1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn thực hành kỹ năng nghiên cứu KHGD

51 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khoa học là kỹ năng cần thiết với sinh viên. Trong khi tài liệu lý thuyết về nghiên cứu khoa học tương đối phong phú thì tài liệu hướng dẫn thực hành lại ít ỏi nên nhiều sinh viên gặp những khó khăn trong nghiên cứu và trình bày báo cáo kết quả..Cuốn tài liệu này sẽ hướng dẫn một cách cụ thể để giúp sinh viên thực hành kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục dễ dàng hơn.

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

GIÁO DỤC

1 Nghiên cứu khoa học giáo dục

1.1 Khái niệm nghiên cứu KHGD.

* NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thếgiới, tạo ra những tri thức có giá trị Nhờ đó, con người có khả năng tác độngvào thế giới một cách chủ động, hợp lý và hiệu quả trong các hoạt động, nângcao chất lượng cuộc sống và đảm bảo tiến bộ xã hội

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, nhà khoa học là chủ thể nghiêncứu, thế giới khách quan là khách thể nghiên cứu Chủ thể tác động vào kháchthể để tìm hiểu bản chất, đặc điểm, qui luật của đối tượng nghiên cứu Tùy theođối tượng nghiên cứu thuộc lĩnh vựa nào mà tạo nên các lĩnh vực nghiên cứukhác nhau như nghiên cứu y học, nghiên cứu kỹ thuật, nghiên cứu văn học,nghiên cứu khoa học giáo dục

*KHGD: Khoa học giáo dục là một bộ phận của hệ thống các khoa họcnghiên cứu về con người bao gồm giáo dục học, tâm lý học sư phạm, phươngpháp giảng dạy bộ môn Khoa học giáo dục nghiên cứu những qui luật của quátrình truyền đạt và quá trình lĩnh hội

* Nghiên cứu khoa học giáo dục là hoạt động nghiên cứu đặc thù tronglĩnh vực giáo dục Là hoạt động mang tính hệ thống thường xuất phát từ nhữngkhó khăn trong hoạt động giáo dục, hay từ nhu cầu nhận thức hoạt động giáodục nhằm khám phá ra những khái niệm, những qui luật mới của giáo dục bằngcác phương pháp khoa học

Nghiên cứu khoa học giáo dục giúp mỗi người làm công tác giáo dục giảiquyết những khó khăn, những mâu thuẫn, các vấn đề gặp phải trong thực tiễnhoạt động giáo dục, đem lại những tri thức mới giúp hoạt động giáo dục đạt hiệuquả Vì vậy, hình thành năng lực nghiên cứu KHGD cho sinh viên một trong cácmục tiêu của các cơ sở đào tạo giáo viên

Nghiên cứu khoa học giáo dục có rất nhiều mức độ khác nhau nhưngnhững kỹ năng nghiên cứu khoa học cơ bản được thể hiện tương đối đầy đủtrong thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục

1.1 Qui trình thực hiện một đề tài nghiên cứu KHGD

Trang 2

Theo GS.TS Phạm Viết Vượng, quá trình thực hiện một đề tài nghiêncứu khoa học giáo dục, tức là từ khi xác định đề tài đến khi hoàn thành một đềtài nghiên cứu khoa học giáo dục trải qua 3 giai đoạn:

* Giai đoạn chuẩn bị: Giai đoạn này thường có các công việc sau:

- Xác định đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu khoa học là một vấn đề khoa học chứa đựng một nộidung thông tin chưa biết, cần được làm sáng tỏ bằng các phương pháp khoa học

Không phải vấn đề nào cũng trở thành một đề tài nghiên cứu.Những vấn

đề quá rộng và phạm vi không xác định rõ ràng như “đạo đức xuống cấp củathanh niên hiện nay”, “vấn đề xã hội hóa giáo dục” sẽ khó giải quyết bằngphương pháp khoa học mà chỉ nêu được những giải pháp theo quan điểm, kinh

nghiệm cá nhân thì đó chỉ là một vấn đề chứ chưa phải là một đề tài; chỉ những vấn đề cụ thể, xác định rõ đối tượng, phạm vi và có khả năng giải quyết bằng phương pháp khoa học thì mới trở thành đề tài nghiên cứu khoa học

Xác định đề tài là chúng ta xác định được vấn đề cần giải quyết, tức là xác định được nội dung mâu thuẫn đang tồn tại cần giải quyết và đặt ra được những câu hỏi nghi vấn cần trả lời để giải quyết được mâu thuẫn đó một cách khoa học, đem lại tri thức mới, phương pháp mới giúp hoạt động giáo dục tiến

hành hiệu quả

Ví dụ tình huống: Một số học sinh chưa ngoan hay trêu chọc bạn bè, phárối các hoạt động của tập thể đang gây khó khăn cho công tác giáo dục của nhàtrường Các giáo viên chủ nhiệm lớp đã tìm cách giáo dục nhưng chưa hiệu quả,nhà trường đã họp bàn về vấn đề này Là một giáo viên, bạn rất quan tâm vấn đềnày và muốn đưa ra được những biện pháp giáo dục học sinh chưa ngoan hiệuquả

Trong ví dụ trên, vấn đề cần nghiên cứu là giáo dục học sinh chưa ngoan chưa hiệu quả, phạm vi không gian là trường mà giáo viên đang công tác,

thời gian là năm học đó Để giải quyết vấn đề giáo dục học sinh chưa ngoan

chưa hiệu quả cần trả lời được câu hỏi: Thực trạng công tác giáo dục học sinh chưa ngoan của trường như thế nào? Tại sao giáo dục chưa hiệu quả? làm thế nào để giáo dục học sinh chưa ngoan của trường hiệu quả?

Sau khi đề tài được xác định thì cần được phát biểu dưới tên đề tài Tên

đề tài là tên gọi của vấn đề mà ta cần nghiên cứu, chứa đựng nội dung đối tượngnghiên cứu và phần nào nói lên phạm vi, mức độ nghiên cứu Tên đề tài đượcphát biểu ngắn gọn, rõ ràng

Trang 3

Như vậy, để xác định đề tài chúng ta cần:

+ Xác định được mâu thuẫn cấp bách cần giải quyết trong công tác giáodục trong phạm vi có liên quan và chứa đựng điều kiện khách quan và chủ quan

có thể giải quyết được

+ Nêu được những câu hỏi cần trả lời khi giải quyết vấn đề đó

+ Phát biểu tên đề tài phù hợp

- XD đề cương nghiên cứu

Đề cương của đề tài được coi như bản đề án của công trình nghiên cứu,

là một bản thuyết minh về ý nghĩa, nội dung, phương pháp nghiên cứu đề tài.Qua đề cương thấy hướng đi khái quát của đề tài, thấy được ý nghĩa, nhiệm vụ,nội dung, phương pháp nghiên cứu …

Thông thường, đề cương của đề tài nghiên cứu KHGD có cấu trúc như

sau: ngoài trang bìa và phụ bìa thì đề cương của một đề tài nghiên cứu KHGDgồm những nội dung sau:

+ Lý do chọn đề tài: là cái vì nó mà chúng ta làm đề tài, nói lên ý nghĩa,tầm quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn của việc cần làm đề tài đó nên cònđược gọi là tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

+ Mục đích nghiên cứu: là mục tiêu mà đề tài hướng tới và cần đạt được.+ Khách thể, đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là đối tượng trực tiếp mà hoạt động nghiên cứu cần khám phá ra bản chất, qui luật vận động của nó

