1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số ở việt nam (tt)

22 317 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 426,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ ...4 1.1.. 2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên qu

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

THỪA THIÊN HUẾ, năm 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Luật, Đại học Huế

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn 3

7 Bố cục của Luận văn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ 4

1.1 Khái quát về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tác giả trong môi trường kỹ thuật số 4

1.1.1 Khái niệm quyền tác giả và quyền liên quan 4

1.1.2 Khái niệm môi trường kỹ thuật số 4

1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 4

1.2 Khái quát pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 4

1.2.1 Nguồn luật điều chỉnh 4

1.2.2 Khung pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan 4

1.3 Các yếu tố tác động trong thực hiện bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 5

1.3.1 Các yếu tố pháp luật 5

1.3.2 Các yếu tố thực hiện pháp luật 5

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ 6

2.1 Thực trạng pháp luật bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 6

2.1.1 Chủ thể của quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 6

2.1.2 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan 6

2.1.3 Nội dung quyền tác giả và quyền liên quan 7

2.1.4 Xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 7

Trang 4

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên

quan trong môi trường kỹ thuật số 8

2.2.1 Tình hình bảo hộ và xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 8

2.2.2 Thực tiễn và những vướng mắc trong bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 8

Chương 3 YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM 11

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 11

3.1.1 Yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 11

3.1.2 Yêu cầu đáp ứng sự hài hòa lợi ích các chủ thể 11

3.1.3 Yêu cầu hội nhập quốc tế 12

3.2 Các giải hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số 12 3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật 12

3.2.2 Các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật 14

KẾT LUẬN 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu

và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng và bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia Chưa bao giờ các vấn đề liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ lại đặt ra gay gắt, cấp bách như hiện nay Trí tuệ vốn là tài sản của công dân, vì vậy, bản thân các quan hệ của quyền tác giả quyền liên quan quyết định nội dung pháp luật bảo hộ nó Thực tế cho thấy, hiện nay, tình trạng vi phạm bản quyền diễn ra ở hầu hết các lĩnhvực với các hình thức và mức độ khác nhau, nhất là trong lĩnh vực âm nhạc số, sách điện tử (Ebook), báo điện tử,… Tình trạng này gây thiệt hại và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sáng tạo, môi trường đầu tư, phát triển kinh tế văn hóa - xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập kinh

Hơn nữa sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ kỹ thuật

số với những ứng dụng to lớn của nó trong mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng khẳng định điều đó Tuy nhiên, tài sản tri thức là tài sản

vô hình và cũng mặc định như tài sản hữu hình Vì vậy, sự hình thành, chuyển dịch và chấm dứt, cũng như bảo hộ các quyền phát sinh từ tài sản vô hình có những điểm khác biệt so với tài sản hữu hình Do đó, hầu hết các nước trên thế giới đều ban hành những quy định pháp luật riêng biệt để điều chỉnh các quan hệ liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ

Trang 6

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Bảo hộ quyền

tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam"

để làm đề tài cho luận văn thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực tế cho thấy các công trình nghiên cứu liên quan đến Bảo hộ QTG, QLQ ở Việt nam còn hạn chế

Sách “Quyền tác giả ở Việt Nam – Pháp luật và thực thi” do

PGS.TS Trần Văn Nam chủ biên, Nxb Tư Pháp 2014 đã phân tích các quy định về quyền tác giả và thực tiễn thực thi, đưa ra một số nhóm giải pháp để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này

Luận văn thạc sĩcủaTrịnh Văn Tú - Khoa Luật, Đại học quốc gia

Hà Nội- Năm 2012 “Bảo hộ quyền liên quan theo luật Sở hữu trí tuệ

Việt Nam” 1

Luận văn thạc sĩ củaNguyễn Anh Đức - Khoa luật, Đại học quốc

gia Hà Nội – Năm2014 “Bảo hộ quyền tác giả trước những xâm phạm

từ Internet trên thế giới và Việt Nam”2

Những vấn đề mới cần được tiếp tục nghiên cứu: QLQ trong môi trường kỹ thuật số; QTG trong môi trường kỹ thuật số

