Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò con người, không ngừng cải thiện nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân là mục đích hàng đầu của chế độ xã hội chủ nghĩa ta. Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan được Đảng và Nhà nước ta khẳng định trong các kỳ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX đã và đang có nhiều ảnh hưởng tích cực đối với nền kinh tế nước ta. Sau hơn mười năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã gặt hái được nhiều thành công to lớn trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong nền kinh tế xã hội. Vì thế nền kinh tế nước ta đang dần khởi sắc và phát triển một cách vững chắc, về cơ bản chúng ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kéo dài, nền kinh tế có những bước tăng trưởng nhảy vọt qua các năm, điều kiện sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đất nước đang trong thời kỳ đổi mới nên cùng với sự biến chuyển không ngừng về mọi mặt từ kinh tế xã hội đến chính trị ngoại giao nền kinh tế mở theo hướng “đa phương hoá đa dạng hoá” đã và đang tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói riêng nhiều cơ hội mới. Trong xu thế phát triển này, ngành bảo hiểm cũng có những điều kiện thuận lợi để phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, ngày càng có nhiều nghiệp vụ mới ra đời, Bảo hiểm nhân thọ là một ví dụ điển hình. Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ mang tính đặc thù cao, có sức hấp dẫn riêng và có sự khác biệt so với các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ bao gồm nhiều loại hình khác nhau như: BHNT có thời hạn 510 năm, An sinh giáo dục...
Trang 1Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay,Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò con người, không ngừng cảithiện nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân là mụcđích hàng đầu của chế độ xã hội chủ nghĩa ta Phát triển kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan được Đảng vàNhà nước ta khẳng định trong các kỳ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI,VII, VIII, IX đã và đang có nhiều ảnh hưởng tích cực đối với nền kinh tếnước ta Sau hơn mười năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng,nhân dân ta đã gặt hái được nhiều thành công to lớn trên nhiều lĩnh vực đặcbiệt là trong nền kinh tế xã hội Vì thế nền kinh tế nước ta đang dần khởisắc và phát triển một cách vững chắc, về cơ bản chúng ta đã thoát khỏi tìnhtrạng khủng hoảng kéo dài, nền kinh tế có những bước tăng trưởng nhảyvọt qua các năm, điều kiện sống của nhân dân không ngừng được cải thiện
và nâng cao Đất nước đang trong thời kỳ đổi mới nên cùng với sự biếnchuyển không ngừng về mọi mặt từ kinh tế xã hội đến chính trị ngoại giaonền kinh tế mở theo hướng “đa phương hoá - đa dạng hoá” đã và đang tạođiều kiện tốt nhất cho hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinhdoanh bảo hiểm nói riêng nhiều cơ hội mới Trong xu thế phát triển này,ngành bảo hiểm cũng có những điều kiện thuận lợi để phát triển cả về chiềurộng lẫn chiều sâu, ngày càng có nhiều nghiệp vụ mới ra đời, Bảo hiểmnhân thọ là một ví dụ điển hình Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ mang tínhđặc thù cao, có sức hấp dẫn riêng và có sự khác biệt so với các nghiệp vụbảo hiểm khác Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ bao gồm nhiều loại hình khácnhau như: BHNT có thời hạn 5-10 năm, An sinh giáo dục Sau một thờigian lựa chọn đề tài viết chuyên đề mặc dù đề tài còn nhiều khúc mắc và sốliệu thực tế chưa nhiều nhưng cùng với sự động viên của cô giáo hướng
Trang 2dẫn và sự giúp đỡ nhiệt tình của Công ty Bảo Việt nhân thọ Hà Nội em xin
mạnh dạn nghiên cứu đề tài với nội dung: “Bàn về sản phẩm An sinh giáo
dục của Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội” Sở dĩ em chọn đề tài trên cho chuyên
đề tốt nghiệp của mình là vì những lý do sau:
- Do nghiệp vụ “An sinh giáo dục“ mới được triển khai ở nước ta, nên
khó tránh khỏi những hạn chế, những điều bất hợp lý trong quá trình kinhdoanh Vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách khoa học, tìm ra giải pháp phùhợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Nghiệp vụ bảo hiểm này không chỉ mang tính chất bảo hiểm các rủi ro
mà còn mang tính chất tiết kiệm Điều này có nghĩa là công ty phải trả mộtkhoản tiền vào một thời điểm nhất định trong tương lai dù không có rủi roxảy ra với khách hàng Do vậy công ty BHNT cần có một chính sách đầu tưvốn hợp lý để đảm bảo tài chính của công ty
- Nghiệp vụ này còn thu hút được nhiều người nghiên cứu vì nó có ý
nghĩa giáo dục sâu sắc Với các khẩu hiệu “ Tất cả vì tương lai con em chúngta”, “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai“ thì chương trình “An sinh giáodục“ là một biện pháp hữu hiệu để các thế hệ đi trước thể hiện sự quan tâmđối với các thế hệ đi sau
Khi nghiên cứu đề tài, ta phải phân tích tình hình triển khai, thị trườngkhách hàng tiềm năng, tình hình dân số từ đó đưa ra một số biện pháp và kiếnnghị nhằm tiếp tục phát triển và nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh củacông ty trong thời gian tới Xuất phát từ những nội dung trên em chuyên đề
có kết cấu như sau:
Chương I: Khái quát chung về bảo hiểm nhân thọ
Chương II: Nội dung cơ bản của sản phẩm An Sinh giáo dục tại Bảo ViệtNhân thọ Hà Nội
Trang 3Chương III: Tình hình triển khai sản phẩm “An sinh giáo dục” của Bảo Việttại BVNT Hà Nội và một số kiến nghị
Mặc dù bản thân em đã rất cố gắng nhưng do còn thiếu kinh nghiệm nêntrong chuyên đề tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mongnhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo trong khoa nói chung và côgiáo Nguyễn Thị Lệ Huyền nói riêng để chuyên đề hoàn chỉnh hơn về mặt lýluận và mang tính khả thi hơn trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của côngty
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn thị LệHuyền cùng sự giúp đỡ của phòng Quản lý hợp đồng BVNT Hà Nội, đặcbiệt sự quan tâm, nhiệt tình giúp đỡ của chú Trưởng phòng Trương Khánhcùng các anh chị trong phòng Quản lý hợp đồng đã tạo điều kiện cho em tìmhiểu tài liệu, báo chí và chỉ dẫn những thắc mắc, giải đáp giúp em hoàn thànhbản chuyên đề tốt nghiệp của mình
Trang 4CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1 Sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ
Để đánh giá đầy đủ sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ, trước hết chúng
ta cần hiểu rõ khái niệm về Bảo hiểm nhân thọ (BHNT): Bảo hiểm nhânthọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, màtrong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởngquyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã địnhtrước xảy ra (người được bảo hiềm bị chết hoặc sống đến một thời điểmnhất định) còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn.Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinhmạng, cuộc sống và tuổi thọ con người
Vấn đề bảo hiểm được ghi nhận đã xuất hiện từ thời trung cổ Đầu tiênngười ta chưa nghĩ đến bảo hiểm con người, họ chỉ quan tâm đến việc bảohiểm những tài sản vật dụng có giá trị Do vậy, ngành bảo hiểm phi nhânthọ đầu tiên đã ra đời đầu tiên tại nước Anh và Châu Âu nhằm phục vụ chongành hàng hải
Song song với ngành bảo hiểm phi nhân thọ, ở nước Anh thời đó cũng
Trang 5có những mô hình tổ chức giúp đỡ tương trợ lẫn nhau về tài chính Nhất làtầng lớp công nhân mỏ than, họ thành lập Hội tương trợ mai táng để giúp
đỡ những người thợ chẳng may chết vì tai nạn Những tai nạn này xảy rahầu như mỗi ngày vì kỹ thuật hầm mỏ thời đó còn rất sơ sài Sự kiện này đãgây biết bao đau thương cho gia đình của họ Sau khi giúp đỡ chôn cấtnhững người thợ xấu số xong, người ta thấy rằng vợ con họ rất cần sự giúpđỡ
Ý tưởng này khiến các công nhân mỏ quyết định thành lập quỹ bảo trợnhững người vợ goá con côi Họ kêu gọi những người thợ khi còn sống, cókhả năng kiếm tiền hãy gia nhập hội Muốn vào hội, mỗi người thợ phảiđóng tiền gia nhập hội viên, sau đó mỗi năm phải đóng hội phí một lần Sốtiền thu được, hội giành ra một phần cho chi phí điều hành, số còn lại đượcchi trả cho gia đình những người thợ chẳng may qua đời Sự việc này đãcứu giúp những người vợ goá con côi có thể tiếp tục cuộc sống, không bịhụt hẫng khi người chồng, người cha của họ không còn nữa để kiếm tiềnbao bọc gia đình Đây được xem như mầm mống của ý tưởng về BHNT saunày
Nước Anh được xem như cái nôi của ngành BHNT Năm 1583 mộtngười thuyền trưởng nảy ra ý kiến yêu cầu công ty bảo hiểm phi nhân thọđang bảo hiểm cho con tàu và hàng hoá của ông hãy bán thêm hợp đồngbảo hiểm sinh mạng cho chính mình Công ty không khỏi ngạc nhiênnhưng để làm hài lòng khách hàng, họ đã đồng ý Qua sự kiện trên, công tybảo hiểm phi nhân thọ thời ấy đã ngẫm ra rằng “Con người cũng có thểđược bảo hiểm như tàu bè và hàng hoá”, và Bảo hiểm nhân thọ ra đời từđây
Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và
đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro, như mấtsớm, thương tật hay già yếu Các rủi ro do nhiều nguyên nhân, ví dụ như:
- Các rủi ro do môi trường thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, hạn hán
- Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật Khoahọc kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất và tạo điều kiện thuậnlợi cho cuộc sống con người nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất
Trang 6ngờ như tai nạn ôtô, hàng không , tai nạn lao động
- Các rủi ro do môi trường xã hội Đây cũng là một trong những nguyênnhân gây ra rủi ro cho con người, khi xã hội càng phát triển thì con ngườicàng có nguy cơ gặp nhiều rủi ro như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, lạm phát Khi rủi ro xảy ra thường gây nên những tổn thất về tài chính nghiêmtrọng, bởi vì cuộc sống của mỗi con người đều có giá trị kinh tế nhất địnhđược thể hiện bằng khả năng tạo ra thu nhập Mặt khác rủi ro cũng có thểxảy ra bất cứ lúc nào gây nên những tổn thất nghiêm trọng về tài chính đốivới thân nhân và gia đình Bù đắp những tổn thất về mặt tài chính khi rủi ro
là một trong những vai trò quan trọng của Bảo hiểm nhân thọ Cuộc sốngcủa mỗi con người bao gồm rất nhiều những mối quan hệ như vợ chồng,con cái, người thân nên khi rủi ro đến với một người nhất là người trụ cộttrong gia đình thì ngoài những mất mát về mặt tình cảm thì những khókhăn về mặt tài chính cũng đồng thời xuất hiện và gây ra rất nhiều khókhăn như nợ nần, ổn định tài chính cho người thân, chi phí cho giáo dụccon cái Do đó có một biện pháp đó là tích luỹ dần dần trong khi bản thâncòn tạo ra thu nhập để bù đắp cho những lúc rủi ro, hay không còn tạo rathu nhập nữa đó chính là tham gia bảo hiểm nhân thọ
Sự ra đời và phát triển của BHNT đã đóng góp một phần không nhỏvào sự phát triển cuả nền kinh tế trên thế giới Ngày nay tham gia BHNTtrở thành một nhu cầu tất yếu của người dân các nước phát triển cũng nhưcác nước đang phát triển BHNT giúp tăng tích luỹ cho ngân sách nhànước, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội như vấn đề thất nghiệp, vấn
đề giáo dục Hiện nay hầu hết các công ty lớn trên thế giới đều tham giaBHNT nhằm duy trì hoạt động của công ty, bù đắp phần thiệt hại do rủi rotrong trường hợp người chủ công ty phải ngừng làm việc do tử vong hoặcthương tật toàn bộ vĩnh viễn
BHNT với thời gian tồn tại từ khi ra đời cho đến nay, với thời gian tồntại hơn 400 năm đã chứng minh được sự tồn tại khách quan của mình Cuộcsống con người không có BHNT được ví như đi qua một chiếc cầu màkhông có thành cầu Mặc dù trong cuộc sống mỗi con người, đi qua cầukhông biết bao nhiêu lần và chẳng bao giờ đâm phải thành cầu nhưng
Trang 7không có thành cầu thì không ai có thể đảm bảo điều gì sẽ xảy ra khi đi quachiếc cầu đó.
