1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình thuộc dự án tái định cư triều cường tại huyện phù mỹ, tỉnh bình định

91 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 840,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế luận văn đã đề xuất một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho hộ dân tái định cư tại huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định như: 1 Giải pháp về nguồn lực tự nhiên; 2 Giải pháp v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

NGUYỄN NGỌC HUY

CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH THUỘC DỰ

ÁN TÁI ĐỊNH CƯ TRIỀU CƯỜNG TẠI HUYỆN PHÙ MỸ,

TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

NGUYỄN NGỌC HUY

CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH THUỘC DỰ

ÁN TÁI ĐỊNH CƯ TRIỀU CƯỜNG TẠI HUYỆN PHÙ MỸ,

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60340403

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Trần Tiến Khai

TP Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Cải thiện sinh kế những hộ dân tái định cư thuộc

dự án di dân, tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định” Là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu khảo sát và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, do chính tác giả thu thập, phân tích và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác./

TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2016

Học viên thực hiện

Nguyễn Ngọc Huy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện theo chương trình đào tạo thạc sĩ tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức bổ ích phục vụ cho thực tế công việc, các nghiên cứu hiện tại và tương lai Lời đầu tiên xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến thầy TS Trần Tiến Khai, người

đã dành nhiều thời gian quý báu để tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức và những tình huống thực tế quý báu, đặc biệt là những kinh nghiệm quản lý công của các nước trên thế giới với mong muốn là sẽ được áp dụng tại Việt Nam

Xin chân thành cảm ơn đến tất cả các thành viên của lớp Cao học Quản lý công

2015 tại TP Quy Nhơn, các bạn đã chia sẻ cùng tôi những khó khăn, kiến thức và tài liệu học tập trong suốt quá trình học

Xin chân thành cảm ơn các ông trưởng thôn Tân Phụng 1, Tân Phụng 2 (xã

Mỹ Thọ), Xuân Thạnh 1, Xuân Thạnh 2, Xuân Bình (xã Mỹ An), Phú Thứ, Phú Hoà (xã Mỹ Đức) và 180 hộ dân đã tạo điều kiện, tâm huyết và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thu thập dữ liệu cho đề tài nghiên cứu này

Xin cảm ơn đến những người thân yêu đã giúp đỡ rất nhiều trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô trong Hội đồng bảo

vệ luận văn thạc sĩ đã đóng góp thêm ý kiến cho tôi hoàn thành tốt luận văn cuối khóa

để có kết quả áp dụng vào thực tế tại địa bàn nghiên cứu./

Học viên thực hiện

Nguyễn Ngọc Huy

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1

TÓM TẮT 2

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

2.1 Mục đích chung 3

2.2 Mục đích cụ thể 3

2.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

4 Đóng góp dự kiến của đề tài 4

5 Kết cấu của đề tài 4

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 6

2.1 Cơ sở lý luận về sinh kế và tái định cư 6

2.1.1 Tổng quan về sinh kế và sinh kế bền vững 6

2.1.2 Lý thuyết về khung phân tích sinh kế 9

2.1.3 Di dân tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường 13

2.2 Cơ sở thực tiễn về tái định cư 17

2.2.1 Cơ sở thực tiễn 17

2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 20

2.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 27

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 27

Trang 6

2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 27

2.3.3 Những tồn tại, yếu kém 29

2.3.4 Phương hướng phát triển huyện Phù Mỹ trong thời gian tới 30

2.3.5 Đặc điểm dự án tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định 31

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

3.1 Phương pháp nghiên cứu 34

3.1.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu 34

3.1.2 Phương pháp chuyên gia 36

3.1.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 36

3.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Khái quát tình hình sinh kế của hộ dân tái định cư triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định 38

4.1.1 Khái quát đặc điểm vùng triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định 38

4.1.2 Sinh kế của dân di cư tại nơi ở mới 39

4.1.3 Tác động của chương trình TĐC đến thu nhập 47

4.1.4 Khái quát chung về thay đổi sinh kế của người dân sau khi TĐC 48

4.2 Những kết quả và những hạn chế trong công tác đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân tái định cư 52

4.2.1 Những kết quả đạt được 52

4.2.2 Những hạn chế cần giải quyết 53

4.3 Quan điểm phát triển sinh kế bền vững của các hộ dân ở khu TĐC huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định 56

Trang 7

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho hộ dân tái định cư tại huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định 60

5.2.1 Giải pháp về nguồn lực tự nhiên 60

5.2.2 Giải pháp về nguồn lực con người 61

5.2.3 Giải pháp về nguồn lực tài chính 63

5.2.4 Giải pháp về nguồn lực vật chất 64

5.2.5 Giải pháp về nguồn lực xã hội 65

5.2.6 Giải pháp chính sách 65

5.2.7 Đối với hộ nông dân 66

5.2.8 Đối với chính quyền các cấp 67

5.3 Hạn chế của đề tài 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 1 4

PHỤ LỤC 2 12

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 9

TÓM TẮT

Qua tìm hiểu thực trạng sinh kế các hộ dân tái định cư thuộc dự án di dân, tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tôi nhận thấy: Sau khi tái định cư các hoạt động sinh kế của hộ tương đối đa dạng, phong phú; Quá trình dịch chuyển các nguồn lực sinh kế dẫn tới sự thay đổi về thu nhập của hộ

Qua kết quả đánh giá, người dân đã nhận thức rõ hơn về công tác giáo dục để

có một sinh kế tốt hơn trong tương lai Tài sản vật chất của người dân được cải thiện rõ rệt, hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng ở địa phương ngày càng khang trang sạch đẹp Tài sản vật chất của hộ cũng được cải thiện do nhận tiền đền bù đã tiến hành mua sắm vật chất để phục vụ nhu cầu cuộc sống ngày một tốt hơn hỗ trợ cho nguồn lực con người Sau khi TĐC hộ nông dân đã có rất nhiều mô hình sinh kế đa dạng, trước đây hộ chỉ có sinh kế nông nghiệp là chủ yếu thì nay hộ đã có thêm những sinh kế mới như: Mở cửa hàng tạp hoá, buôn bán v.v và nhiều dịch vụ khác

Từ đó mức thu nhập của hộ nâng lên rõ rệt, chất lượng cuộc sống được cải thiện

Ngược lại với những mặt thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: Nguồn lực đất đai ngày càng thu hẹp trong khi các hộ sử dụng lãng phí Hệ thống kênh mương

bị phá vỡ, nhiều chỗ bị hư hỏng xuống cấp Chất lượng lao động của hộ hạn chế, trình độ học vấn của lao động thấp, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở cấp THCS và THPT Một số lao động lớn tuổi hiện nay đang trong tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm Với các nguồn lực hiện nay còn hạn chế nhất là yếu tố con người nên sinh kế của hộ chưa ổn định thực sự Việc sử dụng tiền đền bù chưa hiệu quả, khá nhiều hộ chỉ biết đem gửi ngân hàng, ngoài ra còn có một số hộ đầu tư quá nhiều cho việc mua sắm, thậm chí còn chơi cờ bạc, lô đề v.v

Chính vì thế luận văn đã đề xuất một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho hộ dân tái định cư tại huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định như: (1) Giải pháp về nguồn lực tự nhiên; (2) Giải pháp về nguồn lực con người; (3) Giải pháp về nguồn lực tài chính; (4) Giải pháp về nguồn lực vật chất; (5) Giải pháp về nguồn lực xã hội; (6) Giải pháp chính sách

Trang 10

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang làm thiên tai ở nước ta có chiều hướng ngày càng phức tạp, gia tăng nhiều hơn so với những thập kỷ trước về cả quy mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là một trong năm ổ bão của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khốc liệt Trong hơn 65 năm qua, thiên tai đã xảy ra ở hầu hết các khu vực trên cả nước, gây nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội và tác động xấu đến môi trường, gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân, thậm chí còn tác động mạnh hơn đến sinh kế của những nhóm dân cư nghèo nhất sinh sống ở khu vực nông thôn

