1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng trong hoạt động cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm

106 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 594,5 KB
File đính kèm V8377.rar (93 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, Đại hội Đảng lần thứ VII đã chỉ ra rằng nước ta cần phải “ xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, khuyến khích xuất khẩu đồng thời thay thế hàng nhập khẩu bằng các sản phẩm hữu hiệu được sản xuất trong nước”. Với tinh thần đó nước ta đã thực hiện AFTA, gia nhập APEC và khi có đủ điều kiện sẽ gia nhập WTO.Có thể nói không một nước nào đạt được tốc độ phát triển nhanh mà không mở cửa kinh tế và tích cực hội nhập. Điều đó buộc các doanh nghiệp trong nước phải chấp nhận cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên “ sân nhà” theo luật chơi chung do cộng đồng quốc tế qui định. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ( DNVN), chiếm 90% tổng số các doanh nghiệp , có vai trò đặc biệt quan trọng tạo việc làm, tạo thu nhập, góp phần ổn định đời sống xã hội. Ngoài ra các DNVN Việt Nam còn tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu do đó việc nâng cao cạnh tranh của khu vực này nhằm giữ vững thị trường trong nước, củng cố và mở rộng thị trường nước ngoài , có ý nghiã quan trọng trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới. Để đạt được điều đó, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng khoá 8 đã đặt ra mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó tập trung phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đáp ứng nhu cầu cả trong và ngoài nước cả về mặt chất lượng và giá cả.Ngoài những điều kiện kinh tế xã hội như thị trường, thiết bị công nghệ, nhà xưởng, trình độ quản lí của các chủ doanh nghiệp, trình độ lao động, hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước ... để đảm bảo phát triển nhanh mạnh và có hiệu quả đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong quá trình hội nhập thì một điều không thể không nhắc tới là điều kiện về vốn tài chính. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần có vốn tài chính trong khi các doanh nghiệp này hiện nay rất hạn hẹp và gặp nhiều khó khăn lớn. Trong khi đó các NHTM chỉ chú trọng cho vay đối với các công ty lớn, nhất là các tổng công ty 90,91 và các đơn vị thành viên của họ, hạn chế cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

Trang 1

Có thể nói không một nước nào đạt được tốc độ phát triển nhanh mà không

mở cửa kinh tế và tích cực hội nhập Điều đó buộc các doanh nghiệp trongnước phải chấp nhận cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nướcngoài ngay trên “ sân nhà” theo luật chơi chung do cộng đồng quốc tế quiđịnh Doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ta chủ yếu là các doanh nghiệpvừa và nhỏ( DNV&N), chiếm 90% tổng số các doanh nghiệp , có vai tròđặc biệt quan trọng tạo việc làm, tạo thu nhập, góp phần ổn định đời sống

xã hội Ngoài ra các DNV&N Việt Nam còn tham gia tích cực vào hoạtđộng xuất nhập khẩu do đó việc nâng cao cạnh tranh của khu vực này nhằmgiữ vững thị trường trong nước, củng cố và mở rộng thị trường nướcngoài , có ý nghiã quan trọng trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới

Để đạt được điều đó, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảngkhoá 8 đã đặt ra mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần trong đó tập trung phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đápứng nhu cầu cả trong và ngoài nước cả về mặt chất lượng và giá cả

Ngoài những điều kiện kinh tế xã hội như thị trường, thiết bị công nghệ,nhà xưởng, trình độ quản lí của các chủ doanh nghiệp, trình độ lao động, hệthống chính sách pháp luật của nhà nước để đảm bảo phát triển nhanhmạnh và có hiệu quả đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong quátrình hội nhập thì một điều không thể không nhắc tới là điều kiện về vốn tàichính Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần có vốn tài chính trongkhi các doanh nghiệp này hiện nay rất hạn hẹp và gặp nhiều khó khăn lớn

Trang 2

Trong khi đó các NHTM chỉ chú trọng cho vay đối với các công ty lớn,nhất là các tổng công ty 90,91 và các đơn vị thành viên của họ, hạn chế chovay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

Trong quá trình học tập tại Đại học Kinh tế quốc dân và đồng thời thực tậptại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm tôi đã nhận thấy được những khókhăn của ngân hàng công thương Hoàn Kiếm nói riêng và NHTM nóichung đang phải đối mặt trong công tác cho vay đối với khu vực kinh tếngoài quốc doanh Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà Nghị định 178

và các văn bản chỉnh sửa sắp có hiệu lực thì cho vay đối với khu vực kinh

tế ngoài quốc doanh đang dược khuyến khích Bởi vậy sau khi thực tập tại

ngân hàng công thương Hoàn Kiếm tôi xin trình bày đề tài:” Thực trạng

trong hoạt động cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm "

Tôi xin trình bày luận văn thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về ngân hàng thương mại và hoạt động

cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

Chương 2: Thực trạng trong hoạt động cho vay đối với thành phần kinh tế

ngoài quốc doanh tại ngân hàng công thương Hoàn Kiếm

Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả cho vay đối với

thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tại ngân hàng côngthương Hoàn Kiếm

Đây là một đề tài tương đối rộng và phức tạp, do nhận thức còn hạn hẹp vàthời gian nghiên cứu ngắn, bài viết này của tôi không thể không có nhữngthiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý, sửa chữa của các thày cô giáo đểtôi có thể nhận thức vấn đề này tốt hơn và thêm kinh nghiệm cho nghiêncứu sau này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo khoa Ngân hàng – tài chínhtrường đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là TS Nguyễn Hữu Tài đã tậntình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này Xincảm ơn tập thể các cô chú, anh chị ở phòng kinh doanh ngân hàng công

Trang 3

thương Hoàn Kiếm đã tận tình chỉ bảo và cung cấp cho tôi những tư liệucũng như những kinh nghiệm thực tế đáng quý để hoàn thành đề tài này.

Trang 4

CHƯƠNG 1.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH.

1 Những vấn đề chung về ngân hàng thương mại

1.1.Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất.Tiền thân của nghiệp vụ ngân hàng hiện đại bắt đầu từ khi sản xuất hànghoá ngày càng phát triển, trao đổi hàng hoá và lưu thông hàng hoá được mởrộng Do đó, sự khác biệt giữa các đồng tiền ở các vùng khác nhau dẫn đếnmột số thương nhân đã thực hiện đổi tiền đúc cho các nhà buôn và thườngđược gọi là các “ thương gia tiền tệ” Việc sản xuất kinh doanh ngày càngphát triển đã xuất hiện nhiều thương gia giàu có, họ không biết dùng tiền đểlàm gì và muốn cất giữ nó ở một nơi an toàn Khi đó hoạt động nhận tiềngửi xuất hiện Cùng với hoạt động này hoạt động chi trả hộ cũng hìnhthành Do tích luỹ được nhiều tiền nên các thương gia tiền tệ này kiêm cảnghề cho vay Trong thời gian dài, từ nghề đổi tiền đã phát triền thành nghếngân hàng Các thương nhân đổi tiền trở thành các chủ ngân hàng

Như vậy, nghề ngân hàng thời kì đầu chỉ bao gồm những nghiệp vụ đơngiản như: đổi tiền, nhận tiền gửi, bảo quản hộ tiền, thanh toán, cho vay.Trong đó nghiệp vụ cho vay mang tính chất cho vay nặng lãi Cho nên ngânhàng thời kì này thường được gọi là ngân hàng cho vay nặng lãi

Cùng với sự phát triển kinh tế, số lượng các tổ chức kinh doanh tiền ngàycàng tăng và nghiệp vụ mới được áp dụng: thanh toán bù trừ, thanh toánbằng thương phiếu, nghiệp vụ bảo lãnh trong cho vay và thanh toán Vàothế kỉ 17, loại hình ngân hàng hiện đại thực sự xuất hiện trên thế giới như:ngân hàng Amxtecdam(1603_Hà Lan), ngân hàng Hămbuôc(1619) ở Đức

và ngân hàng Anh Quốc ( 1964) nhưng là hệ thống ngân hàng một cấp Đến

Trang 5

thế kỷ 18 và 19, sự mở rộng nhanh chóng kinh tế hàng hoá ở các nước Tây

Âu và Bắc Mỹ đã thúc đẩy hình thành ngân hàng hai cấp Sau chiến tranhthế giới thứ 2, với xu thế quốc tế hoá , nhất thể hoá về kinh tế tài chính, hệthống ngân hàng ở mỗi nước được hoàn chỉnh thêm một bước, đồng thờitrên thế giới xuất hiện các tổ chức quốc tế: Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàngthế giới, Ngân hàng phát triển khu vực

Có nhiều khái niệm về NHTM:

Theo pháp lệnh ngân hàng và các tổ chức tín dụng định nghĩa: “ Ngân hàng

thương mại là một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và hoạt động tín dụng”

Theo luật các tổ chức tín dụng định nghĩa: “ Ngân hàng thương mại là tổ

chức tín dụng mà được thực hiện tất cả những hoạt động kinh doanh tiền

tệ, làm nhiệm vụ ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”

1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

1.2.1 Trung gian tín dụng

Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính quan trọng của nền kinh

tế thị trường nó chuyển vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn Nhưvậy ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi từ cácdoanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ và dùng số tiền này để chovay các thành phần kinh tế có nhu cầu Chính hoạt động này đã thúc đẩytăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, ổn định thu chi chính phủ, đồng thời gópphần điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát Hơn cả là hoạt độngnày đảm bảo sự phát triển không ngừng của bản thân ngành ngân hàng

1.2.2 Trung gian thanh toán

Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các khoản chi trả vềhàng hoá, dịch vụ của xã hội đều được thực hiện qua ngân hàng dưới nhiềuhình thức thanh toán, thủ tục đơn giản Nhờ vào chức năng này mà việcgiao lưu hàng hoá, dịch vụ trở nên nhanh chóng và tiết kiệm hơn

Trang 6

Ngoài ra ngân hàng còn có điều kiện huy động tiền gửi của xã hội tạonguồn vốn cho vay và đầu tư đẩy mạnh kinh doanh của ngân hàng.

