1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong Bảo Hiểm”

29 1,1K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo hiểm
Tác giả Hoàng Văn Tuấn
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Ngọc Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm
Thể loại Đề án môn học
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 175,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu hướng hội nhập Ứng dụng công nghệ thông tin ( CNTT ) là nhân tố quan trọng tạo ra sức phát triển đối với mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội.Bảo Hiểm(BH) là một có vai trò rất quan trọng trong việc huy động vốn và đảm bảo ổn định tài chính cho các cá nhân,gia đình,cho mọi tổ chức và các doanh nghiệp để ổn định đời sống và khôi phục sản suất kinh doanh.Ngày nay bảo hiểm ngày càng phát triển khá toàn diện cả về qui mô và phạm vi hoạt động,vì thế khối lượng công việc cũng như tính phức tạp trong hoạt động quản lý cũng như kinh doanh ngày càng lớn và phức tạp. Do bảo hiểm có vai trò rất quan trọng như vậy và để đáp ứng yêu cầu công việc của bảo hiểm trong xu thế hội nhập các doanh nghiệp rất cần ứng dụng công nghệ thông tin để họ phát triển và đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế. Ngày nay công nghệ thông tin rất phát triển,Nó có tác dụng rất to lớn trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội,CNTT tạo điều kiện thúc đẩy mội ngành nghề,lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội phát triển và Bảo hiểm không phải là ngoại lệ. Với đề án môn học này em chọn đề tài : “Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong Bảo Hiểm” để tìm hiểu về sự cần thiết việc ứng dụng CNTT vào Bảo hiểm và tình hình triển khai của việc ứng dụng CNTT trong Bảo hiểm hiện nay. Do nhận thức và nguồn tài liệu còn hạn chế nên chắc chắn còn những thiếu sót trong bài. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để em hoàn chỉnh bài hơn. Và em xin cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Ngọc Hương đã hướng dẫn em thực hiện đề tài này.

Trang 1

Lời mở đầu

Trong xu hướng hội nhập Ứng dụng công nghệ thông tin ( CNTT ) lànhân tố quan trọng tạo ra sức phát triển đối với mọi lĩnh vực kinh tế - xãhội.Bảo Hiểm(BH) là một có vai trò rất quan trọng trong việc huy động vốn

và đảm bảo ổn định tài chính cho các cá nhân,gia đình,cho mọi tổ chức vàcác doanh nghiệp để ổn định đời sống và khôi phục sản suất kinhdoanh.Ngày nay bảo hiểm ngày càng phát triển khá toàn diện cả về qui mô

và phạm vi hoạt động,vì thế khối lượng công việc cũng như tính phức tạptrong hoạt động quản lý cũng như kinh doanh ngày càng lớn và phức tạp

Do bảo hiểm có vai trò rất quan trọng như vậy và để đáp ứng yêu cầucông việc của bảo hiểm trong xu thế hội nhập các doanh nghiệp rất cần ứngdụng công nghệ thông tin để họ phát triển và đứng vững trong môi trườngcạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế Ngày nay công nghệ thông tin rất pháttriển,Nó có tác dụng rất to lớn trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xãhội,CNTT tạo điều kiện thúc đẩy mội ngành nghề,lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội phát triển và Bảo hiểm không phải là ngoại lệ

Với đề án môn học này em chọn đề tài : “Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong Bảo Hiểm” để tìm hiểu về sự cần thiết việc ứng dụng

CNTT vào Bảo hiểm và tình hình triển khai của việc ứng dụng CNTT trongBảo hiểm hiện nay Do nhận thức và nguồn tài liệu còn hạn chế nên chắcchắn còn những thiếu sót trong bài Rất mong được sự đóng góp ý kiến củathầy cô và các bạn để em hoàn chỉnh bài hơn Và em xin cảm ơn Thạc sỹNguyễn Ngọc Hương đã hướng dẫn em thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn !

Trang 2

I.Sự cần thiết khách quan.

1.Cơ sở lý luận.