Nói tóm lại, BHNT được xem như một hợp đồng qua đó, để đổi lấyphí bảo hiểm của người tham gia, nhà bảo hiểm cam kết sẽ trả cho ngườiđược hưởng quyền lợi bảo hiểm một khoản tiền ấn định (số tiền bảo hiểm)trong trường hợp người được bảo hiểm chết hoặc còn sống đến một thờiđiểm chỉ rõ trong hợp đồng Trong khi các loại hình bảo hiểm khác có mụcđích dơn giản là bồi thường cho các hậu quảt xấu của một sự cố (rủi ro, tổnthất ) bảo hiểm nhân thọ lại có thể có nhiều mục đích khác nhau như tíchlỹu tài chính, bởi vì có nhiều loại hình BHNT có tính chia lãi Ngoài raBHNT là một sản phẩm duy nhất có thể chi trả khi không có rủi ro xảy ra.Ngành BHNT đã thực sự cần thiết không thể thiếu được trong cuộcsống của con người ở các nước phát triển cũng như đang phát triển Xintrích dẫn lời của Quốc hội Anh vào năm 1825 để thay cho nhận xét về sựcần thiết của BHNT: “Để đối phó với những tai hoạ, phương án đơn giản
và ít tốn kém nhất là hãy đoàn kết lại, cùng nhau mỗi người góp một sốtiền Nếu tai hoạ xảy đến, mỗi người sẽ chịu thiệt hại chút ít Điều này cónghĩa là những người không chịu rủi ro, tuy không lấy lại được số tiền đãđóng góp, nhưng họ có được sự bình an trong tâm hồn Trong khi đó nhữngngười chịu rủi ro, sẽ nhận được sự đền bù từ số tiền đóng góp của nhữngngười may mắn hơn, và có thể tiếp tục cuộc sống mới mà lẽ ra họ đã mấttrắng vì tai hoạ bất ngờ”
Thứ nhất: BHNT góp phần ổn định tài chính cho người tham gia
hoặc người được hưởng quyền lợi bảo hiểm.
Nhắc đến BHNT là phải nhắc đến vai trò đầu tiên này, rủi ro là cái
Trang 8không thể lường trước trong cuộc sống mỗi con người, xã hội càng pháttriển càng có nhiều cơ hội nhưng cũng đồng nghĩa với có nhiều rủi ro đedoạ cuộc sống con người dẫn đến những bất ổn về tài chính cho cá nhân giađình cũng như xã hội Khi rủi ro chẳng may xảy ra, nếu tham gia BHNT thìbản thân hoặc người thân, gia đình của người tham gia sẽ được đảm bảo vềmặt tài chính bù đắp phần nào những tổn thất do rủi ro gây ra Còn khi rủi
ro không xảy ra, thông qua một số loại hình sản phẩm khác như bảo hiểmtrợ cấp hưu trí, bảo hiểm hỗn hợp người tham gia vẫn nhận được số tiềnbảo hiểm cùng với lãi để sử dụng cho nhu cầu ngày càng cao của conngười
Thứ hai: BHNT góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà
nước và tăng thêm quyền lợi cho người lao động.
Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, hàng năm ngân sách Nhà nước phảichi ra một lượng tiền khá lớn để chi trả cho các cá nhân, công ty gặp rủi rodưới hình thức trợ cấp (trợ cấp ốm dau trợ cấp mất việc làm ) Các khoảnchi này vừa làm thâm hụt ngân sách Nhà nước, đôi khi lại còn gây tâm lý ỷlại không cố gắng vì đã có người khác chịu trách nhiệm giúp mình đối với
cả cá nhân cũng như tổ chức Ngày nay khi BHNT ra đời, người tham gia
đã có thể tự bảo vệ cho mình, chủ động đối phó với các rủi ro đồng thời tạo
ra một khoản tiết kiệm (không may rủi ro xảy ra, bên cạnh các chế độ bảohiểm y tế, BHXH người lao động còn được hưởng quyền lợi từ BHNT nếu
họ tham gia) Bên cạnh đó, tham gia bảo hiểm hưu trí tụ nguyện người laođộng còn được hưởng khoản trợ cấp hưu trí, tụ lo được cho bản thân giảmgánh nặng cho gia đình cũng như xã hội
Thứ ba: BHNT là công cụ thu hút vốn đầu tư hữu hiệu.
Phí trong BHNT khá lớn, nhờ vào những đặc trưng cũng như quyền lợi tolớn khi tham gia BHNT mà ngày nay người ta ngày càng quan tâm đếnBHNT, từ đó mà lượng vốn được huy động từ dân chúng được tăng lên.Hơn nữa hoạt động BHNT mang tính dài hạn, do đó nguồn vốn BHNTcung cấp cho thị trường cũng là nguồn vốn dài hạn Nếu được đầu tư pháttriển các vùng kinh tế chiến lược, xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ rất phù hợp và
có hiệu quả Ở Đài Loan, năm 1987 chính phủ bắt đầu mở cửa cho các
Trang 9công ty nước ngoài vào hoạt động Từ đó đến nay các công ty BH này đãcung cấp vốn cho thị trường ĐàI Loan hàng năm từ 500 - 800 triệu USD Ở
Mỹ, năm 1970 số vốn các công ty BHNT cung cấp là 9 tỷ đôla, trong khi
đó cung cấp vốn qua hệ thống ngân hàng để đâud tư là 37 tỷ đôla Nhưngđến năm 1991 số vốn do các công ty BHNT đầu tư là 90,2 tỷ đôla, trongkhi đó hệ thống ngân hàng cung cấp đầu tư trong nước chỉ là 85,7 tỷ Năm
1998 ở châu Á có 5 công ty BHNT hàng đầu đều ở Nhật Bản Đây là 5công ty cỡ lớn tiềm lực tàI chính rất hùng mạnh và số vốn đầu tư hàng nămcho nền kinh tế chiếm tỷ trọng khá lớn
5 công ty BHNT hàng đầu Châu Á năm 1998
Tên công ty Tổng phí
bảo hiểm(tr.USD)
Lợi nhuận(tr.USD)
Tổng giá trịtài sản(tr.USD)
Tỷ lệ %lãi trêntài sản
2.002,01.409,71.036,5950.9492,5
324.814,8220.620,7182.500,0131.170,283.890,1
0,600,600,600,700,60
(Nguồn: Thông tin thị trường BH - TBH số 4/1998)
Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới “Công nghiệp hoá - hiện đại hoá” đấtnước để phục vụ cho sự phát triển kinh tế phải có một lượng vốn đầu tư rấtlớn Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của BHNT nên tuy mới ra đờiđược 5 năm nhưng Nhà nước ta đã liên tục có những chính sách để tạo điềukiện cho BHNT ngày một phát triển mà bước tiến quan trọng là sự chophép các công ty BHNT nước ngoài tham gia vào thị trường BHNT ViệtNam và sự ra đời của Luật Bảo hiểm ngày 7/12/2000 Đây là một trong cácbiện pháp của Nhà nước nhằm tạo ra các nguồn vốn dồi dào cho đầu tưphát triển Đất nước với chủ trương là chủ yếu dựa vào nguồn nội lực vàtranh thủ nguồn ngoại lực, chúng ta có quyền hy vọng thông qua BHNT cóthể trong thời gian tới dần dần sẽ thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong
Trang 10dân cư vì lượng tiền này được dự kiến sẽ lên tới hơn 10 tỷ (được dự trữdưới dạng ngoại tệ cũng như vàng) Ngoài ra, khi các công ty BHNT nướcngoài tham gia vào thị trường bảo hiểm Việt Nam nguồn vốn do họ đầu tưvào cũng sẽ rất lớn Trong năm 2001 doanh thu phí BHNT là 2500 tỷ đồngchiếm 0,55% GDP Do đặc điểm của BHNT là mang tính dài hạn, nguồnvốn huy động được có thể đem đầu tư trong một thời gian dài đây là đựoccoi là nguồn vốn tuyệt vời nhất cho các dự án kinh tế lớn.