1.2.3 Nguồn tạo tiền

Quá trình tạo tiền của ngân hàng dựa vào cơ số tiền gửi của xã hội, tỉ lệ dựtrữ bắt buộc

1.3 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.3.1. Tạo lập nguồn vốn

1.3.1.1 Huy động vốn

Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội là một trong những hoạt động quan trọnghàng đầu của ngân hàng thương mại Nó tạo ra nguồn vốn chủ lực trongkinh doanh của bất kì ngân hàng nào NHTM huy động thông qua tiền gửi,phát hành trái phiếu và đi vay

Tiền gửi

Người ta gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích: để bảo quản, để thunhập, để sử dụng dịch vụ chi trả hộ và để vay Dựa trên mục đích của ngườigửi tiền, tiền gửi được phân chia thành 2 loại: tiền gửi giao dịch và tiền gửiphi giao dịch

Tiền gửi giao dịch: là tiền gửi không có cam kết về kì hạn nhằm mục đíchthanh toán, gồm tiền gửi có thể phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi,thẻ chuyển tiền,

Tiền gửi phi giao dịch: là các khoản tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, tổchức kinh tế, xã hội, tiết kiệm dân cư Đây là những khoản tiền khôngthanh toán, tạm thời nhàn rỗi, hiệu suất sử dụng cao vì nó tương đối ổnđịnh nhưng lãi suất cao hơn tiền gửi giao dịch

• Trái phiếu: gồm tín phiếu ngân hàng , kì phiếu ngân hàng, trái phiếungân hàng

Trang 7

• Nguồn vay: từ ngân hàng trung ương, từ các ngân hàng thương mạikhác nhằm bù đắp thiếu hụt, đảm bảo thanh toán khi cần thiết

• Ngoài ra ngân hàng còn có các hoạt động khác như: uỷ thác đầu tư, đầu

tư tài chính nhưng không nhiều

1.3.1.2 Vốn pháp định

Vốn pháp định là vốn ban đầu theo luật định khi đi vào kinh doanh Tuynhiên nó gia tăng trong quá trình hoạt động bằng cách trích từ lợi nhuậnkinh doanh hoặc tăng mức đóng góp của chủ sở hữu Bên cạnh vốn phápđịnh, các ngân hàng thương mại còn lập các quỹ dự trữ

1.3.2 Sử dụng và khai thác các nguồn vốn

Hướng cơ bản trong sử dụng và khai thác các nguồn vốn của ngân hàngthương mại là cho vay và đầu tư trong đó chức năng cho vay là chủ yếu

1.3.2.1 Cho vay

Nếu căn cứ vào thời hạn cho vay thì có thể phân thành 3 loại:

• Cho vay ngắn hạn : là loại cho vay truyền thống, có vị trí cơ bản tronghoạt động sử dụng và khai thác các nguồn vốn của ngân hàng thương mại,bao gồm những khoản cho vay có thời hạn dưới 1 năm

• Cho vay trung và dài hạn: là loại cho vay được thực hiện đối vớinhững chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội Bao gồm những khoảncho vay trên 1 năm Một mặt chúng đáp ứng yêu cầu vay vốn trung và dàihạn của xã hội để mở mang các ngành nghề sản xuất kinh doanh Mặt khácchúng phù hợp với khả năng huy động vốn ngày càng nhiều của ngân hàngthương mại

1.3.2.2 Đầu tư

Đầu tư hay còn gọi là hoạt động chứng khoán giúp ngân hàng thương mại

sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động , đồng thời mang lạinguồn thu nhập quan trọng cho ngân hàng Hoạt động đầu tư như:

• Mua chứng khoán ngắn hạn của chính phủ: đem lại thu nhập cho ngânhàng, đảm bảo cân bằng thu chi ngân sách, điều hoà luu thông tiền tệ

Trang 8

• Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp: tham gia vào việc thành lập vàquản lí các doanh nghiệp nhằm mang lại thu nhập cho ngân hàng dồng thờigiảm rủi ro cho ngân hàng trong quá trình giám sát khách hàng trong quátrình sử dụng vốn vay

1.3.2.3 Hoạt động ngân quỹ

Hoạt động ngân quỹ là hoạt động cho việc chi trả đối với khách hàng Nóbao gồm: nghiệp vụ quỹ tiền mặt,tiền gửi ở các ngân hàng khác, tiền trongquá trình dang thu, nghiệp vụ chứng khoán ngắn hạn

1.3.3 Các hoạt động uỷ thác

• Hoạt động bảo lãnh: là nghiệp vụ ngân hàng cam kết trả tiền thay chokhách hàng được bảo lãnh trong trường hợp khách hàng không thực hiệnđúng, đủ nghĩa vụ với bên yêu cầu bảo lãnh Hoạt động này mang lại thunhập cho ngân hàng thông qua phí bảo lãnh

• Hoạt động thanh toán tiền hàng, dịch vụ, quản lí,phát hành chứngkhoán, mua bán, bảo quản chứng khoán,cung cấp thông tin, tư vấn kinhdoanh

• Các hoạt động khác như dịch vụ cho thuê két sắt

2 Hoạt động cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

2.1 Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

2.1.1.Khái niệm cho vay

Hoạt động cho vay là hoạt động mang tính truyền thống của ngân hàngthương mại Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì nhu cầu vềvốn ngày càng gia tăng và điều đó tất yếu dẫn đến hoạt động cho vay ngàycàng phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nềnkinh tế

Trang 9

Theo qui định số 28/ 2000/ QĐNHNN ngày 15/8/2000 của thống đốc ngânhàng nhà nước, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tíndụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mụcđích và thời gian nhất định theo thảo thuận với nguyên tắc có hoàn trả cảgốc lẫn lãi Như vậy cho vay là một hình thức cấp tín dụng.

Tín dụng có thể hiểu là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả haytín dụng là một giao dịch giữa hai bên trong đó một bên (trái chủ hoặcngười cho vay) chu cấp tiền, hàng hoá, dịch vụ, dựa vào lời hứa thanhtoán lại trong tương lai của bên kia (thụ trái hoặc người đi vay) Nhữnghành vi tín dụng có thể được thực hiện bởi bất cứ ai, tuy nhiên cùng vớithời gian, chúng ta thấy một sự chuyên nghiệp đã xảy ra, và ngày nay khinói đến tín dụng người ta nghĩ ngay đến ngân hàng Bởi vì ngân hàng vớimạng lưới rộng lớn của nó trong nền kinh tế đã tập trung được một số lớnnhàn rỗi trong xã hội để hình thành quỹ cho vay hay nguồn vốn tín dụng

Do đó mà nhiều khi người ta đồng nhất tín dụng với cho vay của ngânhàng

Trong đề tài này, em xin được thống nhất về mặt từ ngữ rằng khi nói đến tín dụng nghiã là nói đến cho vay

2.1.2 Phân loại cho vay

2.1.2.1 Căn cứ vào kì hạn

• Cho vay ngắn hạn: là những khoản vay có kì hạn tối đa đến 1 năm,được xác định phù hợp với chu kì sản xuất , kinh doanh và khả năng trả nợcủa khách hàng

• Cho vay trung hạn: là những khoản vay có kì hạn từ 1 đến 5 năm, đượcxác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả

nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng

• Cho vay dài hạn: là những khoản vay có kì hạn từ 5 năm trở lênnhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc

Trang 10

giấy phép thành lập đôí với pháp nhân và không quá 15 năm đối với chovay các dự án đầu tư phục vụ đời sống.

2.1.2.2 Căn cứ vào tính chất đảm bảo vốn vay

• Cho vay có bảo đảm: là việc cho vay có cầm giữ thế chấp các vật thếchấp cụ thể như: bất động sản, biên nhận kí gửi hàng hoá, nhà máy, trangthiết bị, các khoản phải thu, các cổ phiếu, trái phiếu, vận đơn có thể chuyểnhoá được và những tài sản khác có thể bán được Cho vay có bảo đảmnhằm mục đích hạn chế rủi ro mất mát cho ngân hàng thương mại trongtrường hợp ngươì vay không muốn hoặc không trả dược nợ

• Cho vay không có bảo đảm: khác với cho vay không có bảo đảm ởchỗ là cho vay chỉ dựa trên uy tín của người vay, tình hình taì chính củangười vay, lợi tức thu được trong tương lai, quan hệ trước đây giữa ngânhàng và khách hàng

2.1.2.3 Căn cứ vào phương thức cho vay:

• Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn ngân hàng và khách hàng làm thủtục vay vốn cần thiết và kí kết hợp đồng tín dụng

• Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định vàthoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thơì hạn nhất định hoặc theochu kì sản xuất, kinh doanh

• Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn đểthực hiện dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự

án đầu tư phục vụ đời sống

• Cho vay hợp vốn: Một nhóm các tổ chức tín dụng cùng cho vay đốivới một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng Trong đó

có một tổ chức tín dụng làm đầu mối giàn xếp, phối hợp với các tổ chức tíndụng khác Ngoài ra cho vay hợp vốn còn phải thực hiện theo qui chế đồngtài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước banhành

Trang 11

• Cho vay trả góp: khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định vàthoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợtheo nhiều kì hạn trong thời hạn cho vay.

• Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng : làviệc ngân hàng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trongphạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rúttiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt tại đại lí của ngânhàng thương mại

• Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết đảm bảosẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhấtđịnh để đâù tư cho dự án

• Cho vay theo phương thức khác: ngân hàng sẽ xem xét sao cho phù hợpvới dặc điểm trong từng thời kì và không trái với quy định của pháp luật

2.1.2.4 Căn cứ vào mục đích sử dụng vón vay

• Cho vay tiêu dùng: là loại hình cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùngnhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trước khi họ

có khả năng chi trả, tạo điều kiện để họ hưởng mức sống cao hơn Kì hạncủa những khoản cho vay này thường dưới 5 năm

• Cho vay kinh doanh: là loại hình cho vay để tài trợ cho mục đích kinhdoanh như : bổ sung vốn lưu động, mua sắm máy móc thiết bị Kì hạn củanhững khoản cho vay này thường dưới một năm đến hàng chục năm

2.1.2.5 Căn cứ theo ngành nghề gồm cho vay nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp

2.1.2.6 Căn cứ theo đối tượng vay gồm cho vay cá nhân, tổ chức, chính phủ

2.1.3 Các qui định trong cho vay

2.1.3.1 Nguyên tắc vay vốn

Khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Trang 12

2.1.3.2 Điều kiện vay vốn

Khách hàng được ngân hàng xem xét cho vay khi có đủ điều kiện sau:

• Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu tráchnhiệm dân sự theo qui định của pháp luật

• Có khă năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

• Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

• Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, cóhiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi kèmphương án trả nợ khả thi

• Thực hiện các qui định về đảm bảo tiền vay theo qui định của chínhphủ, hướng dẫn của thống đốc NHNN

2.1.3.3 Đối tượng vốn vay:

• Giá trị vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị bao gồm cả thuế giá trị giatăng nằm trong tổng giá trị lô hàng và các khoản chi phí để thực hiện dự ánđầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc các dự án đầu tư,phương án phục vụ đời sống

• Các nhu cầu tài chính của khách hàng như : số tiền thuế xuất nhập khẩukhách hàng phải nộp để làm thủ tục xuất nhập khẩu mà giá trị lô hàng đóngân hàng có tham gia cho vay

2.1.3.4 Quy trình cho vay

Quy trình nghiệp vụ cho vay là bản hướng dẫn về trình tự tổ chức thực hiệncác nội dung cơ bản của kĩ thuật nghiệp vụ cho vay của ngân hàng, từ khiphát sinh đến khi kết thúc mà cán bộ tín dụng và cán bộ lãnh đạo ngân

Trang 13

hàng có liên quan phải thực hiện Nội dung quy trình này mang tính địnhhướng tổng quát do đó tuỳ theo quy mô, tính chất, đặc điểm của từng mónvay, từng khách hàng và điều kiện thực tế ở từng địa phương để khai thác,

sử dụng các nội dung theo quy định này một cách hợp lí và có hiệu quả

Bước 1: Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay

vốn.Khi khách hàng đề xuất nhu cầu vay vốn, cán bộ tín dụng hướng dẫnkhách hàng cụ thể về các điều kiện vay vốn ngân hàng theo cơ chế tín dụnghiện hành Nếu khách hàng chấp thuận thì hướng dẫn khách hàng lập hồ sơvay vốn để ngân hàng chính thức nghiên cứu thẩm định Về cơ bản, hồ sơvay vốn gồm: giấy tờ chứng nhận về tư cách pháp nhân hoặc thể nhân, giấy

đề nghị vay vốn, phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch vay vốn, trả

nợ, các báo cáo tài chính thời điểm gần nhất

Bước 2: Điều tra, thu thập và tổng hợp các thông tin về khách hàng và

phương án vay vốn

Để quyết định cho vay hay từ chối khoản vay, cán bộ tín dụng phải điều tra,thu thập, tổng hợp và phân tích các nguồn thông tin về khách hàng baogồm: thông tin do khách hàng cung cấp (qua phỏng vấn người vay, từ hồ sơvay vốn, sổ sách kế toán,quan hệ vay _trả ) và thông tin do cán bộ ngânhàng tự điều tra từ các nguồn thông tin ở thị trường và ở các cơ quan cóliên quan như Trung tâm thông tin rủi ro của ngân hàng Nhà nước, cơ quankiểm toán, cơ quan thuế, công an kinh tế, các cơ quan quản lí nhà nướchoặc chủ thể cấp trên

Bước 3: Phân tích- thẩm định khách hàng và phương án vay vốn

Phân tích- thẩm định khách hàng và phương án vay vốn là khâu quan trọngtrong quy trình nghiệp vụ cho vay Tuỳ theo từng nhu cầu vay vốn cụ thể

mà cán bộ tín dụng cần xác định nội dung và phương pháp phù hợp sao chođảm bảo cả về chất lượng và thời gian

Các vấn đề trọng tâm cần tập trung phân tích thẩm định gồm: phân tíchnăng lực pháp lí của khách hàng, tính cách và uy tín của khách hàng, nănglực tài chính của khách hàng thông qua các báo cáo tài chính,phương ánvay vốn và khả năng trả nợ, đánh giá các bảo đảm tiền vay qua tài sản thếchấp, cầm cố, bảo lãnh

Trang 14

Bước 4 : Quyết định cho vay

Bước 5 : Kiểm tra và hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ tài sản thế chấp,

Bước 6 : Phát tiền vay

Sau khi kiểm tra xác định mục đích sử dụng tiền vay, phương thức thanhtoán liên quan đến tiền vay ngân hàng sẽ quyết định hình thức phát tiền vaybằng tiền mặt, ngân phiếu, chuyển khoản cho phù hợp nhưng phải đảm bảonguyên tắc thanh toán trực tiếp giữa ngươi mua và người bán không quatrung gian

Bước 7: Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro

Mục đích của việc giám sát và theo dõi nhằm kiểm tra tính hiện thực của kếhoạch trả nợ và khả năng phát hiện những rủi ro có thể phát sinh, phát hiệnsớm những khoản vay có vấn đề trước khi trở nên nghiêm trọng, nhằm đềxuất các giải pháp xử lí kịp thời

Cán bộ tín dụng cần phải có biện pháp để theo dõi, nắm bắt đầy đủ kịp thờimọi diễn biến của quy trình sử dụng tiền vay và tình hình sản xuất kinhdoanh chung của khách hàng thông qua: theo dõi tình hình thị trườngvàngành sản xuất kinh doanh của người vay, đánh giá lại tài sản thế chấp,phân tích báo cáo tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh mới nhất củakhách hàng, đặc biệt là khách hàng vay với số lượng lớn

Bước 8 : Thu hồi nợ, gia hạn nợ

Theo nguyên tắc, tất cả mọi nguồn thu hình thành từ nguồn vốn đi vay ngânhàng và các nguồn tài chính khác đã được khách hàng thoả thuận trong kế

Trang 15

hoạch trả nợ đều phải trả nợ ngân hàng Khi có nguồn thu, ngân hàng phảithu nợ ngay.

Các khoản nợ có vấn đề, khách hàng đề nghị cho gia hạn nợ, giãn nợ, cán

bộ tín dụng phải thẩm định, kiểm tra thực tế và lập tờ trình cho giám đốccủa ngân hàng trong giới hạn thẩm quyền Nếu các khoản nợ không đượcgia hạn nợ, giãn nợ, khoanh nợ thì phải áp dụng các biện pháp kiên quyết

để thu hồi nợ

Bước 9: Xử lí rủi ro

Điều này được thực hiện với những món nợ đã dùng mọi biện pháp giảiquyết nhưng không thu hồi được

Bước 10: Thanh lí hợp đồng vay vốn

Sau khi khách hàng trả hết nợ gốc và lãi, hoặc dư nợ vay đã được cấp cóthẩm quyền cho phép xử lí bằng quỹ rủi ro hoặc xoá nợ, cán bộ tín dụng vàcán bộ kế toán đối chiếu, tất toán tài khoản cho vay của món nợ đó, chuyểntoàn bộ hồ sơ liên quan đến cho vay đó vào kho lưu trữ tài liệu

2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay

Như trên đã phân tích và đã thống nhất về mặt từ ngữ, có thể nói rằng tíndụng nghĩa là cho vay Như vậy hiệu quả cho vay cũng có thể hiểu là chấtlượng tín dụng Trước tiên để đưa ra được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảcho vay, ta phải đi tìm hiểu thế nào là hiệu quả cho vay hay chất lượng tíndụng

Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (biểu hiện qua kết quảkinh doanh, nợ quá hạn ) vừa trừu tượng (khả năng thu hút khách hàng,tác động đến nền kinh tế ), vừa chịu tác động của nhân tố chủ quan (Khảnăng quản lí, trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ ) vừa chịutác động của nhân tố khách quan (sự thay đổi của môi trường bên ngoài, sự

cố ý của khách hàng ) Vì vậy, để đưa ra được các chỉ tiêu cơ bản để đánhgiá hiệu quả cho vay rất khó Ta có thể xem xét một số chỉ tiêu sau:

2.1.4.1 Dưới góc độ một nhà ngân hàng thì một món vay được coi là có hiệu quả trước hết là món vay đó phải được trả cả gốc và lãi đúng hạn.

Vì ngân hàng thương mại hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận do đó mục đích

Trang 16

của việc cho vay là để thu được lợi nhuận Việc nhận được thu nhập theothời gian đã định là điều mà ngân hàng luôn mong muốn.