Khách thể nghiên cứu là môi trường chứa đối tượng nghiên cứu vànhững yếu tố liên quan đến đối tượng mà ta cần tác động đến để khám phá đốitượng Xác định khách thể nghiên cứu là xác định giới hạn bắt buộc phần thếgiới khách quan mà ta cần tác động vào để làm bộc lộ bản chất và qui luật củađối tượng Đối tượng nằm trong khách thể, khách thể chứa đối tượng nghiêncứu Việc xác định khách thể giúp người nghiên cứu khoanh vùng định hướnglựa chọn đối tượng tác động phù hợp, chính xác, tránh dàn trải để quá trìnhnghiên cứu diễn ra thuận lợi hơn

+ Giả thuyết khoa học của đề tài: Là phán đoán về bản chất vấn đề

nghiên cứu, là giả định về câu trả lời cho câu hỏi của đề tài Giả thuyết khoa học

có tác dụng định hướng cho thực hiện đề tài Mọi giả định đều phải chứng minh

và quá trình thực hiện công trình nghiên cứu chính là quá trình chứng minh giả thuyết Vì vậy, kết luận của đề tài cần có sự bác bỏ hay khẳng định giả thuyết nghiên cứu của đề tài

Trang 4

+ Nhiệm vụ nghiên cứu: Là những mục tiêu cụ thể cần đạt và công việccần làm để thực hiện được mục đích của đề tài.

Một đề tài nghiên cứu thực tiễn khoa học giáo dục thường có các nhiệm

vụ sau:

• Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài

• Trên cơ sở lý thuyết phát hiện bản chất và qui luật của đối tượng(tìm hiểu thực tiễn vấn đề nghiên cứu)

• Qua nghiên cứu đề xuất các giải pháp mới cải tạo thực trạng đốitượng

• Tổ chức thực nghiệm giải pháp cải tạo thực trạng (nếu có.)

+ Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghien cứu thực chất là cáchthức, con đường tiếp cận để thu thập và xử lý thông tin về đối tượng Cácphương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục thuộcnhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết (phân tích- tổng hợp, phân loại- hệthống hóa lý thuyết; mô hình hóa ), nghiên cứu thực tiễn (quan sát, điều traviết, thực nghiệm, trò chuyện….), phương pháp xử lý tư liệu (toán thống kê)

Để lựa chọn phương pháp cần căn cứ vào các yếu tố: Đặc điểm đối

tượng và đặc điểm phương pháp nghiên cứu; Nhiệm vụ nghiên cứu; Giả thuyếtkhoa học; Điều kiện khách quan, chủ quan có cho phép sử dụng các phươngpháp đó không?

Trong đề cương chỉ cần nêu tên phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng,mục tiêu sử dụng phương pháp và sơ lược cách sử dụng phương pháp đó

+ Dự thảo nội dung: Nêu dự kiến dàn ý cấu trúc nội dung báo cáo kết

quả nghiên cứu đề tài sau khi hoàn thành, bao gồm tên các phần chính, cácchương và mục lớn của từng chương Thông thường một đề tài gồm phần sau:

mở đầu, nội dung, kết luận, phụ lục và mục lực tham khảo

- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu : kế hoạch nghiên cứu là vạch ra nhữngcông việc cần làm từ khi xác định đề tài đến khi thực hiện đề tài và hoàn thành,trình tự thực hiện các công việc đó, giới hạn thời gian và những điều kiện thựcthi công việc

*Giai đoạn thực hiện (còn gọi là giai đoạn thu thập và xử lý thông tin):

Giai đoạn này bao gồm các công việc sau:

- Thu thập và xử lý thông tin lý luận

Nghiên cứu khoa học luôn được thực hiện với một định hướng lý luậnnhất định Ngoài những quan điểm chung cần đảm bảo trong nghiên cứu KHGD

Trang 5

thì cần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận trực tiếp cho giải quyết nhiệm vụ thựctiễn của đề tài.

Mục đích của thu thập và xử xử lý thông tin lý luận là làm sáng tỏ cơ sở

lý luận của đề tài làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn; đồng thời tìm hiểu lịch sửnghiên cứu vấn đề, thấy được những thành tựu và tồn tại trong nghiên cứu vấn

đề đó, từ đó chỉ rõ được đóng góp mới của đề tài

Thông thường, những vấn đề lý luận liên quan đề tài bao gồm:

+ Các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu (thường gọi khái niệmcông cụ hay khái niệm làm việc)

+ Các tri thức, quan điểm, qui định làm cơ sở cho thu thập, xử lý, bànluận về thông tin nghiên cứu được

+ Những thành tựu đạt được và những tồn tại trong lịch sử nghiên cứuvấn đề

Để làm sáng tỏ cơ sở lý luận và lịch sử nghiên cứu vấn đề, người nghiêncứu phải xác định được những tài liệu cần đọc, có kỹ năng tìm nguồn tài liệu và

sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Thu thập và xử lý thông tin thực tiễn và rút ra kết luận khoa học

Đây là công việc quan trọng nhất quyết định phần lớn giá trị thực tiễncủa đề tài Trước khi thu thập và xử lý thông tin người nghiên cứu phải có kỹnăng lựa chọn mẫu nghiên cứu tiêu biểu, xác định thang đo và dụng cụ đo hiệntượng nghiên cứu Sau đó cần sử dụng thành thạo các phương pháp thu thập và

xử lý thông tin thực tiễn để rút ra được những thông tin mới về bản chất đốitượng nghiên cứu, những phương pháp tác động đối tượng nghiên cứu hiệu quả

Để kiểm chứng những giải pháp làm thay đổi thực trạng đối tượngnghiên cứu, trong giai đoạn này còn có thể có thêm thực nghiệm khoa học Làmthực nghiệm là một công việc đòi hỏi trình độ cao về lý luận và thực tiễn, ngườinghiên cứu vừa phải nắm vững phương pháp luận vừa có kỹ năng thực hànhnghiên cứu, vì vậy tùy theo mức độ yêu cầu của đề tài và khả năng nghien cứu

mà tác giả xác định có sử dụng hay không?

* Giai đoạn hoàn thành gồm có các công việc sau:

- Hoàn thành văn bản công trình

Trang 6

Sau khi xử lý thông tin và rút ra kết luận mới, kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục thường được trình bày dưới dạng văn bản trong một báo cáo khoa học Cấu trúc của từng báo cáo do cơ quan quản lý đề tài qui định.

Để hoàn thành báo cáo khoa học của đề tài cần có kỹ năng viết báo cáo;người nghiên cứu phải trình bày đúng qui định về cấu trúc và thể thức văn bản;trình bày từng phần trong báo cáo đảm bảo rõ ràng, chính xác, khách quan, hệthống

Quá trình thực hiện viết báo cáo khoa học thường trải qua hai giai đoạn:

thứ nhất là giai đoạn viết nháp, sau đó tham khảo ý kiến người có kinh nghiệm

và sửa chữa rồi mới chuyển sang viết chính thức.