Thứ tư: BHNT tạo ra một số lượng lớn công ăn việc làm cho người
ty BHNT Hà Nội, với số lượng cán bộ khai thác ở mỗi phòng lên đến trêndưới 50 người, riêng nội thành đã có 16 phòng khai thác, đa số đấy đều làcác cán bộ chuyên nghiệp chưa kể đến các đại lý bán chuyên nghiệp rải rác
ở từng quận huyện, ngoài ra BHNT còn có 60 công ty khác ở khắp cácquận huyện trong cả nước
Thứ năm: BHNT là biện pháp đầu tư hợp lý cho giáo dục và góp
phần tạo nên một tập quán, một phong cách sống mới.
Đối với những nước đang phát triển, đầu tư cho giáo dục là rất quantrọng và phải coi là nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên khi chi phí chogiáo dục ngày một tăng thì nguồn lực của các nước này lại rất hạn hẹp, bêncạnh các biện pháp hỗ trợ giáo dục như kêu gọi đóng góp, viện trợ của các
cơ quan trong vá ngoài nước, cho sinh viên vay vốn tín dụng đều mang tính
Trang 11nhất thời, không ổn định, tham gia bảo hiểm An sinh giáo dục là một biệnpháp hợp lý để đầu tư cho việc học hành của con em nhờ tiết kiệm thườngxuyên của gia đình Đây cũng là giải pháp góp phần xây dựng mục tiêucông bằng xã hội vì đầu tư cho tương lai con em mình không chỉ là tráchnhiệm của Xã hội mà còn là trách nhiệm của từng gia đình.
Ngoài ra, tham gia BHNT còn thể hiện một nếp sống đẹp thông quaviệc tạo cho mỗi người thói quen biết tiết kiệm, biết lo lắng cho tương laicủa người thân, đồng thời giáo dục con em mình cũng biết tiết kiệm vàsống có trách nhiệm đối với người khác
Tham gia BHNT vừa tạo quyền lợi cho chính mình vừa tạo quyền lợicho người thân đồng thời đóng góp vào sự phát triển của xã hội Con người
là nhân tố quyết định sự phát triển Do vậy, việc thực hiện chiến lược, chínhsách về con người là vô cùng quan trọng, thực hiện BHNT chính là thựchiện chiến lược phát triển toàn diện con người của Đảng và Nhà nước
Có thể nói, BHNT đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết một số vấn
đề xã hội như giáo dục, xoá đói giảm nghèo, giảm thất nghiệp bù đắp tổnthất, bất hạnh trong cuộc sống, góp phần giảm gánh nặng trách nhiệm xãhội đối với người lao động, người cao tuổi
2.2 Vị trí của BHNT trong lĩnh vực bảo hiểm.
2.2.1 BHNT là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất
Bảo hiểm thương mại trên thế giới đã có lịch sử phát triển hơn 400năm Bảo hiểm hoạt động trên nguyên tắc “số đông bù số ít” đó là sự chia
sẻ rủi ro giữa một số đông và một vài người trong số họ chẳng may gặpphải rủi ro Bảo hiểm ra đời là một biện pháp hữu hiệu để xử lý các rủi rotồn tại khách quan Tham gia bảo hiểm đang ngày càng trở thành một tácphong không thể thiếu được đối với các chủ doanh nghiệp, một thói quentốt trong dân chúng
Ban đầu bảo hiểm chỉ dừng lại ở một số hình thúc như bảo hiểm hoảhoạn, bảo hiểm hàng hải Đến nay, bảo hiểm đã phát triển rất mạnh mẽ vớinhững loại hình bảo hiểm hết sức phong phú và đa dạng Một trong các loạihình bảo hiểm ra đời khá lâu là BHNT với lịch sử phát triển 400 năm, nóđang ngày càng chứng tỏ vị thế của mình trong thị trường bảo hiểm nói
Trang 122.2.2 BHNT ngày càng lớn mạnh và trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trên thị trường BH.
Thực tế cho thấy tốc độ phát triển của nghiệp vụ BHNT trên thế giớikhông ngừng tăng và chiếm tỉ lệ lớn doanh thu trong tổng doanh thu củacác nghiệp vụ BH Tuy nhiên tốc độ phát triển của BHNT rất không đồngđều Nếu như ở châu Mỹ Latinh phí BH từ hoạt động kinh doanh BHNT rấtthấp, chỉ chiếm khoảng 21,4% thì ở châu Âu phí BHNT đạt tỉ lệ cân đốitrong khoảng từ 41,8% - 49,3% còn tỉ lệ phí BHNT ở châu Đại đươngchiếm 52,3% trong toàn bộ doanh thu phí nghiệp vụ bảo hiểm Trên thếgiới, BHNT là loại hình phát triển nhất, năm 1985 doanh thu phí BHNTmới chỉ đạt 630,5 tỷ đôla, năm 1989 đã lên tới 1.210,2 tỷ và năm 1993 con
số này là 1647 tỷ, chiếm gần 48% tổng phí bảo hiểm Hiện nay có 5 thịtrường BHNT lớn nhất thế giới là: Mỹ, Nhật Bản, CHLB Đức, Anh vàPháp Theo số liệu thống kê năm 1993, phí BHNT của 5 thị trường nàyđược thể hiện như sau:
Cơ cấu phí BHNT của 5 thị trường lớn nhất thế giới năm 1993
Tên nước Tổng doanh thu
phí bảo hiểm(triệu USD)
Cơ cấu phí bảohiểm nhân thọ(%)
Cơ cấu phí bảohiểm phi nhânthọ (%)
41,4473,8639,3864,5756,55
58,5626,1460,6235,4343,65
(Nguồn: Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, tháng 8 /1996)
Tóm lại, dù đứng trên giác độ khách quan hay chủ quan chúng tacũng phải thừa nhận rằng BHNT vẫn ngày càng phát triển và khẳng định vịtrí quan trọng của mình trong thị trường BH nói riêng và trong nền kinh tếcủa các quốc gia, nền kinh tế thế giới nói chung
II NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ.
Trang 131 Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính rủi ro vừa mang tính tiết kiệm.
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với
BH phi nhân thọ, tham gia BHNT người mua có trách nhiệm nộp phí BHcho người BH theo định kỳ đồng thời người bảo hiểm cũng có trách nhiệmtrả một số tiền lớn (số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểmnhư đã thoả thuận khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Số tiền bảo hiểm nàytrả khi người được bảo hiểm sống đến một độ tuổi nhất định, hoặc chongười thừa hưởng khi người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn đượcbảo hiểm Số tiền này không thể bù đắp về mặt tình cảm nhưng bù đắpphần nào những tổn thất về mặt tài chính
Tính tiết kiệm trong bảo hiểm thể hiện ở ngay trong từng cá nhân,gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật Tiết kiệm bằngcách mua bảo hiểm khác với các loại hình tiết kiệm khác ở chỗ, người bảohiểm không những tích luỹ về mặt tài chính mà còn mang tính bảo vệ chobản thân, khi có rủi ro xảy ra cho bản thân thì vẫn được đảm bảo về mặt tạichính, dó chính là đặc điểm cơ bản của BHNT mà các loại hình tiết kiệmkhác không có dược Điều này giải thích tại sao nói bảo hiểm vừa mangtính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ
2 BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm.
Khác với nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được mộtmục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia BH gặprủi ro, BHNT do vừa mang tính bảo vệ vừa mang tính tiết kiệm đã đáp ứngđược nhiều mục đích khác nhau của con người, mỗi mục đích được thểhiện khá rõ trong từng sản phẩm bảo hiểm Chẳng hạn như Bảo hiểm Anhưỏng hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người được bảo hiểm là có mộtkhoản tiền góp phần ổn định cuộc sống khi họ về hưu, bảo hiểm An giathịnh vượng đáp ứng yêu cầu của người tham gia là có được một khoản tiềnlớn sau một thời gian ấn định trước Ngoài ra, hợp đồng BHNT đôi khicòn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn khi người tham gia bảohiểm gặp những khó khăn về mặt tài chính, thủ tục cho vay được công tybảo hiểm giải quyết rất nhanh gọn không như đi vay vốn ngân hàng hơn
Trang 14nữa số tiền cho vay này có thể trả hay không trả lại cho công ty BH (tấtnhiên số tiền cho vay được giới hạn theo quy định trong hợp đồng bảohiểm).
Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau mà BHNT đang cóthị trường ngày càng rộng rãi và được nhiều người quan tâm
3 Các hợp đồng trong BHNT rất đa dạng
Tính đa dạng của các hợp đồng BHNT xuất phát từ mục đích củangười tham gia và từ các sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm Mỗisản phẩm của công ty thiết kế ra là để phù hợp với từng đối tượng tham giakhác nhau, cho nên bất cứ ai cũng có thể tham gia bảo hiểm và có được sảnphẩm phù hợp với mục đích của bản thân khi tham gia bảo hiểm
4 Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp.