Sinh kế là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó Sinh kế được cấu thành từ 5 nguồn lực: nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính Kinh nghiệm trên thế giới và bản thân của Việt Nam đã cho thấy công tác tái định cư là quá trình rất phức tạp, mất nhiều thời gian, đòi hỏi phải tiến hành các nghiên cứu rất tỉ mỉ về người dân tái định cư, về dân tộc, văn hoá, bản sắc, đặc tính dân tộc và tập quán của họ trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, đặc biệt đối với các chương trình tái định

cư có quy mô lớn Việc đảm bảo sinh kế đóng vai trò rất quan trọng nhằm giảm thiểu nguy cơ rủi ro cho người dân phải tái định cư bắt buộc, giảm thiểu tối đa những tác động không mong muốn đối với người dân phải tái định cư thông qua việc tạo lập một sinh kế bền vững, ổn định phát triển sản xuất, đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường bền vững

Trang 11

Bình Định và các tỉnh miền Trung thường gặp các thiên tai như mưa lũ, bão biển với khả năng gây thiệt hại về nhiều mặt đối với sản xuất và đời sống Để phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai có thể gây ra, một trong những biện pháp hiệu quả nhất là chủ động di dời dân cư sinh sống ở các vùng thấp hay bị ngập lụt, vùng ven sông suối bị xói lở, vùng ven biển bị triều cường v.v Tiềm ẩn nguy cơ cao đến nơi an toàn để có thể “an cư lạc nghiệp” lâu dài Chính vì vậy, việc quy hoạch các khu tái định cư (TĐC) Là giải pháp mang tính triệt để trong việc ứng phó với thiên tai cho dân cư các vùng nguy cơ cao

Tại Bình Định, tính đến hết năm 2015 trên địa bàn tỉnh đã có 15 khu TĐC cho vùng thiên tai đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh để di dời dân đến sinh sống Tuy nhiên, việc di dời dân đến các khu TĐC đã xây dựng xong lại diễn ra rất ì ạch; Dự kiến bố trí TĐC cho 2.639 hộ dân đến ở nhưng tháng 9.2015, các địa phương mới chỉ di dời được 913 hộ, còn đến 1.726 hộ vẫn ở nơi ở cũ dù đã được bố trí đất tại khu TĐC Hàng ngàn hộ chưa di dời đến các khu TĐC cũng đồng nghĩa với việc hàng ngàn hộ vùng thiên tai tiếp tục đối mặt với nguy hiểm trong mùa mưa

lũ sắp tới Và không chỉ có thế Hiện nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất nhiều khu vực dân cư nằm trong tình trạng nguy hiểm Số liệu thống kê cho thấy hiện có 20.400 hộ dân với 86.000 người ở 110 xã, phường thuộc 11 huyện, thị xã, thành phố nằm trong vùng thiên tai nguy hiểm cần có nhà ở kiên cố hoặc TĐC Tại nhiều nơi nhu cầu di dời là rất cấp bách nhưng chưa thể thực hiện vì chưa quy hoạch được địa điểm, hoặc chưa có kinh phí thực hiện

Huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định là một trong những địa điểm chịu ảnh hưởng nặng nền bởi thiên tai ở nước ta Bằng chứng cho thấy biến đổi khí hậu đã tác động không nhỏ đến khu vực này Huyện Phù Mỹ có 40 km chiều dài bờ biển, có những nơi bị xâm thực vào đất liền từ 1 đến 3 m mỗi năm; Nhất là tại các thôn Tân Phụng

1, Tân Phụng 2 (xã Mỹ Thọ), Xuân Thạnh 1, Xuân Thạnh 2, Xuân Bình (xã Mỹ An), Phú Thứ, Phú Hòa (xã Mỹ Đức) v.v Với nhiều hộ dân đang sống trong vùng nguy hiểm cần được di dời Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người dân trong khu vực Hiện nay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng

Trang 12

phức tạp, chúng ta cần đánh giá tác động của thiên tai triều cường đến sinh kế của người dân trong khu vực Từ đó đề xuất giải phải cải thiện sinh kế cho người dân khi tái định cư khỏi vùng triều cường

Với những lý do như trên, đề tài này được chọn với tên “Cải thiện sinh kế

cho các hộ gia đình thuộc dự án tái định cư triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định” Nhằm đánh giá những tác động của hiện tượng thiên tai Triều cường

đến các hoạt động sản xuất của người dân vùng nghiên cứu Từ đó tạo cơ sở để đề xuất những giải pháp để cải thiện sinh kế của người dân khi thực hiện di dân tái định cư

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục đích chung

Đề tài nghiên cứu các thực trạng sinh kế của những hộ dân di dân, tái định cư

ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Tìm ra sự biến động tài sản sinh kế của người tái định cư trước và sau tái định cư, khả năng tiếp cận những nguồn lực để hình thành nên sinh kế và chiến lược sinh kế của các hộ tái định cư nông nghiệp Từ kết quả nghiên cứu thực tế, sẽ đề ra những giải pháp nhằm cải thiện sinh kế của họ

2.2 Mục đích cụ thể

- Khảo sát, phân tích đánh giá tình hình di dân tái định cư của huyện Phù Mỹ

- Đánh giá sinh kế của hộ gia đình sau khi thực hiện di dân tái định cư bao gồm các chỉ tiêu: Tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài sản tài chính, tài sản vật chất, việc làm - thu nhập, tiền đền bù và cách thức sử dụng, điều kiện cơ sở hạ tầng nơi tái định cư, hỗ trợ của chính quyền và mong muốn của gia đình

- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện sinh kế của người dân ở vùng

nghiên cứu

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

1 Hiện trạng sinh kế của những hộ dân tái định cư trên địa bàn huyện Phù

Mỹ, tỉnh Bình Định như thế nào?

Trang 13

2 Đâu là những tồn tại, bất cập trong chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định

cư tại các xã?

3 Giải pháp nào để cải thiện sinh kế những hộ tái định cư này?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề sinh kế của những hộ dân thực hiện chính sách di dời, tái định cư ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Đặc biệt

là 4 khu tái định cư vùng triều cường (Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Đức và Mỹ Thắng)

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu các dự án di dân tái định cư thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định bao gồm: Các xã Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Đức và Mỹ Thắng

- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu từ năm

2012 - 2015

4 Đóng góp dự kiến của đề tài

Đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều bài báo đại chúng viết về đời sống người dân tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại Huyện Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định Xong tác giả chưa tìm thấy công trình nghiên cứu khoa học nào được công

bố, sử dụng Khung sinh kế bền vững (SLF) và phỏng vấn sâu các hộ gia đình tái định cư huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để có số liệu phản ánh chính xác sinh kế của

họ Đề tài này sẽ làm điều đó để đưa ra những kiến nghị chính sách dựa trên những con số thực tế và phương pháp phân tích khoa học

5 Kết cấu của đề tài

Đề tài được chia thành 5 chương:

Trang 14

Chương 1: Giới thiệu, trình bày lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu nội

dung tổng quát của đề tài, đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng như giới thiệu sơ lược về phương pháp, và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn Chương này sẽ trình bày cơ sở

lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan để từ đó xây dựng khung phân tích Trình bày các khái niệm có liên quan và lựa chọn các biến đại diện cho các khái niệm được nêu lên ở khung phân tích

Chương 3: Trình bày phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Từ những số liệu thu thập được, tác giả

phân tích, diễn giải liên quan đến công trình nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và Đề nghị Tóm lượt ngắn gọn kết quả nghiên cứu