- Nghiệm thu và đưa vào ứng dụng

Kết quả nghiên cứu khoa học chỉ chính thức được công nhận sau khi nghiệm thu đạt yêu cầu Tùy theo cấp độ nghiên cứu của đề tài (tiểu luận, luận văn tốt nghiệp, hay đề tài các cấp) mà qui trình và thủ tục nghiệm thu bảo vệ khác nhau

Thông thường có hai phương pháp chủ yếu để nghiệm thu đề tài nghiêncứu KHGD là phương pháp thông qua hội đồng khoa học và phương pháp thửnghiệm thực tiễn Phương pháp thử nghiệm thực tiễn mặc dù có nhiều ưu điểmnhưng lại khó thực hiện nên trong thực tế chủ yếu sử dụng phương pháp đánhgiá thông qua hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học

Quá trình thực hiện nghiệm thu đề tài đòi hỏi người nghiên cứu có kỹnăng viết và trình bày báo cáo tóm tắt chuẩn bị tốt các phương tiện điều kiệncho bảo vệ công trình nghiên cứu, kỹ năng tóm lược câu hỏi và trả lời chất vấn,

kỹ năng giao tiếp khoa học

Trên đây là các giai đoạn, các công việc cần tiến hành trong từng giaiđoạn của quá trình thực hiện một đề tài, các giai đoạn và công việc đó có quan

hệ chặt chẽ với nhau và đòi hỏi những yêu cầu về kỹ năng nghiên cứu khácnhau; nếu bất kỳ kỹ năng nào yếu đều ảnh hưởng đến kết quả thực hiện đề tài

Ví dụ: Thực tiễn cho thấy chất lượng công trình nghiên cứu là yếu tố quyết địnhnhất, nhưng trong nhiều trường hợp công trình nghiên cứu có thể bị đánh giáthấp hơn thực tế chỉ do người nghiên cứu khi bảo vệ đề tài trình bày báo cáolúng túng, thiếu mạch lạc

2 Các kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục cơ bản

Trang 7

2.1 Kỹ năng và sự hình thành kỹ năng.

Kỹ năng là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thuần thục một

hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm)nhằm tạo ra kết quả mong đợi Nói cách khác, kỹ năng là khả năng vận dụng lýthuyết vào thực hiện một hành động có kết quả

Nói đến kỹ năng là nói đến khả năng hành động, tuy nhiên đó khôngphải là hành động mang tính chất phản ứng tự phát, bản năng hay thói quen mà

là chuỗi thao tác được hình thành một cách chủ động do quá trình luyện tập có ýthức trên cơ sở hiểu biết nhất định Vì vậy, để có kỹ năng hành động thì trướchết chủ thể cần nắm vững cơ sở lý thuyết (kiến thức), sau đó là luyện tập để hìnhthành kỹ năng Kỹ năng là hành động thuần thục trên nền tảng kiến thức

Như vậy quá trình hình thành kỹ năng trải qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhất: Hình thành cơ sở lý thuyết

Kỹ năng có quan hệ chặt chẽ với kiến thức nhưng lại rất khác kiến thức vì kiến thức chỉ là biết, là hiểu nhưng chưa bao giờ làm, thậm chí không bao giờ làm nên ít tạo ra những thay đổi cho cuộc sống; chỉ có kiến thức suông thì chưa chưa tạo nên sự thay đổi trong thực tiễn, chưa tạo nên sức mạnh và chỉ khi hình thành kỹ năng mới tạo nên sức mạnh Tuy nhiên, kiến thức và kỹ năng

có quan hệ chặt chẽ kiến thức là cơ sở để hình thành kỹ năng Vì vậy trong côngtác đào tạo nghề nghiệp thì hình thành kỹ năng nghiệp vụ là mục tiêu quan trọngnhưng muốn hình thành kỹ năng thì đầu tiên là phải trang bị cơ sở lý thuyết

Ví dụ: muốn có kỹ năng xây dựng đề cương nghiên cứu cho đề tài thìngười nghiên cứu phải hiểu đề cương nghiên cứu là gì? ý nghĩa của nó? cấu trúc

đề cương nghiên cứu và trật tự các thao tác cần thực hiện để xây dựng đề cươngnghiên cứu

- Giai đoạn thứ hai là luyện tập hình thành kỹ năng:

Để vận dụng được lý thuyết vào hành động thực tiễn thì chỉ nhìn và nghethì không thể hình thành được mà phải luyện tập thực hành đủ số lần cần thiết đểthành thạo Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định có thể chuyển từ tri thức sanghình thành được kỹ năng được hay không

Để hình thành kỹ năng nghiên cứu khoa học thì sinh viên phải thực hànhluyện tập làm các bài tập nghiên cứu khoa học, ngoài những kiến thức chung về

phương pháp luận NCKHGD thì người hướng dẫn cần chỉ ra các thao tác cần

thực hiện trong nghiên cứu KHGD và cách thức thực hiện các thao tác đó, sau

đó sinh viên thực hành và rút kinh nghiệm cho đến khi thành thạo.

Trang 8

Ví dụ: để rèn luyện kỹ năng xác định đối tượng nghiên cứu cho đề tài thìngười dạy Cần:

• Giúp sinh viên hiểu được đối tượng nghiên cứu của đề tài là đối tượngtrực tiếp cần nhận thức, khám phá trong nghiên cứu

• Hướng dẫn cách làm cụ thể để xác định đúng đối tượng nghiên cứu bằngcách trả lời câu hỏi: đề tài này nhằm tìm hiểu cái gì? Trả lời được câu hỏinày là đã xác định được đối tượng nghiên cứu (đây chính là phần hướngdẫn thao tác thực hành của người dạy)

• Tổ chức cho sinh viên thực hành xác định đối tượng nghiên cứu cho đề tàikhác nhau theo đúng chỉ dẫn trên

Trong quá trình thực hành phải luôn có nhận xét, rút kinh nghiệm đếnkhi các em thực hiện thành thạo, chính xác là đã hình thành kỹ năng

Kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên là sự vận dụng

tri thức về phương pháp và phương pháp luận thực hiện các hoạt động nghiêncứu khoa học giáo dục của sinh viên trong học tập ở các trường đào tạo giáoviên

Kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục là một trong 3 kỹ năng cơ bản

mà sinh viên học ngành sư phạm cần có là kỹ năng giảng dạy, kỹ năng giáo dục

và kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục Trong đó kỹ năng nghiên cứu khoahọc là phương tiện, công cụ để làm tốt 2 kỹ năng trên, đồng thời, là công cụ đểngười thầy giáo tự học suốt đời, hoàn thiện năng lực đáp ứng nhu cầu thực tiễn

về giáo dục của địa phương Vì vậy hình thành kỹ năng nghiên cứu khoa học

giáo dục cho người học rất quan trọng

2.2 Các kỹ năng nghiên cứu khoa học cơ bản trong thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục.

Kỹ năng nghiên cứu KHGD là khả năng thực hành những thao tácnghiên cứu khoa học giáo dục đúng với yêu cầu về phương pháp luận để hoạtđộng nghiên cứu khoa học đạt kết quả

Vì vậy, để xác định những kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục cơbản nào cần có trong quá trình thực hiện một đề tài cần phân tích những côngviệc trong các giai đoạn thực hiện một đề tài nghiên cứu KHGD từ đó tìm ranhững đòi hỏi về kỹ năng tương ứng

Trang 9

Từ phân tích qui trình thực hiện một đề tài trong phần 1.1, chúng ta cóthể xác định được các kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục cơ bản theo bảngdưới đây:

Kỹ năng nghiên cứu khoahọc tương ứng

Chuẩn bị - Xác định đề tài nghiên

cứu

- XD đề cương nghiên cứu

- XD kế hoạch nghiên cứu

- Kỹ năng phát hiện mâuthuẫn và xác định đề tài

- Kỹ năng xây dựng đềcương nghiên cứu cho đề tài

- Kỹ năng xây dựng kếhoạch nghiên cứu

Thực hiện (thu

thập và xử lý

thông tin)

- Thu thập và xử lý thôngtin lý luận

- Thu thập và xử lý thôngtin thực tiễn ( dùng tư duykhoa học để xử lý và lậpluận) và rút ra kết luậnkhoa học

- Kỹ năng sử dụng cácphương pháp nghiên cứu lýluận

- Kỹ năng chọn mẫu nghiêncứu và xác định thang đo,dụng cụ đo hiện tượngnghiên cứu

- Kỹ năng lựa chọn và sửdụng các phương phápnghiên cứu thực tiễn

- Kỹ năng xử lý tài liệu.Hoàn thành - Hoàn thành văn bản

công trình

- Nghiệm thu đề tài

- Kỹ năng viết văn bản báocáo khoa học

- Kỹ năng trình bày báo cáotóm tắt kết quả nghiên cứu

và trả lời câu hỏi phản biện Còn theo GS.TS Nguyễn Xuân Thức thì qui trình thực hiện một đề tài gồm các giai đoạn và các kỹ năng NCKH cơ bản cần có như sau:

Các giai đoạn trong qui trình thực

hiện đề tài

Các kỹ năng NCKH cơ bản tương ứng

Trang 10

1: Thiết lập đề tài

2: XD đề cương

3: Thu thập và xử lý TT

4 Viết công trình nghiên cứu: Viết

thảo thô và chỉnh sửa, sau đó viết

sạch và bảo vệ đề tài

- Kỹ năng lựa chọn đề tài

- Kỹ năng XD đề cương

- Kỹ năng sử dụng PP nghiên cứu

- Kỹ năng viết báo cáo công trình nghiên cứu

Nhìn chung các cách phân loại hệ thống các kỹ năng NCKH tương đốithống nhất Trong phạm vi tài liệu này, chúng tôi chỉ giới hạn hướng dẫn thựchành kỹ năng xác định đề tài, kỹ năng xây dựng đề cương và kế hoạch nghiêncứu cho đề tài, kỹ năng viết văn bản báo cáo khoa học

Trang 11

PHẦN THỨ HAI

HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC GIÁO DỤC CHO SINH VIÊN

Chương 1 HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH KỸ NĂNG XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI

VÀ XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU.

1.1 Hướng dẫn thực hành kỹ năng xác định đề tài.

1.1.1 Hướng dẫn.

Xác định đề tài là chúng ta xác định được vấn đề cần giải quyết, tức là xác định được nội dung mâu thuẫn trong hoạt động giáo dục cần giải quyết cấp bách và đặt ra được những câu hỏi nghi vấn để giải quyết mâu thuẫn đó một cách khoa học, đem lại tri thức mới, phương pháp mới giúp hoạt động giáo dục

tiến hành hiệu quả

Thực hành xác định đề tài phải thực hiện những bước sau:

- Đầu tiên cần phát hiện mâu thuẫn bức thiết cần giải quyết trong hoạt

động giáo dục đang tiến hành, muốn vậy người nghiên cứu cần trả lời câu hỏi:

điều gì đang cản trở thực hiện nhiệm vụ giáo dục của bản thân mà mình mong muốn giải quyết nhất hiện nay?

- Bước tiếp theo là trả lời câu hỏi: Để giải quyết vấn đề đó phải làm sáng

tỏ điều gì (trả lời câu hỏi nào)?

- Cuối cùng là câu hỏi: Những yếu tố khách quan và chủ quan có cho phép mình giải quyết mâu thuẫn đó không? nếu câu trả lời là có thì có nghĩa là

vấn đề đó có thể phát triển thành đề tài

Ví dụ: sinh viên ngành giáo dục tiểu học gặp rất nhiều khó khăn khi thựctập giảng dạy, trong đó một khó khăn phổ biến và khó khắc phục là không duytrì được tập trung chú ý của học sinh liên tục vào bài học, làm cản trở việc tổchức hoạt động dạy học của cô Là một sinh viên thực tập, bạn rất mong muốntìm ra biện pháp duy trì chú ý của học sinh lớp mình dạy một cách hiệu quả.Phân tích điều kiện khách quan và chủ quan cho thấy có khả năng giải quyếtđược vấn đề này vì công việc hằng ngày của bạn là thực tập dạy, lớp bạn dạy làlớp thực tập chủ nhiệm nên thường xuyên tiếp xúc học sinh, đặc điểm chú ý củahọc sinh tiểu học đã được học, giáo viên hướng dẫn là người có kinh nghiệm tổchức quản lý lớp nên bạn quyết định lựa chọn vấn đề duy trì chú ý trong giờ

Trang 12

học cho hoc sinh làm đề tài nghiên cứu Để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, bạn

đã đặt ra câu hỏi cần giải quyết:

a/Thực trạng tập trung chú ý trong giờ học của học sinh lớp mình chủnhiệm ở như thế nào? Tại sao các em không tập trung chú ý liên tục vào bài họcđược?

b/ Làm thế nào để duy trì tập trung chú ý liên tục của học sinh vào bàihọc?

Thực hiện được những bước trên là ta đã xác định được đề tài

Đề tài sau khi được xác định cần phát biểu thành tên đề tài Thực hànhviết tên đề tài chúng tôi trình bày ở phần 1.2

1.1.2 Bài tập thực hành:

Bài 1 Hoạt động nhóm: Mỗi nhóm thảo luận, thực hành xác định một đềtài nghiên cứu khoa học giáo dục thuộc ngành mình được đào tạo theo hướngdẫn phần 1.1.1

Hãy nêu vấn đề cần giải quyết và đặt ra được câu hỏi để giải quyết vấn đềđó

1.2 Hướng dẫn thực hành kỹ năng xây dựng đề cương nghiên cứu cho đề tài.

1.2.1 Hướng dẫn thực hành viết đề cương.

a Cách viết tên đề tài

Tên đề tài được phát biểu thành một câu ngữ pháp hoàn chỉnh, diễn tả đượcnội dung đối tượng nghiên cứu, thể hiện được phạm vi nghiên cứu cụ thể

Trang 13

Để viết tên đề tài cần:

- Xác định đè tài này nghiên cứu cái gì? nghiên cứu ở đâu, phạm vi nào?

