chiếm hơn ¾ lao động của cả nước Tuy vậynguồn nhân lực nông nghiệp nông thôn chưa phát huy hết tiềm năng dotrình độ chuyên môn của lao động thấp, kỹ thuật lạc hậu Do đó để có mộtnguồn lao động với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì nhà nước cần phải
có chính sách đào tạo bồi dưỡng để có nguồn nhân lực đủ trình độ để pháttriển đất nước
•Về sức khỏe: sức khỏe người lao động liên quan đến lượng calo tốithiểu cung cấp cho cơ thể mỗi ngày, môi trường sống, môi trường làmviệc… Nhìn chung lao động nước ta thu nhập thấp nên dẫn đến các nhucầu thiết yếu hàng ngày chưa được đáp ứng một cách đầy đủ Vì vậy sứckhỏe người lao động cả nước nói chung và nông thôn nói riêng là chưa tốt.Một trong số những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng laođộng nông thôn chưa cao là do nền sản xuất nông nghiệp nước ta còn mang
Trang 5nặng tính sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; đa số lao động nông thôn chưa qua đàotạo, kỹ năng còn thấp nên khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào thựctiễn còn thấp; bên cạnh đó là môi trường kinh tế- văn hóa- xã hội nông thônchưa thực sự thay đổi theo hướng phát triển bền vững trên lộ trình côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước…
III) Các nhân tố tác động tới số lượng và chất lượng lao động nông thôn.
1) Ảnh hưởng đến số lượng lao động nông thôn
1.1) Dân số
Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: quy
mô và cơ cấu dân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô và cơ cấu nguồn laođộng Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến biến động dân số là phong tục, tậpquán của từng nước; trình độ phát triển kinh tế; mức độ chăm sóc y tế vàchính sách của từng nước đối với vấn đề khuyến khích hoặc hạn chế sinh
đẻ Từ đó nó ảnh hưởng đến quy mô dân số, đến nguồn lao động Tình hìnhtăng dân số trên thế giới hiện nay có sự khác nhau giữa các nước Nhìnchung các nước phát triển có mức sống cao thì tỷ lệ tăng dân số thấp,ngược lại ở những nước kém phát triển thì tỷ lệ tăng dân số lại cao Mứctăng dân số bình quân của thế giới hiện nay là 1,8%, ở các nước Châu Âuthường ở dưới mức 1% trong khi đó ở các nước Châu Á là 2-3% và cácnước Châu Phi là 3-4% Hiện nay ba phần tư dân số thế giới sống ở cácnước đang phát triển, ở đó dân số tăng nhanh làm cho mức sống dân cưkhông được cải thiện và tạo ra áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm
Ở nước ta, tỷ lệ tăng dân số ở khu vực nông thôn thường cao hơn khuvực thành thị và tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 ở nông thôn cao gấp đôi so vớithành thị (24% so với 13%), điều này tác động đến quy mô và cơ cấu laođộng, đặc biệt là cơ cấu lao động khu vực thành thị và nông thôn
Do đó kế hoạch dân số đi đôi với phát triển kinh tế là vấn đề quan tâmcủa các nước đang phát triển
Trang 61.2 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Dân số trong độ tuổi lao động phản ánh khả năng lao động của nềnkinh tế nhưng không phải tất cả những người trong độ tuổi lao động đềutham gia lực lượng lao động Do đó, cung lao động sẽ phụ thuộc dân sốtrong độ tuổi lao động tham gia lao động và được xem xét qua chỉ tiêu tỷ lệtham gia lực lượng lao động
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ số phần trăm giữa số người đủ
15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trên dân số đủ 15 tuổi trở lên
Ở Việt Nam, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động vào khoảng 50%, mặtkhác lao động nông thôn còn gồm những người ngoài độ tuổi lao độngtham gia vào lao động sản xuất nên tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khuvực nông thôn tương đối cao
1.3 Thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp
Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi laođộng muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiềncông nhất định
Tỷ lệ thất nghiệp được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng số ngườithất nghiệp và tổng số nguồn lao động Nhưng đối với các nước đang pháttriển thì tỷ lệ thất nghiệp này chưa phản ánh đúng sự thực về nguồn laođộng chưa sử dụng hết Trong thống kê thất nghiệp ở các nước đang pháttriển, số người nghèo thường chiếm tỷ lệ rất nhỏ và khi họ thất nghiệp thì
họ có gắng không để thời gian kéo dài Bởi vì họ không có các nguồn lực
dự trữ, họ phải chấp nhận làm việc ở mọi mức tiền công nếu có Do đó ởcác nước đang phát triển để biểu hiện tình trạng chưa sử dụng hết lao độngngười ta dùng khái niệm thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình Thấtnghiệp trá hình gồm bán thất nghiệp và thất nghiệp vô hình Trong đó thấtnghiệp trá hình là biểu hiện chính của tình trạng chưa sử dụng hết ở cácnước đang phát triển Họ là những người có việc làm trong khu vực nôngthôn hoặc thành thị không chính thức nhưng làm việc với năng suất thấp,
Trang 7họ đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào sản xuất.Vấn đề khó khăn làkhông đánh giá được chính xác nguồn lao động chưa sử dụng hết dưới hìnhthức bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp vô hình.