1.1.Khái niệm bảo hiểm

Trong cuộc sống của mỗi người và trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp(DN) thường gặp những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra màkhông ai có thể lường trước được.Khi gặp rủi ro thường dẫn đến hậu quả vềmặt tài chính.Để khắc phục hậu quả này từ trước đến nay loài người có ngữngbiện pháp : tích lũy, đi vay, hình thành các hội tương hỗ,… Tuy nhiên,do sựphát triển của khoa học - kỹ thuật – công nghệ,do qui mô sản xuất ngày càng

mở rộng.Vì vậy,mỗi cá nhân,doanh nghiệp thường có những giá trị tài sản rấtlớn.Khi gặp rủi ro các biện pháp nói trên không khắc phục nổi hậu quả thiệt hại.Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, hầu hết cácDN,đặc biệt là các DN,tập đoàn kinh tế lớn đều xây dựng cho mình mộtchương trình quản trị rủi ro.Theo chương trình này việc quản trị rủi ro đượctiến hành theo cấp độ sau :

Điều này có nghĩa là : các DN, tập đoàn kinh tế chuyển giao rủi ro chonhà Bảo hiểm chịu,đòng thời họ phải trả phí rủi ro cho các nhà Bảo hiểm,đổi lại họ được bồi thường,chi trả khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro

Trang 3

Đây là phương pháp hiệu quả nhất và được các cá nhân ,tổ chức,

- Bảo hiểm tạo ra chỗ dựa tâm lý vững chắc để giúp các cá nhân, các

tổ chức trong xã hội mạnh dạn vay vốn, đầu tư phát triển sản xuất hànghóa

Khái niệm Bảo hiểm :

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Bảo hiểm:

* Đứng trên góc độ tài chính : Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tàichính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi

* Đứng trên góc độ pháp lý : Bảo hiểm là sự cam kết giữa hai bên màtrong đó một bên đồng ý bồi thường cho bên kia nếu bên kia mộp phí bảo hiểm

* Quan điểm hiện nay : Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người đảmbảo cam kết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm trong từng trườnghợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham giaphải nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ 3

Bản chất,đặc điểm của Bảo hiểm :

Dù định nghĩa như thế nào về Bảo hiểm thì bản chất của Bảo hiểmcũng được thể hiện ở những nội dung sau

Trang 4

- Bảo hiểm là cơ chế chuyển giao rủi ro từ bên tham gia sang bên bảohiểm.Cơ chế này được thực hiện trên cơ sở luật pháp của mỗi quốc gia.

- Phân phối trong Bảo hiểm là hình thức phân phối không đều cả vềmặt không gian và thời gian

- Rủi ro trong Bảo hiểm phải là rủi ro bất ngờ không ai lường trướcđược.Còn những rủi ro biết truuwocs nhà Bảo hiểm thường không chấpnhận bảo hiểm

- Bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc số đông bù số ít

- Bảo hiểm là hoạt động dịch vụ tài chính chứ không phải dịch vụ sảnxuất.Bởi vậy, quản lý vĩ mô về Bảo hiểm của nhà nước hết sức chặt chẽphải tuân thủ theo pháp luật

- Mục đích chủ yếu của Bảo hiểm là góp phần ổn định cuộc sống,khôiphục sản xuất,đảm bảo an sinh xã hội,…Ngoài ra,Bảo hiểm còn đáp ứngmột số nhu cầu khác của người tham gia bảo hiểm như : tạo lập quĩ giáodục con cái,vay thế chấp, khởi nghiệp kinh doanh, cưới xin,…

1.2.Khái niệm về công nghệ thông tin

CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyểnđổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin

Ở Việt Nam: khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghịquyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 : Công nghệ thông tin là tậphợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiệnđại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và

sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềmnăng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội

Hệ thống công nghệ thông tin trong DNBH là tập hợp các yếu tố cóliên quan đến việc thu thập xử lý,lưu trữ và phân phối thông tin phục vụcho quá trình ra quyết định và điều khiển trông một doanh nghiệp BảoHiểm.hề thông này bao gồm thông tin về bản thân DNBH và môi trườngxung quanh nó

Trang 5

1.3.Ứng dụng CNTT trong đời sống kinh tế - xã hội

Trong đời sống kinh tế - xã hội rất phát triển hiện nay,thông tin có vaitrò rất quan trọng,ai có thông tin trước và chính xác nhất thì người đó sẽchiếm ưu thế

Và ngày nay,sự đòi hỏi về thông tin càng ngày càng phải nhanhchóng, kịp thời và chính xác,nhu cầu này không chỉ có các nhà chính trị,cácngành kinh tế,các doanh nghiệp,doanh nhân mà kể cả người dân bìnhthường cũng đang rất cần

Trong bộ máy nhà nước,chính phủ các nước đang tích cực ứng dụngCNTT trong hoạt động của mình,các nước đang tiến tới xây dựng “chínhphủ điện tử” và những nước đi đầu là Mỹ, Nhật bản, Hàn Quốc,…và ViệtNam đang trong quá trình thực hiện mục tiêu này

1.4.Ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo hiểm

Do đặc thù của Bảo hiểm là ngành có lượng công việc hành chínhkhổng lồ,tính phức tạp của nghiệp vụ.Ta có nhiều tiêu thức khác nhau đểphân loại bảo hiểm

*Căn cứ vào đối tượng BH, có các hình thức:

- Bảo hiểm con người

- Bảo hiểm tài sản

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự

*Căn cứ vào mục đích hoạt động của các tổ chức quản lý quỹ BH, có:

- Bảo hiểm có mục đích kinh doanh

- Bảo hiểm không có mục đích kinh doanh

Và hiện nay,các nước trên thế gới thường triển khai các loại bảo hiểmnhư: bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp,bảo hiểm thươngmại,…và trong mỗi loại hình bảo hiểm có rất nhiều nghiệp vụ bảo hiểmkhác nhau có tính đặc thù riêng,trong mỗi nghiệp vụ lại có rất nhiều sảnphẩm Bảo hiểm.Vì thế khối lượng công việc của Bảo hiểm là rất lớn và rấtphức tạp : cần có lượng hồ sơ lưu trữ về khách hàng rất lớn,cá hồ sơ này

Trang 6

phải rất chính xác và lưu trữ qua nhiều năm,các công ty Bảo hiểm còn phảitheo dõi một cách chính xác thường xuyên về thông tin của các khách hàngcủa mình…Khi xảy ra tổn thất đối với khách hàng,các nhân viên,công typhải nhanh chóng giải quyết các vấn đề xảy ra và phát sinh.

Ngày nay,do tính cạnh tranh ngày càng gay gắt,yêu cầu các doanhnghiệp phải tìm cách để giảm chi phí hoạt động của mình để cạnh tranh vớiđối thủ.và các doanh nghiệp cũng rất muốn quảng bá hình ảnh của mình tớikhách hàng một cách nhanh chóng và đạt hiệu quả cao nhất

Bên cạnh đó ứng dụng CNTT sẽ đảm bảo được bí mật và an toàn vềthông tin cho doanh nghiệp mình.Nó còn giúp DNBH giảm được các loạichi phí như : Chi phí nhân công,chi phí giao dịch,chi phí quản lý điềuhành,chi phí giám sát,…và từ đó sẽ giúp DNBH có thể tạo vị thế cạnh tranhtrên thương trường và đật hiệu quả kinh doanh

Đặc biệt ngày nay trong thời đại CNTT,việc ứng dụng CNTT là mộtyếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới việc tổ chức tốt mối quan hệ củaDNBH với các đối tác liên quan như khách hàng,các nhà môi giới,các nhà

BH vài tái BH

2.Cơ sỏ thực tiễn.

- Ở Việt nam, năm 2005 tất cả các tỉnh thành phố trong cả nước được

kết nối bằng cáp quang Tỷ lệ người sử dụng Internet số dân và năm 2007

tỷ lệ này là 15%(tương đương với 12 triệu dân) mạng thông tin của tất cảcác Bộ, Ngành, các cơ quan hành chính của bộ máy Nhà nước trung ương,chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện được kết nối với mạng diện rộngcủa Chính phủ và Internet; hầu hết cán bộ công chức tại các đơn vị trên cókhả năng sử dụng các ứng dụng trên Internet phục vụ công tác chuyên môn Đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nướcChính phủ Việt Nam rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT và Bộ ChínhTrị đã ra

Trang 7

Chỉ thị 58/CT-TW về Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT.

Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị đã thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhànước ta trong việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT - TT, với nhậnđịnh chiến lược là “CNTT- TT là một trong các động lực quan trọng nhấtcủa sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biếnđổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại” Chỉ thịcũng đã chỉ rõ “ứng dụng và phát triển CNTT-TT ở nước ta nhằm góp phầngiải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩycông cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăngcường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả choquá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu

để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH”

*Trong ngành Bảo hiểm, Bảo hiểm hiện là một trong những lĩnh vực

đi đầu về ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh ở Việt Nam.trongthời gian qua,các doanh nghiệp bảo hiểm đã không ngừng ứng dụng vànâng cao ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quản lý và nghiệp vụ củamình

Đến nay đã có 25 DNBH phi nhân thọ và 10 DNBH nhân thọ, 8Doanh nghiệp môi giới Bảo hiểm được hoạt động trên thị trường BHVN.Năm 2007 khối DNBH phi nhân thọ có vốn điều lệ 4.445 tỉ đồng, doanhthu 8.360 tỉ đồng (tăng 31% so với 2006) bồi thường 3.229 tỉ đồng, dựphòng nghiệp vụ 4.330 tỉ đồng, đầu từ vào nên kinh tế quốc dân 11.495 tỉđồng.Khối DNBH nhân thọ có vốn điều lệ 4.380 tỉ đồng, doanh thu 9.400 tỉđồng (tăng 12% so với 2006) trả tiền bảo hiểm 3.483 tỉ đồng, 3.828.768hợp đồng chính và 3.290.977 hợp đồng bổ trợ, dự phòng nghiệp vụ 31.152

tỉ đồng, đầu từ vào nền kinh tế quốc dân 32.568 tỉ đồng

Có thể nói ngành bảo hiểm đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, cónhiều sản phẩm bảo hiểm và cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của nền kinh

Trang 8

tế xã hội và đặc biệt đã thu hút được nguồn vốn nhàn dỗi từ phí bảo hiểmđầu tư vào phát triển kinh tế quốc dân.Ngành bảo hiểm hiện đang khai thác

và quản lý một khối lượng hợp đồng bảo hiểm rất lớn: Gần 4 triệu hợpđồng bảo hiểm nhân thọ và 3,3 triệu hợp đồng bổ trợ, trên 6 triệu hợp đồngBảo hiểm trách nhiệm dân sự (BHTNDS) chủ xe mô tô, gần 1 triệu hợpđồng BHTNDS chủ xe mô tô, trên 15 triệu người tham gia bảo hiểm họcsinh, 2 triệu người tham gia Bảo hiểm thân thể toàn diện và trên 1 triệu hợpđồng Bảo hiểm tài sản và gián đoạn kinh doanh cho các cơ sở sản xuất kinhdoanh, tổ chức kinh tế xã hội

Để quản lý giám sát quá trình hợp đồng kinh doanh bảo hiểm với khốilượng hợp đồng bảo hiểm đa dạng phong phú nói trên đòi hỏi phải có hệthống công nghệ thông tin phần mềm dữ liệu tiên tiến

Một số ứng dụng công nghệ thông tin đã được triển khai tại các doanhnghiệp bảo hiểm như:

• Hệ thống thử ngiệm cơ sở dữ liệu quản lý các hợp đồng bảo hiểm

• Phầm mềm kế toán

• Website quảng bá các loại dịch vụ

• Xây dựng hệ thống bảo hiểm điện tử kết nối qua mạng Internet phục

vụ rộng rãi mọi đối tượng khách hàng

Trang 9

II.Tình hình triển khai, khó khăn và thách thức

2.1 Một số thực trạng:

2.1.1.Trên thế giới:

Các ứng dụng CNTT trên thế giới trong những năm qua đã tiến đượcnhiều bước dài và đạt được những thành tựu to lớn.Công nghệ thông tinphát triển với tốc độ chóng mặt:

Năm 2005 mức tăng trưởng của thị trường CNTT trung bình của thếgiới là 6,3% Thị trường viễn thông trung bình cả thế giới tăng 5,4%

Năm 2006 mức tăng trưởng của thị trường CNTT trung bình của thếgiới là 7%,của Châu Á là 9%.Số người sủ dụng internet trên thế gới tăng15,7%.châu Á tăng 8,4%

Thực tế trên thế giới và các nước trong khu vực việc nhờ có ứng dụngcông nghệ thông tin tiên tiến các DNBH nhân thọ và phi nhân thọ đều triểnkhai bán hàng qua mạng lưới đại lý bảo hiểm Bộ máy của DNBH chủ yếulàm nhiệm vụ quản lý giải quyết bồi thường và nghiên cứu phát triển sảnphẩm nên rất gọn nhẹ và hiệu quả

Ngày nay DNBH nào càng ứng dụng được nhiều công nghệ thông tinvào trong quản lý kinh doanh càng đem lại hiệu quả thiết thực trong việcphát triển kinh doanh bảo hiểm, chăm sóc khách hàng, quản lí rủi ro vànâng cao năng lực cạnh tranh

Các DNBH ở Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ sử dụng các giải pháp tiêntiến về hệ thống phần mềm bảo hiểm lõi, bao gồm các giải pháp từ quản lýhợp đồng bảo hiểm đến giải pháp liên quan đến các kênh phân phối

2.1.2.Ở Việt Nam :

Năm 2005 mức tăng trưởng của thị trường CNTT Việt Nam là

15,7%.Thị trường viễn thông tăng 15,9%

Năm 2006 mức tăng trưởng của thị trường CNTT Việt Nam là 20,9%

tỷ lệ người dùng Internet ở nước ta đã đạt gần 16%

Trang 10

Nước ta đã nỗ lực xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế chính sách, tạođiều kiện rất thuận lợi để đẩy mạnh ứng dụng CNTT - TT và xây dựngngành công nghiệp CNTT-TT vững mạnh, đặc biệt là công nghiệp phầnmềm Ứng dụng CNTT - TT ngày càng được phổ cập và từng bước pháthuy hiệu quả tại các doanh nghiệp Ở trong nhiều mặt đời sống kinh tế – xãhội, CNTT-TT từng bước được hình thành và khẳng định vị trí của mình.Công nghiệp phần mềm Việt Nam từ chỗ chưa có tên trên bản đồ phầnmềm thế giới, nay đã được xếp trong danh sách 25 quốc gia hấp dẫn nhất

về gia công phần mềm trên toàn cầu Ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quantrọng của đất nước như ngân hàng, tài chính, hàng không, dầu khí, viễnthông, điện lực…

Bên cạnh những bước phát triển và thành tựu của công nghệ thông tin

và tác dụng của nó đem lại thì Nó cũng có những hạn chế và khó khăn ,ứng dụng và phát triển CNTT-TT Việt Nam trong giai đoạn vừa qua chưatương xứng với tiềm năng và yêu cầu của sự phát triển, cũng như mục tiêu

đã đề ra Hạn chế đó là do sự suy thoái của nền kinh tế và khủng hoảng củangành CNTT-TT trên toàn cầu trong những năm 2001-2003 Nhưng nhữngnguyên nhân chủ quan cũng góp phần không nhỏ, đó là sự thiếu đồng bộ,thống nhất cao trong chỉ đạo, điều hành trong lĩnh vực CNTT, nhận thứcthiếu đúng đắn về vai trò, vị trí và hiệu quả của CNTT trong đời sống kinh

tế – xã hội của nhiều cơ quan, tổ chức, đó là việc chậm trễ tháo gỡ nhữngvướng mắc, rào cản cho sự phát triển của CNTT và ứng dụng CNTT vàtrong đời sống kinh tế xã hội nói chung và vào hoạt đông của các doanhnghiệp Bảo Hiểm nói riêng

2.1.3 Thực trạng (đặc điểm)ứng dụng CNTT của các DNBH VN:

Đối với DNBH liên doanh và 100% vốn nước ngoài: thường kế thừa

sử dụng phần mềm dữ liệu của công ty mẹ là công ty bảo hiểm nước ngoài.Song thực tế còn không ít DNBH liên doanh 100% vốn nước ngoài vẫn cònphải chuyển số liệu về công ty mẹ để xử lý, kiểm tra trước khi đưa ra số

Trang 11

liệu chính thức Chính vì vậy để có số liệu báo cáo chính thức hàng quý,năm theo quy định của Luật kinh doanh Bảo hiểm, thường bị chậm trễ 15ngày tới 1 tháng.

Đối với DNBH 100% vốn Việt Nam: đang tự xây dựng phần mềm dữliệu cho riêng mình thông qua các đối tác công ty tin học trong và ngoàinước Một số DNBH đã đi đầu trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thôngtin đầu tư hàng chục tỉ đồng chi phí phần mềm và trang thiết bị như BảoViệt Nhân thọ, Bảo hiểm Bảo Việt, Bảo Minh, PVI, PJICO song đã xảy

- Phần mềm dữ liệu của các DNBH xây dựng độc lập với nhau khôngthống nhất nên tổng chi phí lớn (từ nhiều công ty tin học khác nhau) khôngtương tác với nhau cho nên không thể tổng hợp số liệu báo cáo chung toànthị trường Bảo hiểm cho cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài Chính - Vụ Bảohiểm) và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

- Các DNBH không sẵn sàng chia sẻ thông tin với nhau và theo nếpnghĩ cũ thiếu tính công khai minh bạch, coi báo cáo tài chính, báo cáo theocác mẫu biểu của Bộ Tài Chính quy định như yếu tố bí mật với đối thủcạnh tranh

- Các DNBH chưa sẵn sàng hợp tác với nhau cùng xây dựng phầnmềm dữ liệu sử dụng chung Thậm chí một số DNBH coi đây là thế mạnhcạnh tranh nên ai mạnh hơn, nhiều tiền hơn , công nghệ tiên tiến hơn, đầu

tư hiệu quả hơn thì người đó thắng

Trang 12

- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: hiện nay chưa có phần mềmthống kê các báo cáo của các DNBH gửi đến Vụ Bảo hiểm - Bộ Tài Chính.Các chuyên viên phải cập nhập bằng tay từ số liệu báo cáo của DNBH.Hiện đã có 25 DNBH phi nhân thọ, 10 DNBH nhân thọ, 8 doanh nghiệpmôi giới bảo hiểm nên việc tổng hợp các số liệu của các báo cáo là rất phứctạp, tốn kém thời gian, công sức và rất có thế có sai xót.

2.2 Xu hướng phát triển công nghệ thông tin trong bảo hiểm

Với một khối lượng công việc khổng lồ, nghiệp vụ có quy mô lớn vàphức tạp cùng với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ thị trường, việc ứng dụngCNTT đối với ngành bảo hiểm là một yêu cầu sống còn Các doanh nghiệp

BH từ lâu đã nhận thức được việc ứng dụng CNTT trong kinh doanhđồng nghĩa với việc nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh của mình Tuynhiên, từ việc nhận thức đúng đắn đến việc triển khai và ứng dụng thànhcông là một quãng đường dài do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như như: điềukiện cơ sở hạ tầng viễn thông, chi phí và thời gian triển khai, hiệu quả vàkhả năng thích nghi…

Theo đó, xu hướng chi phí sử dụng CNTT của các công ty BH trêntoàn cầu chiếm khoảng 3,95% (BH phi nhân thọ) và 3,02% (BH nhân thọ)của phí BH Sự ưu tiên đối với các mục tiêu quan trọng của chiến lượcCNTT cũng thay đổi theo các công ty Trong khi các công ty BH ở Bắc Mỹđang có dấu hiệu chú trọng đến tăng lợi nhuận thì các công ty khác trêntoàn cầu lại tập trung vào tăng hiệu quả

Việt Nam với dân số đông và mức chi phí BH của toàn dân chưa thực

sự cao nên được đánh giá là thị trường tiềm năng và dự kiến sẽ sôi độnghơn trong thời gian tới khi có nhiều công ty BH nước ngoài tham gia

Các DNBH VN hiện nay đã tìm các công ty phần mền,công ty máytính làm đối tác để xây dựng cho mình hệ thống thông công nghệ thông tincho mình vào trong quản lý và hoạt động kinh doanh.Ví dụ như: Bảo Việt

Trang 13

liên kết với tập đoàn phền mền CMC, Bảo Minh liên kết với MicrosoftViệt Nam…

2.3 Cơ hội của Bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

Trong bối cảnh hội nhập hiên nay,các doanh nghiênp BH đứng trước

cơ hội rất lớn,đó là là cơ hội bứt phá

Trong bối cảnh có nhiều thuận lợi chung, kinh tế xã hội có sự chuyểnbiến tích cực, đi liền với đó TTBH trong nước cũng có sự phát triển rất ấntượng cả về quy mô và chất lượng.nền kinh tế Việt Nam trong 10 năm gầnđây luôn tăng trưởng với tốc độ cao (trung bình trên 7%),GDP bình quântrên đầu người ko ngừng tăng lên,điều kiện cuộc sóng của người dân ngàycàng được cải thiện và nâng cao.cụ thể GDP bình quân:

Các DNBH hiện nay, đã và đang tiếp tục thực hiện cổ phần hoá, củng

cố tổ chức, bộ máy nhằm nâng cao năng lực quản trị điều hành, năng lực tài

Trang 14

chính và tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán, nên hầu hết cácdoanh nghiệp BH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đều đạt mức tăngtrưởng khá, hiệu quả hoạt động kinh doanh tăng cao,là một tiền đề để cácDNBH VN đứng vững trong sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thịtrường khi các DNBH nước ngoài đang xâm nhập vào Việt Nam.

Khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập với thế giới,tạo điều kiện cho cácDNBH Việt Nam có cơ hội học hỏi kinh nghiệm của các DNBH nướcngoài về tổ chức quản lý,kinh nghiệm trong khai thác,tính phí,các sản phẩmphù hợp.Và khi hội nhập sẽ giúp các DNBH VN có khả năng tiếp cận vớithị trường ngoài nước và từ đó sẽ mở rộng thị phần của mình

Ngày nay,công nghệ thông tin phát triển rất nhanh,tạo một cơ hội lớn

để các công ty Bảo Hiểm ứng dụng các công nghệ tiên tiến của mình vàotrong hoạt động kinh danh của mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh.Một thuận lợi cho ngành BH nói chung cũng như các DNBH nói riêng

là Nhà Nước, Chính Phủ ban hành các chính sách tạo điều kiền cho BHViệt Nam phát triển một cách thuận lợi

Đó là những cơ hội rất thuận lợi cho ngành BH nói chung cũng nhưDNBH VN nói riêng đang đứng trước một cơ hội bứt phá,tăng tốc,tạo chomình một chỗ đứng một vị thế trong bối cảnh hội nhập,cạnh tranh ngàycàng gay gắt hiện nay và tương lai

2.4 Vai trò,lợi ích công nghệ thông tin mang lại:

2.4.1 Vai trò đối với nền kinh tế -xã hội nói chung:

Công nghiệp CNTT là ngành công nghiệp tiết kiệm tài nguyên và bảo

vệ môi trường Ứng dụng CNTT là nhân tố quan trọng để nâng cao năngsuất lao động, tạo ra sức phát triển đối với mọi lĩnh vực kinh tế xã hội.Trong cải cách hành chính và dịch chuyển cơ cấu kinh tế, CNTT làcông cụ có khả năng tạo ra chuyển biến trong năng lực cạnh tranh quốc giamột cách toàn diện nhất Các hệ thống chính phủ điện tử, thương mại điện

tử sẽ thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài,

Ngày đăng: 07/08/2013, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w