Qua đó đề xuất những kiến nghị liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm mục đích có thể đưa đề tài áp dụng vào thực tiễn một cách tốt nhất

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận về sinh kế và tái định cư

2.1.1 Tổng quan về sinh kế và sinh kế bền vững

2.1.1.1 Khái niệm về sinh kế

Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990) Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh

kế và cố gắng đưa vào thực hiện

Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những

áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của

nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Chambers, R And G Conway, 1992)

Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ (Seppala, 1996)

Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó

Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn

bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:

Trang 16

- Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn

- Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm uy tín của

hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ

- Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v.v

Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ

- Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà

ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin v.v

- Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng

Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng

Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; Các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ

Trang 17

cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin, v.v

2.1.1.2 Khái niệm sinh kế bền vững

Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những biến động, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực cũng như nguồn lực của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên

Mục tiêu sinh kế bền vững hướng đến một tầm rộng lớn hơn, chú trọng vào con người và hiểu tầm quan trọng của các quy trình và cấu trúc trong quá trình xác định cách mà các nguồn lực, tài sản được tạo ra và sử dụng

Như vậy, để có sinh kế bền vững, trước hết cần phải sử dụng các nguồn lực, tài sản vốn có một các bền vững lâu dài Cả hộ gia đình và cộng đồng phải ý thức được việc không chỉ sử dụng nguồn lực sẵn có mà phải liên tục bổ sung, tăng cường

và phát triển nguồn lực đó để phát triển bền vững sinh kế của mình

- Để duy trì và tăng cường nguồn lực con người có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ khi chính bản thân con người sẵn sàng đầu tư cho vốn con người của mình bằng cách tham gia vào các khoá đào tạo, tiếp cận với các dịch vụ v.v

Vì vậy, cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, công nghệ và đào tạo nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát triển nguồn nhân lực

- Duy trì và tăng cường nguồn lực xã hội là tăng cường xây dựng vốn xã hội, tập trung vào các thể chế địa phương như thông qua việc tạo ra các khả năng, huấn luyện đào tạo hay phân phối các nguồn lực hoặc thông qua việc tạo ra một môi trường dân chủ thông thoáng

Thông thường, những nguồn lực xã hội cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác, cần gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể, xã hội vào nguồn vốn xã hội

Trang 18

- Duy trì và tăng cường nguồn lực tự nhiên cần được thực hiện bằng cách điều chỉnh các phương cách tiếp cận đối với nguồn lực tự nhiên, cải thiện việc quản

lý các nguồn lực Việc hỗ trợ nguồn lực tự nhiên có thể thông qua sự chuyển đổi các tiến trình và cấu trúc tự nhiên đồng thời có sự tái tạo cho nhu cầu sử dụng trong tương lai

Một trong những nội dung chính của mục tiêu sinh kế bền vững là theo đuổi mục tiêu ổn định nhiều loại nguồn lực khác nhau sao cho không ảnh hưởng đến sự

ổn định của môi trường tự nhiên

- Tăng cường nguồn lực vật chất nhằm giúp người dân tiếp cận cơ sở hạ tầng thích hợp, những thứ giúp ích cho sinh kế của họ

Nguồn lực vật chất không chỉ yêu cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra và nguồn lực con người đáp ứng những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ

- Tạo nguồn lực tài chính cho người dân không nên hỗ trợ trực tiếp vốn tài chính mà nên thông qua các trung gian gián tiếp như:

+ Tăng cường hiệu quả tiết kiệm và dòng tài chính

+ Tăng cường tiếp cận dịch vụ tài chính

+ Cải thiện môi trường dịch vụ tài chính

2.1.2 Lý thuyết về khung phân tích sinh kế

Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con người, đặc biệt là các cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của con người Đây là cách tiếp cận toàn diện nhằm xây dựng các lợi thế hay chiến lược, đặt con người làm trung tâm trong quá trình phân tích Mặc dầu có rất nhiều tổ chức khác nhau sử dụng khung phân tích sinh kế và mỗi tổ chức thì có mức độ vận dụng khác nhau nhất định, khung phân tích sinh kế có những thành phần cơ bản giống nhau sau:

Trang 19

Biểu đồ 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID

Nguồn: DFID (2001)

Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn (tài sản) Tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh kế đó

Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất

mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn có chính: Vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên (Biểu đồ 2.1.)

- Vốn nhân lực (Human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác

- Vốn tài chính (Financial capital): Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau

- Vốn tự nhiên (Natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, và các nguồn lực tự nhiên khác mà con người có được hay có

Trang 20

thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện qui mô và chất lượng đất đai, qui mô và chất lượng nguồn nước, qui mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, qui mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự

đa dạng sinh học

- Vốn vật chất (Physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản

và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường,

hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình

- Vốn xã hội (Social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) Chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai Chính vì thế khi xem xét vốn, con người không chỉ xem xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự xem xét khả năng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai

Tiến trình và cấu trúc (Structure and processes) Đây là yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách và luật pháp xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các

Trang 21

nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh

kế khác nhau Những yếu tố trên có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến các chiến lược sinh kế Chính vì thế sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được những cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc

Thành phần quan trọng thứ ba của khung sinh kế là kết quả của sinh kế (livelihood outcome) Đó là mục tiêu hay kết quả của các chiến lược sinh kế Kết quả của sinh kế nhìn chung là cải thiện phúc lợi của con người nhưng có sự đa dạng

về trọng tâm và sự ưu tiên Đó có thể cải thiện về mặt vật chất hay tinh thần của con người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế mà sự nhấn mạnh các thành phần trong sinh kế cũng như những phương tiện để đạt được mục tiêu sinh kế giữa các tổ chức, cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau

Để đạt được các mục tiêu, sinh kế phải được xây dựng từ một số lựa chọn khác nhau dựa trên các nguồn vốn và tiến trình thay đổi cấu trúc của họ Chiến lược sinh kế là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu sinh kế của họ hay đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn vốn hiện có Đây là một quá trình liên tục nhưng những thời điểm quyết định có ảnh hưởng lớn lên sự thành công hay thất bại đối với chiến lược sinh

kế Đó có thể là lựa chọn cây trồng vật nuôi, thời điểm bán, sự bắt đầu đối với một hoạt động mới, thay đổi sang một hoạt động mới hay thay đổi qui mô hoạt động

Cuối cùng là ngữ cảnh dễ bị tổn thương Đó chính là những thay đổi, những

xu hướng, tính mùa vụ Những nhân tố này con người hầu như không thể điều khiển được trong ngắn hạn Vì vậy trong phân tích sinh kế không chỉ nhấn mạnh hay tập trung lên khía cạnh người dân sử dụng các tài sản như thế nào để đạt mục tiêu mà phải đề cập được ngữ cảnh mà họ phải đối mặt và khả năng họ có thể chóng chọi đối với những thay đổi trên hay phục hồi dưới những tác động trên

Trang 22

2.1.3 Di dân tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường

2.1.3.1 Khái niệm di dân

Biến động dân số bao gồm hai cấu thành cơ bản là tăng tự nhiên và tăng cơ học Tăng trưởng tự nhiên của dân số gắn liền với quá trình sinh học sinh ra, tồn tại

và mất đi của con người theo thời gian Quá trình này thông qua hiện tượng sinh và chết Di biến động dân cư còn do tác động cơ học của quá trình di dân Trong mọi quốc gia, những luồng di cư tạo nên sự phân bố lại dân cư, đồng thời làm tăng giảm mật độ dân cư giữa các vùng miền địa lý Di dân về bản chất không phải là hiện tượng sinh học như sinh, chết Di dân có thể diễn ra nhiều lần, lặp đi lặp lại trong cuộc đời của một cá nhân, trong khi sinh đẻ và tử vong chỉ diễn ra một lần (Đặng Nguyên Anh, 2006)