Ở khu vực nông thôn, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạngthiếu việc làm Nguyên nhân là do giới hạn đất đai nông nghiệp; do khuvực kinh tế phi nông nghiệp nông thôn chậm phát triển Mức độ thiếu việclàm ở nông thôn càng trầm trọng hơn khi chúng ta xem xét tới tính thời vụviệc làm Chẳng hạn ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các chuyêngia kinh tế, trong thời gian mùa vụ, một nông dân làm việc 11 giờ/ ngàytrong khi đó ở thời kỳ nông nhàn chỉ làm viêc 3 giờ/ ngày
2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng lao động nông thôn.
Số lượng lao động mới chỉ phản ánh được mặt lượng của sự đóng góp
của lao động nông thôn vào phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn
Để phản ánh đầy đủ đóng góp của lao động nông thôn, chúng ta phải xemxét lao động nông thôn dưới góc độ chất lượng Chất lượng lao động có thểnâng cao nhờ giáo dục, đào tạo; sức khỏe của người lao động và nâng caotính kỷ luật lao động
2.1 Giáo dục và cải thiện chất lượng lao động nông thôn
Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con ngườinhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng con người trong suốt cả cuộc đời Giáo dục gồm giáo dục cơ bản và giáo dục dạy nghề Giáo dục cơ bảnnhằm cung cấp những kiến thức cơ bản để phát triển năng lực cá nhân.Giáo dục dạy nghề vừa giúp người học có kiến thức và đồng thời còn giúpnâng cao tay nghề, kỹ năng và chuyên môn Với mỗi trình độ đào tạo nhấtđịnh, người được đào tạo biết họ sẽ phải đảm nhận công việc gì? Yêu cầu
kỹ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp phải như thế nào?