Vì vậy, có thể cho rằng đề tài luận văn này của tác giả là một công trình có tính khoa học cũng như thực tiễn, đáp ứng được các yêu cầu đối với một công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ Luật học

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn bảo hộ QTG, QLQ trong môi trường kỹ thuật số để đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Trang 7

Làm rõ các khái niệm QTG, QLQ; Phân tích khái quát nội dung bảo hộ QTG, QLQ trong môi trường kỹ thuật số;

Phân tích thực trạng pháp luật về bảo hộ QTG và QLQ trong môi trường kỹ thuật số;

Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hộ; Đưa ra các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về QTG và QLQ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian:

Phạm vi thời gian: Từ năm 2013 – 2017

Địa bàn nghiên cứu: Cả nước

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

5.2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp phân tích, tổng hợp:

*Phương pháp so sánh

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của luận văn

Sau khi được hoàn thành, đề tài sẽ làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về về Bảo hộ QTG, QLQ trong môi trường kỹ thuật

số, góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật thuế về về Bảo hộ QTG, QLQ trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

7 Bố cục của Luận văn

Luận văn được chia làm 3 phần: Lời mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Chương 1.Cơ sở lý luận pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền

liên quan tác giả trong môi trường kỹ thuật số

Chương 2.Thực trạng pháp luật và thực tiễn về bảo hộ quyền tác

giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

Chương 3 Yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện pháp luật, tổ chức

thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam

Trang 8

1.1.1 Khái niệm quyền tác giả và quyền liên quan

1.1.1.1 Khái niệm quyền tác giả

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (Khoản 2, Điều 4, Luật SHTT)

1.1.1.2 Khái niệm quyền liên quan

Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan)

là quyền của tổ chức cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được

mã hoá

1.1.2 Khái niệm môi trường kỹ thuật số

Như vậy, môi trường kỹ thuật số là kiểu tín hiệu và định dạng dữ

liệu trong ngành điện tử, sử dụng các trạng thái rời rạc khác với tương tự, dùng những thay đổi liên tục của tín hiệu

1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

Khái niệm bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

1.2 Khái quát pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

1.2.1 Nguồn luật điều chỉnh

1.2.2 Khung pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan

1.2.2.1 Chủ thể của quyền tác giả và quyền liên quan

Tác giả:

Chủ sở hữu quyền tác giả:

Chủ thể quyền liên quan:

1.2.2.2 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan

1.2.2.3 Nội dung quyền tác giả và quyền liên quan

Trang 9

Quyền nhân thân

Quyền tài sản

Quyền của người biểu diễn:

Quyền của nhà sản xuất, ghi âm, ghi hình:

Trang 10

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HỘ

QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN TRONG MÔI TRƯỜNG

Thứ nhất, chủ thể của quyền tác giả

Tác giả: Theo pháp luật Việt Nam, tác giả chỉ có thể là cá nhân, là

những con người cụ thể vì chỉ có con người mới có hoạt động sáng tạo ra các tài sản trí tuệ (tác phẩm)

Đồng tác giả: Theo khoản 1 Điều 38 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, trường

hợp một tác phẩm do nhiều người “sử dụng thời gian cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra một tác phẩm” là đồng tác giả và có các quyền nhân thân và tài sản

Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả

Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế

Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền

Quyền tác giả có thể được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thông qua hình thức chuyển nhượng và chuyển quyền sử dụng

Chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước

Thứ hai, chủ thể của quyền liên quan

Người biểu diễn là người thực hiện các hoạt động sáng tạo trong việc thể hiện các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học của các tác giả

2.1.2 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan

Thứ nhất, điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Một là, tác phẩm phải là thành quả của quá trình lao động trí tuệ mang

tính chất sáng tạo

Hai là, tác phẩm phải là tác phẩm gốc (mang tính nguyên gốc)