Di dân là quá trình phân bố lại lực lượng lao động và dân cư, và là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Di dân và quá trình tập trung dân số ở địa bàn nơi đến luôn đặt ra những thách thức mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội bền vững, đặc biệt trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trường của các vùng miền đất nước

Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư Theo nghĩa hẹp,

di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất (Đặng Nguyên Anh, 2006) Tóm lại, khái niệm di dân có thể được tóm tắt theo các điểm chung như sau:

- Người di dân di chuyển ra khỏi một địa điểm nào đó đến nơi khác sinh sống

- Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào đó

và định cư tại đó trong một thời gian để thực hiện mục đích đó

Trang 23

- Di dân gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghề nghiệp, sở thích, lối sống v.v

Có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau (Đặng Nguyên Anh, 2006) Như:

- Theo khoảng cách di chuyển, gồm có: di dân nông thôn - thành thị, di dân nông thôn - nông thôn

- Theo độ dài thời gian cư trú, gồm có: di chuyển ổn định, di chuyển tạm thời, di dân mùa vụ

- Theo tính chất di dân:

+ Di dân tự nguyện: Là trường hợp người di chuyển tự nguyện di chuyển theo đúng mong muốn hay nguyện vọng của mình

+ Di dân ép buộc: Diễn ra trái với nguyện vọng di chuyển của người dân Loại hình

di chuyển này thường đem lại những hậu quả không mong muốn cho xã hội và cần được hạn chế tối đa

- Theo đặc trưng di dân:

+ Di dân có tổ chức: Là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế hoạch và theo chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và

tổ chức, thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội Về nguyên tắc, người dân di chuyển có tổ chức được nhà nước và chính quyền địa phương nơi nhập

cư giúp đỡ Di dân có tổ chức có thể giảm bớt khó khăn cho những người nhập cư, tăng nguồn lực lao động địa phương, có thể tránh được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường

+ Di dân tự phát (tự do): Là hình thái di dân mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền Di dân tự phát phản ánh tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân và hộ gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm

Trang 24

2.1.3.2 Tái định cư

Theo Peter R.Bubridge (1995), TĐC chỉ là “Việc lập cư của các cá nhân, các

nhóm hộ gia đình hoặc toàn bộ một làng, một xã”

Việc TĐC, không phải chỉ di chuyển dân mà bao hàm cả “đền bù” cho các thiệt hại do các dự án phát triển gây ra, mà Phan Mộng Hoa và Lâm Mai Lan (2008)

đề cập ở “TĐC trong các dự án phát triển: Chính sách và thực tiễn”; Được hiểu theo nghĩa rộng thì hai tác giả cho rằng: TĐC là cả quá trình đền bù cho các tài sản bị thiệt hại đến các biện pháp hỗ trợ hộ tái tạo các tài sản bị mất hoặc hỗ trợ di chuyển trong trường hợp hộ bị di chuyển và cuối cùng là toàn bộ các chương trình, biện pháp nhằm giúp những người bị ảnh hưởng khôi phục lại cuộc sống và nguồn thu nhập của hộ” Với quan điểm trên, hai tác giả đứng trên góc độ chính sách, khi dự

án phát triển ảnh hưởng, tác động đến tài sản và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do dự án phát triển gây ra, bất kể họ phải di chuyển hay không

Việc giải toả, di dời, TĐC nó không chỉ dừng lại ở việc đưa một bộ phận

cư dân từ nơi này sang nơi khác, mà TĐC liên quan tới rất nhiều vấn đề như việc làm, học hành, sự tiếp cận các dịch vụ, quan hệ xã hội v.v Nên TĐC được nhìn nhận là một quá trình thay đổi về kinh tế, văn hoá và xã hội của một bộ phận dân cư chứ không chỉ xem xét thay đổi chỗ ở Như vậy, TĐC theo chúng ta được hiểu là các cá nhân, hộ, hay toàn bộ một làng (bản), một xã họ đã sản xuất và sống ổn định, lâu dài rồi nay phải di chuyển đến ở một nơi ở mới để lập nghiệp, xây dựng cuộc sống mới

Tái định cư là việc phải di chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây là thuật ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mất đất, mất chỗ ở, mất tài sản, mất nguồn thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác

Theo khái niệm của Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1995, tái định cư được phân loại dựa trên thiệt hại của người tái định cư:

- Thiệt hại về tài sản, sản xuất, bao gồm đất đai, thu nhập và đời sống

Trang 25

- Thiệt hại về nhà ở, có thể là toàn bộ cộng đồng và các hệ thống, dịch vụ kèm theo

- Thiệt hại về các tài sản khác

- Thiệt hại về các nguồn tài nguyên của cộng đồng như môi trường sinh sống, văn hóa, và hàng hóa

2.1.3.3 Tái định cư tự nguyện và không tự nguyện

Tái định cư được hiểu là con người tạo dựng cuộc sống ở nơi cư trú mới sau khi rời khỏi nơi cư trú cũ của họ Thực tế có nhiều lý do mà người dân phải tái định

cư và có thể chia ra thành hai loại: Tái định cư bắt buộc (do những điều kiện khách quan như chiến tranh, thiên tai, xây dựng công trình, thu hồi đất) Và Tái định cư tự nguyện (do nhu cầu người dân muốn cải thiện cuộc sống)

Thực tế tại Việt Nam có nhiều hình thức tái định cư và được tổng hợp thành hai hình thức tái định cư phổ biến như sau (Phạm Văn Hùng, 2008):

(1) Tái định cư tập trung theo quy hoạch, kế hoạch chung, có tổ chức (còn gọi là tái định cư bắt buộc):

- Di dân từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào Tây Nguyên xây dựng các vùng kinh tế mới Hình thức này chủ yếu diễn ra trước năm 1990

- Xây dựng làng thanh niên lập nghiệp và các khu giãn dân

- Xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia (các công trình thủy điện tại Tây Nguyên, Sơn La, v.v.)

- Di dân ra khỏi vùng thiên tai riều cường

Tái định cư bắt buộc là việc tái định cư do người dân bị trưng dụng đất để xây dựng dự án vì lợi ích chung của cộng đồng Việc tái định cư bắt buộc liên quan tới tất cả lứa tuổi và giới, những mong muốn của một số người bị ảnh hưởng có thể không được đáp ứng Rất nhiều người có thể gặp rủi ro và thiếu động lực, sáng tạo

để di chuyển và tái lập nơi ở mới và thực hiện những định hướng mới Phụ nữ và những hộ gia đình do họ đứng đầu thường chịu nhiều thiệt thòi vì đền bù lại thường chỉ giành cho nam giới, những hộ do phụ nữ đứng đầu lại thường trong tình trạng

Trang 26

kinh tế mong manh, hơn nữa phụ nữ thường bị hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ

hỗ trợ Không có sự giúp đỡ mạnh mẽ, thì những người bị tái định cư bắt buộc sẽ trở nên nghèo khó Nếu việc tái định cư bắt buộc là không thể tránh khỏi thì nó cần được hoạch định và thực thi một cách chu đáo để kinh tế có thể được tăng trưởng và giảm được nghèo đói, đặc biệt đối với những người dễ bị tổn thương (Đặng Nguyên Anh, 2006)

(2) Di dân tự do (tái định cư tự nguyện): Di cư tự phát vào Tây Nguyên từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung, trong đó có cả nhân dân các dân tộc ở miền núi phía Bắc như Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ, H’Mông Di dân tự phát diễn ra mạnh ở một số thời điểm và thường gây áp lực lớn về đất đai