Vai trò của giáo dục với việc nâng cao chất lượng lao động thể hiện:
Trang 8•Giáo dục là cách thức để tăng tích lũy vốn con người đặc biệt là trithức và sẽ giúp cho việc sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp thu công nghệ mới
do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn
• Giáo dục tạo ra lực lượng lao động có trình độ, chuyên môn và kỹnăng làm việc với năng suất cao, là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững
•Giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin đểngười dân đặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăngcường sức khỏe, dinh dưỡng Chẳng hạn tỷ lệ tử vong của trẻ em giảmxuống, tỷ lệ dinh dưỡng trẻ em tăng lên cùng với học vấn của cha mẹ…Với ý nghĩa trên giáo dục còn góp phần vào việc bổ sung cho các dịc vụ ytế
2.2 Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe và cải thiện chất lượng lao động
Sức khỏe của người lao động thường được đánh giá ở thể lực (chiềucao, cân nặng) Điều này lại phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và chăm sócsức khỏe Ngoài ra đối với người đang làm việc, sức khỏe của họ còn phụthuộc vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường xuyên và chính sách bảohiểm y tế đối với người lao động
Sức khỏe có tác động tới chất lượng lao động cả hiện tại và tương lai.Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếphoặc gián tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trungcao trong khi làm việc Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ
em sẽ là yếu tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp trẻ emphát triển thành những người khỏe về thể chất , lành mạnh về tinh thần.Hơn nữa điều đó còn giúp trẻ em nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹxảo cần thiết cho sản xuất thông qua giáo dục ở nhà trường Ngoài ranhững khoản chi cho sức khỏe còn làm tăng nguồn nhân lực về mặt sốlượng bằng việc kéo dài tuổi thọ lao động
Trang 92.3 Tác phong công nghiệp, tính kỷ luật của người lao động và chất lượng lao động
Bên cạnh hai yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động là trình độ, kỹnăng và sức khỏe người lao động, thì hiệu quả công việc còn liên quan đếntác phong, tinh thần, thái độ và tính kỷ luật của người lao động
Theo Bộ luật Lao động Việt Nam: Kỷ luật lao động là những quy định
về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuât, kinh doanhthể hiện trong nội quy lao động
Trong khu vực thành thị, điều kiện làm việc ngày càng có xu hướnghiện đại hóa Trong các hoạt động kinh tế, sự phối hợp giữa các cá nhântrong cùng một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau có xu hướng gia tăng
và đòi hỏi tính nhịp nhàng, tính hiệu quả…Điều này đòi hỏi người lao độngphải có tác phong công nghiệp, tinh thần tự chủ sáng tạo, thái độ hợp tác vàtính kỷ luật chặt chẽ
III) Vai trò của lao động nông thôn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn
1)Vai trò hai mặt của lao động nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác vì lao động nôngthôn có vai trò hai mặt
a)Trước hết lao động nông thôn là một nguồn lực sản xuất chính vàkhông thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế nông nghiệp nông thôn.Với vai trò này, lao động nông thôn luôn được xem xét ở hai khía cạnh đó
là chi phí và lợi nhuận Lao động nông thôn là yếu tố đầu vào, nó ảnhhưởng tới chi phí tương tự như việc sử dụng các yếu tố sản xuất khác Mặtkhác lao động nông thôn cũng bao gồm các lợi ích tiềm tàng theo nghĩagóp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống và giảm nghèo đói thôngqua chính sách ( tạo việc làm, tổ chức lao lao động có hiệu quả, áp dụngcông nghệ phụ hợp…)
Trang 10b)Vai trò của lao động nông thôn còn thể hiện ở khía cạnh thứ hai, đó
là lao động – một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụ lợi ích củaquá trình phát triển Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “ phát triển
vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển” Trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội, hầu hết các nước đều đặt trọng tâm vào chiến lượcphát triển con người
Việc nâng cao năng lực cơ bản của cá nhân người lao đôngh sẽ giúp
họ có nhiều cơ hội việc làm hơn Khi thu nhập từ việc làm tăng, họ sẽ cóđiều kiện cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống Kết quả làtăng nhu cầu xã hội, đồng thời tác động đến hiệu quả sản xuất trong điềukiện nâng cao năng suất lao động
2)Đánh giá vai trò của lao động nông thôn ở Việt Nam
Một trong những lợi thế của nền sản xuất nông nghiệp nông thôn nước
ta là lao động nhiều, giá lao động rẻ Tuy nhiên, lao động nông thôn nước
ta vẫn chưa phải là động lực mạnh cho tăng trưởng và phát triển kinh tếnông nghiệp nông thôn
Nguyên nhân của tình trạng này là do lao động nông thôn nhiều nhưnglại có biểu hiện của sự “ dư thừa” hay tình trạng thiếu việc làm Lao độngnông thôn với năng suất thấp, phần đóng góp của lao động nông thôn trongtổng thu nhập còn hạn chế Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế chậm pháttriển, các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng việc làm chậmđược cải thiện, bổ sung thậm chí còn suy giảm( như quỹ đất đai) Mặt khácmối quan hệ lao động và thị trường lao động nông thôn chậm phát triểncũng là nhân tố hạn chế vai trò của lao động nông thôn
Trang 11CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY
I) Thực trạng sử dụng lao động nông thôn
1)Quy mô nguồn lao động nông thôn nước ta hiện nay
Năm 1990 dân số nông thôn có 53.1 triệu người, chiếm 80.5% dân số
cả nước, năm 2006 dân số nông thôn Việt nam có 61,3 triệu người chiếm72,9% Như vậy, sau 10 năm tỷ lệ dân số nông thôn mới giảm được 7.6điểm phần trăm, tính bình quân, mỗi năm giảm chưa được 0.5 điểm phầntrăm, chứng tỏ tốc độ đô thị hóa của Việt nam còn chậm so với một sốnước láng giềng như Thái lan, Singapore, Malaysia
Năm 2006 lao động nông thôn chiếm 75.4% tổng số lao động cả nước(tương đương 33.6 triệu người) và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm là1.6%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng việc làm của cả nước (2.3%) trong giaiđoạn 1996-2006
Có thể nói, hầu như toàn bộ lao động nông nghiệp tập trung ở khu vựcnông thôn Năm 2006 cả nước có 24,37 triệu lao động làm việc trong ngànhnông nghiệp, nhưng riêng khu vực nông thôn đã có 23,17 triệu người,chiếm 95,1% Nếu so với tổng lao động có việc làm của cả nước thì laođộng nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm quá bán, khoảng 52% Nhìn từ góc
độ chuyển dịch cơ cấu lao động ta thấy, giai đoạn 1996- 2006 tỷ lệ laođộng nông nghiệp nông thôn đã có chuyến biến, giảm từ 82,3% trong tổnglao động nông thôn năm 96 xuống còn 69% năm 2006, bình quân mỗi nămgiảm được trên 1 điểm phần trăm, mức giảm tuy nhỏ so với một số nướctrong khu vực nhưng đó là sự nỗ lực của cả nền kinh tế
Trang 12
Bảng 1: Số lượng và cơ cấu lao động có việc làm theo 3 nhóm ngành chính
2)Chất lượng nguồn lao động nông thôn
Nội tại vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta vẫn cònchứa đựng nhiều mảng yếu Trong quá trình tác động của công nghiệp hóa,hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, nhữngmảng yếu đó càng bộc lộ rõ hơn Một trong những mảng yếu đó là chấtlượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Những cơ hộiđem lại cho người lao động trong lộ trình thực hiện các cam kết gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là việc làm tăng do sự xuất hiện
Trang 13nhiều nghề mới ở các lĩnh vực mới, khu vực mới; thị trường lao động pháttriển, sự di chuyển lao động giữa các vùng và lãnh thổ, giữa các doanhnghiệp tăng cao Người lao động Việt Nam vừa có thể tham gia sâu vàoquá trình phân công lao động quốc tế vừa có cơ hội để tiếp nhận khoa học
và công nghệ tiên tiến Chúng ta đang có một lực lượng lao động xã hội rấtlớn Nguồn lao động của Việt Nam hằng năm được bổ sung nhiều nhưng cơhội để họ có được việc làm bảo đảm thu nhập ổn định đời sống lại không
dễ dàng Số lao động đã được đào tạo không chỉ chiếm tỷ lệ thấp mà cònbất cập do chất lượng đào tạo kém; cơ cấu đào tạo bất hợp lý, mất cân đốigiữa đào tạo nghề và đào tạo ở cấp bậc đại học, cao đẳng Thêm nữa, số đãqua đào tạo đối với thanh niên ở khu vực nông thôn lại chiếm tỷ lệ rất thấp
so với khu vực đô thị Quá trình đô thị hóa nông thôn đã làm gia tăng áplực về thiếu việc làm cho khu vực này thêm trầm trọng; đồng nghĩa vớiviệc gia tăng tỷ lệ chất lượng nguồn nhân lực thấp Mâu thuẫn nội tại chấtlượng nguồn nhân lực nông thôn nước ta càng phát sinh thêm do chúng tachưa tìm ra được lối thoát về đào tạo để nâng cao chất lượng nhân lực chokhu vực này Hiện nay, hơn 78% lao động ở nước ta chưa qua đào tạo,trong số đó 63% là lao động ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn Đây thực sự
là một số liệu đáng để chúng ta phải suy nghĩ và trăn trở Đặc điểm dễ nhậnthấy ở người lao động của một nền sản xuất nông nghiệp có trình độ thấp ởViệt Nam như hiện nay là vẫn mang nặng tính chất của người sản xuất nhỏ
lẻ, phân tán, năng lực ứng dụng khoa học - công nghệ và các tiến bộ kỹthuật vào thực tiễn rất hạn chế, nên đa số họ là những người thụ động, tưduy cạnh tranh kém, tính tự do và manh mún cao Từ đó thu nhập của họthấp, khả năng chuyển đổi nghề khi bị mất đất hoặc cơ hội tham gia vàomôi trường lao động công nghiệp đòi hỏi các kỹ năng và tính kỷ luật laođộng cao là không dễ dàng
Trang 14Hiện nay nước ta có 10 triệu hộ nông dân với hơn 30 triệu lao độngtrong độ tuổi, nhưng mới có 17% trong số đó được đào tạo chủ yếu thôngqua các lớp tập huấn khuyến nông sơ sài Trong số 16,5 triệu thanh niênnông thôn đang cần có việc làm ổn định thì chỉ có 12% tốt nghiệp phổthông trung học; 3,11% có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trởlên (thấp hơn 4 lần so với thanh niên đô thị) Với trình độ như vậy họ khó
có thể áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp có ứng dụngcông nghệ cao, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm hàng hóa nông sản trongkhu vực và cũng khó có thể tìm được việc làm ở các doanh nghiệp đòi hỏilao động phải qua đào tạo và đạt trình độ tay nghề cao Do đó, nhiều nơisau khi chuyển ruộng đất cho sản xuất công nghiệp, nếu doanh nghiệp có
ưu tiên tuyển lao động trẻ cho các hộ mất đất thì họ cũng khó có thể đảmnhận công việc kỹ thuật để đạt được mức thu nhập cao, nên dù có những cơhội chuyển đổi nghề, người lao động nông thôn (bao gồm cả thanh niên đếntuổi lao động và người chủ gia đình bị mất đất) đều khó tiếp nhận nhữngnghề mới Tình trạng nguồn lao động trình độ thấp, chưa được đào tạo nghề(cả nghề nông và phi nông) cùng với sự thiếu kiến thức, tác phong sống vàtính kỷ luật, kỹ năng lao động trong lao động công nghiệp kém nên rất khóđáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng cao trước tốc độ của công nghiệp hóa
và hội nhập Từ đó có thể thấy rằng, thu nhập của người lao động ở khuvực nông thôn thấp và ngày càng cách xa ở khu vực đô thị Những điểmvừa nêu trên đây là một rào cản và thách thức lớn nhất trong giai đoạn hiệnnay đối với người lao động khu vực nông thôn
Cũng cần phải nói đến một thực trạng có ảnh hưởng quan trọng đếnchất lượng nguồn nhân lực nông thôn là đội ngũ cán bộ cơ sở Theo số liệuđiều tra thống kê năm 2006, cả nước có 81.300 công chức xã Về trình độhọc vấn: có 0,1% chưa biết chữ; 2,4% có trình độ tiểu học; 21,5% trunghọc cơ sở và 75% trung học phổ thông Về trình độ chuyên môn: 9% cao
Trang 15đẳng, đại học; 39,4% trung cấp; 9,8% sơ cấp; 48,7% chưa đào tạo Về trình