Ba là, tác phẩm phải được định hình trong một “phương tiện thể hiện”

cụ thể

Trang 11

Bốn là, tác phẩm là kết quả sáng tạo của tác giả

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ

Thứ hai, điều kiện bảo hộ quyền liên quan

Theo khoản 3, Điều 4 Luật SHTT quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương

trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá

2.1.3 Nội dung quyền tác giả và quyền liên quan

Thứ nhất, nội dung của quyền tác giả

Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản

Một là, quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

Quyền nhân thân không thể chuyển giao (quy định tại khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ)

Quyền nhân thân có thể chuyển giao (quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật

Sở hữu trí tuệ)

Hai là, quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

Làm tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo dựa trên tác phẩm khác, bao gồm tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn Tác phẩm phái sinh được làm từ tác phẩm gốc

Thứ hai nội dung của quyền liên quan

Quyền của người biểu diễn

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình

Biện pháp tự bảo vệ: Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền tự bảo vệ theo

quy định tại Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ và theo quy định chi tiết tại Điều này

Trang 12

Pháp luật quy định cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT

có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự, như vậy tổ chức không thể là đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực SHTT

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

2.2.1 Tình hình bảo hộ và xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

Trong môi trường kỹ thuật số, QTG, QLQ lại là một vấn đề hết sức phức tạp Có lẽ vì thế "QTG, QLQ trong môi trường kỹ thuật số" có nhiều vấn đề liên quan đến QTG, QLQ đối với các nhà cung cấp dịch vụ, cung cấp nội dung, trang tin điện tử, báo điện tử như: việc sao chép tin tức, dùng ảnh không ghi tên tác giả, tin, ảnh không có nguồn, ăn cắp phần mềm máy tính…

2.2.2 Thực tiễn và những vướng mắc trong bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

Thứ nhất, thực tiễn những vướng mắc về xác định điều kiện bảo hộ

Khoản 2 điều 4 Luật SHTT quy định”QTG là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”

Tại khoản 1 điều 38 Luật SHTT quy định “Các đồng tác giả sử dụng

thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm có chung các quyền quy định tại điều 19 và điều 20 của luật này đối với tác phẩm đó”

Nhưng khoản 3 điều 14 luật SHTT quy định “Tác phẩm được bảo hộ

quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng

Trang 13

tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác”

Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”

Nhưng khoản 3 Điều 16 Luật SHTT lại quy định: “Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác” Về vấn đề này, tác giả đề xuất hoàn thiện như sau: Giữ nguyên khoản 3 Điều 4 và sửa đổi khoản 3 Điều 16 thành: “Tổ chức,

cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn”

Thứ hai, thực tiễn và những vướng mắc về trình tự, thủ tục bảo hộ

Theo khoản 2 Điều 4 Luật SHTT Việt Nam năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là Luật SHTT), QTG là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Theo đó, đối tượng bảo hộ của QTG là tác phẩm - sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào

Thứ ba, thực tiễn và những vướng mắc về bảo vệ QTG, QLQ trong môi

trường kỹ thuật số

Mặc dù chưa thể có ngay những thay đổi cho phù hợp song tác giả hy vọng rằng các cơ quan chức năng có những nghiên cứu, thay đổi, điểu chỉnh sát với thực tế hơn trong việc thực thi công tác bảo hộ QTG, QLQ thời gian tới ở Việt Nam

(1) Việc phân định thẩm quyền quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ phân tán, rời rạc, chưa thật sự hợp lý Bản chất của quản lý QTG, QLQ là quản

lý nội dung nhưng lại phân tán ở hai bộ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

và Bộ Thông tin và Truyền thông Hầu như vấn đề bản quyền thường phát sinh trong hoạt động báo chí, xuất bản, hoạt động thông tin trên mạng, là lĩnh vực do Bộ Thông tin và truyền thông quản lý Vì vậy khi có vụ việc xảy ra sẽ khó xử lý nếu không phối hợp

(2) Nhận thứcchung của xã hội về vấn đề sở hữu trí tuệ còn hạn chế, nhiều người chưa hiểu quy định pháp luật, không biết trách nhiệm, nghĩa

Ngày đăng: 07/07/2018, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w