Để đưa được sản phẩm BHNT đến với người tiêu dùng, người BH đãphải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo ra sản phẩm bao gồm: chi phí khai thác,chi phí quản lý hợp đồng Tuy nhiên những chi phí đó mới chỉ là một phần
để cấu tạo nên phí BHNT, còn phần chủ yếu là phụ thuộc vào:
+ Độ tuổi của người tham gia bảo hiểm
+ Tuổi thọ bình quân của con người
+ Số tiền bảo hiểm
+ Thời hạn tham gia bảo hiểm
+ Phương thức thanh toán
+ Lãi suất đầu tư
+ Tỉ lệ lạm phát, thiểu phát của đồng tiền
Đối với sản phẩm BHNT, để định giá phí BHNT thì phải dựa trêntừng vùng địa lý, từng quốc gia, từng chế độ xã hội, tình hình kinh tế chínhtrị của mỗi nước khác nhau là khác nhau Hơn nữa còn phải nắm vững đặctrưng cơ bản của từng loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích chiềuhướng phát triển chung của mỗi loại sản phẩm trên thị trường
5 BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định.
Trang 15Trên thế giới, BHNT đã ra đời hàng trăm năm nay nhưng cũng có nhữngquốc gia chưa triển khai được BHNT mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò vàlợi ích của nó Nguyên nhân của hiện tượng này được các nhà kinh tế giảithích rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là phải có nhữngđiều kiện kinh tế xã hội nhất định:
- Những điều kiện kinh tế
+ Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) phải đạt đếnmột mức độ nhất định, thể hiện sự phát triển của nền kinh tế đất nước.+ Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân đầu người phải đạt mức trungbình trở lên
+ Mức thu nhập của dân cư phải phát triển đến một mức độ nhất định đểkhông những đảm bảo nhu cầu tối thiểu của con người mà còn đáp ứngđược những nhu cầu cao hơn
+ Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền phải tương đối ổn định
+ Tỷ giá hối đoái phải ổn định ở mức hợp lý thì người dân mới tin tưởng
mà đầu tư vào BHNT
- Những điều kiện xã hội bao gồm:
Tình hình xã hội tương đối ổn định, không xảy ra nội chiến, bạo động Một
xã hội phát triển ổn định thì người dân mới tin tưởng đầu tư cho những kếhoạch trung và dài hạn
Ngoài ra, môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự rađời và phát triển của BHNT Ở Việt Nam trong thời gian gần đây, khi tìnhhình đất nước ngày càng phát triển thì luật pháp cũng được sửa đổi sao chophù hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành phát triển đặc biệt lànhững ngành mới như bảo hiểm
III LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ.
1 Trên thế giới
Hợp đồng BHNT đầu tiên ra đời năm 1583 ở Luân đôn - Thủ đô nướcAnh, người được bảo hiểm là William Gybbon Như vậy, BHNT có phôi thai
từ rất sớm, nhưng lại không có điều kiện phát triển ở một số nước do thiếu cơ
sở kỹ thuật ngẫu nhiên, nó giống như một trò chơi nên bị nhà thờ giáo hội lên
Trang 16án với lý do lạm dụng cuộc sống con người, nên BHNT phải tồn tại dướinhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên sau đó do sự phát triển kinh tế mạnh
mẽ, cuộc sống của con người được cải thiện rõ rệt, thêm vào đó là sự pháttriển không ngừng của khoa học kỹ thuật nên bảo hiểm đã có điều kiện pháttriển trên phạm vi rộng lớn Công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Philadenphia(Mỹ) Công ty đó đến nay vẫn còn hoạt động nhưng ban đầu nó chỉ bán bảohiểm cho các con chiên ở nhà thờ của mình Năm 1762, công ty BHNTEquitable ở Anh được thành lập và bán BHNT cho mọi người dân
Ở Châu Á, công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Nhật Bản Năm 1868 công tybảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác làKyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến nay
2 Tại Việt Nam
Ở nước ta, Công ty Bảo hiểm Việt Nam trước đây và Tổng công ty BảoHiểm Việt Nam hiện nay (gọi tắt là Baoviet) là doanh nghiệp Bảo hiểm đầutiên của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Baoviet đã ra đời ngày17/12/1964 và bắt đầu hoạt động chính thức từ ngày 15/01/1965 Kể từ đócho tới trước năm 1993, ở nước ta chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm làTổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Baoviet) trực thuộc Bộ Tài chính Trongnhững năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới
về kinh tế, từng bước đưa nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sangnền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo ra tiền đề cần thiết
để chuyển sang thời kỳ phát triển kinh tế mới, đẩy mạnh công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ : “Khuyến khích pháttriển, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh bảo hiểm cuả các thành phần kinh
tế và mở cửa hợp tác với nước ngoài ” Đường lối đổi mới kinh tế, xâydựng nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thi trường với định hướng
xã hội chủ nghĩa đã thể hiện trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại, cụ thể làngày 18/12/1993 Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ban hànhnghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm Đây là văn bản pháp lý chuyênngành đầu tiên đặt nền móng cho pháp luật về bảo hiểm trong điều kiện
Trang 17kinh tế thị trường Nghị định này là bước ngoặt quan trọng tuyên bố chấmdứt sự độc quyền Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam Theonghị định này các doanh nghiệp bảo hiểm có thể là doanh nghiệp nhà nước,doanh nghiệp cổ phần, Hội bảo hiểm tương hỗ, công ty liên doanh với nướcngoài, chi nhánh hay công ty 100% vốn nước ngoài Và có thể nói đây làthời kỳ bắt đầu của việc “tự do hoá” và mở cửa thị trường Việt Nam.
Với nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của BHNT, trongnhững năm qua Chính phủ và Bộ Tài chính rất quan tâm phát triển nghiệp
vụ Bảo hiểm Với sự ra đời của công ty BHNT chính thức đầu tiên ở ViệtNam năm 1996 đã khẳng định rõ sự quan tâm của các cơ quan Nhà nướctầm vĩ mô Mặc dù chúng ta mới tiến hành nghiệp vụ BHNT hơn 5 năm,nhưng những gì BVNT Việt Nam đạt được trong thời gian đó rất đáng ghinhận Tạo nên cho người dân Việt Nam một phong tục sống mới, một hìnhthức tiết kiệm mới
Năm 1999 với sự tham gia của một số công ty BHNT có vốn nướcngoài thị trường BHNT Việt Nam đã trở nên sôi động hơn và phong phúhơn Giúp cho người dân có thể lựa chọn cho mình sản phẩm bảo hiểm phùhợp nhất Cho đến nay thì đã có 5 công ty BHNT hoạt động trên thị trườngbảo hiểm Việt Nam đó là:
- Bảo Việt là công ty BHNT duy nhất ở Việt Nam có 100% vốn trongnước, đồng thời có số vốn kinh doanh và thời gian hoạt động lâunhất: vốn kinh doanh là 55 triệu USD, phát hành hợp đồng đầu tiênngày 01/8/1996, thời gian hoạt động là không kỳ hạn
- Manulife là công ty 100% vốn nước ngoài của Canada khai trươnghoạt động 12/6/1999, vốn đăng ký kinh doanh là 10 triệu USD, thờigian hoạt động 50 năm
- Prudential là công ty 100% vốn nước ngoài của Anh quốc đây làcông ty BHNT đầu tư vào Việt Nam có số vốn lớn sau Bảo Việt 40triệu USD, khai trương hoạt động ngày 29/10/1999 và có thời gianhoạt động là 50 năm
Trang 18- Bảo Minh - CMG liên doanh giữa tập đoàn CMG (Australia) vàCông ty bảo hiểm TP Hồ Chí Minh (Bảo Minh) khai trương hoạtđộng ngày 12/10/1999, vốn đăng ký kinh doanh 6 triệu USD, thờigian hoạt động 30 năm.
- AIA công ty Bảo hiểm 100% vốn nước ngoài của Mỹ khai trươnghoạt động 22/2/2000, vốn đăng ký kinh doanh 10 triệu USD, thờigian hoạt động là 50 năm
Cho đến 1/4/2001 Luật kinh doanh bảo hiểm chính thức phát huy hiệu lựctạo ra hành lang pháp lý đồng thời góp phần khẳng định vị trí của ngànhkinh doanh bảo hiểm trong xã hội Việt Nam
IV CÁC LOẠI HÌNH BHNT
Như trên đã nêu, BHNT là loại hình bảo hiểm mang ý nghĩa kinh tế
-xã hội sâu sắc Trong đó, người tham gia bảo hiểm sẽ định kì đóng nhữngkhoản phí trong một thời gian thoả thuận trước vào một quỹ lớn do công tybảo hiểm quản lí và công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một khoản tiềnnhư đã thoả thuận trong hợp đồng khi kết thúc thời hạn bảo hiểm hoặc khi
có sự kiện rủi ro xảy ra cho người được bảo hiểm Do đó BHNT được hiểunhư một sự đảm bảo, một hình thức tiết kiệm và mang tính chất tương hỗ.BHNT trên một phương diện nào đó còn mang tính chất bổ sung cho bảohiểm xã hội (BHXH) khi đời sống của nhân dân đưọc nâng cao mà chế độbảo hiểm xã hội (BHXH) chưa đáp ứng hết được
BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của con ngườituỳ theo mục đích của người tham gia là gì Trong thực tế để phân loại bảohiểm người ta chia ra các hình thức cơ bản sau:
1 Phân loại theo rủi ro bảo hiểm
Có 3 loại hình BHNT cơ bản, sản phẩm của các công ty bảo hiểm đều xuấtphát từ 3 loại này
1.1 Bảo hiểm trong trường hợp tử vong.
Trang 19Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và được chia làm 2nhóm:
1.1.1Bảo hiểm tử kỳ
Còn gọi là BH tạm thời hay BH sinh mạng có thời hạn Đây là loạihình BH được kỳ kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thời gian đã quyđịnh của hợp đồng Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì ngườiđược BH không nhận được bất kỳ một khoản tiền nào Điều đó cũng cónghĩa là người BH không phải thanh toán số tiền BH cho người được BH.Ngựoc lại, nếu có cái chết xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng,người BH có trách nhiệm thanh toán số tiền BH cho người thụ hưởngquyền lợi BH được chỉ định Loại hình BH này được đa dạng hoá thànhnhiều loại hình như:
+Bảo hiểm tử kỳ cố định
+ Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục
+ Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi
+ Bảo hiểm tử kỳ giảm dần
+ Bảo hiểm tử kỳ tăng dần
+ Bảo hiểm thu nhập gia đình
+ Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên
+ Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện
Nội dung của các nghiệp vụ này có đặc điểm
- Thời hạn BH xác định
- Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời
- Mức phí BH tương đối thấp ví không phải lập nên quỹ tiết kiệm chongười được BH
Mục đích
- Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất
- Bảo trợ cho gia đình và gnười thân trong một thời gian ngắn
- Thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế chấp củangười được BH
1.1.2 Bảo hiểm nhân thọ trọn đời
Hay còn gọi là Bảo hiểm trường sinh
Trang 20Bảo hiểm trọn đời là loại hình BHNT mà thời gian bảo hiểm khôngxác định và số tiền bảo hiểm được chi trả cho người thừa kế khi ngườiđược bảo hiểm chết Ngoài ra trong một số trường hợp, loại hình bảo hiểmnày còn đảm bảo chi trả cho người được bảo hiểm ngay khi họ sống đến 99tuổi (như Prudential) Loại hình này thường có các loại hợp đồng sau:
+ Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phi lợi nhuận
+ BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhận
- Đảm bảo thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình
- Giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau
1.2 Bảo hiểm trong trường hợp sống (sinh kỳ)
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chitrả những khoản tiền đều đặn trong một khoản thời gian xác định hoặctrong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm Nếu người được bảo hiểmchết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ mộtkhoản tiền nào
Trang 21Mục đích:
- Đảm bảo thu nhập cố định khi về hưu hay khi tuổi cao sức yếu
- Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khituổi già
- Bảo trợ mức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời
1.3 BHNT hỗn hợp.
BHNT hỗn hợp là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, số tiền bảohiểm sẽ được trả khi người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến đáo hạnhợp đồng và thời hạn bảo hiểm được xác định trước Trong loại hình này,bảo tức trả khi đáo hạn hợp đồng và phụ thuộc vào hiệu quả mang lại dođầu tư phí bảo hiểm mà người được bảo hiểm chọn
Tuỳ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính khác nhau của bảnthân, mỗi người đều có thể lựa chọn cho mình một sản phẩm BHNT saocho phù hợp với mục đích của mình Trong BHNT hỗn hợp này yếu tố rủi
ro và tiết kiệm đan xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãi hầu hết ở cácnước trên thế giới
Đặc điểm:
- STBH được trả khi: Hết hạn hợp đồng hoặc người được BH bị tửvong trong thời hạn bảo hiểm
- Thời hạn bảo hiểm xác định (thường là 5 năm, 10 năm, 20 năm )
- Phí BH thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạnbảo hiểm
- Có thể được chia lãi thông qua đầu tư phí bảo hiểm và cũng có thểđược hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia
Mục đích:
- Đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và người thân
- Tạo lập quỹ giáo dục, hưu trí, trả nợ
Khi triển khai BHNT hỗn hợp, các công ty bảo hiểm có thể đa dạng hóaloại sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau, hợp đồng philợi nhuận, có lợi nhuận và các hợp đồng khác tuỳ theo tình hình thực tế
Trang 222 Phân loại theo phương thức tham gia bảo hiểm
2.1 Bảo hiểm cá nhân
Là loại bảo hiểm con người thực hiện dưới hình thức người tham giabảo hiểm là cá nhân Thông thường loại bảo hiểm tự nguyện đều do cánhân tham gia bảo hiểm Trong BHNT con người tham gia thường là bảohiểm cá nhân, tức là trong hợp đồng bảo hiểm chỉ có một người được bảohiểm tối đa là hai người (như những những hợp đồng đặc biệt như An sinhgiáo dục thì người tham gia cũng được bảo hiểm) Bởi lẽ do đặc trưng củaBHNT là dành cho những kế hoạch trung và dài hạn cho nên phù hợp với
cá nhân hơn là cho tập thể
2.2 Bảo hiểm nhóm
Là loại bảo hiểm con người theo hình thức tập thể có kèm theo danhsách cá nhân được bảo hiểm Thí dụ tập thể cán bộ, công nhân viên của mộtdoanh nghiệp đều được mua bảo hiểm con người có kèm theo danh sáchcác cá nhân được bảo hiểm rủi ro chết hoặc bảo hiểm tai nạn bất ngờ nhằmđảm bảo an toàn cho cuộc sống của người lao động Loại hình này có mốiquan hệ giữa người tham gia bảo hiểm và người được bảo hiểm là giữangười sử dụng lao động và người lao động nhưng phải được sự đồng ý củangười lao động Đó là các loại hình bảo hiểm nhân thọ tử kỳ nhóm với thờigian 5 hoặc 8 năm
3 Loại hình bảo hiểm dành cho trẻ em
Trên thế giới có rất nhiều công ty bảo hiểm, và mỗi công ty đều triển khaisản phẩm do bản thân công ty đưa ra, do đó hiện nay trên thế giới có gần
400 loại hình bảo hiểm được chia làm 2 nhóm: đó là nhóm có tham gia chialãi và nhóm không tham gia chia lãi
Nhóm có tham gia chia lãi là loại hình BHNT trong đó người thamgia vừa được bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra, vừa được tham gia chia lãi khitham gia bảo hiểm Còn nhóm không tham gia chia lãi là loại hình BHNT
mà chỉ khi có rủi ro xảy ra thì sẽ nhận được số tiền bảo hiểm còn khi rủi rokhông xảy ra thì người tham gia sẽ không nhận được gì khi đáo hạn hợpđồng Vì trong nhóm bảo hiểm có tham gia chia lãi bao gồm cả hai ý nghĩa
Trang 23đó là tiết kiệm và bảo vệ nó được gọi là BHNT hỗn hợp Vì mức phí bảohiểm phụ thuộc rất nhiều vào độ tuổi, giới tính, môi trường xung quanh chonên mỗi quốc qia lại có một cách tính phí bảo hiểm riêng, kể cả là cùng 1sản phẩm của 1 công ty nhưng triển khai ở các nước khác nhau thì mức phí,quyền lợi bảo hiểm, điều kiện tham gia cũng khác nhau Bởi thế cho nên đa
số mọi người đều có thể tham gia bảo hiểm và tìm được sản phẩm phù hợpcho mình Loại hình bảo hiểm nhân thọ dành cho trẻ em thuộc nhóm bảohiểm nhân thọ hỗn hợp, do mục đích tham gia của các bậc cha mẹ là muốntiết kiệm một khoản dành riêng cho con cái trong kế hoạch dài hạn, để cáckhoản chi tiêu tài chính gia đình không ảnh hưởng đến nhau hơn nữa trẻ emkhi tham gia bảo hiểm khả năng rủi ro ít hơn người lớn cho nên khi thamgia bảo hiểm cho trẻ em là nhằm mục đích tiết kiệm, vì thế loại hình bảohiểm dành cho trẻ em thuộc nhóm bảo hiểm nhân thọ là rất phù hợp đápứng được mục đích của người tham gia bảo hiểm
4 Bảo hiểm cho trẻ em trên thế giới
Trên thế giới bảo hiểm cho trẻ em xuất phát từ những nhu cầu thực tế
là cha mẹ muốn đảm bảo cho con cái về mặt tài chính khi có rủi ro xảy ravới bản thân họ Việc thanh toán học phí có thể thực hiện trong khi bố mẹđang có thu nhập đủ để trả cho các chi phí này Khó khăn phát sinh nếukhoản thu nhập chính bị đánh mất hoặc bị giảm do cha hoặc mẹ bị thươngtật toàn bộ vĩnh viễn hoặc chết Có nhiều cách để cha mẹ có thể đảm bảothanh toán học phí ngay cảc trong trường hợp họ chết sớm Bảo hiểm nhânthọ hỗn hợp có thể thu xếp được điều đó, số tiền bảo hiểm được thanh toánnhiều lần hoặc một lần Đơn bảo hiểm dựa trên sinh mạng của cha mẹ chứkhông được ký do khả năng tự bảo vệ của trẻ em là rất ít
Tuy được ký do cha mẹ nhưng cha mẹ không có quyền lợi bảo hiểmđối với sinh mạng con cái họ Bất cứ bảo hiểm nhân thọ nào vì lợi ích trẻ
em đều hoàn phí trong trường hợp chết sớm xảy ra Bảo hiểm của trẻ emthường được ký kết đựa vào cuộc sống của bố mẹ chúng và cho phép đứatrẻ lựa chọn khi đứa trẻ đạt độ tuổi xác định trước (ví dụ ở tuổi 18)
Trang 24Nếu cha mẹ chết trước khi con cái đến tuổi trưởng thành, hợp đồngbảo hiểm vẫn tiếp tục mà không phải đóng thêm phí cho đến ngày hợpđồng đáo hạn Vào ngày kỷ niệm hợp đồng trước ngày sinh nhật lần thứ 18
sẽ có nhiều sự lựa chọn khác nhau cho đứa trẻ Những sự lựa chọn này baogồm việc thanh toán ngay toàn bộ số tiền hoặc đơn bảo hiểm tiếp tục cóhiệu lực trên cơ sở bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp Không cần bằng chứng vềsức khoẻ Nếu đứa trẻ là nữ thì có quyền lựa chọn việc chuyển hợp đồngcho người chồng trước khi kết hôn
Trang 25Ngày đầu hoạt động, Bảo Việt có trụ sở chính ở số 11 phố LýThường Kiệt - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng.Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất nhậpkhẩu và xét bồi thường cho các công ty bảo hiểm nước ngoài về bảo hiểmhàng hoá xuất nhập khẩu.
Năm 1975, sau ngày thống nhất đất nước, Bảo Việt tiếp quản cơ sởvật chất của một số công ty bảo hiểm thuộc chế độ cũ qua việc sáp nhậpvới công ty bảo hiểm và Tái bảo hiểm miền Nam Việt Nam, bắt đầu mởrộng hoạt động ở một số các tỉnh phía Nam
Năm 1980, Bảo Việt chính thức có mạng lưới cung cấp dịch vụ trênkhắp cả nước Đây cũng chính là thời kỳ Bảo Việt bắt đầu cung cấp dịch vụbảo hiểm hành khách và bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho chủ xe cơ giớiphục vụ cho việc đi lại của đông đảo quần chúng nhân dân
Năm 1982, Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm cây lúa lần 1, bướcđầu mở rộng và phát triển bảo hiểm Nông nghiệp ở Việt Nam
Trang 26Năm 1989, theo quyết định của Bộ Tài Chính công ty Bảo hiểm ViệtNam được chuyển đổi thành Tổng công ty BHVN Từ đây, Bảo Việt triểnkhai hàng loạt cải tiến về hệ thống, tổ chức con người và liên tục đưa ra cácsản phẩm dịch vụ bảo hiểm mới.