Những người tái định cư tự nguyện được tự quyết định lựa chọn Họ thường

là nam giới ở lứa tuổi trẻ hoặc trung niên vì vậy họ khá năng động, sáng tạo và chấp nhận rủi ro Chính phủ sẽ tổ chức các chương trình tái định cư được quy hoạch trước, các chương trình này không chỉ quy hoạch nơi ở mới mà còn quy hoạch điều kiện sống tại nơi ở mới, cung cấp các dịch vụ xã hội và thậm chí phục vụ cả nhu cầu văn hóa và tôn giáo (Phạm Văn Hùng, 2008)

2.2 Cơ sở thực tiễn về tái định cư

và khả năng của nhà đầu tư

Trước năm 1993, Nhà nước có thể thu hồi đất mà không đền bù gì hoặc chỉ đền bù cho chính quyền địa phương hoặc tổ chức tập thể đã được cấp đất Cơ sở pháp lý cho chính sách tái định cư dần dần được hình thành với sự ra đời của Hiến

Trang 27

pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 1993, kèm theo đó là hướng dẫn thực hiện trong Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Cùng với những cải thiện trong Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 11 năm 2003 Cho đến nay, luật đã quy định là phải đền bù những thiệt hại về đất và các tài sản gắn liền trên đất Các biện pháp hỗ trợ

ổn định mức sống của những đối tượng bị ảnh hưởng đã được đưa ra với nguyên tắc chung là nơi tái định cư phải có điều kiện sống ít nhất là ngang bằng hoặc tốt hơn

Dưới đây là tóm tắt một số văn bản pháp luật về tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các chính sách liên quan đến đền bù, tái định cư:

- Hiến pháp Việt Nam năm 2013

- Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2014

- Bộ Tài nguyên và môi trường (2014) Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014, hướng dẫn về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 28

- Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 17 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020

- Quyết định 52/2012/QĐ-TTg ngày 16 tháng 11 năm 2012 về chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

- Các quyết định hiện hành của UBND TP Hồ Chí Minh về tái định cư và bồi thường; Trong đó giá đất sẽ được đưa vào trong các Kế hoạch tái định cư, bao gồm:

- Quyết định số 35/2010/QĐ-UBND ngày 28/05/2010 của UBND TP Hồ Chí Minh về chính sách bổi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Quyết định số 66/2012/QĐ-UBND ngày 28/12/2012 ban hành đơn giá nhà cửa và công trình

2.2.1.2 Chính sách tái định cư không tự nguyện của Ngân hàng Thế giới

Ngân hàng Thế giới nhận định tái định cư không tự nguyện có thể gây ra những khó khăn, bần cùng kéo dài và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nếu không lên kế hoạch và thực hiện các giải pháp phù hợp một cách cẩn trọng Chính sách tái định cư (OP 4.12), của Ngân hàng quy định về các chính sách an toàn để giải quyết và giảm thiểu các nguy cơ ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội và môi trường

do tái định cư không tự nguyện gây ra Mục tiêu của chính sách tái định cư không tự nguyện của Ngân hàng Thế giới bao gồm:

a Tái định cư không tự nguyện cần được tránh hoặc được giảm đến mức tối thiểu, bằng cách đưa ra nhiều phương án có thể lựa chọn trong quá trình thiết kế kỹ thuật

b Trong trường hợp tái định cư không tự nguyện là không thể tránh khỏi, các chương trình tái định cư cần được thực hiện như những chương trình phát triển bền vững, xem xét các lợi ích của các dự án đối với những người dân bị ảnh hưởng bằng cách chia sẻ lợi ích của dự án Những người bị di dời phải được tham vấn rõ ràng và được tham gia vào các chương trình lập kế hoạch và thực hiện dự án

Trang 29

Những người bị ảnh hưởng cần được hỗ trợ để bảo đảm điều kiện sống và mức sống của mình ít nhất tương đương hoặc tốt hơn trước khi bắt đầu thực hiện dự án

c Người bị ảnh hưởng của dự án cần được hỗ trợ trong nỗ lực của họ để cải thiện sinh kế và mức sống hoặc ít nhất là khôi phục lại được ít nhất tương đương với mức sống trước khi di chuyển hoặc với mức sống trước khi bắt đầu thực hiện dự

cư khi Nhà nước thu hồi đất; Điều 46 khoản 1 Nghị định 38/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm 2013 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ

Khung chính sách GPMB và TĐC khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam và UBND Tỉnh/Thành phố, khi phê duyệt văn kiện này (RPF), đã cho phép miễn áp dụng một số điều khoản tương ứng trong pháp luật Việt Nam có mâu thuẫn hoặc không phù hợp với các mục tiêu nêu trong Khung chính sách GPMB và TĐC này

2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

Dưới đây là một số nghiên cứu mà bản thân người làm luận văn đã sưu tầm, tổng hợp làm tư liệu cho quá trình thực hiện đề tài của mình:

“Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây

dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia” Đề tài cấp nhà nước, Bộ nông nghiệp và

phát triển nông thôn (2005) Sau khi phân tích đánh, giá thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi ở 7 tỉnh/thành phố: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Cần Thơ, Bình Dương Đề tài đề xuất

Trang 30

các quan điểm, phương hướng, giải pháp và các điều kiện giải quyết thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia những năm tới

“Việc làm và thu nhập cho lao động bị thu hồi đất trong quá trình công

nghiệp hóa - hiện đại hóa và đô thị hoá” Đề tài cấp nhà nước, Trường Đại học

Kinh tế quốc dân (2005) Đề tài đã lý giải tính tất yếu của việc thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và đô thị hoá, cho rằng đây vừa là cơ hội, vừa

là thách thức đối với nước ta trong quá trình phát triển Cơ hội đó là: Tạo điều kiện

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng hiện đại Thách thức là: Người dân mất đất không có việc làm và thu nhập, đời sống của họ tiềm ẩn sự bất ổn bên trong Đề tài này cũng đưa ra các dự báo nhu cầu thu hồi đất và đưa ra khung chính sách đồng bộ bao gồm: Chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại; Chính sách tạo việc làm; Chính sách tái định cư; Chính sách về trách nhiệm và nghĩa vụ của các đơn vị được nhận đất thu hồi sử dụng vào các mục đích phát triển các KCN

và các chính sách xã hội liên quan để đảm bảo việc làm và thu nhập cho đối tượng

bị thu hồi đất

Lê Du Phong (2007), với nghiên cứu “Thu nhập, đời sống, việc làm của

người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích quốc gia” Trong

công trình này, các tác giả nêu lên một số vấn đề lý luận, thực trạng về thu nhập, đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích quốc gia trong thời gian qua ở nước ta, đồng thời cho thấy những khó khăn tồn tại Qua đó, các tác giả đã đưa ra những quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập và đời sống của người dân bị thu hồi đất thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ cho lợi ích quốc gia trong thời gian tới

Trang 31

Phạm Minh Hạnh (2009), với đề tài “Sinh kế của các hộ dân tái định cư ở

vùng bán ngập huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” Nghiên cứu được thực hiện nhằm

đánh giá thực trạng, sinh kế của các hộ di dân tái định cư từ vùng bán ngập của công trình thuỷ điện Sơn La Trên cơ sở đánh giá phân tích, đề xuất một số giải pháp tạo sinh kế nhằm ổn định sản xuất và đời sống của các hộ dân di chuyển đến nơi ở mới Để giải quyết vấn đề trên, một số giải pháp được đưa ra là:

- Giải pháp về nguồn nhân lực: Giúp người dân nhận thức được rằng họ cần phải năng động hơn và có động lực hơn trong việc tìm và huy động các giải pháp nhằm phát triển sinh kế cho chính bản thân họ Đào tạo nghề cho người dân, giúp

họ có kỹ năng lao động phù hợp với điều kiện mới, đặc biệt là sản xuất trên đất bán ngập Nâng cao năng lực quản lý của cộng đồng và chính quyền địa phương