Ví dụ: Một số học sinh chưa ngoan hay trêu chọc bạn bè, phá rối các hoạt độngcủa tập thể đang gây khó khăn cho công tác giáo dục của nhà trường Là mộtgiáo viên, bạn rất quan tâm vấn đề này và muốn tìm hiểu công tác giáo dục họcsinh cá biệt của nhà trường một cách khoa học và đưa ra được những biện phápgiáo dục học sinh chưa ngoan hiệu quả

Trong ví dụ trên: vấn đề nghiên cứu là công tác giáo dục học sinh chưangoan, phạm vi nghiên cứu về không gian chỉ giới hạn ở trường Tiểu học QuếNham, về thời gian trong năm học 2016-2017

- Diễn đạt tên đề tài ngắn gọn, khúc chiết sao cho đủ thông tin, phản ánh

cô đọng và rõ ràng nội dung, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong tình huống trên có thể phát biểu tên đề tài là “Thực trạng công tácgiáo dục học sinh cá biệt của trường Tiểu học Quế Nham năm học 2016-2017”

- Tránh phát biểu tên đề tài dài, không rõ ràng đối tượng, phạm vi nghiêncứu

Ví dụ: tên đề tài “Công tác giáo dục học sinh chưa ngoan ở trường Tiểuhọc” là quá rộng, chưa nêu rõ nghiên cứu công tác giáo dục học sinh cá biệt củatrường nào? thời điểm nào nên khó có thể thực hiện được

Tên đề tài “thử bàn về công tác giáo dục học sinh chưa ngoan của trườngtiểu học Quế Nham” thì “thử bàn” là làm gì? nội dung đối tượng nghiên cứu đềtài không rõ ràng

b/ Tính cấp thiết của đề tài (hay lý do chọn đề tài):

- Trình bày lý do chọn đề tài, tác giả cần trả lời câu hỏi: “Tại sao chọn vấn

đề này để nghiên cứu?”

Trả lời câu hỏi đó người nghiên cứu phải trình bày rõ ràng, tường minh

những lý do về mặt lý thuyết, về mặt thực tiễn, về năng lực nghiên cứu và sở thích cá nhân khiến tác giả chọn đề tài

Ví dụ đề tài “thực trạng hứng thú học môn toán của học sinh lớp 5Atrường tiểu học Quế Nham” Trình bày lý do chọn đề tài người nghiên cứu phải

trả lời câu hỏi: “Tại sao chọn vấn đề thực trạng hứng thú học tập môn toán của học sinh lớp 5A trường tiểu học Quế Nham để nghiên cứu?”

- Phân tích câu hỏi, lập dàn ý nội dung câu trả lời

Trang 14

Trả lời câu hỏi “Tại sao chọn vấn đề này để nghiên cứu?” , tác giả phải trình bày rõ ràng, tường minh những lý do về mặt lý thuyết, về mặt thực tiễn, về năng lực nghiên cứu và sở thích cá nhân khiến tác giả chọn đề tài.

Vi dụ với đề tài trên người nghiên cứu phải lần lượt làm rõ:

+ Về mặt lý luận: Hứng thú học tập và hứng thú học tâp môn toán quantrong như thế nào? điều này dã được khẳng định trong các tài liệu chuyên môn,các văn bản chỉ đạo giáo dục như thé nào?

+ Về thực tiễn: Thực tiễn hứng thú học toán của học sinh lớp 5A trưởngtiểu học Quế Nham đang có vấn đề gì: thực hiện đề tài có giải quyết được vấn đề

đó không?

Thực hiện đề tài có ý nghĩa thế nào với cá nhân người nghiên cứu

Ví dụ về dàn ý trả lời câu hỏi : tại sao chọn thực trạng hứng thú học tập môn toán của học sinh lớp 5A trường tiểu học Quế Nham để nghiên cứu?

học môn toán của lớp 5A

trường tiểu học Quế Nham?

- Nêu được định nghĩa hứng thú và hứngthú học tập, phân tích tầm quan trọng của hứngthú học tập với hoạt động dạy học, giáo dục

- Chỉ ra được tầm quan trọng của môn toántiểu học, mối quan hệ giữa hứng thú học tập vàhọc môn toán (Ví dụ môn khó học đòi hỏi phải

có hứng thú mới học tập hiệu quả)

- Chỉ ra được những mâu thuẫn, tồn tại vềhứng thú học toán của học sinh lớp 5A trườngtiểu học Quế chưa ai giải quyết được, ảnh hưởngđén giáo dục (Ví dụ: còn thiếu hứng thú học tậpmôn toán )

- Chỉ ra được mối liên hệ giữa ngườinghiên cứu và việc giải quyết vấn đề này (ví dụ:

là người dạy toán lớp 5A, quan tâm và có hứngthú, có điều kiện tìm hiểu và giải quyết vấn đề )

- Trình bày thành đoạn văn hoàn chỉnh theo văn phong khoa học

Để trình bày sâu sắc, thuyết phục đòi hỏi người viết cần nghiên cứu, tríchdẫn nhiều loại tài liệu như các tài liệu chuyên môn (để thấy ý nghĩa của vấn đềnghiên cứu trong khoa học giáo dục), các văn bản chỉ đạo của ngành giáo dục,

Trang 15

của Đảng, chính phủ (để thấy vấn đề quan trọng có ảnh hưởng rộng lớn liênquan cả định hướng chính trị), tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác, Lê Nin(để thấy ý nghĩa về tư tưởng của vấn đề nghiên cứu), các bài viết trên báo, tạpchí, Internet và quan sát thực tiễn (để thấy tính thời sự, sự đòi hỏi cấp bách vềthực tiễn của vấn đề nghiên cứu).

Nếu không nghiên cứu kỹ các khía cạnh trên thì trình bày ý nghĩa của vấn

đề nghiên cứu sẽ hời hợt, không có sức thuyết phục

Đặc biệt, khi trình bày những nội dung trên, người nghiên cứu trích dẫnđược câu nói của các nhân vật có ảnh hưởng trong giáo dục hoặc trong các vănbản có tính chất chỉ đạo của cơ quan quản lý giáo dục thì tính thuyết phục sẽ caohơn

Ví dụ trình bày về tầm quan trọng của đạo đức và giáo dục đạo đức tác

giả có thể trích dẫn câu nói của các vị lãnh tụ, nhà giáo nổi tiếng về vai trò đạođức, giáo dục đạo đức hoặc trích dẫn các văn bản chỉ đạo của Đảng, của ngànhgiáo dục về vai trò, nhiệm vụ giáo dục đạo đức thì phần trình bày sẽ thuyết phụchơn

b/ Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu là mục tiêu trực tiếp và mục đích cuối cùng mà việc

nghiên cứu đề tài cần đạt được, là định hướng cho những vấn đề cần giải quyếttrong đề tài

- Để xác định mục đích nghiên cứu cần trả lời câu hỏi: đề tài cần nghiên cứu làm sáng tỏ cái gì (Mục tiêu gần, trực tiếp), làm sáng tỏ cái đó phục vụ cho điều

gì (mục đích xa)?

Ví dụ đề tài “Thực trạng công tác GDHS cá biệt của trường tiểu học QuếNham”, mục đích cần đạt là:

+ Làm sáng tỏ được thực trạng công tác GDHS cá biệt của trường tiểu học

Quế nham năm học 2015-2016 (trả lời câu hỏi nghiên cứu làm sáng tỏ cái gì?) + Đề ra giải pháp nâng cao chất lượng GDHS cá biệt của nhà trường (trả lời câu hỏi: Làm sáng tỏ được thực trạng công tác GDHS cá biệt của trường tiểu học Quế nham để làm gì?).

Như vậy, có thể phát biểu mục đích của đề tài trên như sau: Đề tài nàynhằm làm sáng tỏ thực trạng công tác giáo dục học sinh cá biệt của trường tiểuhọc Quế Nham năm học 2012- 2013 Từ đó đề xuất được những giải pháp nângcao chất lượng giáo dục học sinh cá biệt ở trường tiểu học Quế Nham

Trang 16

- Thông thường mục đích đề tài thể hiện hai vấn đề cơ bản là: Mô tả và phân tíchthực trạng đối tượng nghiên cứu và đề xuất biện pháp làm thay đổi thực trạngngày càng tốt hơn.

c/ Đối tượng và khách thể nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu là đối tượng trực tiếp của hoạt

động nhận thức mà quá trình nghiên cứu cần khám phá ra bản chất, qui luật vậnđộng của nó Xác định đúng đói tượng nghiên cứu là cơ sở đề ra nội dung vàphương pháp nghiên cứu đối tượng phù hợp

- Để xác định đối tượng nghiên cứu cần trả lời câu hỏi: đề tài này nghiên cứu cái gì?

Ví dụ đề tài:Thực trạng công tác giáo dục lễ giáo cho trẻ của trường mầm non Quế Nham

Trả lời câu hỏi “đề tài này nghiên cứu cái gì?” là câu trả lời: đề tài này nghiêncứu thực trạng công tác giáo dục lễ giáo cho trẻ ở trường mầm non Quế Nham

Vì vậy có thể phát biểu đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Thực trạng công tácgiáo dục lễ giáo cho trẻ ở trường mầm non Quế Nham

- Lưu ý: Cần tránh một số lỗi phổ biến khi xác định đối tượng nghiên cứu:

+ Xác định đối tượng nghiên cứu quá rộng

Ví dụ xác định đối tượng của đề tài trên là “công tác giáo dục của trường Mầmnon Quế Nham” sẽ mở rộng phạm vi đối tượng cần tìm hiểu sang cả quá trìnhgiáo dục bộ phận khác như giáo dục lao động, thẩm mỹ dẫn đến phương phápgiáo dục cũng thay đổi, mục tiêu nghiên cứu không đạt được

+ Xác định đối tượng nghiên cứu quá hẹp dẫn đén sử dụng phương pháp nghiêncứu không phù hợp, nội dung nghiên cứu phiến diện Ví dụ đề tài trên nếu xác

định đối tượng nghiên cứu là phương pháp giáo dục lễ giáo của trường thì đã bỏ

những yếu tố khác của giáo dục lề giáo của nhà trường như hình thức tổ chức,nguyên tắc giáo dục lễ giáo vốn liên quan chặt chẽ với nhau

+ Xác định đối tượng nghiên cứu lệch, không chính xác dẫn đến xác định nộidung và phương pháp nghiên cứu không phù hợp, từ đó không đạt mục đíchnghiên cứu

Ví dụ: Tên đề tài “Thực trạng chất lượng học tập môn Lịch sử của học sinhtrường Tiểu học Biên Sơn năm học 2012 – 2013” Đối tượng cần làm sáng tỏ là

chất lượng học môn Lịch sử của học sinh trường Tiểu học Biên Sơn năm học

2012 – 2013, nhưng người nghiên cứu xác định đối tượng nghiên cứu là: biện

Trang 17

pháp nâng cao chất lượng học môn Lịch sử của học sinh trường Tiểu học BiênSơn Như vậy, việc nghiên cứu đã bị lệch đối tượng.

*Khách thể nghiên cứu:

Tuy việc xác định khách thể nghiên cứu là cần thiết nhưng lại rất khó khi

thực hiện, nhiều sinh viên khi xác định khách thể nghiên cứu thường xác địnhquá hẹp, quá rộng hay nhầm lẫn sang đối tượng nghiên cứu

Để xác định khách thể nghiên cứu chính xác, phù hợp cần thực hiện nhưsau:

+ Trả lời câu hỏi: để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu cần tác động (hỏi,quan sát, đề yêu cầu ) đến đối tượng nào? sau đó liệt kê các đối tượng cần tácđộng

+ Khái quát đối tượng cần tác động vào trong 1 lĩnh vực, một mảng hoạtđộng, một phạm vi phù hợp

Phạm vi đối tượng đó chính là khách thể nghiên cứu

Ví dụ đề tài “Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS Quế Nham”

Để tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS Quế

Nham cần tác động đến học sinh của trường (tìm hiểu nhận thức, hành vi của

học sinh về đạo đức, đánh giá của các em về giáo dục đạo đức của

trường ),giáo viên ( tìm hiểu phương pháp và hình thức giáo dục mà giáo viên

đã thực hiện, kế hoạch giáo dục của giáo viên chủ nhiệm), công tác quản lý (ké

hoạch giáo dục của trường, biện pháp kết hợp các lực lượng giáo dục ) có thểkhái quát các đối tượng cần tác động trên là Công tác giáo dục của trường trunghọc cơ sở Quế Nham

Vậy khách thể nghiên cứu của đề tài là: Công tác giáo dục của trường trung học cơ sở Quế Nham.

Trong trường hợp trên, nếu xác định khách thể nghiên cứu là trường trunghọc cơ sở Quế Nham thì rộng và chưa rõ những đối tượng cần tác động Nếu xácđịnh khách thể nghiên cứu là học sinh trung học cơ sở Quế Nham thì quá hẹpkhông bao quát được đối tượng cần tác động

d/ Giả thuyết khoa học:

Xây dựng giả thuyết khoa học là thao tác quan trọng có chức năng tiênđoán bản chất sự kiện, chỉ đường để khám phá đối tượng Đây là công việc cầnthiết nhưng khó vì đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm khái quát về lịch sử

Trang 18

nghiên cứu vấn đề, có khả năng quan sát thực tế , khả năng tư duy và tưởngtượng nên sinh viên thường gặp vướng mắc khi đưa ra giả thuyết nghiên cứu,các em thường khó xác định cần đưa bao nhiêu giả định, tiêu chí xây dựng giảthuyết khoa học, cách thức tiến hành.

Thông thường, khi xác định vấn đề, nêu câu hỏi của đề tài thì người nghiên cứucũng đã dự đoán câu trả lời, vì vậy, có bao nhiêu câu hỏi của đề tài thì sẽ có bấynhiêu giả định về câu trả lời

Để xây dựng giả thuyết là người nghiên cứu cần:

- Đầu tiên là nêu câu hỏi của đề tài (xem mục 2.1.1).

- Sau đó dựa vào quan sát vấn đề nghiên cứu trong thực tiễn, đọc sách và công

trình nghiên cứu về vấn đề tương tự để phân tích, suy đoán theo mối liên hệ nhân quả và đưa ra câu trả lời dự kiến hợp lý Câu trả lời này phải có khả nănggiải thích được sự kiện cần nghiên cứu, không mâu thuẫn với lý thuyết khoa học

đã được chứng minh hoặc sự thật hiển nhiên trong thực tế và được trình bày dễhiểu, có thể kiểm tra được

Ví dụ đề tài: tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục lễ giáo cho trẻ ở trường mầm non Quế Nham năm học 2012-2013

1/ Thực trạng giáo dục lễ giáo

cho trẻ ở trường mầm non

Quế Nham năm học

2012-2013 như thế nào? nguyên

nhân?

2/ Làm thế nào để nâng cao

chất lượng công tác giáo dục

lễ giáo cho trẻ ở trường mầm

non Quế Nham?

Thực trạng giáo dục lễ giáo cho trẻ ởtrường mầm non Quế Nham năm học 2012-

2013 còn nhiều hạn chế

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạngnày, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do giáoviên chưa thực sự quan tâm và thiếu kỹ nănggiáo dục lễ giáo cho trẻ

Nếu công tác giáo dục lễ giáo được giáoviên và nhà trường quan tâm thích đáng, chútrọng bồi dưỡng nâng cao kỹ năng giáo dục

lễ giáo cho giáo viên thì sẽ nâng cao chấtlượng công tác này của nhà trường

Trong đề tài trên, để đưa ra được giả thuyết khoa học như trên người nghiêncứu đã:

+ Nêu câu hỏi của đề tài:

Trang 19

• Thực trạng giáo dục lễ giáo cho trẻ ở trường mầm non Quế Nham nămhọc 2012-2013 như thế nào? nguyên nhân?

• Làm thế nào để nâng cao chất lượng công tác giáo dục lễ giáo cho trẻ ởtrường mầm non Quế Nham?

+ Dựa vào quan sát thực tiễn phổ biến ở các trường mầm non nói chung và

trường mầm non Quế Nham nói riêng để xác định là Thực trạng giáo dục lễ giáo cho trẻ còn nhiều hạn chế (phù hợp với lý do chọn đề tài).

+ Dựa vào lý luận giáo dục lễ giáo và các công trình nghiên cứu khác giáodục lễ giáo cũng như thực tiễn quan sát ở trường mầm non Quế Nham cho thấy

chất lượng giáo dục lễ giáo cho trẻ mầm non phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó

có yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định là sự quan tâm và kỹ năng giáo dục

lễ giáo cho trẻ của giáo viên.

+Từ mối quan hệ nhân quả suy luận đưa ra được phán đoán là: nếu giáo dục

lễ giáo được quan tâm thích đáng, chú trọng bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng giáo dục lễ giáo thì sẽ nâng cao chất lượng công tác này của nhà trường.

e/ Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định nhiệm vụ nghiên cứu là xác định những công việc cụ thể phải làm đểđạt được mục đích nghiên cứu Nhiệm vụ đề tài qui định mô hình dự kiến nộidung đề tài Thông thường một đề tài nghiên cứu KHGD có các nhiệm vụ sau:+ Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài

+ Nghiên cứu thực tiễn: Mô tả và phân tích, đánh giá thực trạng (làm rõ bản chất

và quy luật của đối tượng nghiên cứu; thông qua phân tích lý thuyết và những sốliệu thu thập được trong khảo sát thực trạng để kết luận)

+ Đề xuất những giải pháp cải tạo hiện thực

Ví dụ đề tài “Thực trạng giáo dục đạo đức của gia đình cho con em tuổi mẫu giáo ở trường mầm non Quế Nham” có các nhiệm vụ là:

1 Nghiên cứu lý luận về chức năng của gia đình và giáo dục gia đình cho con em tuổi mẫu giáo

Trang 20

2 Nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức của gia đình cho con em tuổi mẫu giáo ở trường mầm non Quế Nham

3 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức của gia đình cho con em tuổi mẫu giáo ở trường mầm non Quế Nham

Lưu ý: Nếu vấn đề phức tạp cần giới hạn đề tài về mặt nội dung đối tượnghay địa bàn nghiên cứu theo khuôn khổ công việc và điều kiện cho phép

Ví dụ đề tài: Thực trạng giáo dục đạo đức của gia đình cho con em lứa tuổitiểu học ở xã Quế Nham

Giới hạn nội dung đối tượng nghiên cứu chỉ tìm hiểu phương pháp giáo dục

đạo đức của gia đình xã Quế Nham cho con em lứa tuổi tiểu học

Giới hạn không gian nghiên cứu là giáo dục đạo đức của gia đình với con

học một khối hay một lớp nào đó của trường

Vì dụ: do điều kiện thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ giới hạn đề tài nghiên cứu thực trạng phương pháp giáo dục đạo đức của gia đình cho con là học sinh lớp 5A trường tiểu học Quế Nham

h Các phương pháp nghiên cứu

Phương pháp là cách thức, con đường khám phá đối tượng, để đạt mụcđích của đề tài Các phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu khoahọc giáo dục thuộc nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết (phân tích- tổnghợp, phân loại- hệ thống hóa lý thuyết; mô hình hóa ), nghiên cứu thực tiễn(quan sát, điều tra viết, thực nghiệm, trò chuyện….), phương pháp xử lý tư liệu(toán thống kê)

Trong đề cương nghiên cứu mới chỉ liệt kê tên các phương pháp được sửdụng, khái quát hướng sử dụng phương pháp đó (tác động khách thể nào? bằngcách nào? để giải quyết nhiệm vụ nào của đề tài?) Cách thức sử dụng từngphương pháp sẽ được cụ thể hóa trong thực hiện đề tài

Người nghiên cứu cần nắm được các nhóm phương pháp nghiên cứukhoa học giáo dục và mục tiêu sử dụng:

Bảng 2.1 nhóm phương pháp khoa học giáo dục chính và mục tiêu

sử dụng

Nhiệm vụ đề tài Nhóm

phương pháp

Khách thể và cách thức tác động của phương pháp

mục tiêu

Trang 21

1 Làm sáng tỏ

cơ sở lý luận

của đề tài

Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Đọc, phân tích, hệthống hóa các tài liệuchuyên môn về vấn đềnghiên cứu,

Đọc, phân tích, hệthống hóa các côngtrình nghiên cứu liênquan

Đối tượng nghiên cứuqui định phươg pháp

đo lường cụ thể vàkhách thể tác độngcủa tứng phương pháp

Làm sáng tỏ thực tiễn vấn đề nghiên cứu (bản chất, qui luật của đối tượng nghiên cứu)

Các phương pháp xử lý tư liệu

Dùng toán thống kê,các phương pháp toánnhư phân tích biếnthiên, phân tích tươngquan, tính hệ số tincậy

Xử lý về định lượng các tài liệu thu được để xác định mức độ tập trung và phân tán của biến thiên độ tin cậy, mối tương quan giữa các yếu tố

Kết quả nghiên cứu lýluạn và thực tiễn

Đưa ra được giải pháp/ biện pháp cải thiện thực trạng đốitượng nghiên cứu phù hợp thực tiễn,

có tính khả thi.Tùy theo nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, đặc điểm đối tượng nghiên cứu,phương pháp nghiên cứu, điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn phươngpháp phù hợp Vì vậy để lựa chọn phương pháp nghiên cứu cần đặt ra và trả lờicác câu hỏi sau:

- Trả lời các câu hỏi: để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận phải sử dụng phương pháp nào? (xem bảng 2.1)

Trang 22

- Trả lời các câu hỏi: Để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu có những phươngpháp nào, cách nào? Muốn trả lời câu hỏi này cần xác định các tiêu chí đánh giáđối tượng nghiên cứu và xác định đơn vị đo, dụng cụ đo.

Ví dụ: để tìm hiểu hứng thú học môn toán của học sinh lớp 5A trường tiểu học Quế Nham cần xác định:

+ Các tiêu chí đo mức độ hứng thú học tập của học sinh và công cụ đo.(Ví dụ

các tiêu chí: mức độ yêu thích môn học, chăm chú nghe giảng, phát biểu ý kiến, làm bài đầy đủ, làm thêm bài tập, đọc thêm tài liệu, làm các công việc có liên quan đến môn học, chọn nghề có liên quan đến môn học có thể đo bằng bảng hỏi, trò chuyện, quan sát, nghiên cứu sản phẩm hoạt động )

+ Nhưng yếu tố ảnh hưởng đén hứng thú học tập và công cụ đo lường yếu tố đó.

(ví dụ các yếu tố; giáo viên dạy hay – không hay, nhận thức ý nghĩa môn học, đặc điểm môn học, tư chất, điều kiện học tập có thể đo bằng bảng hỏi, quan sát, nghiên cứu sản phẩm họat động)

- Trả lời các câu hỏi: Điều kiện khách quan, chủ quan của người nghiên cứu có cho phép sử dung các phương pháp đó không?

- Tổng hợp các phương pháp được sử dụng và xác định mục tiêu sử dụng, kháchthể tác động

Ví dụ để tài “thực trạng hứng thú học môn toán của học sinh lớp 5A trường tiểu học Quế Nham”.

Để thực hiện đề tài này chúng sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

Phương pháp đọc sách và nghiên cứu tài liệu lý luận:

Đọc những tài liệu có liên quan đến đề tài và nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đè lý luận để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của để tài Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên quan hứng thú học tập để kế thừa kinh nghiệm của họ và để xác định cái mới cho đề tài

Phương pháp quan sát:

Chúng tôi quan sát biểu hiện của học sinh trong các giờ truy bài, giờ học;

quan sát học tập của học sinh và họat động dạy của giáo viên trong các giờ học

Toán, điều kiện học tập để nắm được những biểu hiện hứng thú học môn toán và

yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học Toán

Phương pháp điều tra: Chúng tôi soạn sẵn một hệ thống câu hỏi trên giấy, lấy ý

kiến học sinh lớp 5A về những biểu hiên liên quan đến hứng thú học toán vànhững lý do khiến các em hứng thú hay không hứng thú học toán

Trang 23

Phương pháp trò chuyện:

Trò chuyện trực tiếp với học sinh và giáo viên từ đó nắm được tình hìnhchung của lớp và chất lượng học tập của học sinh cũng như để tìm ra những khókhăn và thuận lợi trong dạy, học môn toán, những thiếu sót hay những điều chưaphù hợp của giáo viên mà chưa gây hứng thú được cho HS trong giờ học mônToán

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

Thu thập nghiên cứu những sản phẩm học toán của học sinh như: vở bài tập,

bài kiểm tra, hồ sơ học tập của học sinh, kế hoạch dạy học, giáo án…góp phần làm sáng tỏ thực trạngvà nguyên nhân hứng thú học tập môn Toán của các em

Phương pháp xử lí số liệu:

Phương pháp này sử dụng để phục vụ cho phần xử lí các kết quả thu đượccủa các phương pháp trên Chugs tôi dùng toán thống kê để xử lí số liệu, sosánh, đối chiếu để rút ra kết luận

i Dự thảo nội dung : Là dự kiến dàn ý chi tiết của công trình nghiên cứu Phần

này cần trình bày sao cho người đọc hình dung được cấu trúc văn bản đề tài sau khi hoàn thành

Thông thường một đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục gồm ba phần

chính: mở đầu, nội dung, kết luận.

Trong dự thảo nội dung đề tài, ngoài liệt kê tên phần chính, còn cần nêu

rõ trong phần nội dung tên và thứ tự chương, mục, tiểu mục trình bày kết quảgiải quyết nhiệm vụ nghiên cứu

Số lượng chương, mục của mỗi đề tài phụ thuộc vào đặc điểm của đềtài, khối lượng nội dung, cách trình bày của tác giả nhưng đều phải thể hiện kếtquả đạt được trong giải quyết nhiệm vụ của đề tài Vì vậy, cách thức đơn giảnnhất để xác định số chương và nội dung từng chương là căn cứ vào nhiệm vụnghiên cứu, thông thường có bao nhiêu nhiệm vụ thì có bấy nhiêu chương tươngứng

Ví dụ đề tài “tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục lễ giáo cho trẻ ở

trường mầm non Quế Nham ” có các nhiệm vụ :

1.Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục lễ giáo cho trẻ mầm non.

2 Thực trạng giáo dục lễ giáo cho trẻ ở trường mầm non Quế Nham

3 Ðề xuất giải pháp nâng cao chất lýợng giáo dục lễ giáo cho trẻ ở trường mầm non Quế Nham

Trang 24

Tương ứng có thể trình bày dự kiến nội dung đề tài như sau:

Đề tài này gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung, kết luận và kiến nghị Trong

đó phần nội dung bao gồm các chương sau:

Chương 1 Lý luận về giáo dục lễ giáo cho trẻ mầm non Chương 2.Thực trạng giáo dục lễ giáo cho của trường mầm non Quế Nham.

Chương 3 Ðề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục lễ giáo cho trẻ

ở trường mầm non Quế Nham.

Thông thường, một công trình nghiên cứu KHGD có ba nhiệm vụ:

a/Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài;

b/ Nghiên cứu thực tiễn;

c/ Đề xuất những giải pháp cải tạo hiện thực

Phần nội dung của công trình nghiên cứu KHGD cũng dự kiến có bachương tương ứng:

Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương II: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Chương III: Với tên gọi có thể khác nhau, nhưng chủ yếu trình bày:

những giải pháp đề xuất để giải quyết các tồn tại của đề tài , những kết quả thực nghiệm, khẳng định giả thuyết

Lưu ý:

- Tùy theo yêu cầu của cơ sở đào tạo mà phần nội dung chỉ nêu tênchương hay trong mỗi chương có thể trình bày các mục và tiểu mục một cáchkhái quát để người đọc thấy rõ hơn nội dung của đề tài

-Thứ tự chương, các mục, tiểu mục cần đảm bảo tính lô gic

Trang 25

b/ “Thực trạng bạo lực học đường của học sinh ở trường THCS QuếNham”

c/ “Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo của trường tiểuhọc Quế Nham”

Bài 3 Hãy sắp xếp phần nội dung dự kiến dưới đây của đề tài theo trật tự cấu trúc mà bạn cho là hợp lý.

Chương 1 Lý luận về bạo lực học đường ở lứa tuổi thiếu niên

1.1 Khái niệm bạo lực học đường

- Định nghĩa bạo lực học đường

- Dấu hiệu bạo lực học đường

- Các hình thức bạo lực học đường

1.2 Nguyên nhân và hậu quả của bạo lực học đường ở lứa tuổi thiếu niên.1.3 Cơ chế phòng ngừa can thiệp bạo lực học đường

1.4 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống bạo lực học đường ởtrường THCS Ngọc Lý, Tân Yên

1.1 Giải pháp về phía nhà trường

1.2 Giải pháp về phía gia đinh

1.3 Giải pháp về phía đoàn thể xã hội

Chương 3 Thực trạng bạo lực học đường ở trường THCS Ngọc Lý, Tân Yên

2.1 Nguyên nhân bạo lực học đường ở trường THCS Ngọc Lý, Tân Yên2.2 Thực trạng bạo lực học đường ở trường THCS Ngọc Lý, Tân Yên

1.3 Hướng dẫn thực hành xây dựng kế hoạch tổ chức nghiên cứu:

Kế hoạch nghiên cứu là kế hoạch tổ chức thực hiện các công việc trong quá trình nghiên cứu từ lúc lựa chọn đề tài đến khi hoàn thành công trình nghiêncứu

Thông thường các hoạt động trong quá trình nghiên cứu là:

+ Xác định đề tài, xây dựng đề cương nghiên cứu

+ Sưu tầm và xử lý tài liệu

Ngày đăng: 07/07/2018, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w