độ quản lý nhà nước: có tới 55% chưa qua bất kỳ lớp học quản lý nhà nướcnào; 85% không hiểu biết gì về vi tính ở vùng nào cũng có cán bộ chưaqua đào tạo Tại các tỉnh vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ tỷ lệcòn cao hơn Đó là lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng trì trệ, yếu kém, thiếukhả năng vận động tổ chức, chỉ đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụchính trị ở địa phương, cơ sở Tình trạng lúng túng trong giải quyết cáccông việc phát sinh từ thực tế, thậm chí còn làm sai lệch chính sách, phápluật không phải là hiện tượng cá biệt Lực lượng khoa học kỹ thuật nôngnghiệp ở nông thôn hiện chỉ chiếm 0,5% - 0,6% lao động trực tiếp ở khuvực này Bất cập nữa là về chính sách sử dụng và thu hút cán bộ, ngườilao động có trình độ cao cũng đang bộc lộ sự bảo thủ, lạc hậu, chậm đổimới, không thỏa mãn được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu hiện nay, ít nhất là
về lợi ích, vì vậy không thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao vềlàm việc ở địa phương, thậm chí còn khó ”giữ chân” được những cán bộkhoa học - kỹ thuật đang công tác tại các cơ sở ở nông thôn Tình trạng nàycàng làm cho chất lượng nguồn nhân lực nông thôn trở nên thấp kém hơn
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở nông thônthấp, ảnh hưởng lớn đến tiến trình phát triển chính là do môi trường kinh tế,văn hóa - xã hội nông thôn chưa thực sự thay đổi lớn theo hướng phát triểnbền vững trên lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình đô thị hóanông thôn diễn ra với tốc độ cao nhưng mang nặng tính tự phát nên côngnghiệp - dịch vụ nông thôn khó phát triển; môi trường tự nhiên bị phá vỡ,sinh thái bị mất cân bằng; thu nhập của nông dân tuy được cải thiện nhưngcòn thấp; sự chênh lệch giữa các vùng, giữa nông thôn và đô thị ngày càngcách xa Tác động của quá trình mất đất và sự thiếu chuẩn bị việc chuyểnđổi nghề cho nông dân đã thúc đẩy tình trạng di dân tự do tìm việc làm ở
đô thị hoặc các khu công nghiệp các tỉnh phía Nam Nhiều nơi, lực lượng
Trang 16lao động trên đồng ruộng đa số là phụ nữ, người già và trẻ em Từ đó, dẫnđến tình trạng sản xuất nông nghiệp bấp bênh; thu nhập từ lao động nôngnghiệp không có lãi nên người lao động dễ dàng coi nhẹ sản xuất trên đồngruộng Như vậy có thể thấy khá rõ các yếu tố: môi trường xã hội và tựnhiên nông thôn suy giảm; trình độ kiến thức, kỹ năng lao động của ngườilao động nông thôn thấp; lực hút cán bộ khoa học - kỹ thuật khu vực nôngnghiệp mỏng manh và trình độ quản lý, tổ chức của đội ngũ cán bộ cơ sở(thôn, xã) yếu kém làm cho chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn -chìa khóa mở ra sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn gặp nhiều thách thức và trở ngại
3)Sự phân bố lao động nông thôn theo ngành kinh tế
Bảng 2: Lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo
ngành kinh tế năm 2006, đơn vị nghìn người
2006
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt 173.4
TN; sửa chữa xe có động cơ, mô tô,
xe máy và đồ dùng cá nhân và gia đình
5114.0
Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc 1213.8
Hoạt động khoa học và công nghệ 26.0
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản
và dịch vụ tư vấn
178.7
Trang 17QLNN; bảo đảm XH bắt buộc 716.9
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 372.7
Hoạt động văn hoá và thể thao 134.3
Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội 171.5
Hoạt động phục vụ cá nhân, công cộng và dịch
vụ làm thuê
814.2
Nguồn: Niêm giám thống kê năm 2006
Ta thấy, tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp (51,8%) lớn hơn
so với các ngành phi nông nghiệp, điều này là do nông nghiệp là ngànhkinh tế truyền thống và chủ đạo ở Việt Nam trong suốt thời gian dài(hàngchục năm trước đây) nên xuất phát điểm của lao động nông nghiệp đã làmột số quá lớn, trong khi các ngành phi nông nghiệp mới phát triển và thực
sự phát triển trong vài thập niê gần đây, do vậy mà lượng lao động thu hútvào các ngành này chỉ ở mức nhất định
Vì vậy trong thời gian tới cần có giải pháp chuyển dịch lao động theohướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trongcác ngành công nghiệp và dịch vụ