- Giải pháp về nguồn lực xã hội: Tăng cường công tác dân vận nhằm tạo ra

sự đồng thuận của đồng bào các dân tộc đối với chủ trương, chính sách tái định cư Phân cấp mạnh và trao quyền cho các cấp cơ sở, nhất là cấp huyện, thị, gắn với việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quy hoạch và cán bộ trực tiếp làm công tác di dân, tái định cư Tạo thị trường cho sản phẩm nông nghiệp, có mạng lưới cung cấp thông tin về thị trường, có hướng chuyển dịch các hoạt động kinh tế để đáp ứng nhu cầu thị trường

- Giải pháp về nguồn lực tự nhiên: Tận dụng đất bán ngập tại các vùng hồ chứa thủy điện để sản xuất Ban hành quy chế quản lý khai thác vùng hồ chứa nói chung và trên vùng đất bán ngập nói riêng Cần có sự khảo sát kỹ lưỡng về quỹ đất cũng như điều kiện, chất lượng đất đai tại nơi dự kiến nhận dân tái định cư để giao cho dân đưa vào sản xuất

- Giải pháp về nguồn lực vật chất: Khuyến khích các hộ tái định cư tự lập phương án sản xuất theo quy hoạch phê duyệt Nhà nước hỗ trợ vận chuyển, san ủi nền, nhân dân tự tháo dỡ nhà cũ, lắp dựng tại nơi ở mới theo sở thích Nâng cao cơ

sở hạ tầng Bảo đảm ổn định sinh kế cho cộng đồng dân đến định cư và cộng đồng dân sở tại trên các mặt như: Nhà ở, an ninh lương thực, việc làm, phát triển sản xuất, giao thông Đầu tư mở rộng quy mô trường học, trạm xá, chợ v.v Cũ của xã

Trang 32

để tăng năng lực phục vụ dân trong đó do dân tái định cư Cung cấp đầy đủ thông tin về mực nước hồ chứa đến tận người dân

- Giải pháp về nguồn lực tài chính: Cần có một tổ chức đứng ra quản lý số tiền đền bù cho người dân tại mỗi điểm tái định cư Tổ chức này sẽ cùng người dân bàn bạc, lập kế hoạch khôi phục sinh kế để sử dụng tiền đền bù một cách thiết thực

và hiệu quả nhất cho người dân Số tiền đền bù được quản lý chung dưới dạng một quỹ phát triển và cộng đồng sẽ cùng quyết định sử dụng số tiền này để tạo ra các nguồn sinh kế khác thay cho nguồn sinh kế bị mất do việc tái định cư gây ra

Ban Quản lý Dự án Thuỷ điện Trung Sơn (2009), với nghiên cứu “Chương

trình tái định cư, sinh kế và kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số” Thông qua

chương trình tái định cư, sinh kế và Phát triển Dân tộc Thiểu số (RLDP) Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam (EVN), cam kết sẽ bồi thường đầy đủ cho những ảnh hưởng do

dự án thủy điện Trung Sơn, cải thiện hay ít nhất khôi phục sinh kế của người dân bị ảnh hưởng và giảm thiểu hoặc giảm nhẹ những ảnh hưởng tiêu cực khác về mặt xã hội Tài liệu này chỉ ra các nguyên tắc, biện pháp và các chu trình sẽ được sử dụng

để hoàn thành cam kết này RLDP bắt đầu triển khai từ giai đoạn lập dự án, tiếp tục thực hiện trong quá trình xây dựng và kéo dài trong suốt quá trình vận hành nhà máy RLDP bao gồm ba kế hoạch có liên quan chặt chẽ lẫn nhau: (1) Kế hoạch tái định cư liên quan đến những thiệt hại về nhà cửa, đất đai và các tài sản sinh kế khác

do những tác động trực tiếp của dự án Kế hoạch này nhằm thực hiện đầy đủ việc bồi thường và di dời dân cư bị ảnh hưởng (2) Kế hoạch cải thiện Sinh kế Cộng đồng là kế hoạch phát triển dành cho những bản bị ảnh hưởng bởi việc tái định cư

do dự án chính Kế hoạch chi tiết được xây dựng cho từng bản (3) Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số giải quyết những tác động tới cộng đồng các dân tộc thiểu số chưa được giải quyết trong các kế hoạch khác

Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường (2010), với Dự án đói nghèo Và Môi Trường

“Xây dựng khả năng phục hồi: Các chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu

nhiều rủi ro nhất do tác động của biến đổi khí hậu ở miền Trung Việt Nam” Báo

cáo này khảo sát các phương hướng phục hồi các hệ sinh kế ở vùng ven biển miền

Trang 33

Trung Việt Nam, những nơi có nhiều nguy cơ chịu tác động của biến đổi khí hậu nhất Báo cáo xác định các biện pháp để hình thành các chiến lược thích ứng nhằm (1) Giảm bớt tính dễ bị tổn thương của sinh kế ven biển và xây dựng khả năng phục hồi do các tác động của khí hậu (2) Xây dựng khả năng phục hồi các hệ thống sinh thái và xã hội mà những sinh kế này phụ thuộc vào những tác động của biến đổi khí hậu và tăng cường năng lực cung cấp các dịch vụ có chất lượng của các hệ thống này

Các chiến lược thích ứng cho các sinh kế thích ứng với khí hậu: (1) Xây dựng nông nghiệp thích ứng với khí hậu; (2) Đánh bắt cá và nuôi trồng thủy sản thích ứng với khí hậu; (3) Hỗ trợ chung để xây dựng các sinh kế thích ứng với khí hậu; (4) Các biện pháp rộng hơn để giảm các tác động của biến đổi khí hậu đối với các sinh kế dựa vào nguồn lực; (5) Cải thiện lưu giữ và quản lý nguồn nước; (6) Lồng ghép công tác hoạch định ứng phó trong trường hợp khẩn cấp vào các quá trình hoạch định của tỉnh và huyện và hỗ trợ nâng cao nhận thức; (7) Hoạch định và quản lý các ứng phó sớm với nước biển dâng; (8) Cải tiến quá trình tái định cư cho những hộ gia đình và cộng đồng bị tổn thương; (9) Các chiến lược thích ứng cho người dân di cư tạm thời; (10) Xây dựng các chiến lược thích ứng cho người dân di

cư cố định

Trần Thị Thu Huyền (2011), với đề tài “Nghiên cứu sinh kế của người dân ở

khu tái định cư huyện Quốc Oai Thành phố Hà Nội” Đề tài tập trung nghiên cứu

đánh giá thực trạng và kết quả sinh kế của người dân ở khu TĐC huyện Quốc Oai Thành phố Hà Nội, phát hiện những vấn đề cần quan tâm giải quyết, những yếu tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm sinh kế của người dân ở khu TĐC huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội

Hồ Trung Đông (2011), với đề tài “Một số giải pháp nâng cao mức sống các

hộ dân tái định cư dự án thủy điện Sê San 3A Tỉnh Gia Lai” Đề tài đã thực hiện

khảo sát thực trạng, phân tích và đánh giá toàn diện mức sống hiện tại của các hộ dân tái định cư của dự án Kết hợp với phương pháp điều tra và phỏng vấn trực tiếp các đối tượng liên quan, và phương pháp nghiên cứu phù hợp đề tài đã có những

Trang 34

phát hiện mới, đặc thù có ý nghĩa về thực tiễn Công tác di dân tái định dự án thủy điện Sê San 3A đã đạt được một số thành công về ổn định đời sống, nâng cao được nhiều tiêu chí về mức sống, chất lượng cuộc sống của người dân tái định cư được cải thiện so với trước tái định cư Điều đó nói lên sự nỗ lực rất lớn của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp và chủ đầu tư Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn khá nhiều bất cập liên quan cần giải quyết để nâng cao mức sống của người dân tái định cư như nhà ở, đất sản xuất, thu nhập, việc làm v.v Cho các

hộ dân

Phan Thị Thúy Linh (2011), với nghiên cứu “Các giải pháp đào tạo nghề và

tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng” Trong nghiên cứu này, tác giả