2.1.4.2 Khách hàng sử dụng vốn theo đúng mục đích đã khai nhằm hạn chế rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Để thực hiện các món cho vay có kết quả thì ngân hàng phải xem xét làmsao hạn chế được rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch Rủi ro đạo đứcnảy sinh trong thị trường vay nợ bởi vì những người đi vay thường đầu tưvào những dự án có rủi ro cao đem lại lợi nhuận cao nếu họ thành công.Tuy nhiên, điều này cũng khiến họ sẽ vỡ nợ nếu họ thất bại Còn sự lựachọn đối nghịch nảy sinh trong thị trường cho vay vì những người rất kémtín nhiệm lại là những người thường muốn vay tiền nhất

2.1.4.3 Mức độ cân đối giữa vốn huy động và lượng vốn cho vay được trong một năm được thể hiện thông qua tỉ lệ (*)

Dư nợ bình quân năm

(*)=

Tổng nguồn vốn huy động trong năm

Nếu ngân hàng huy động nhiều nhưng cho vay được ít thì sẽ dẫn đến tìnhtrạng ứ đọng vốn, thu nhập từ việc cho vay không bù đắp nổi chi phí phảitrả lãi cho đầu vào và ngược lại nếu cho vay quá nhiều mà không dự trữ “tài sản lỏng” thì sẽ dẫn đến khả năng mất thanh toán Như vậy cần phải đưa

ra tỉ lệ này cho phù hợp sao cho vừa đảm bảo thu được cực đại lợi nhuậnvừa đảm bảo khả năng thanh khoản

Trang 17

Tỉ lệ nợ quá hạn của ngân hàng thường được tính tại một thời điểm nhấtđịnh, thường là cuối kì, cuối quý, cuối năm.

Xét về mặt bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắchoàn trả Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường thì rủi ro là điều tất yếu.Các ngân hàng thương mại không thể tránh khỏi các khoản nợ quá hạn.Song nếu nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toándẫn đến giảm thu nhập và tất yếu dẫn đến phá sản nếu tỉ lệ này càng cao Vìvậy, tỉ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp

2.1.4.5 Cơ cấu vốn đầu tư

Khi xem xét cơ cấu vốn đầu tư tức là xem xét đánh giá tỉ trọng cho vay đãphù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi vềvốn của nền kinh tế hay chưa Ngân hàng có khả năng cho vay nhưngkhông cho vay nhiều cũng như không đáp ứng được nhu cầu vốn cho nềnkinh tế thì hiệu quả cho vay thấp

2.1.4.6 Tỉ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay

Tỉ lệ thanh toán nợ Số tiền thu nợ do khách hàng bán tài sản

do bán tài sản =

của người vay Tổng doanh số thu nợ

Thực tế cho thấy hiện nay nhiều tài sản thế chấp của khách hàng không bánđược Do đó tỉ lệ này càng cao càng tốt

2.1.4.7 Quay vòng vốn

Tỉ lệ này đánh giá khả năng tổ chức quản lí vốn tín dụng và chất lượng tíndụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lí giữa 3lợi ích giữa Nhà nước, khách hàng và ngân hàng

Doanh số thu nợVòng quay của vốn tín dụng=

Trang 18

2.1.4.9 Phân loại tài sản có

Tài sản có của ngân hàng gồm : tiền mặt, tiền gửi ngân hàng khác, tiềnđang trong quá trình thu, chứng khoán khả mại, cho vay và tài sản khác.Nhằm để cực đại hoá lợi nhuận của mình, một ngân hàng phải tìm kiếmnhững lợi nhuận cao nhất có thể có của những vốn cho vay và những chứngkhoán, và đồng thời giảm đến tối thiếu rủi ro bằng cách nắm giữ cácc tàisản lỏng Tuy nhiên, các ngân hàng không nên quá thận trọng khiến bị mất

đi những cơ hội cho vay hấp dẫn có thể mang lại lợi nhuận cao

2.1.4.10 Ngân hàng cho vay có hiệu quả còn thể hiện sự phát triển mối quan hệ lâu dài với khách hàng bao gồm cả khách hàng truyền thống và khách hang tiềm năng nhằm mở rộng thị phần cũng như uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính trong nước cũng như trong khu vực, quốc tế.

2.2 Kinh tế ngoài quốc doanh trong mối quan hệ với hoạt động cho vay của ngân hàng

• Kinh tế quốc doanh: Kinh tế quốc doanh dựa trên sở hữu nhà nước về

tư liệu sản xuất, chủ yếu bao gồm các đơn vị kinh tế mà toàn bộ số vốnthuộc về Nhà nước hoặc Nhà nước chiếm phần khống chế Kinh tế quốc

Trang 19

doanh được xác định là thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo: phát triểnkinh tế và giả quyết những vấn đề về xã hội, liên kết các thành phần kháccùng tồn tại và phát triển

• Kinh tế ngoài quốc doanh : bao gồm các thành phần kinh tế như kinh

tế tập thể, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể,được tổ chức dưới hình thức công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần, hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình, hộ cá thể Đây là nhữngđơn vị kinh tế cơ sở do tư nhân (bao gồm một hoặc một tập thể các cánhân) bỏ vốn đầu tư dưới nhiều hình thức vì mục tiêu lợi nhuận và chịu sựchi phối của chủ đầu tư

2.2.2.Tính tất yếu khách quan của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh trong chiến lược công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.

Thứ nhất: Đường lối đổi mới của Đảng ta là phát triển nền kinh tế hàng

hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng sức sản xuất xãhội, dân chủ hoá đời sống kinh tế Điều đó càng khẳng định rõ hơn qua “

Kinh tế tập thể, cá thể, tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô

và địa bàn hoạt động, trong lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được lựa chọn hình thức kinh doanh kể cả liên doanh với nước ngoài, tạo môi trường ổn định và an toàn cho mọi người yên tâm đầu tư, xoá bỏ những cấm đoám ràng buộc vô lí, những thủ tục phiền hà gây khó khăn cho việc sản xuất kinh doanh củanhân dân ” trong phương hướng đổi mới cơ chế

quản lí kinh tế đã được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,tiếp tục khẳng định trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và được cụthể hoá trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lầnthứ 2

Thứ hai: Nghị quyết 5 BCHTW Đảng cộng sản Việt nam (khoá9) đã thảo

luận “ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước và trọng tâm là CNH-HĐH nông

thôn giai đoạn 2001-2010” Với mạng lưới rộng khắp của mình, các doanh

nghiệp ngoài quốc doanh đã tạo nên những tụ diểm, cụm công nghiệp đểtác động chuyển hoá sản xuất nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH Khu

Trang 20

vực kinh tế ngoài quốc doanh chủ yếu là các công ty TNHH, các công ty tưnhân, hộ gia đình, và đa phần là các DNV&N do đó sẽ tập trung vàocông nghiệp chế biến, sản xuất đồ gia dụng và các làng nghề truyềnthống và phát triển chúng theo hướng hiện đại hoá.

Thứ ba: Điều kiện nền kinh tế

Cho đến nay, nước ta vẫn là một nước kém phát triển, năng suất lao động

và tích luỹ còn thấp, dân chưa có khả nâưng đầu tư lớn nên giải pháp thực

tế là đầu tư nhỏ với diện rộng để thu được tích luỹ từ dân cư, để đạt đượcchất lượng từ số lượng

Nền kinh tế của một quốc gia là do một tổng thể các doanh nghiệp lớn, bétạo thành Mà thực chất phần đông các doanh nghiệp lớn hình thành từ cácDNV&N Đó là một quy luật đi từ nhỏ đến lớn, là con đường tất yếu về sựbền vững mang tính phổ biến của đại đa số trong nền kinh tế thị trường vàtrong quá trình công nghiệp hoá Bên cạnh các doanh nghiệp lớn giữ vị tríthen chốt trong nền kinh tế, tạo ra sức mạnh cho nền kinh tế thì sự phốihợp với các DNV&N với hệ thống mạng lưới rộng khắp để giải quyếtnhững vấn đề việc làm, chi phí đầu tư thấp, phù hợp với trình độ quản lícũng như tay nghề của công nhân có thể tạo thắng lợi trên thị trường quốctế

Thứ tư: Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế với việc cam kết

thực hiện AFTA, gia nhập APEC và trong tương lai sẽ gia nhập WTO khi

có đủ điều kiện Hội nhập tức là mở cửa kinh tế, mở cửa thị trường trongnước, chấp nhận cạnh tranh bình đẳng ngay trên sân nhà theo những quyluật chung do cộng đồng quốc tế quy định Khi chúng ta hội nhập với nềnkinh tế thế giới, Đảng và Nhà nước cần có các biện pháp như: chính sáchkhuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất,kinhdoanh xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ; nâng cao năng lực cạnh tranh,phát triển mạnh mẽ những sản phẩm hàng hoá có khả năng cạnh tranh trênthị trường thế giới; giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế, tăng tỷtrọng sản phẩm chế biến; xây dựng quỹ hỗ trợ xuất khẩu; khuyến khíchkinh doanh hàng hoá trong nước; đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ

Trang 21

Trong khi đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm một tỷ trọng rất lớntrong tổng số các doanh nghiệp trong nước Đặc biệt trong lĩnh vực xuấtkhẩu Tỷ trọng của khu vực tư nhân trong nước không kể dầu lửa trong giátrị xuất khẩu tăng từ 12%(1997) đến 22% (giữa năm 2000) Nếu tính cảdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì khu vực ngoài quốc doanh đónggóp cho xuất khẩu 35%(1997) tăng lên 54% (giữa năm 2000) Như vậyviệc khuyến khích kinh tế ngoài quốc doanh phát triển là điều tất yếu.

Thứ năm: Khi luật các tổ chức tín dụng ban hành đã cho phép đa dạng hoá

các tổ chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Bên cạnh cácNHTM quốc doanh là NHTM cổ phần, NH nước ngoài, NH liên doanh đápứng nhu cầu vốn ngày càng nhiều của các doanh nghiệp trong nước Dovậy nếu các ngân hàng thương mại quốc doanh không nâng cao khả năngcạnh tranh thì sẽ bị mất khách hàng và giảm thị phần trên thị trường trongnước Điều đó đã dẫn đến khả năng tiếp cận nguồn vốn của NHTM ngàycàng dễ dàng hơn, khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt kinh tếngoài quốc doanh phát triển hơn nữa, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăngkhả năng cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài

2.2.3 Ưu, nhược điểm của kinh tế ngoài quốc doanh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

Trong số các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh củanước ta chiếm tới đến 90% là các DNV&N Vì vậy các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh mang nhiều đặc điểm của DNV&N Chiếm một vị trí rất quantrọng trong nền kinh tế quốc dân ở hàu hết các quốc gia trên thế giới là cácDNV&N Điều đó có thể thống kê qua các số liệu sau:

Tại Mỹ: DNV&N chiếm 99,7% và số lao động chiếm 52% tong khu vực tư

nhân; cung cấp 75% số việc làm, sản xuất ra 91% tổng số sản phẩm khuvực tư nhân( theo số liệu năm 2000)

Tại Nhật: DNV&N chiếm 99,7% số doanh nghiệp, tạo 40% doanh thu và

60% giá trị gia tăng của toàn bộ khu doanh nghiệp (số liệu năm 1998)

Trang 22

Ngoài ra, các DNV&N còn có tác dụng tích cực trong lịch sử phát triểnkinh tế của nhiều nước trên thế giới Ví dụ như ở Đài loan: DNV&N chiếm99,7% số lượng doanh nghiệp; chiếm 78,2% tổng số lao động; tạo ra 47,8tổng giá trị gia tăng;đóng góp 44,1% tổng số VAT; 21,1% kim ngạch xuấtkhẩu và vì thế mà kinh tế Đài loan đã giữ được trong khủng hoảng về tàichính khu vực năm 1997.

Như vậy có thể nói DNV&N có một vị trí rất quan trọng không chỉ ở cácnước đang phát triển mà còn có ở các nước phát triển.ở Việt Nam “

DNV&N là loại hình rất phù hợp để phát triển mọi tiềm năng cho việc phát triển kinh tế, kể cả ở các nước phát triển Đối với nước ta việc phát triển thật nhiều DNV&N lại càng phù hợp với bước đầu phát triển CNH-HĐH.”1

2.2.3.1.So với các doanh nghiệp lớn, DNV&N có những lợi thế sau:

Thứ nhất: Chúng gắn liền với công nghệ trung gian, là cầu nối giữa công

nghệ truyền thống

Thứ hai: Qui mô nhỏ, năng động, sáng tạo trong kinh doanh, dễ dàng

chuyển hướng trong kinh doanh, nhạy bén với sự thay đổi thị trường

Thứ ba: DNV&N có thể dễ dàng, nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ,

thích ứng với các cuộc cách mạng công nghiệp hiện đại hay có thể nói rằngDNV&N có thể sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực thử nghiệm

Thứ tư: DNV&N chỉ cần lượng vốn đầu tư ít hơn, hiệu quả cao, thu hồi vốn

nhanh

Thứ năm: Sự đình trệ hay phá sản của các doanh nghiệp này có ảnh hưởng

rất ít hoặc không gây nên khủng hoảng kinh tế xã hội, đồng thời ít chịu ảnhhưởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền

2.2.3.2.Bên cạnh những điểm lợi đó là các mặt hạn chế sau:

Thứ nhất: Nguồn vốn của DNV&N là hạn hẹp do đó khó có khả năng tiếp

cận các công nghệ hiện đại, khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị bị hạnchế nhiều

Thứ hai: Do trình độ của các bộ quản lí cũng như của lực lượng lao động

còn thấp nên năng suất lao động tạo ra rất thấp

Thứ ba: Do tình trạng sản xuất manh mún nên sản phẩm của các doanh

nghiệp rất thiếu tính đồng bộ về tiêu chuẩn, về chất lượng, kĩ thuật

1 (1)Trích lời của thủ tướng Phan Văn Khải 14/9//2001

Trang 23

2.2.4.Vai trò và tác động kinh tế –xã hội của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

Nghị quyết đại hội IX, đảng ta chỉ ra rằng khu vực kinh tế tư nhân hay khuvực kinh tế ngoài quốc doanh gồm: kinh tế cá thể, tiểu thủ; kinh tế tư bản

tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Thành phần kinh tế này đóngmột vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đấtnước

2.2.4.1 Đóng góp vào hoạt động kinh tế

• Ngành nông nghiệp

Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm: kinh tế hộ gia đình nôngdân, kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có tính chấtcông nghiệp ở nông thôn như các ngành nghề truyền thống, xây dựng vàdịch vụ đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn ngày nay

Theo số liệu thống kê, năm 1990 có 9,4 triệu hộ cá thể và đến năm 1995con số này đã lên tới 11.974.595 hộ hoạt động trên gần 9000 xã trong khắp

7 vùng sinh thái Trong đó hộ nông nghiệp có 9.528.896 hộ (chiếm79,88%), hộ lâm nghiệp có 18.156 hộ (0,15%); hộ thuỷ sản có 229.909 hộ (1,92%); hộ công nghiệp có 160.370 hộ(1,34%); xây dựng có 31.914 hộ(0,27%); hộ thương nghiệp có 384.272 hộ (3,21%); dịch vụ có 14.165 hộ( 1,18%); hộ khác có 1.479.341 hộ ( 12,35%) Khu vực kinh tế này pháttriển đã nâng cao và cải thiện đời sống vật chất ở nông thôn, thúc đẩy kinh

tế hàng hoá, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Trang 24

quốc doanh giảm 30,4% xuống 23,7% Các tư thương cá thể đã có khảnăng cạnh tranh với các thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán.Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ của cả nước năm 2001

Tổng mức(tỷ đồng)

Cơcấu(%)

Nguồn: báo cáo của tổng cục thống kê năm 2002

2.2.4.2.Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói

giảm nghèo.

Mục tiêu năm 2002 của Đảng và Nhà nước đề ra là: phát triển kinh tế bền

vững, huy động mạnh mẽ mọi nguồn vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, đổi mới chính sách và hệ thống chính sách tiền tệ, khuyến khích phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, và đặc biệt là xoá đói giảm nghèo.

Nếu xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người laodộng thi các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vượt trội hơn so với cácngành kinh tế khác

Việt Nam là một trong những nước đông dân, gần 80% dân số và khoảng70% số lao dộng sống ở nông thôn, chủ yếu sống bằng nghề nông Nhưng

do diện tích đất canh tác có hạn trong khi tốc độ tăng dân số cao, khoảng2%/năm nên hàng năm nước ta có đến 1triệu người đến độ tuổi lao động cónhu cầu việc làm Đó là chưa tính đến số lao động thừa ra khi thực hiện sắpxếp lại các DNNN

Trang 25

Như vậy, phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc thu hút các lao động với chi phí thấp Ngoài ra cáckhu công nghiệp và các khu chế xuất thu hút 65000 lao động địa phương(năm 1997) Kinh nghiệm ở các nước cho thấy đã thành công trong việctăng thu nhập ở nông thôn mà không tạo luồng di dân ra đô thị là do côngnghiệp hoá nông thôn một cách mạnh mẽ thông qua việc phát triển khu vựckinh tế ngoài quốc doanh

Bảng 2: Tổng số lao động được phân chia theo các thành phần kinh tế

Nguồn: Báo cáo của tổng cục thống kê,1997

2.2.4.3 Thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế

Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán, đi sâu vào các ngõ ngách, bản, làng, yêucầu số vốn ban đầu không nhiều nên các DNV&N có vai trò và tác dụng rấtlớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớpdân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh Tuy lượng vốn thu hút vào mộtdoanh nghiệp không nhiều nhưng do số lượng nhiều nên thu hút được một

số vốn rất lớn đầu tư phát triển kinh tế

Bảng 3: Tổng vốn kinh doanh theo các thành phần kinh tế

Trang 26

Nguồn: báo cáo của tổng cục thống kê năm 1997

2.2.4.4 Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh góp phần làm năng động nền kinh tế thị trường

Do khối lượng khá lớn, lại thường xuyên phát triển đã làm tăng khả năngcạnh tranh và giảm bớt rủi ro cho các doanh nghiệp đồng thời làm đa dạnghoá hàng hoá trên thị trường Kinh tế ngoài quốc doanh vừa là bạn đồnghành vừa là đối thủ cạnh tranh trên thị trường với kinh tế quốc doanh.Trong khi kinh tế quốc doanh hoạt động theo sự chỉ đạo của Nhà nước thìkinh tế ngoài quốc doanh có cơ chế hoạt động linh hoạt, sáng tạo, hoà nhậpvới sự thay đổi của nền kinh tế , do đó thành phần kinh tế ngoài quốc doanhhoạt động có phần năng động hơn Điều đó có thể dẫn đến sản phẩm đạtchất lượng hơn, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng hơn, thúc đẩycạnh tranh, buộc các doanh nghiệp Nhà nước phải hoạt động có hiệu quảhơn

2.2.4.5 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt ở nông thôn

Sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nông thôn đã thúcđẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho Công nghiệp pháttriển mạnh đồng thời đẩy nhanh sự phát triển của ngành Thương mại, dịch

vụ Nhờ phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, các doanh nghiệp

vừ và nhỏ mà những người nông dân vẫn có thể sản xuất, kinh doanhcông nghiệp , dịch vụ ngay tại quê hương, hình thành nên các thị tứ, thịtrấn, các đô thị nhỏ đan xen giữa các làng quê Đây là quá trình đô thị hoáphi tập trung.Và điều đó cũng giống như ở thành thị, sự phát triển của khuvực này góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng cácngành Công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp

Trang 27

2.2.4.6 Kinh tế ngoài quốc doanh trở thành một thị trường vốn tín dụng rộng rãi và đầy tiềm năng

Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển thì nhu cầu vốn ngày càngcao Điều này giúp cho ngân hàng cho vay được nhiều hơn, hoạt độngthanh toán phát triển hơn Tuy nhiên, ngành ngân hàng hiện nay vẫn cònhạn chế rất nhiều trong việc cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vay