Năm 1992, thành lập công ty đại lý tại Anh quốc BAVINA(UK).LTD
Từ năm 1993, Bảo Việt chú trọng cải tiến công tác đầu tư tài chính.Một loạt các biện pháp mang tính chiều sâu được thực hiện nhằm đảm bảolựa chọn được các dự án đầu tư thích hợp, an toàn cho nguồn vốn và manglại hiệu quả kinh tế cao Bảo Việt đã thu hút được nhiều thắng lợi quantrọng từ lĩnh vực đầu tư tài chính, dặc biệt là là những kết quả đạt đượctrong các năm 96, 97, 98, 99 (gần 100 tỷ đồng/ năm)
Năm 1996, được sự uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ tìa chính
ra quyết định thành lập lại Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam Bảo Việtđược Nhà nước xếp loại “Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt”, trở thànhmột trong 25 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, đánh dấu một mốc pháttriển quan trọng của Bảo Việt
Ngoài ra cũng trong năm 1996 Bảo Việt còn một bước tiến nữa tronghoạt động kinh doanh với việc đưa ra thị trường dịch vụ Bảo hiểm Nhânthọ Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội trực thuộc Bảo Việt đã ra đời theoquyết định số 568/TC/QĐ/TCCB ngày 22/06/1996 của Bộ trưởng Bộ TàiChính Đây là đơn vị đầu tiên triển khai BHNT ở Việt Nam, là dịch vụBHNT đáp ứng được nhu cầu của các tầng lớp dân cư Đây là dịch vụ bảohiểm thiết yếu liên quan đến mọi tầng lớp xã hội đồng thời tạo nguồn tàichính lớn đầu tư trở lại cho nền kinh tế đất nước
Năm 1999, sự ra đời của công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt-Công ty chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam đã thể hiện sự lớn mạnh tronghoạt động kinh doanh tài chính tổng hợp của Bảo Việt Đây là một phầnchính sách Bảo Việt luôn quan tâm đến phát triển quan hệ hợp tác kinhdoanh, đầu tư tài chính với phương châm “Mọi cơ hội đầu tư Bảo Việt đềuquan tâm”
Trang 27Đầu năm 2000 trên cả nước đã có thêm 27 công ty BHNT đượcthành lập, thực hiện tổ chức hoạt động hai hệ thống kinh doanh bảo hiểmriêng biệt.
Với 124 đơn vị thành viên, trong đó gồm 61 Công ty bảo hiểm nhânthọ, 61 Công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 1 trung tâm đào tạo, 1 công ty đại
lý ở Anh quốc, 1 công ty cổ phần chứng khoán Bảo việt và gần 1000 phòngbảo hiểm khu vực, Bảo Việt có mạng lưới hoạt động ở tất cả các tỉnh thànhtrong cả nước Bảo Việt là công ty có số vốn mạnh nhất trong các công tybảo hiểm hoạt động tại Việt Nam
Công ty Bảo Việt nhân thọ Hà Nội là một trong 61 công ty BHNTđược phân bố rộng rãi trong cả nước ra đời theo quyết định số568/TC/QĐ/TCCB ngày 22/6/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính Là đơn vịđầu tiên triển khai bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam qua 6 năm hoạt động, với
sự giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình của các cơ quan đơn vị và các tầng lớpnhân dân Thủ đô, Bảo Việt nhân thọ Hà Nội đã có những bước phát triểnmạnh mẽ và toàn diện, gặt hái được nhiều thành công đáng kể Bảo Việtnhân thọ Hà Nội có trụ sở chính tại toà nhà 94 Bà Triệu - quận Hai BàTrưng - Hà Nội
Cơ cấu tổ chức của công ty Bảo Việt Nhân thọ Hà Nội bao gồm Bangiám đốc và 7 phòng chức năng: Phát hành hợp đồng, Quản lý hợp đồng vàdịch vụ khách hàng, Quản lý đại lý, Tài chính kế toán, Tổng hợp,Marketing, Phòng tin học Công ty có 18 phòng khai thác, mỗi phòng khaithác có số lượng lên tới trên dưới 50 người, ngoài ra thì các đaiu lý bánchuyên nghiệp được công ty tuyển rrát nhiều thông qua các đợt tuyển chọnliên tục do công ty mở
Chức năng nhiệm vụ của các phòng thuộc BVNT Hà Nội
Phòng tổng hợp
- Công tác tổng hợp
- Công tác tổ chức cán bộ, dào tạo cán bộ, lao động tiến lương
- Công tác quản trị, hành chính - văn thư
- Công tác pháp chế doanh nghiệp
Trang 28- Công tác thi đua chung
Phòng Tài chính - Kế toán
- Công tác kế toán
- Công tác thống kê - kế hoạch
Phòng quản lý đại lý
- Nghiên cứu, thực hiện tổ chức hệ thống đại lý, cộng tác viên
- Quản lý nhân sự đại lý
- Quản lý tình trạng hiệu lực của hợp đồng
- Giải quyết yêu cầu của khách hàng liên quan đến số tiền bảo hiểm
- Công tác thăm hỏi tặng quà cho khách hàng
Phòng Marketing
- Hỗ trợ đại lý
- Công tác Marketing
Tổ tin học
- Quản lý hệ thống tin học của công ty
2 Các Sản phẩm hiện hành của Bảo Việt nhân thọ.
2.1 Bảo hiểm An khang thịnh vượng (BV – NA8/2001)
Người được bảo hiểm: từ 14 đến 60 tuổi
Người tham gia bảo hiểm:
- Người từ 18 tuổi trở lên
- Là cá nhân hay tổ chức
- Người được bảo hiểm từ 14 – 17 tuổi: Người tham gia bảo hiểm cóthể là Bố, mẹ, người đỡ đầu hoặc giám hộ hợp pháp của Người đượcbảo hiểm
Trang 29Thời hạn bảo hiểm : 10 năm
Phạm vi bảo hiểm:
- Sống đến hết thời hạn bảo hiểm
- Chết do mọi nguyên nhân
- Thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn
Quyền lợi bảo hiểm
- Người được bảo hiểm sống đến hết thời hạn hợp đồng thì được trả sốtiền bảo hiểm
- Người được bảo hiểm chết trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng: nếunguyên nhân chết nằm trong phạm vi bảo hiểm thì sẽ được chi trả sốtiền bảo hiểm
- Bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn: được trả số tiền bảo hiểm và miễnphí cho đến hết hạn hợp đồng mà vẫn được hưởng đầy đủ các quyềnlợi bảo hiểm
2.2 Bảo hiểm An gia Thịnh vượng
BV - NA10/2001, BV - NA11/2001, BV - NA12/2001, BV - NA13/2001
Người được bảo hiểm: từ 1 đến 60 tuổi, không quá 70 khi thời hạn bảo
hiểm kết thúc
Người tham gia bảo hiểm:
- Người từ 18 tuổi trở lên
- Là cá nhân hay tổ chức
- Người được bảo hiểm từ 14 - 17 tuổi: Người tham gia bảo hiểm cóthể là bố mẹ, người đỡ đầu hoặc bảo hộ hợp pháp của Người đướcbảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm: 5 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm
Phạm vi bảo hiểm:
- Sống đến hết thời hạn bảo hiểm
- Chết do mọi nguyên nhân
- Thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn
Quyền lợi bảo hiểm:
Trang 30- Vào ngày đáo niên kể từ năm thứ hai trở đi cho đến trước ngày hợpđồng đáo hạn số tiền bảo hiểm được tính tăng 5% trên số tiền bảohiểm gốc.
- Người được bảo hiểm sống đến đáo hạn hợp đồng: trả số tiền bảohiểm đã điều chỉnh
- Người được bảo hiểm chết trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng: nếunguyên nhân chết thuộc phạm vi bảo hiểm thì sẽ được chi trả toàn bộ
số tiền bảo hiểm tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm
- Thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn: được trả số tiền bảo hiểm
đã điều chỉnh tại thời điểm xảy ra tai nạn và hợp đồng được duy trìmiểm phí cho đến hết hạn hợp đồng mà vẫn duy trì đầy đủ các quyềnlợi bảo hiểm
2.3 Bảo hiểm An sinh giáo dục
BV- NA9/2001
Người được bảo hiểm: trẻ em từ 1 - 13 tuổi
Người tham gia bảo hiểm: là người từ 18 đến 60 tuổi, là cha, mẹ, ông bà,
anh chị, cô dì chú bác (Phải được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám
hộ bằng văn bản) người đỡ đầu hoặc giám hộ hợp pháp
Thời hạn bảo hiểm: phụ thuôc vào tuổi của người được bảo hiểm
Quyền lợi bảo hiểm:
- Đối với người được bảo hiểm: trẻ em sống đến 18 tuổi trả toàn bộ sốtiền bảo hiểm, trẻ em bị chết trước ngày đáo hạn hợp đồng trả 100%
số phí đã nộp, tre em bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn trảtrợ cấp mỗi năm 25% số tiền bảo hiểm cho đến hết hạn hợp đồng vàdừng thu phí kỳ tiếp theo ngay sau khi xảy ra tai nạn
Trang 31- Đối với người tham gia bảo hiểm: chết trong phạm vi được bảohiểm hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn thì hợp đồng sẽ được duy trìmiễn phí với đầy đủ các quyền lợi bảo hiểm.