đã làm rõ một số vấn đề lý luận về đào tạo nghề và việc làm; Khái quát thực trạng

về đào tạo nghề cho lực lượng thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thời gian qua Từ đó, đề xuất một số giải pháp để tạo việc làm cho lực lượng này

Phạm Thị Hoài (2011), “Đào tạo nghề cho lao động bị thu hồi đất trên địa

bàn thành phố Đà Nẵng” Nghiên cứu này đã đánh giá thực trạng đào tạo nghề và

đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động tái định cư, nhưng phạm vi nghiên cứu là trên địa bàn toàn thành phố Đà Nẵng, chưa đi sâu vào phân tích thực trạng đào tạo nghề cho lao động bị thu hồi đất ở khu vực quận, huyện

Hoàng Tú Anh (2011), “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa

bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” Đề tài nghiên cứu những vấn đề liên

quan đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hòa Vang, chưa đề cập nhiều đến đối tượng lao động bị thu hồi đất trên địa bàn huyện

Phùng Văn Thạnh (2012), với đề tài “Giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững

cho các hộ dân tái định cư ở quận Cẩm Lệ Thành Phố Đà Nẵng” Nghiên cứu được

thực hiện nhằm đánh giá thực trạng sinh kế và các nguồn lực cải thiện sinh kế của các hộ dân thuộc diện tái định cư trên địa bàn quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Qua đó

đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đảm bảo sinh kế cho hộ dân tái định cư theo hướng bền vững Trên cơ sở nhận thức lý luận và kinh nghiệm của một số địa

Trang 35

phương trong nước về vấn đề phát triển kinh tế, đảm bảo sinh kế cho các hộ dân nói chung và cho các hộ thuộc diện tái đinh cư nói riêng, đồng thời căn cứ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đà Nẵng đến năm 2020 và quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội quẩn Cẩm Lệ đến năm 2020 Luận văn nêu ra phương hướng, đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy việc đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ dân tái định cư trên địa bàn quận Các giải pháp mà luận văn đề xuất mang tính đồng bộ, có tác dụng hỗ trợ nhau nhằm mục tiêu đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ dân tái định

cư trên địa bàn quận, từ đó thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, thực hiện an sinh xã hội góp phần xây dựng quận Cẩm Lệ xứng đáng là đô thị cửa ngõ phía Tây, Tây Nam của thành phố Đà Nẵng đô thị loại I

Nguyễn Thị Hải Vân (2012), với nghiên cứu “Giải quyết việc làm cho lao

động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”

Sau khi hệ thống lại những vấn đề lý luận về giải quyết việc làm và phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động diện thu hồi đất của quận Ngũ Hành Sơn Luận văn đã đưa ra được các giải pháp tạo việc làm ổn định và bền vững cho lao động bị mất đất trên địa bàn quận

Đặng Thị Hoài Linh (2013), với đề tài “Giải pháp đào tạo nghề cho lao động

Thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn Huyện Hòa Vang, Thành Phố Đà Nẵng” Luận

văn đã đánh giá thực trạng, phân tích những khuyết điểm và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị với mong muốn sẽ góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề đào tạo nghề cho các hộ dân thuộc diện giải tỏa, tái định cư trên địa bàn huyện Hòa Vang

Nhìn chung các nghiên cứu đã trình bày và đánh giá thực trạng sinh kế của những hộ dân tái định cư Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm cải cải thiện sinh

kế những hộ dân này Tuy có nhiều nghiên cứu liên quan nhưng cho đến nay chưa

có công trình nào nghiên cứu về cải thiện sinh kế những hộ dân tái định cư thuộc dự

án di dân, tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường nên tác giả tiến hành thực hiện đề tài này có kế thừa, phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan

Trang 36

2.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

Diện tích: 550 km2

- Dân số: 169.700 người, trong đó nữ 86.700 người

- Mật độ dân số: 309 người/ km2

- Đơn vị hành chính cấp xã: Có 19 đơn vị trong đó có 2 thị trấn và 17 xã bao gồm: Thị trấn Phù Mỹ, Thị Trấn Bình Dương, xã Mỹ Đức, Mỹ Châu, Mỹ Thắng,

Mỹ Lộc, Mỹ Lợi, Mỹ An, Mỹ Phong, Mỹ Trinh, Mỹ Thọ, Mỹ Hòa, Mỹ Thành, Mỹ Chánh, Mỹ Chánh Tây, Mỹ Quang, Mỹ Hiệp, Mỹ Tài và Mỹ Cát

- Vị trí địa lý: Phù Mỹ là huyện thuộc duyên hải miền trung thuộc tỉnh Bình Định, cách trung tâm tỉnh 55 km về phía Đông Bắc theo quốc lộ 1A, có tổng diện tích tự nhiên 55.592,02 ha chiếm 9,10% diện tích toàn tỉnh

- Địa hình: Địa hình của huyện tương đối đa dạng và phức tạp bao gồm 4 loại địa hình chính như sau: Địa hình đồi núi (25,47%), địa hình gò đồi (15,03%), địa hình đồng bằng (47,17%) và địa hình trũng (10,33%)

- Khí hậu: Nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, thuộc khí hậu ven biển duyên hải Nam Trung bộ, chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mưa ít, 13 hướng gió thịnh hành là hướng Tây Nam

- Thủy văn: Sông La Tinh là một trong bốn sông lớn của tỉnh nằm phía Nam huyện và các suối nhỏ Ngoài ra còn có 2 đầm lớn là đầm Trà Ổ ở phía Bắc và đầm

Đề Gi ở phía Nam Hệ thống sông, suối phân bổ không đều trên lãnh thổ của huyện nhưng cùng với hồ, đập dâng thuận lợi cho việc phục vụ sản xuất và sinh hoạt, góp phần quan trọng cho việc thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội

2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

- Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản ước thực hiện (theo giá cố định 1994) 1.354,463 tỷ đồng; Riêng lĩnh vực nông nghiệp, ước giá trị sản xuất 683,77 tỷ đồng, tăng 5.41%, đạt 96,78% so kế hoạch

Trang 37

- Về công tác triển khai xây dựng nông thôn mới: Trong năm 2015, có 02 xã đạt chuẩn 19/19 tiêu chí nông thôn mới (Mỹ Hòa và Mỹ Trinh) Nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 04/16 xã, chiếm tỷ lệ 25% vượt 200% so với kế hoạch Đến nay, số xã đạt từ 14 đến 18 tiêu chí: 03 xã, chiếm 18,75% gồm: Mỹ Quang (16 tiêu chí, tăng 07 tiêu chí), Mỹ Lợi (14 tiêu chí, tăng 02 tiêu chí), Mỹ Châu (14 tiêu chí, tăng 03 tiêu chí); Số xã đạt từ 09 đến 14 tiêu chí: 06 xã, chiếm 37,5% gồm: Mỹ Tài (13 tiêu chí, tăng 01 tiêu chí), Mỹ Thọ (12 tiêu chí, tăng 01 tiêu chí), Mỹ Cát (12 tiêu chí tăng, 01 tiêu chí), Mỹ Chánh Tây (11 tiêu chí, tăng 02 tiêu chí), Mỹ Phong (10 tiêu chí, tăng 02 tiêu chí), Mỹ An (09 tiêu chí, bằng đầu năm); Số xã đạt

từ 05 đên 08 tiêu chí: 03 xã, chiếm 18,75% gồm: Mỹ Thắng (08 tiêu chí, tăng 02 tiêu chí), Mỹ Thành (08 tiêu chí tăng, bằng đầu năm), Mỹ Đức (06 tiêu chí, giảm 01 tiêu chí)