2.2.4.7 Tạo ra đội ngũ doanh nghiệp theo đúng nghĩa của nó.

Đó là sự năng động, nhạy bén, dám nghĩ dám làm, sẵn sàng chịu mọi thửthách của thị trường , tự chịu trách nhiệm

2.2.4.8 Sự phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã cho thấy

được sự không đồng bộ, hoàn chỉnh về luật pháp kinh tế

Thay vì chỉ cần có Luật Doanh nghiệp lại có những năm luật : Luật doanhnghiệp Nhà nước dành cho các doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp

áp dụng cho doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình; Luật HTX áp dụng chodoanh nghiệp tập thể; Luật Đầu tư nước ngoài áp dụng cho các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài.Như vậy đã có sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệpnước ngoài, giữa doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Cầnphải xây dựng một sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tếtrong cả nước

2.3.Nhu cầu về vốn của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

hiện nay ở Việt Nam

2.3.1 Tổng quan về Vốn

Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp vàtiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Vậy phải hiểu như thế nào vềvốn

Vốn là giá trị mang lại giá trị thặng dư mà muốn đạt được giá trị thặng dưthì phải qua trung gian là tài sản Do đó nhiều khi người ta đồng nhất vốn làtài sản

Trang 28

Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều gồm có hai thành phần: vốn cố định vàvốn lưu động Mỗi bộ phận này được chia nhỏ thành nhiều yếu tố và nhiềukhoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của chúng.Tuy nhiên các loại hìnhdoanh nghiệp khác nhau thì phương thức tạo vốn và huy động vốn khácnhau Cơ cấu vốn của doanh nghiệp gồm:

• Vốn tự có của doanh nghiệp: gồm vốn ban dầu và vốn bổ sung hàngnăm Đối với DNNN vốn ban đầu là vốn do ngân sách Nhà nước cấp.DNTN có vốn ban đầu là do chủ doanh nghiệp đầu tư gọi là vốn pháp định,mức vốn này được qui định riêng cho từng ngành nghề kinh doanh Công

ty cổ phần có nguồn vốn ban đầu là do các cổ đông đóng góp, mỗi cổ đông

là một chủ sở hữu công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hanj trên thị giá số

họ ít nhất không bị ảnh hưởng Với tài trợ nội bộ, cổ đông có thể không bịchia sẻ quyền kiểm soát công ty và họ có thể hưởng toàn bộ giá trị thặng dưthu được từ đầu tư, bao gồm cổ tức tăng thêm và chênh lệch do tăng giá cổphiếu trên thị trường tài trợ nội bộ có thể được thực hiện qua hai phươngthức: tái đầu tư thông qua chính sách phân phối cổ tức và phát hành cổphiếu nội bộ

2.3.2 Nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Kinh tế ngoài quốc doanh có hình thức kinh doanh đa dạng, hoạt động trênnhiều ngành: nông, lâm, thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng, thương

Trang 29

nghiệp Tiềm năng trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiệnnay vẫn còn chưa được khai thác hết Nguyên nhân do thái độ của xã hội và

bộ máy hành chính đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, khuôn khổđiều tiết dựa vào quy định của luật pháp, và đặc biệt là vấn đề thiếu vốncho sản xuất kinh doanh Sự thiếu vốn gây khó khăn cho khu vực kinh tếngoài quốc doanh trong việc muốn mở rộng quy mô, đổi mới nâng cao chấtlượng thiết bị công nghệ sản phẩm Khả năng tiếp cận nguồn vốn ngânhàng bị hạn chế và gặp khó khăn lớn là do các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh không đủ tài sản thế chấp, mức lãi suất còn quá cao so với lợi nhuậnthu được, khối lượng cho vay ít chủ yếu là cho vay ngắn hạn, thủ tục rườm

rà, phức tạp

Tuy nhiên việc các ngân hàng ngại cho vay cũng là điều dễ hiểu Vì bảnthân các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có nhiều rủi ro do thường chạytheo lợi nhuận cũng như không được Nhà nước bảo hộ

Ông Nguyễn Kế Sửu giám đốc một doanh nghiệp kinh doanh về hoá chấtcho biết: công ty có doanh số khoảng 30 tỷ một năm nhưng hầu như chưavay được một đồng vốn nào của ngân hàng Thậm chí có vay nhưng phảinấp bóng qua một doanh nghiệp quốc doanh khác và phải chịu một khoảnphí

Năm 1995, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mới chỉ nhận được 18.198 tỷđồng từ hệ thống ngân hàng và tăng lên 44.873 tỷ năm 1999, tăng 146% sovới năm 1995

Bảng 4: Tỷ trọng tín dụng hệ thống ngân hàng cấp cho các khu vực kinh tế Đơn vị: %

Năm

Nguồn: Table 20, IMF Staff Country Report, No.00/116, August 2000

Trang 30

Bảng 5: Tỷ trọng cho vay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của mỗi khuvực ngân hàng

Bảng 6: Tỷ lệ nợ quá hạn của từng khu vực so với tổng nợ quá hạn của hệthống ngân hàng

Trang 31

Như vậy ta thấy nợ quá hạn của DNNN giảm còn nợ quá hạn của cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh thì tăng lên qua các năm.

Bảng 7: Nhu cầu tín dụng và khả năng tiếp cận các nguồn tài chính củaDNV&N

Đơn vị: %

Nguồn tín dụng

Tỷ lệ doanh nghiệp thử tiếp cận nguồn

vốn

Tỷ lệ doanh nghiệp thành công khi tiếp cận

Nguồn: Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam, 2001

Như vậy nhìn trên bảng số liệu trên ta thấy nhu cầu vốn tín dụng của cácDNV&N là rất lớn nhưng khả năng tiếp cận các nguồn tài chính của cácdoanh nghiệp này mới chỉ đạt 54,5% Trong đó tỷ lệ doanh nghiệp thử tiếpcận nguồn vốn của các ngân hàng nhà nước và tư nhân mới chỉ chiếm24,7% và tỷ lệ doanh nghiệp thành công khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng

là 20,2% Điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn có khảnăng tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng nếu ngân hàng thấy tin tưởng vàokhả năng kinh doanh cũng như khả năng trả nợ của doanh nghiệp

2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay

Trang 32

hướng giải quyết các khoản nợ khó đòi Chính sách tín dụng là kim chỉnam cho cán bộ tín dụng thưch hiện việc cho vay đúng với yêu cầu củangân hàng.Một chính sách tín dụng với lãi suất đa dạng, kì hạn phù hợp vớiphương án sản xuất kinh doanh sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến vớimình, tăng lợi nhuận Trong khi nếu chính sách tín dụng cứng nhắc sẽ hạnchế trong việc cho vay, giảm tính cạnh tranh trong hoạt động của ngân hàngthương mại Các ngân hàng có thể sử dụng chính sách tín dụng để nâng caokhả năng cạnh tranh của mình

Hiện nay tồn tại nhiều loại hình ngân hàng do đó khả năng cạnh tranh là rấtlớn Các NHTM ngoài quốc doanh tuy không có điều kiện như các ngânhàngTMQD nhưng đã nhanh chóng xây dựng chính sách tín dụng của mìnhhướng vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, mở rộng cơ hội tiếp xúcvới khách hàng với một mạng lưới rộng khắp

Thứ hai: Sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ

Khi quyết định cho vay các cán bộ tín dụng phải dựa trên quy trình cho vaycủa ngân hàng (thường gồm: hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng

và lập hồ sơ vay vốn; điều tra, thu thập, tổng hợp các thông tin khách hàng

và phương án vay vốn; phân tích thẩm định khách hàng và phương án vayvốn; quyết định cho vay; kiểm tra và hoàn chỉnh hồ sơ vay và hồ sơ tài sảnthế chấp, cầm cố, bảo lãnh; giám sát khách hàng; thu hồi nợ; gia hạn nợ )được bắt đầu từ khi khách hàng có nhu cầu vay đến khi khách hàng trả cảgốc lẫn lãi

Trong quy trình cho vay khâu thẩm định đóng vai trò quan trọng nhất ảnhhưởng đến chất lượng món vay Tuỳ theo từng nhu cầu vay vốn cụ thể màcán bộ tín dụng cần xác định nội dung và phương pháp thẩm định phù hợplàm sao để đảm bảo cả chất lượng và thời gian thẩm định Công việc nàycần chính xác, thực tế như xét về năng lực pháp lí, tính chất, uy tín, nănglực tài chính, phương án vay vốn và khả năng trả nợ, tài sản đảm bảo tiềnvay của khách hàng nhưng cũng cần có sự nhanh nhẹn, nhạy cảm, linh hoạtcủa người cán bộ tín dụng Việc thẩm định cứng nhắc sẽ khiến ngân hàngmất nhiều cơ hội kiếm lợi nhuận, mất khách hàng Tuy nhiên nếu nhanhnhẹn, linh hoạt không dựa trên những quy định sẵn có sẽ dẫn đến thua lỗ,

Trang 33

phá sản của ngân hàng Điều này phụ thuộc vào khả năng của cán bộ củatín dụng.

Thứ ba: Chất lượng nhân sự

Chất lượng nhân sự thể hiện qua trình độ nghiệp vụ cũng như khả nănggiao tiếp của cán bộ tín dụng Dưới con mắt của khách hàng, cán bộ tíndụng là hình ảnh của ngân hàng Do sản phẩm của ngành ngân hàng manghình thái phi vật chất, mang tính thông dụng, đơn điệu nên ngân hàng phảilinh hoạt mới tăng được khả năng cạnh tranh Muốn vậy ngân hàng phải đadạng hoá sản phẩm, tăng trình độ của đội ngũ cán bộ cũng như khả năngtiếp cận thị trường mới, am hiểu luật pháp, khả năng giao tiếp sao chokhách hàng vừa lòng và trở thành khách hàng quen thuộc của ngân hàngcũng như quảng cáo cho ngân hàng

Thứ tư: Tình hình huy động vốn

Ngân hàng muốn tăng khă năng cho vay thì ngân hàng phải thu hút đượcnhiều vốn Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: địa bàn hoạt động, uytín của ngân hàng, mức lãi suất, khă năng giao tiếp của cán bộ tín dụng

Thứ năm: Hoạt động kiểm soát nội bộ

Ngân hàng hiện nay nên thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ một cáchđầy đủ, hiệu quả Kiểm soát nội bộ bao gồm cả kiểm tra, đánh giá, tư vấnđồng thời thực hiện kiểm toán nội tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểmtoán tuân thủ Nâng cao hoạt động này làm trong sạch hệ thống ngân hàng,nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng

• Về phía doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Hiệu quả cho vay không chỉ phụ thuộc vào việc ngân hàng đã thực hiện nónhư thế nào mà còn phụ thuộc vào người sử dụng vốn vay

Thứ nhất: Phương án sản xuất kinh doanh của dự án vay vốn

Hiệu quả của việc sử dụng vốn cũng là một chỉ tiêu trong hiệu quả cho vay.Một dự án khả thi sẽ đem lại cho doanh nghiệp lợi nhuận và doanh nghiệp

sẽ có đủ tiền để trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng đúng thời hạn

Trang 34

Tuy nhiên nếu khách hàng cố tình đưa ra một dự án tốt cho ngân hàng thẩmđịnh nhưng đến khi có tiền rồi thì không thực hiện dự án như đã định dẫnđến mất khả năng thanh toán cho ngân hàng.

Thứ hai: Khả năng hay trình độ của người quản lí

Trình độ của người quản lí đóng vai trò rấ quan trọng trong việc đem lạithành công cho doanh nghiệp Nhưng hiện nay khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh, trình độ quản lí còn nhiều sơ hở, chưa nắm bắt được thị trường dẫnđến làm ăn không hiệu quả, thát thoát vốn và đương nhiên dẫn đến phá sảnnếu thình hình này tiếp tục gia tăng

2.3.3.2 Yếu tố khách quan

• Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanhcủa tất cả các thành phần kinh tế Khi nền kinh tế ở trạng thái hưng thịnh,tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội mởrộng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Khi đó nhu cầu vốn tănglên và hoạt động tín dụng của ngân hàng có thể mở rộng theo Và ngược lạikhi nền kinh tế không ổn định thì ngân hàng cũng không thể phát triểnđược hoạt động tín dụng

Đặc biệt các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không có sự bảo hộ của Nhànước thì khi gặp phải những biến động hay môi trường kinh tế không ổnđịnh tất yếu dẫn đến bị thua lỗ, phá sản ảnh hưởng dến hiệu quả cho vay

• Môi trường xã hội

Các yếu tố xã hội như niềm tin tưởng, trật tự an toàn, trình độ dân trí cũngảnh hưởng đến hiệu quả cho vay Giả sử ở một nơi tình hình an ninh khuvực không được tốt như cướp giật, tệ nạn xã hội tất yếu sẽ dẫn đến giảmlòng tin đối với khách hàng

• Môi trường pháp lí

Mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường đều có quyền tự dokinh doanh nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật Hoạt động cho vaycủa ngân hàng cũng phải tuân theo quy định của Nhà nước, luật các tổ chức

Trang 35

tín dụng, luật dân sự và các quy định khác Các văn bản này cần chặt chẽ,đồng bộ, ổn định góp phần cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng đểhoạt động cho vay hiệu quả hơn Nếu không rõ ràng, lành mạnh sẽ tạo khe

hở luật, gây khó khăn cho hoạt động của các ngân hàng cũng như cácdoanh nghiệp

• Chủ trương chính sách của Đảng

Từ khi Nhà nước có chính sách cho phép phát triển khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh thì ngân hàng đã có thêm một lượng khách hàng lớn để chovay Tuy nhiên các điều kiện cho vay ngày càng chặt chẽ, cũng như ưu đãiđối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh do đó mà khu vực này chưa tiếpcận được với nguồn vốn ngân hàng

Sau khi chủ trương chính sách của Đảng về đổi mới cơ chế tín dụng và mởrộng cho vay theo dự thảo sửa đổi NĐ 178/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay vàban hành cơ chế tín dụng thay cho quyết định 284 trở thành hiện thực thìmọi thành phần kinh tế đều có thể được xem xét vay với điều kiện “ lỏng”hơn và họ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng

3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc cho vay hỗ trợ vốn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Xét về quy mô, hiện nay các DNV&N chiếm 90% tổng số các doanhnghiệp ngoài quốc doanh Như vậy các doanh nghiệp ngoài quốc doanhmang nhiều đặc điểm của DNV&N Không chỉ có các nước đang phát triẻnmới chủ trương tăng cường và phát triển hơn niữa khu vực này mà ở cácnước phát triển cũng coi trọng mặc dù mục tiêu của chính sách khuyếnkhích phát triển các DNV&N là khác nhau ở các nước ASIAN là tăngcường xuất khẩu, xoá đói giảm nghèo Còn ở Đài Loan, Hàn Quốc lànhằm phát triển các ngành công ngiệp bổ trợ đồng thời phát triển DNV&Ntrong linhc vực công nghệ cao

3.1.Tại Đức

DNV&N ở Đức tạo ra 50%GDP, chiếm hơn 1/2 doanh nghiệp chịu thuế củacác doanh nghiệp, cung cấp hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của

Trang 36

người tiêu dùng trong và ngoài nước Để đạt được điều đó, họ đã cóchương trình thúc đẩy như:

Thứ nhất: Cung cấp tín dụng ưu đãi ưu tiên cho việc thành lập doanh

nghiệp, đổi mới trang thiết bị, và đặc biệt ưu tiên cho khu vực kém pháttriển của đất nước

Thứ hai: có sự bảo lãnh của Nhà nước đối với các doanh nghiệp không có

tài sản đảm bảo để cầm cố, thế chấp Đồng thời phát triển các tổ chức bảolãnh tín dụng

Các tổ chức bảo lãnh tín dụng thành lập và hoạt động từ 1950 với sự hợptác chặt chẽ của phòng Thương mại, hiệp hội các doanh nghiệp, Chínhquyền liên bang và các Ngân hàng Với nguyên tắc hoạt động vì kháchhàng, DNV&N nhận được khoản vay từ ngân hàng với sự bảo lãnh củamột số tổ chức bảo lãnh tín dụng Trong trường hợp doanh nghiệp làm ănthua lỗ thì các tổ chức bảo lãnh tín dụng này sẽ đứng ra hoàn trả cho ngânhàng Ngoài ra khoản vay này có thể được chính phủ tái bảo lãnh

3.2.Tại Đài Loan

Ngay trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, Đài Loan đã áp dụng nhiềubiẹn pháp khuyến khích phát triển các DNV&N trong một số ngành như:dệt, kính, gỗ Năm 1981 thành lập cục quản lí DNV&N DNV&N chiếm96% các doanh nghiệp, tạo ra 40% sản lượng công nghiệp, hơn 50% giá trịxuất khẩu và chiếm hơn 40% chỗ làm việc Đài loan có các biện pháp như:

Thứ nhất: xây dựng, thực thi các chính sách hỗ trợ huy động vốn cho các

DNV&N Cho đến nay đã có rất nhiều NHNN và tư nhân ở Đài Loan đứng

ra tài trợ cho các DNV&N Bộ Tài Chính Đài Loan đã đưa ra một tỷ lệ tàitrợ nhất định và tỷ lệ này ngày càng tăng

Thứ hai: Đã lập ra 3 quỹ: quỹ phát triển, quỹ Sino_US và quỹ phát triển

DNV&N nhằm tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DNV&N.Năm 1974 thành lập nên Quỹ bảo lãnh tín dụng Từ khi thành lập đến nay

đã bảo lãnh cho 1,3 triệu trường hợp với số vốn vay rất lớn

Trang 37

Thứ ba: Giảm lãi suất đối với các khoản vay phục vụ mục đích mua sắm

thiết bị, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao tính cạnh tranh trên thịtrường

3.3 Tại Malaisia

Trong kế hoạch phát triển tổng thể lần thứ hai(1991-2000) đã khẳng định rõvai trò của các DNV&N trong công cuộc hiện đại hoá đất nước Do đóChính phủ đã có những chương trình hỗ trợ phát triển như: chương trình vềthị trường, hỗ trợ kĩ thuật, chương trình cho vay ưu đãi, chương trình côngnghệ thông tin Mục đích của tất cả các chương trình trên nhằm giúp cácDNV&N có vốn để đàu tư phát triển sản xuất, cải tiến chất lượng hàng hoá,phát triển cơ sở hạ tầng trong các ngành sản xuất phụ tùng ô tô, linh kiệnđiện tử, máy móc, nhựa, dệt nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trườngtrong nước cũng như trên thế giới Chương trình được thực hiện thông quaQuỹ cho vay ưu đãi, cấp tín dụng trực tiếp cho nhà sản xuất Điều này đãđem lại kết quả không nhỏ cho nền kinh tế Malaisia

3.4 Tại Nhật Bản

Như chúng ta đã biết, Nhật Bản là đất nước thành công trên thế giới tronglĩnh vực kinh tế Họ đã đi lên từ một đất nước nghèo nàn về tài nguyênthiên nhiên và đã đạt được những thành tựu như ngày hôm nay Điều đóphụ thuộc vào chính con người Nhật Bản dưới sự lãnh đạo cũng như đườnglối cải tổ và phát triển kinh tế đúng đắn của Chính phủ Nhật Các chínhsách hỗ trợ các DNV&N được hình thành từ những năm 1950 nhằm tháo

gỡ những khó khăn về vốn thông qua:

Thứ nhất: Thành lập hệ thống hỗ trợ tín dụng nhằm giúp các DNV&N tiếp

cạn nguồn vốn tín dụng, tạo điều kiện cho họ vay vốn của các tổ chức tíndụng tư nhân thông qua sự bảo lãnh của hiệp hội bảo lãnh tín dụng trên cơ

sở đồng bảo lãnh

Thứ hai: Thành lập các tổ chức tài chính công cộng phục vụ DNV&N Các

tổ chức công cộng này bao gồm: Công ty Tài chính DNV&N, công ty tàichính Nhân dân, ngân hàng Shoko Chukin do chính phủ đầu tư thành lậptoàn bộ hoặc một phần nhằm tài trợ vốn cho các DNV&N để đổi mới thiết

Trang 38

bị và hỗ trợ vốn lưu động dài hạn để mở rộng phát triển sản xuất kinhdoanh.

3.5 Tại Trung quốc

Trung Quốc đã soạn thảo một dự luật nhằm hỗ trợ tài chính cho cácDNV&N đối phó với sức cạnh tranh ngày càng gia tăng sau khi nước nàygia nhập WTO DNV&N chiếm 95% các công ty của Trung Quốc, đóngmột vai trò không thể thiếu trong quá trình cải cách kinh tế và cung cấp3/4cơ hội việc làm

Trung Quốc đã theo dự luật trợ giúp các DNV&N, một Quỹ hỗ trợ đặc biệt

sẽ được thành lập để hỗ trợ tài chính lâu dài và ổn định cho các công ty nàynhằm tăng các khoản cho vay của ngân hàng cạnh tranh với các ngân hàngnước ngoài tại Trung Quốc

3.6.Tại Ecuador

Vào năm 1980, Tổ chức Corporation Financiera Nacional của Ecuador, một

tổ chức tài chính phát triển lớn nhất thuộc sở hữu Nhà nước đã thành lậpmột quỹ gọi tắt là FOPINAR để tái tài trợ cho các khoản cho vay từ các tổchức tài chính địa phương cho các doanh nghiệp nhỏ Quỹ này hoạt độngmột cách độc lập Phần lớn việc tài trợ này đều có nguồn gốc từ cácc tổchức tín dụng đa phương thông qua Chính phủ, nơi có thể chấp nhận cácrủi ro về ngoại hối Vào cuối năm 1988, FOPINAR đã chấp thuận tái tài trợcho 7647 khoản vay, trung bình 14.000 USD Các doanh nghiệp nằm ngoàitrung tâm đô thị chính nhận dược 48% các khoản vay

Hiện có khoảng 40 trung gian tài chính tham gia vào tổ chức này Đểkhuyến khích các tổ chức tham gia trở nên độc lập hơn, chương trình nàyyêu cầu các tổ chức phải đồng tài trợ 10% chi phí dự án bằng nguồn vốnriêng cuả họ Các điều khoản và điều kiện soạn thảo nhằm đảm bảo lãi suất

áp dụng cho FOPINAR và các định chế nằm trong một khoảng thích hợp

và để giữ cho lãi suất cho vay là thực dương

Việc thu hồi vốn cho vay đã phát triển khá tốt Tỷ lệ quá hạn trong cáckhoản cho vay được chiết khấu của FOPINAR của các định chế tài chínhphát triển và các ngân hàng thương mại trung bình ở mức dưới 3% Vào

Trang 39

tháng 6 năm 1988 các khoản nợ quá hạn trung bình chiếm khoảng 11%trong tổng mức vốn đầu tư.

3.7.Tại Việt Nam

Theo đánh giá của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì hiệnnay tình trạng thiếu vốn đối với các DNV&N là khó khăn lớn nhất đối vớicác doanh nghiệp này, đặc biệt là vốn trung, dài hạn nhằm đổi mới trangthiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất

Mặt khác hiện nay chưa có các văn bản pháp quy hoàn chỉnh để hỗ trợ chocác doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong vấn đề vay vốn của ngân hàng,

do đó các ngân hàng vẫn không dám cho vay

Tất cả những diều trên đã khiến cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh củaViệt Nam hiện nay quy mô nhỏ, hạn chế về trang thiết bị, về trình độ quản

lý cũng như trình độ người lao động dẫn đến sản phẩm chưa đáp ứng đượcnhu cầu ngày càng cao của thị trường Vì vậy làm thế nào để đảm bảo đủvốn cho các doanh nghiệp này là một vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiệnnay, đặc biệt trong quá trình tiến tới hội nhập

Bà Nguyễn Thu Hà, phó tổng giám đốc ngân hàng ngoại thương Việt nam(VCB) cho rằng cho vay đối với DNV&N là một nội dung quan trọng củachủ trương tái cơ cấu VCB nhằm đa dạng hoá sản phẩm trong lĩnh vực tíndụng VCB đã xây dựng một đề án cho các DNV&N vay với số vốn 450-

500 tỷ đồng trong giai đoạn 2002-2003 và đang chuẩn bị thí điểm

Bên cạnh đó các DNV&N cũng được hỗ trợ thêm vốn từ các dự án củanước ngoài Ví dụ như dự án 110 triệu USD của World Bank đã cho 740DNV&N vay vốn, mỗi doanh nghiệp vay vốn trung bình khoảng 200 triệuđồng và tỷ lệ hoàn trả đạt 98% Như vậy có thể nói rằng các DNV&N hiệnnay có khae năng trong vấn đề tiếp cận thị trường, đáp ứng được nhu cầuthị trường nếu có dủ lượng vốn cần thiết, đặc biệt là vốn trung dài hạn.Hiện nay chúng ta đã có công ty cho thuê tài chính, một mô hình tài trợ vốntrung dài hạn cho các doanh nghiệp

Trang 40

Các chương trình hợp tác giữa Việt Nam với các nước phát triển cũng tạođiều kiện cho các DNV&N của nước ta hiện nay Ví dụ như chương trìnhhợp tác Anh-Việt giữa Cơ quan Thương mại Quốc tế Anh Quốc và PhòngThương mại –Công nghiệp Việt Nam Chương trình này nhằm nối kết cáccông ty Anh với Việt Nam trên các lĩnh vực như: nông lâm nghiệp, ché biếnthực phẩm, thuỷ hải sản và công nghệ môi trường Bằng chương trình nàydoanh nghiệp của hai nước đều có cơ hội tiếp cận Quỹ của cộng đồng châu

Âu, Ngân hàng thế giới và mở ra nhiều thị trường xuất khẩu mới

Nghị định 90/2001 quyết định việc thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụngDNV&N để bảo lãnh cho các doanh nghiệp này khi họ không có đủ tài sảnthế chấp, cầm cố vay vốn của các tổ chức tín dụng, tháo gỡ một phần khókhăn cho các doanh nghiệp Nghị định quyết định thành lập Cục phát triểnDNV&N và hội đồng khuyến khích phát triển DNV&N Hiện nay có hai đề

án Quỹ bảo lãnh do Đức hỗ trợ đang được thử nghiệm

Thứ nhất: Quỹ bảo lãnh tín dụng của ngân hàng Công thương Việt Nam.

Quỹ này được thành lập năm 1993 do Ngân hàng cân đối Đức trợ cấp 1triệu DM lập quỹ với mục đích hỗ trợ các nhà khởi sự doanh nghiệp ViệtNam, ưu tiên cho những người hôi hương từ Đức muốn vay vốn lập nghiệpsong không đủ tài sản thế chấp Mức bảo lãnh tối đa là 100.000 DM; tỷ lệchịu rủi ro của Quỹ là 80%; còn ngân hàng cho vay chịu 20%; phí bảo lãnh

là 1% số tiền bảo lãnh Đến năm 1998, trong số 420 dự án được bảo lãnhchỉ có 3 dự án có rủi ro với tổng tiền là 64 triệu đồng thất thoát đã đượcQuỹ đền bù

Thứ hai: Quỹ bảo lãnh tín dụng ở tỉnh Bắc Giang Quỹ này do trung tâm tư

vấn doanh nghiệp Bắc Giang tổ chức thử nghiệm do viện FES (CHLBĐức)0 hỗ trợ kỹ thuật và vốn ban đầu là 100.000 USD Trung tâm đã cùngvới ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức hoạt động củaQuỹ này Tới nay Quỹ đã cấp bảo lãnh cho 40 lượt doanh nghiệp với số tiềnmỗi lần lớn nhất là 80 triệu đồng và nhỏ nhất là 30 triệu đồng Thời gianbảo lãnh đối với các khoản vay vốn cố định là 3 năm, đối với vốn lưu động

là 12 tháng Phí bảo lãnh 2% một năm trên số tièn bảo lãnh Tuy nhiên hiệnnay Quỹ tạm ngừng hoạt động vì hệ số bảo lãnh do NHNN và PTNT chấpnhận quá thấp

Ngày đăng: 08/07/2018, 00:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 1999, 2000, 2001 của NHCT Hoàn Kiếm Khác
2. Công văn số 1840 ngày 10/1/2002 của thống đốc NHNN về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Khác
3. Công báo số 3 năm 2002: Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ 193/2001/QĐ_TTg ngày 20/12/2001 về việc ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNV&N Khác
11.Tạp chí Tài chính, Phân tích kinh tế, Thị trường Tài chính tiền tệ, Nghiên cứu kinh tế, Kinh tế Châu á Thái Bình Dương, Kinh tế và dự báo... các số năm 1999-2002 Khác
13. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính Fredric S. Miskin Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w