2.4 Bảo hiểm An khang trường thọ
BV- NC2/2001
Người được bảo hiểm: từ 18 đến 65 tuổi
Người tham gia bảo hiểm: từ 18 đến 60 tuổi
Thời hạn bảo hiểm: không xác định trước, chỉ chấm dứt hiệu lực khi
NĐBH chêt hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn
Phạm vi bảo hiểm gồm các sự kiên xảy ra đối với NGBH: chết do mọi
nguyên nhân và TTTBVV do tai nạn
Quyền lợi bảo hiểm:
- Trường hợp NĐBH chết sẽ được chi trả theo những điều khoản đãquy định trong hợp đồng
- Trường hợp NĐBH bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn: đượcchi trả STBH và hợp đồng chấm dứt hiệu lực
2.5 Bảo hiểm An hưởng hưu trí
BV - ND2/2001
Người được bảo hiểm: từ 18 đến 65 tuổi
Người tham gia bảo hiểm: từ 18 đến 60 tuổi, có đầy đủ quyền lợi có thể
được bảo hiểm đối với NĐBH
Thời hạn bảo hiểm: không xác định trước, hợp đồng chỉ chấm dứt khi
NĐBH chết
Phạm vi bảo hiểm:
- Sống đến độ tuổi thoả thuận
- Thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn
- Chết do mọi nguyên nhân
Quyền lợi bảo hiểm:
- Trường hợp sống đến ngày bắt đầu nhận niên kim: trả niên kim hàngnăm vào ngày đáo niên
Trang 32- Trường hợp NĐBH bị TTTBVV do tai nạn trước khi nhận niên kim:miễm phí hợp đồng và duy trì đầy đủ với các quyền lợi bảo hiểmkhác
- Trường hợp người được bảo hiểm chết: nếu trong phạm vi được bảohiểm thì sẽ được chi trả quyền lợi theo như quy định trong điềukhoản của hợp đồng
2.6 Bảo hiểm sinh kỳ thuần tuý
BV - NR3/1999
Người được bảo hiểm: như trong hợp đồng chính
Người tham gia bảo hiểm: như trong hợp đồng chính
Thời điểm phát sinh hiệu lực: trùng khớp thời điểm phát sinh hiệu lực hợp
đồng chính
Thời hạn bảo hiểm: tuỳ độ tuổi của người tham gia dài nhất có thể là 48
năm (khi NĐBH 18 tuổi đến khi sống hết độ tuổi 65) và ngắn nhất là 1 năm(đối với điều khoản riêng đóng phí 1 lần)
Phạm vi bảo hiểm:
- Sống đến hết thời hạn bảo hiểm
- Thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn
- Chết do mọi nguyên nhân trong thời hạn bảo hiểm
Quyền lợi bảo hiểm:
- Trường hợp người được bảo hiểm sống đến hết thời hạn bảo hiểm:trả STBH cho người được bảo hiểm
- Trường hợp người được bảo hiểm TTTBVV do tai nạn: trả tiền trợcấp thương tật theo quy định trong Phụ lục 4 cho NĐBH
- Trường hợp NĐBH chết: nếu trong phạm vi được bảo hiểm thì sẽđược chi trả quyền lợi như trong điều khoản của hợp đồng
2.7 Bảo hiểm tử kỳ
BV - NR4/1999
Người được bảo hiểm: như trong hợp đồng chính
Người tham gia bảo hiểm: như trong hợp đồng chính
Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm : như trong hợp đồng chính
Trang 33Thời điểm phát sinh hiệu lực: trùng khớp với thời điểm phát sinh hiệu lực
hợp đồng chính
Thời hạn được bảo hiểm: tuỳ thuộc độ tuổi NĐBH dài nhất có thể là 48
năm và ngắn nhất là 1 năm
Phạm vi bảo hiểm:
- Chết do mọi nguyên nhân trong thời hạn được bảo hiểm
- Thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn
Quyền lợi bảo hiểm:
- Trường hợp người được bảo hiểm chết: nếu trong phạm vi được bảohiểm thì sẽ được chi trả quyền lợi theo như điều khoản của hợp đồng
- Trường hợp NĐBH thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn: nếu xảy
ra vào ngày đầu tiên khi điều khoản riêng có hiệu lực thì hoàn phí,xảy ra ngay sau ngày đầu tiên sẽ được chi trả STBH và chấm dứt hệulực điều khoản riêng
2.8 Bảo hiểm thương tật bộ phận vĩnh viễn do tai nạn
BV - NR5/2001
Đối tượng được bảo hiểm: NĐBH trong các hợp đồng BHNT, NTGBH
trong các hợp đồng An sinh giáo dục
Phạm vi bảo hiểm: các trường hợp thương tật bộ phận vĩnh viễn quy định
trong bảng “Tỷ lệ trả tiền bảo hiểm” của điều khoản này
Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng: nếu tham gia trùng với hợp
đồng chính thì phát sinh hiệu lực trùng với HĐ chính, còn tham gia khihợp đồng chính đang có hiệu lực thì thời điểm phát sinh hiệu lực là ngày kỷniệm hợp đồng liền sau ngày nộp phí cho điều khoản này
Thời hạn bảo hiểm: 1 năm và tự động tái tục hàng năm
Quyền lợi bảo hiểm: Trả tiền bảo hiểm theo quy định trong bảng tỷ lệ trả
tiền bảo hiểm khi NĐBH bị TTTBVV do tai nạn thuộc phạm vi tráchnhiệm bảo hiểm
2.9 Bảo hiểm chi phí phẫu thuật
BV - NR6/2001
Đối tượng được bảo hiểm:
- Người được bảo hiểm trong các hợp đồng BHNT
Trang 34- Người thạm gia trong các hợp đồng An sinh giáo dục
Phạm vi bảo hiểm: các trường hợp NĐBH bị phẫu thuật do bệnh hoặc tai
nạn được liệt kê trong bảng “Tỷ lệ trả tiền bảo hiểm” của điều khoản này
Thời điểm phát sinh hiệu lực: nếu tham gia trùng với hợp đồng chính thì
phát sinh hiệu lực trùng với HĐ chính, còn tham gia khi hợp đồng chínhđang có hiệu lực thì thời điểm phát sinh hiệu lực là ngày kỷ niệm hợp đồngliền sau ngày nộp phí cho điều khoản này
Thời hạn bảo hiểm: 1 năm, tự động tái tục hàng năm
Quyền lợi bảo hiểm:
- Trả tiền theo quy định trong “Bảng tỉ lệ trả tiền bảo hiểm” khiNĐBH phải điều trị ngoại khoa
- Trong bảng tỉ lệ trả tiền bảo hiểm có 199 tên phẫu thuật chính
2.10 Bảo hiểm thương tật bộ phận vĩnh viễn do tai nạn
BV - NR7/2001
Đối tượng được bảo hiểm:
- Người được bảo hiểm trong các hợp đồng BHNT
- Người thạm gia trong các hợp đồng An sinh giáo dục
Phạm vi bảo hiểm: các trường hợp TTTBVV do tai nạn và chết do tai nạn Thời hạn bảo hiểm: 1 năm, tự động tái tục hàng năm
Quyền lợi bảo hiểm: Trả STBH trong trường hợp NĐBH chết hoặc bị
thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn
2.11 Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn
Người được bảo hiểm:
- Sống ở Việt Nam
- Tuổi từ 18 đến 60 nhưng khi kết thúc hợp đồng không quá 70 tuổi
Người tham gia bảo hiểm:
- Người được bảo hiểm
- Vợ chồng, bố, mẹ, con của NĐBH
- Người đỡ đầu hay giám hộ hợp pháp của NĐBH
Thời hạn bảo hiểm: 1, 2, 3, 4, 5, 10, 15 năm
Phạm vi bảo hiểm: bao gồm những rủi ro sau xảy ra với NĐBH
- Chết do mọi nguyên nhân
Trang 35- Thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn
Quyền lợi bảo hiểm:
- Trường hợp NĐBH bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn trongthời gian hợp đồng có hiệu lực sẽ được chi trả STBH theo như trongphụ lục của hợp đồng
- Trường hợp NĐBH bị chết: nếu trong phạm vi được bảo hiểm thì sẽđược chi trả STBH theo điều khoản của hợp đồng
3 Tình hình phát triển của thị trường BHNT Việt Nam
Phát triển từ một thị trường bảo hiểm độc quyền, thị trường BH ViệtNam ngày nay đã đạt được những thành tựu nhất định, đặc biệt với sự rađời của BHNT, thuật ngữ bảo hiểm đang dần quen thuộc với mỗi người dântrong cuộc sống cũng như sinh hoạt hàng ngày Điểm nổi bật của thị trườngBHNT Việt Nam thời gian qua thể hiện ở sự hoạt động sôi nổi, cạnh tranhngày càng gay gắt và toàn diện hơn Từ năm 1996 đến giữa năm 1999 chỉ
có Bảo Việt một mình một thị trường rộng lớn, đến nay trên thị trường đã
có 5 doanh nghiệp: Bảo Việt; Công ty liên doanh Bảo hiểm Bảo Minh-CMG; Công ty bảo hiểm Prudential; Công ty Bảo hiểm Manulife; và công
ty Bảo hiểm AIA Nhìn vào tốc độ phát triển của doanh thu phí mỗi năm,chúng ta thấy thị trường BHNT Việt Nam đã phát triển một cách nhanhchóng
Bảng 1: Tình hình doanh thu phí BHNT 97 - 2001
Trang 36Qua đồ thị trên, chúng ta thấy:
Năm 1996, 1997 là năm Bảo Việt bắt đầu triển khai BHNT, kháiniệm BHNT mới bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam và được triển khai đầu tiên
ở Hà Nội, do mới xuất hiện và thị trường còn nhỏ hẹp nên doanh thu phíbảo hiểm còn rất nhỏ
Từ năm 1999, do có chính sách mở cửa của Nhà nước, thị trườngBHNT Việt Nam đã trở nên thực sự sôi động với sự tham gia của các công
ty BH nước ngoài BHNT đã được trở nên quen thuộc hơn đối với ngườidân bằng công tác đại lý, bằng các tuyên truyền quảng cáo của các công tybảo hiểm sản phẩm bảo hiểm đã trở nên phổ biến hơn và được nhiềungười quan tâm, khái niệm BHNT đã dần từng bước trở nên quen thuộc vớingười dân Chính nhờ các chính sách cạnh tranh tích cực của các công tybảo hiểm, doanh thu phí sản phẩm BHNT ngày càng tăng với tốc độ nhanh
và như đã thấy, trong hai năm liên tiếp tổng doanh thu phí BHNT trên thịtrường BH trong cả nước năm sau tăng gấp đôi năm trước (năm 1999 tăng2,35 lần; năm 2000 tăng 2,32 lần) Đây là một dấu hiệu hết sức tốt đẹp hứahẹn sự phát triển cho BHNT ở Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Namnói chung
Mặc dù mới có tuổi đời hơn 5 năm nhưng thị trường BHNT ViệtNam đã đạt được những kết quả rất đáng tự hào trên rất nhiều mặt
Thứ nhất, đạt tốc độ tăng trưởng doanh thu phí và số hợp đồng rất
cao Nếu như năm 1996 Bảo Việt mới triển khai thí điểm BHNT ở một sốtỉnh thành và đạt được kết quả khá khiêm tốn với trên 1.200 hợp đồng vàdoanh thu phí chưa đến 1 tỷ đồng thì năm 2000 doanh thu phí BHNT toànthị phần đã đạt 1.280 tỷ đồng với gần một triệu hợp đồng có hiệu lực Đặcbiệt, năm 2001 là năm đáng ghi nhớ của thị trường BHNT Việt Nam vớidoanh thu phí đạt 2.775 tỷ đồng (tương đương với 0.55% GDP), số hợpđồng có hiệu lực đến cuối năm 2001 đạt khoảng 1.6 triệu hợp đồng (tươngđương 2% dân số) So với năm 2000, tốc độ tăng doanh thu phí năm 2001đạt trên 94%, trong đó tốc độ tăng doanh thu phí của các hợp đồng mới đạt
Trang 37trên 53% Nếu tính từ khi mới triển khai, tốc độ tăng doanh thu phí BHNTbình quân trong những năm qua đạt 250%/năm; còn nếu tính từ năm 1999 -năm có sự gia nhập của các công ty BHNT nước ngoài vào thị trường ViệtNam, tốc độ doanh thu phí bình quân đạt trên 54%/năm (cao hơn tốc độtăng GDP rất nhiều).
Thêm vào đó là chất lượng khai thác cũng được nâng lên đáng kể,biểu hiện qua số tiền bảo hiểm trung bình/hợp đồng ngày càng cao, côngtác đánh giá rủi ro được chú trọng hơn (thông qua việc áp dụng đánh giá rủi
ro sức khoẻ, tài chính, xem xét mục đích tham gia bảo hiểm), tỷ lệ huỷ hợpđồng của toàn thị trường dưới 6%/năm (thấp hơn rất nhiều so với các thịtrường khác)
Thứ hai, xây dựng mạng lưới kinh doanh rộng khắp, đa dạng hoá
kênh phân phối Các doanh nghiệp BHNT, điển hình là Bảo Việt đã xâydựng được mạng lưới cung cấp dịch vụ khắp cả nước, đáp ứng nhu cầuBHNT của mọi tầng lớp nhân dân, từ thành thị tới nông thôn Mô hình tổchức và quản lý của các doanh nghiệp cũng ngày càng hoàn thiện và hoạtđộng có hiệu quả, việc đào tạo cán bộ, đại lý ngày càng được chú trọng vàđược xác định là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng dịch vụ BHNT
và thành công của doanh nghiệp bảo hiểm
Để đưa sản phẩm BHNT ra thị trường, đến nay các doanh nghiệpBHNT Việt Nam đều sử dụng kênh phân phối truyền thông- đội ngũ đại lý
tư vấn BHNT Đây là lực lượng bán hàng chủ chốt, đem lại phần lớn hợpđồng Ngoài ra, các doanh nghiệp còn sử dụng đại lý bán chuyên nghiệp vàcộng tác viên Gần đây, các doanh nghiệp BHNT đã bắt đầu hợp tác vớingân hàng trong khai thác và thu phí bảo hiểm, điển hình là sự hợp tác giữaBảo Việt với Ngân hàng công thương, Ngân hàng á châu (ACB); giữa AIAvới Ngân hàng Hồng Công & Thượng Hải (HSBC); giữa Prudential vớiACB
Thứ ba, đưa ra được nhiều sản phẩm đa dạng, dịch vụ phong phú.
Khi Bảo Việt triển khai thí điểm BHNT, chỉ có ba sản phẩm được đưa ra thịtrường là BHNT hỗn hợp thời hạn 5 năm, thời hạn 10 năm và An sinh giáodục Đến nay, trên thị trường đã có hiện diện của tất cả các chủng loại
Trang 38BHNT truyền thống như bảo hiểm hỗn hợp, sinh kỳ, tử kỳ, trọn đời, các sảnphẩm BHNT cách tân (modi-fied life insurance), các sản phẩm BHNT hưutrí đồng thời có nhiều sản phẩm bổ trợ (rider) cũng đã có mặt làm tăngthêm rất nhiều quyền lợi cho khách hàng khi tham gia BHNT.
Thời hạn bảo hiểm, phương thức đóng phí, sản phầm bảo hiểm cũngrất linh hoạt Với sự đa dạng về chủng loại, các sản phẩm BHNT đã đápứng ngày càng tốt nhu cầu đa dạng, phong phú và toàn diện của nhân dân
Số liệu triển khai cho thấy, các sản phẩm hỗn hợp (kết hợp giữa bảo hiểm
và tiết kiệm) đặc biệt là bảo hiểm dành cho trẻ em là sản phẩm “bán chạy”nhất, các sản phẩm mang tính bảo vệ đơn thuần như bảo hiểm tử kỳ thì lạibán chậm hơn Điều này cho thấy, thị trường Việt Nam vẫn đang trong giaiđoạn “ưa tiết kiêm” đồng thời cũng phản ánh truyền thống tiết kiệm, hiếuhọc, đức tính hy sinh vì con cháu của người Việt Nam Mặt khác, các sảnphẩm bảo hiểm ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn, phản ánh tâm lý lo ngạilạm phát, đấu tư dài hạn của công chúng
Ngoài BHNT, các doanh nghiệp còn cung cấp thêm các loại hìnhdịch vụ khác cho khách hàng tham gia BHNT như tư vấn du học, chokhách hàng vay tiền theo hợp đồng (cho vay giá trị giải ước), cung cấp thẻgiảm giá: Pru Card của Prudential, BaoViet Card của Bảo Việt với những
nỗ lực của các doanh nghiệp chất lượng dịch vụ BHNT ngày càng đượcnâng cao và mang tính toàn diện Các dịch vụ đi kèm cũng là một nhân tốquan trọng làm tăng tính hấp dẫn cuat dịch vụ BHNT, thúc đẩy việc bánhàng
Kết quả triển khai cũng cho thấy, khách hàng tham gia BHNT rất đadạng, thuộc nhiều tầng lớp, nghề nghiệp khác nhau Xét theo yếu tố thunhập, có khách hàng có thu nhập cao, có người có thu nhập khá, có người
có thu nhập trung bình, do vậy các công ty đưa ra nhiều loại hợp đồng từnhững hợp đồng có số tiền bảo hiểm chỉ 5 triệu đồng nhưng cũng có hợpđồng có STBH lên tới vài tỷ đồng Còn theo nghề nghiệp, những người làmcông ăn lương, kinh doanh (có thu nhập ổn định) chiếm phần lớn kháchhàng tham gia BHNT, khách hàng là nông dân còn chiếm tỷ trọng nhỏ
Trang 39Xuất hiện sau BH phi nhân thọ gần 30 năm, những bước đầu tiênBHNT gặp rất nhiều khó khăn là vì công ty đầu tiên kinh doanh loại hình
BH này Doanh thu phí BHNT trong những năm dầu tiên chỉ chiếm một tỷ
lệ rất nhỏ trong doanh thu phí BH nói chung nhưng do sự phát triển khôngngừng của thị trường BH cùng với các chính sách ưu đãi của nhà nướcdành cho nghiệp vụ bảo hiểm mới phát triển này, BHNT ngày nay đã khẳngđịnh được vị trí của mình bên cạnh BH phi nhân thọ và dự kiến trong thờigian tới, phí BHNT sẽ bằng thậm chí vượt phí mà BH phi nhân thọ thuđược Đây là một nhận định có cơ sở vì qua số liệu năm 99, 2000, 2001thực tế đã chứng minh vị trí quan trọng của BHNT trong thị phần bảo hiểm.BHNT cũng chính là một trong các dấu hiệu nhận biết sự phát triển của nềnkinh tế, đồng thời nó cũng thể hiện trình độ nhận thức cũng như đời sốngcủa người dân đang đạt dến một mức độ nhất định
Bảng 2: cơ cấu DT phí BHNT và PNT trên thị trường
Trang 404 Những thuận lợi và khó khăn
4.1 Những thuận lợi
Thứ nhất: Theo xu hướng phát triển chung của nền kinh tế nước ta
những năm gần đây, Năm 2001, kinh tế thủ đô vẫn tiếp tục ổn định và tăngtrưởng ở mức khá cao 10,3%, so với mức bình quân 6,8% của cả nước,nâng thu nhập bình quân của người dân thành phố lên một bước đồng thờitạo thêm công ăn việc làm mới cho người lao động thực hiện công cuộc đổimới nền kinh tế trong nước bắt đầu ổn định và phát triển Tỷ lệ lạm phátđược kiềm chế ở con số dưới 10%, giá trị đồng tiền ổn định, đời sống nhândân được nâng lên Tương ứng với mức thu nhập tăng lên thì nhu cầu tiếtkiệm để giành cho tương lai cũng tăng lên Nhưng do đặc thù của khoảntiết kiệm nhỏ này của người dân mà các hình thức huy động gửi tiền tiếtkiệm khác không phù hợp Cho nên với những ưu điểm của nghiệp vụBHNT chắc chắn sẽ phát triển ở Việt Nam
Thứ hai: Trong năm 2001 chỉ số giá cả tiêu dùng tiếp tục được duy trì ở
mức thấp hơn dự kiến 0,8% so với 3,5%, tạo môi trường thuận lợi cho cáchoạt động tài chính ngân hàng Hơn nữa, giá cả các mặt hàng lương thựctăng khá cao giúp cải thiện mức thu nhập của người nông dân vốn chiếmtới gần 50% dân số Hà Nội Thêm vào đó lãi suất ngân hàng có xu hướnggiảm trong năm 2001, với mức giảm trung bình từ 1 - 1,5% làm cho việcgửi tiền tiết kiệm ngân hàng trở nên kém hấp dẫn hơn tạo điều kiện thuậnlợi hơn cho việc triển khai các sản phẩm BHNT
Thứ ba: Để điều chỉnh và tạo môi trường hành lang pháp luật thuận lợi
cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm, Bộ tài chính đã ban hành các văn bảnpháp quy quan trọng đó là thông tư số 26/1998/TT-BTC về hướng dẫn thủtục cấp giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện để hoạt động kinhdoanh bảo hiểm, thông tư số 27/1998/TT-BTC về việc hướng dẫn hoạtđộng khai thác và quản lý bảo hiểm và thông tư số 28/1998 TT-BTC vềviệc hoạt động đại lý, cộng tác viên bảo hiểm Thêm vào đó nữa là Luậtkinh doanh bảo hiểm ra đời và đi vào hoạt động ngày 1/4/2001 tạo hành