- Về triều cường, kinh tế mới và công tác khác: Trong năm 2015, các hộ dân vùng dự án thiên tai đã xây dựng 21 nhà ở, nâng số nhà đã xây dựng trong các khu triều cường là 351 nhà/566 lô đất, chiếm 62,0% Đến nay, đã xây dựng 131 công trình và làm thủ tục nghiệm thu đưa vào sử dụng 123 công trình Dự án khí sinh học

- Về giáo dục và đào tạo: Hoàn thành tốt chương trình năm học 2014-2015 Học sinh tiểu học hoàn thành các môn học và các hoạt động giáo dục đạt tỉ lệ 99,8%; Chưa hoàn thành tỉ lệ 0,2% Học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình bậc Tiểu học đạt tỉ lệ 100% Học sinh THCS xếp loại về học lực, Giỏi: 10,42%, Khá: 38,28%, Trung bình: 49,05%, Yếu: 2,17%, đạt từ Trung bình trở lên: 97,75% So năm học trước, học sinh đạt từ Trung bình trở lên tăng 0,32% (trong đó: Loại giỏi - khá tăng 0,85 %) Chất lượng học sinh lớp 9 thi tuyển vào lớp 10 đạt cao (THPT số

1 Phù Mỹ: 22,5 điểm, THPT Mỹ Thọ: 20,75 điểm, THPT số 2 Phù Mỹ: 20,5 điểm, THPT An Lương: 16,5 điểm) Tính điểm bình quân Phù Mỹ xếp vị thứ 2 toàn tỉnh Đặc biệt, có 11 học sinh thi đỗ vào trường THPT chuyên Lê Quí Đôn Thi học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh đạt 39 giải, xếp vị thứ 2 toàn tỉnh Bậc tiểu học không có học sinh bỏ học, bậc THCS có 59 học sinh bỏ học, tỉ lệ 0,59% Công tác phổ cập giáo

Trang 38

dục các bậc học được củng cố; Đặc biệt, huyện có 19/19 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, đạt tỉ lệ 100%

2.3.3 Những tồn tại, yếu kém

Nhìn chung, tình hình kinh tế, xã hội năm 2015 nhiều mặt có tiến bộ; Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá; Các hoạt động văn hóa, xã hội có mặt phát triền; Đời sống nhân dân cơ bản ổn định và tiếp tục được cải thiện; An ninh chính trị và trật tư an toàn xã hội được giữ vững Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đạt được vẫn còn một số tồn tại cần phải khăc phục:

- Tình hình hạn hán, dịch bệnh cây trồng có chiều hướng tăng, công tác khắc phục kịp thời còn hạn chế; Công tác quản lý rừng, phòng chống cháy rừng chưa kịp thời, diện tích rừng bị cháy có chiều hướng tăng cao

- Một số tồn tại trong công tác quản lý đất đai và khai thác khoáng sản chậm khắc phục; Ý thức bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệp và một bộ phận nhân dân còn nhiều hạn chế

- Tiến độ xây dựng một số công trình còn chậm, công tác hoàn công thanh quyết toán chưa được các chủ đầu tư quan tâm, công tác GPMB dự án mở rộng Quốc lộ 1A còn nhiều hạn chế và thủ tục cấp đất còn chậm; Quá trình tổ chức thực hiện quản lý dự án còn nhiều yếu kém nhất là khâu giám sát thi công chưa được đơn

vị tư vấn và chủ đầu tư quan tâm, năng lực của nhà thầu hạn chế Mặt khác, chủ đầu

tư một số công trình chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý chất lượng công trình, thiếu kiểm tra, đôn đốc nên chất lượng một số công trình thi công chưa cao

- Chưa có biện pháp xử lý phù hợp đối với một số doanh nghiệp thuê đất ở các cụm công nghiệp chưa được triển khai đầu tư xây dựng, một số doanh nghiệp sử dụng diện tích thuê không hết gây lãng phí, hiệu quả sử dụng đất thấp

- Phạm pháp hình sự tuy có giảm nhưng an ninh nông thôn ở một số địa phương còn nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về tội phạm trật tự xã hội

Trang 39

2.3.4 Phương hướng phát triển huyện Phù Mỹ trong thời gian tới

Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 của huyện đứng trước những tiềm ẩn phức tạp khó lường của nền kinh tế thị trường trong nước; Tăng trưởng kinh

tế còn gặp nhiều khó khăn Ở tỉnh và huyện ta tiếp tục gặp nhiều thách thức, đặc biệt là tình hình biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến thất thường, ô nhiễm môi trường, giá cả, nguyên vật liệu bấp bênh sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân Do đó, phải quán triệt nghiêm túc chủ trương nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII; Nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu trong năm đầu của kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2016-2020; Bảo đảm

an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; Tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2016, tập trung vào một

số chỉ tiêu chủ yếu sau đây:

1 Chỉ tiêu kinh tế:

- Tống giả trị sản xuất tăng 10,41%

+ Nông, lâm, thủy sản tăng 5,56%

+ Công nghiệp và xây dựng tăng 11,84 %), trong đó công nghiệp tăng 15,5%, xây dựng tăng 5,56%)

+ Các ngành thương mại, dịch vụ tăng 16,6%

- Tỉ trọng nông, lâm, thủy sản chiếm 38,97%; Công nghiệp và xây dựng 36,89%; Thương mại dịch vụ 24,14%)

- Sản lượng lương thực có hạt 112.877,5 tấn; Thu nhập bình quân đầu người 32,64 triệu đồng/năm

- Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn (tính theo giá hiện hành) là 1.753,427 tỷ đồng

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện 517,315 tỷ đồng, trong đó phần cân đối theo kế hoạch 122,566 tỷ đồng Tổng chi 447,05 tỷ đồng, trong đó ngân sách huyện 361,88 tỷ đồng, ngân sách xã 85,17 tỷ đồng

Trang 40

2 Chi tiêu xã hội, môi trường:

- Giải quyết việc làm mới cho 2.000 - 2.500 lao động

- Giảm tỉ lệ hộ nghèo 1,3% - l,5%)/năm (theo tiêu chí giai đoạn 2016-2020)

- 100% trạm y tế có Bác sỹ và 4 xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã (Mỹ Chánh, Mỹ Đức, Mỹ Phong, Mỹ Quang)

- Tỉ suất sinh giảm 0,2 %

- Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 12,59 %

- Tỉ lệ dân dùng nước hợp vệ sinh 98%

- Độ che phủ rừng đạt 30,9%

- Trên 93,5% số hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa Thu hút 50% trở lên số người dân tham gia vào các hoạt động văn hóa, thể thao ở cơ sở; 30% Nhà văn hóa - khu thể thao xã; 45%) nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; 80% thôn được công nhận và giữ vững danh hiệu “Thôn văn hóa”; 25% xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị Trên 80% số cơ quan, đơn vị, trường học, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa cấp huyện Chọn 01 đến 2 xã phát động xây dựng xã văn hóa đạt chuẩn nông thôn mới

và thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị

- 47/68 trường học đạt chuẩn quốc gia, trong đó duy trì 45 trường, công nhận mới 2 trường

- Duy trì 19/19 xã, thị trấn đạt phổ cập mẫu giáo 5 tuổi

- Tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ đạt 100%)

2.3.5 Đặc điểm dự án tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định

Theo qui hoạch, từ năm 2011 các dự án tái định cư sẽ được xây dựng gồm các Khu tái định cư xã Mỹ An, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ (giai đoạn 2) Với tổng kinh phí 37 tỷ đồng và giải quyết chỗ ở cho 500 hộ; Khu tái định cư xã Tây Phú, huyện Tây Sơn với tổng kinh phí 12 tỷ đồng và giải quyết chỗ ở cho 95 hộ; Khu tái

Ngày đăng: 07/07/2018, 23:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm