Khái niệm t-chuẩn có ngưỡng do Dubois, Prade giới thiệu đầu tiên trong [14], sau đó được Iancu xem xét một cách đầy đủ hơn trong [31]. Sau đó, một số kết quả về các lớp toán tử mờ có ngưỡng, t-chuẩn, t-đối chuẩn, và kéo theo đã được xem xét trong [9-13]. Cũng giống như toán tử mờ, toán tử mờ có ngưỡng có một phạm vi ứng dụng rộng lớn tử trong điều khiển học, trong trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là trong các vấn đề về hệ suy diễn và khai phá dữ liệu. Tìm kiếm luật kết hợp là một trong những hướng nghiên cứu quan trọng trong khai phá dữ liệu [38]. Bài toán tìm luật kết hợp boolean được giới thiệu lần đầu tiên trong [2]. Ví dụ cho luật này có thể là như sau: “90% số người mua bơ và sữa sẽ mua cả bánh mì”. Đã có nhiều thuật toán được đưa ra nhằm giải quyết bài toán này, như Apriori [3], FP-growth [27,23], Eclat [1]… Bài toán luật kết hợp lượng hoá được nêu ra trong [40]. Lấy ví dụ, một luật kết hợp lượng hoá cho cơ sở dữ liệu với ba thuộc tính về có thể là “ và → ”. Thuật toán đưa ra trong [40] phân hoạch miền giá trị của các thuộc tính thành các khoảng và sau đó kết hợp các khoảng rời nhau để cho lời giải của bài toán. Thao tác này thực chất là chuyển bài toán luật kết hợp lượng hoá về bài toán luật kết hợp boolean. Mặc dù phương pháp phân hoạch dữ liệu cũng giải quyết được một số bài toán tìm luật kết hợp trên cơ sở dữ liệu lượng hoá. Tuy nhiên, cũng có một số vấn đề phát sinh như trong [35] đã chỉ ra. Đó là vấn đề mất mát thông tin nếu như có nhiều giá trị tập trung xung quanh các biên của các khoảng. Việc chia các giá trị gần nhau vào các khoảng khác nhau sẽ dẫn tới việc mất thông tin trong các phân tích về sau. Một phương pháp tiếp cận khác là chia miền dữ liệu thành các vùng có chồng lên nhau. Khi đó, các phần tử nằm gần biên có thể thuộc nhiều hơn một khoảng, và sẽ giải quyết được phần nào vấn đề mất mát thông tin tại các lân cận biên. Tuy nhiên, tiếp cận này vẫn có phần bất hợp lý do việc phần tử gần biên cũng sẽ có vai trò quan trọng trong việc mô tả đặc trưng của khoảng giống như các phần tử gần trung tâm. Tất cả những vấn đề trên chủ yếu xuất phát từ việc sử dụng biên rõ ràng để chia khoảng. Từ đó, trong [35] đã đề nghị sử dụng tiếp cận mờ. Tập mờ cung cấp thay đổi uyển chuyển giữa các vùng dữ liệu, và vấn đề xuất phát từ biên rõ sẽ được loại bỏ. Trong [35], các luật kết hợp mờ có dạng, “Nếu X là A thì Y là B”, trong đó “X là A” được gọi là phần tiền tố của luật, “Y là B” được gọi là phần hệ quả của luật. X và Y là các tập thuộc tính của cơ sở dữ liệu, A và B là các tập từ mô tả X và Y tương ứng. Báo cáo này tập trung nghiên cứu sâu về toán tử mờ có ngưỡng, đồng thời xem xét một khía cạnh ứng dụng vào bài toán luật kết hợp mờ. Chương 2 của báo cáo tập trung vào các nghiên cứu sâu về toán tử mờ có ngưỡng, mô tả các khái niệm về lớp toán tử mờ có ngưỡng đồng dạng, cặp hàm sinh của lớp các toán tử mờ có ngưỡng đồng dạng. Chương 3 của báo cáo mô tả về bài toán luật kết hợp mờ, vấn đề mờ hóa dữ liệu đầu vào, đồng thời xem xét ứng dụng t-chuẩn có ngưỡng vào việc bài toán luật kết hợp mờ. Phần phụ lục cuối báo cáo cung cấp các lớp toán tử mờ có ngưỡng có tham số, mô tả về chương trình Fuzzy Rules Miner cài đặt thuật toán F-Apriori, cấu trúc các file dữ liệu đầu vào và các kết quả chạy thử nghiệm chương trình.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn thày giáo Bùi Công Cường đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình tìm kiếm tài liệu cũng như hoàn thành báo cáo của mình Sự chỉ bảo tận tình của thày trong suốt quá trình từ những ý tưởng ban đầu cho đến khi báo cáo được hoàn thành là trợ giúp lớn nhất đối với em
Sau đó, em xin chân thành cảm ơn các thày, cô giáo đã giảng dạy em, đặc biệt là các thày, cô giáo của khoa Toán Tin ứng dụng, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Những kiến thức thu nhận được từ các thày, cô đã hỗ trợ em rất nhiều trong quá trình hoàn thành báo cáo này
Em cũng xin cảm ơn các bạn học cùng lớp Toán Tin-KSTN K45, Đại học Bách Khoa Hà Nội, các anh chị và các bạn thuộc Seminar Lý thuyết mờ và Mạng Nơron, những đóng góp của mọi người đã giúp em có thể hoàn chỉnh được báo cáo
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới cha mẹ, chị gái của em, sự cổ vũ động viên của mọi người là động lực rất lớn giúp em có thể hoàn thành được báo cáo này
Em xin phép được sử dụng cụm từ “chúng tôi” trong báo cáo bao gồm em và mọi nguời
Trang 2MỤC LỤC
GIỚI THIỆU 4
GIỚI THIỆU 4
TOÁN TỬ MỜ CÓ NGƯỠNG 7
TOÁN TỬ MỜ CÓ NGƯỠNG 7
2.1 Toán tử mờ 9
2.1.1 Phủ định 9
2.1.2 T-chuẩn 9
2.1.3 T-đối chuẩn 10
2.1.4 Kéo theo 10
2.2 Toán tử mờ có ngưỡng 11
2.2.1 t-chuẩn có ngưỡng 11
2.2.2 Đẳng cấu giữa các t-chuẩn có ngưỡng 19
2.2.3 t-đối chuẩn có ngưỡng và bộ ba De Morgan có ngưỡng 23
2.2.4 Kéo theo có ngưỡng 27
2.2.5 Các toán tử mờ tham số 29
2.3 Kết luận 38
LUẬT KẾT HỢP MỜ 39
LUẬT KẾT HỢP MỜ 39
3.1 Giới thiệu 39
3.2 Mô tả bài toán 44
3.2.1 Thuộc tính và cơ sở dữ liệu 44
3.2.2 Từ 44
3.2.3 Mệnh đề 45
3.2.4 Luật kết hợp 47
3.2.5 t-chuẩn có ngưỡng và độ ủng hộ 49
3.3 Không gian tìm kiếm 49
3.3.1 Tìm mệnh đề 50
3.3.2 Tìm luật 51
3.4 Thuật toán 53
3.4.1 Tìm mệnh đề 53
3.4.2 Tìm luật kết hợp 56
3.5 Vấn đề mờ hoá dữ liệu 57
3.5.1 Bài toán phân cụm dữ liệu và phân cụm mờ 58
3.5.2 Thuật toán FCM 60
3.5.3 Phương pháp chia đều 61
3.6 Kết luận 62
Phụ lục A Các toán tử mờ có ngưỡng tham số 64
Phụ lục A Các toán tử mờ có ngưỡng tham số 64
Phụ lục B Chương trình Fuzzy Rules Miner 77
Phụ lục B Chương trình Fuzzy Rules Miner 77
1 Các Module chương trình 77
1 Các Module chương trình 77
1.1 mdiMain 77
1.2 frmFuzzySetFinder 77
Trang 31.3 frmDataMiner 78
2 Cấu trúc các file dữ liệu 79
2 Cấu trúc các file dữ liệu 79
2.1 .CFF 79
2.2 .QDF 79
2.3 .FDF 79
2.4 .TF 79
2.5 .PF 80
2.6 .RF 80
3 Cơ sở dữ liệu chạy thử nghiệm 80
3 Cơ sở dữ liệu chạy thử nghiệm 80
3.1 Mô tả 80
3.2 Kết quả 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 41
GIỚI THIỆU
Khái niệm t-chuẩn có ngưỡng do Dubois, Prade giới thiệu đầu tiên trong [14], sau đó được Iancu xem xét một cách đầy đủ hơn trong [31] Sau đó, một số kết quả về các lớp toán tử mờ có ngưỡng, t-chuẩn, t-đối chuẩn, và kéo theo đã được xem xét trong [9-13]
Cũng giống như toán tử mờ, toán tử mờ có ngưỡng có một phạm vi ứng dụng rộng lớn tử trong điều khiển học, trong trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là trong các vấn
đề về hệ suy diễn và khai phá dữ liệu
Tìm kiếm luật kết hợp là một trong những hướng nghiên cứu quan trọng trong khai phá dữ liệu [38] Bài toán tìm luật kết hợp boolean được giới thiệu lần đầu tiên trong [2] Ví dụ cho luật này có thể là như sau: “90% số người mua bơ và sữa sẽ mua cả bánh mì” Đã có nhiều thuật toán được đưa ra nhằm giải quyết bài toán này, như Apriori [3], FP-growth [27,23], Eclat [1]…
Bài toán luật kết hợp lượng hoá được nêu ra trong [40] Lấy ví dụ, một luật kết hợp lượng hoá cho cơ sở dữ liệu với ba thuộc tính về <tuổi,tình trạng hôn nhân,số
Trang 5xe> có thể là “<tuổi:30 39> và <đã kết hôn:đúng> → <số xe:2>” Thuật toán đưa ra trong [40] phân hoạch miền giá trị của các thuộc tính thành các khoảng và sau đó kết hợp các khoảng rời nhau để cho lời giải của bài toán Thao tác này thực chất là chuyển bài toán luật kết hợp lượng hoá về bài toán luật kết hợp boolean
Mặc dù phương pháp phân hoạch dữ liệu cũng giải quyết được một số bài toán tìm luật kết hợp trên cơ sở dữ liệu lượng hoá Tuy nhiên, cũng có một số vấn đề phát sinh như trong [35] đã chỉ ra Đó là vấn đề mất mát thông tin nếu như có nhiều giá trị tập trung xung quanh các biên của các khoảng Việc chia các giá trị gần nhau vào các khoảng khác nhau sẽ dẫn tới việc mất thông tin trong các phân tích về sau Một phương pháp tiếp cận khác là chia miền dữ liệu thành các vùng có chồng lên nhau Khi đó, các phần tử nằm gần biên có thể thuộc nhiều hơn một khoảng, và sẽ giải quyết được phần nào vấn đề mất mát thông tin tại các lân cận biên Tuy nhiên, tiếp cận này vẫn có phần bất hợp lý do việc phần tử gần biên cũng sẽ có vai trò quan trọng trong việc mô tả đặc trưng của khoảng giống như các phần tử gần trung tâm
Tất cả những vấn đề trên chủ yếu xuất phát từ việc sử dụng biên rõ ràng để chia khoảng Từ đó, trong [35] đã đề nghị sử dụng tiếp cận mờ Tập mờ cung cấp thay đổi uyển chuyển giữa các vùng dữ liệu, và vấn đề xuất phát từ biên rõ sẽ được loại bỏ Trong [35], các luật kết hợp mờ có dạng, “Nếu X là A thì Y là B”, trong đó
“X là A” được gọi là phần tiền tố của luật, “Y là B” được gọi là phần hệ quả của luật
X và Y là các tập thuộc tính của cơ sở dữ liệu, A và B là các tập từ mô tả X và Y tương ứng
Báo cáo này tập trung nghiên cứu sâu về toán tử mờ có ngưỡng, đồng thời xem xét một khía cạnh ứng dụng vào bài toán luật kết hợp mờ
Chương 2 của báo cáo tập trung vào các nghiên cứu sâu về toán tử mờ có ngưỡng, mô tả các khái niệm về lớp toán tử mờ có ngưỡng đồng dạng, cặp hàm sinh của lớp các toán tử mờ có ngưỡng đồng dạng Chương 3 của báo cáo mô tả về bài toán luật kết hợp mờ, vấn đề mờ hóa dữ liệu đầu vào, đồng thời xem xét ứng dụng t-chuẩn có ngưỡng vào việc bài toán luật kết hợp mờ
Trang 6Phần phụ lục cuối báo cáo cung cấp các lớp toán tử mờ có ngưỡng có tham
số, mô tả về chương trình Fuzzy Rules Miner cài đặt thuật toán F-Apriori, cấu trúc các file dữ liệu đầu vào và các kết quả chạy thử nghiệm chương trình
Trang 72
TOÁN TỬ MỜ CÓ NGƯỠNG
Sự ra đời của công nghệ tính toán mờ xuất phát từ các giới thiệu về tập mờ của Zadeh năm 1965 [41] Hiện nay, có thể nói, công nghệ tính toán mờ là một trong những lĩnh vực nghiên cứu phát triển mạnh mẽ nhất, được đánh dấu bằng sự ra đời của hàng loạt phương pháp và kỹ thuật ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Việc tích hợp các
kỹ thuật của lôgíc mờ với các phương pháp phân tích khác ngày càng diễn ra mạnh
mẽ Lôgíc mờ được ứng dụng rộng rãi để giải quyết rất nhiều bài toán của khoa học ứng dụng Những lĩnh vực có thể kể ra ở đây là vận trù học, hỗ trợ quyết định, điều khiển, nhận dạng mẫu, kinh tế, quản lý, xã hội học, mô hình thống kê, máy học, thiết
kế cơ khí, chế tạo, phân lớp, suy luận, thu nhận thông tin, quản lý cơ sở dữ liệu, chẩn đoán y tế, hệ cơ sở tri thức
Đặc biệt, trong lĩnh vực xử lý tri thức, công nghệ tính toán mờ tỏ ra vô cùng hiệu quả Do tri thức thường con người thường được biểu diễn bằng các thể hiện ngôn ngữ, bằng các câu hỏi, các phát biểu về thế giới đang xét Vấn đề đối với việc
xử lý tri thức là không chỉ ở việc liên kết các tri thức, các phát biểu về thế giới đang xét, mà còn ở việc đánh giá sự đúng đắn của chúng Lôgíc hình thức cổ điển cho
Trang 8phép chúng ta đánh giá một phát biểu về thế giới là hoặc đúng, hoặc sai Tuy nhiên, trong thực tế, đánh giá một phát biểu chỉ có đúng hoặc sai là rất khó nếu không muốn nói là phi thực tế Lấy ví dụ: đối với các tri thức dạng “Áp suất cao”, “Thể tích nhỏ”,
“Quả táo đỏ”, việc xác định một cách chính xác trị chân lý của chúng là không hay một là rất khó khăn do các từ “cao”, “nhỏ”, hay “đỏ” hoàn toàn có tính chất mờ hồ
Từ đó, Zadeh đã mở rộng lôgíc mệnh đề thành lôgíc mờ, trong đó, mỗi mệnh đề P sẽ được gán cho một trị chân lý υ(P), là một giá trị trong đoạn [0,1], biểu diễn mức độ đúng đắn của mệnh đề đó Hay
Để có thể tiến hành các thao tác lôgíc trên các mệnh đề, chúng ta cần phải có các phép toán lôgíc mờ Đó chính là các phép toán t-chuẩn tương ứng với phép hội, t-đối chuẩn ứng với phép tuyển, và phép kéo theo mờ
Bên cạnh đó, ngưỡng cũng là khái niệm hết sức tự nhiên trong các bài toán của thế giới thực Những suy luận có sử dụng ngưỡng là rất hay gặp trong đời sống Lấy ví dụ, trong công tác chẩn đoán bệnh nhân Nếu một số thông số đầu vào đạt những giá trị ngưỡng, dạng như nhiệt độ trên 41oC, nhịp tim trên 150, … hiển nhiên chúng ta phải có những suy luận khác với khi các giá trị này chưa đạt giá trị ngưỡng Chương này tập trung vào việc nghiên cứu các toán tử mờ có ngưỡng sử dụng làm công cụ cho quá trình trích rút các luật mờ
Mở đầu của các nghiên cứu về toán tử mờ có ngưỡng chính là t-chuẩn có ngưỡng Khái niệm t-chuẩn có ngưỡng do Dubois, Prade giới thiệu đầu tiên trong [14], sau đó được Iancu xem xét một cách đầy đủ hơn trong [31] Sau đó, một số kết quả về các lớp toán tử mờ có ngưỡng t-chuẩn, t-đối chuẩn, và kéo theo đã được xem xét trong [9-13] Chương này sẽ nhắc lại các khái niệm về toán tử mờ, toán tử mờ có ngưỡng, lớp toán tử mờ có ngưỡng đồng dạng Đồng thời, chúng tôi sẽ tiến hành xem xét một số tính chất đại số của các lớp này Phần cuối chương là các xem xét giải tích đối với các lớp toán tử mờ tham số nhằm làm tiền đề cho việc tạo ra các toán tử mờ
có ngưỡng tham số
Trang 9Trước hết, chúng ta bắt đầu bằng việc tìm hiểu về các toán tử mờ và một số tính chất đặc trưng của chúng.
Toán tử mờ là những phép toán trên lôgíc mờ, nghĩa là những phép toán trên các giá trị lôgíc của các mệnh đề Như thế, một cách tổng quát, các phép toán trên đoạn [0,1] đều có thể là toán tử mờ Trong phần này chúng ta sẽ tìm nhắc lại các định nghĩa và một số tính chất của các phép toán lôgíc cơ bản, đó là phép phủ định, phép hội hay t-norm, phép tuyển hay t-conorm
2.1.1 Phủ định
Định nghĩa 2.1.1[28].
i) Hàm n : [0,1] → [0,1] được gọi là hàm phủ định nếu nó không tăng đồng
thời n(0) = 1 và n(1) = 0
ii) Một hàm phủ định được gọi là phủ định chặt nếu nó giảm chặt.
iii) Một hàm phủ định được gọi là phủ định mạnh nếu nó là phủ định chặt,
đồng thời n(n(x)) = x với mọi x ∈ [0,1]
Định lý 2.1.1[28] n là phép phủ định chặt nếu và chỉ nếu tồn tại f thuộc Aut(J) sao
Định nghĩa 2.1.2[28] Một hàm T : [0,1]×[0,1] → [0,1] được gọi là một t-chuẩn
(tương ứng với phép hội trong lôgíc mệnh đề), nếu nó có tính giao hoán, kết hợp, đơn điệu không giảm theo từng biến, đồng thời T(x,1) = x với mọi x ∈ [0,1]
i) Một t-chuẩn được gọi là liên tục nếu nó liên tục theo từng biến.
Trang 10ii) Một t-chuẩn được gọi là t-chuẩn Archimedean nếu nó liên tục, đồng thời:
T(x,x) < x với mọi x ∈ (0,1)
iii) Một t-chuẩn được gọi là t-chuẩn chặt nếu nó là Archimedean, đồng thời:
không tồn tại x, y ∈ (0,1) sao cho T(x,y) = 0
iv) Một t-chuẩn được gọi là t-chuẩn nilpotent nếu nó là Archimedean, đồng
thời: tồn tại x, y ∈ (0,1) sao cho T(x,y) = 0
2.1.3 T-đối chuẩn
Định nghĩa 2.1.3[28] Một hàm S : [0,1]×[0,1] → [0,1] được gọi là một t-đối chuẩn
(tương ứng với phép tuyển) nếu nó có tính giao hoán, kết hợp, đơn điệu không giảm theo từng biến, đồng thời S(0,x) = x với mọi x ∈ [0,1]
Kết quả sau đây cho ta thấy mối tương quan giữa t-chuẩn và t-đối chuẩn
Định lý 2.1.2[28] S là t-đối chuẩn nếu và chỉ nếu tồn tại t-chuẩn T và phủ định mạnh
n sao cho S(x,y) = n(T(n(x),n(y))) với mọi x,y ∈ [0,1]
Cặp (T,S) được gọi là đối ngẫu nhau qua phủ định mạnh n.
Bộ ba (T,n,S) được gọi là bộ ba De Morgan.
Một t-đối chuẩn được gọi là liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent nếu đối ngẫu của nó là liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent tương ứng
2.1.4 Kéo theo
Định nghĩa 2.1.4[19] Một hàm I: [0,1]×[0,1]→[0,1] là một hàm kéo theo nếu thoả
các tính chất sau:
i) I(x,y) ≥ I(u,y) nếu x ≤ u
ii) I(x,y) ≥ I(x,v) nếu y ≥ v
iii) I(0,x) = 1
iv) I(x,1) = 1
Trang 11v) I(1,0) = 0
Trong thực tế, người ta thường sử dụng các hàm kéo theo được định nghĩa dựa trên các toán tử khác như t-chuẩn, t-đối chuẩn và hàm phủ định Ta có các kết quả sau:
Mệnh đề 2.1.3[19] Cho S là t-đối chuẩn, n là hàm phủ định chặt, thế thì I(x,y) =
S(nx,y) là một hàm kéo theo
Mệnh đề 2.1.4[19] Cho T là t-chuẩn, thế thì I(x,y) = supz{T(x,z) ≤ y} là hàm kéo theo
Phần tiếp theo là các khái niệm về toán tử mờ có ngưỡng đồng dạng, đồng thời chúng tôi cũng sẽ nhắc lại một số tính chất của các toán tử mờ sau đó xem xét
mở rộng sang t-chuẩn có ngưỡng
Toán tử mờ có ngưỡng cũng là các toán tử biểu diễn các phép toán trên các giá trị chân lý của các mệnh đề trong lôgíc mờ Bênh cạnh đó, mỗi toán tử thuộc loại này sẽ được gắn thêm các giá trị ngưỡng nhằm biểu diễn sự suy diễn theo ngưỡng mà chúng tôi đã nói đến ở phần đầu chương
Trang 12α y, α x:
)y ,x ( t
2
yx
1
Định nghĩa 2.2.2 Lớp cỏc t-chuẩn cú ngưỡng đồng dạng là tập cỏc t-chuẩn cú
ngưỡng được xỏc định như sau:
αy ,α x:)y,
x(t )α,y,
x(T
2
y x 1
khác hợp trường
Ta cú thể thấy, việc xỏc định một t-chuẩn cú ngưỡng tương ứng với việc xỏc định hai t-chuẩn t1, t2, và ngưỡng α, việc xỏc định một lớp cỏc t-chuẩn cú ngưỡng đồng dạng tương ứng với việc xỏc định hai t-chuẩn t1 và t2
Ta cũng gọi T(x,y,α) là t-chuẩn cú ngưỡng liờn tục, Archimedean, chặt,
nilpotent, nếu t1, t2 là liờn tục, Archimedeanm chặt, nilpotent tương ứng
Từ cỏc định nghĩa về t-chuẩn nilpotent và t-chuẩn chặt, và ràng buộc t1 ≥ t2,
ta cú thể thấy t-chuẩn cú ngưỡng Archimedean cú thể chia làm ba loại:
i) t-chuẩn cú ngưỡng chặt
ii) t-chuẩn cú ngưỡng nilpotent
iii) t-chuẩn cú ngưỡng hỗn hợp (t1 là chặt và t2 là nilpotent)
Ta cú kết quả sau thu được trực tiếp từ định nghĩa
Mệnh đề 2.2.1[9]: Với mọi α ∈ [0,1], với mọi x,y ∈ [0,1], ta luụn cú t1(x,y) ≥ T(x,y,α) ≥ t2(x,y)
Trong cỏc bài toỏn cụ thể, núi chung, miền ngưỡng α được đưa ra dựa trờn ý kiến của cỏc chuyờn gia, chỳng phụ thuộc vào thế giới đang được xem xột Sau đõy, chỳng tụi sẽ xem xột về cỏc phương phỏp để xõy dựng cỏc lớp t-chuẩn cú ngưỡng
Trang 13đồng dạng Archimedean, nói cách khác là việc tạo ra các bộ t1, t2 thoả t1(x,y) ≥ t2(x,y) với mọi x,y.
Trước hết, ta nhắc lại phương pháp sử dụng hàm sinh, trong [28], sau đó, ta
sẽ xem xét mở rộng cho t-chuẩn có ngưỡng với cặp hàm sinh
Định lý 2.2.2[28] Cho t là t-chuẩn Archimedean nếu và chỉ nếu tồn tại f tăng chặt:
[0,1] → [0,1], với f(1) = 1, sao cho:
t(x,y) = f-1(f(x)f(y) ∨ f(0))hàm f được xác định duy nhất sai khác một số mũ dương
Hàm f ở trên được gọi là hàm sinh nhân tính của t-chuẩn Archimedean t Ta
cũng có thể thấy, nếu t là t-chuẩn chặt thì f(0) = a = 0, còn nếu t là t-chuẩn nilpotent,
ta có f(0) > 0
Bên cạnh việc biểu diễn các t-chuẩn Archimedean thông qua hàm sinh nhân tính, chúng ta cũng có thể sử dụng hàm sinh cộng tính để xây dựng các t-chuẩn này [28]
Định lý 2.2.3 [28] Cho t là t-chuẩn Archimedean nếu và chỉ nếu tồn tại hàm g liên
tục, giảm chặt: [0,1] → [0,∞], với g(1) = 0, sao cho:
t(x,y) = g-1(g(x)+g(y)∧ g(0))hàm g xác định duy nhất sai khác một hằng số nhân dương
Trang 14Hàm g được gọi là hàm sinh cộng tính của t-chuẩn t Và nếu t là t-chuẩn
chặt, ta có g(0) = ∞, nếu t là t-chuẩn nilpotent, ta có g(0) < ∞ Kết quả sau cho ta mối tương quan giữa hàm sinh nhân tính và hàm sinh cộng tính
Mệnh đề 2.2.4 [28] Cho t là t-chuẩn Archimedean với g là hàm sinh cộng tính, thế
thì f(x) = e-g(x) là hàm sinh nhân tính của t
Ký hiệu
tf là t-chuẩn sinh bởi hàm sinh nhân tính (cộng tính) f
Ta có thể thấy, lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng được xác định dựa theo hai t-chuẩn thành phần t1, t2 sao cho t1 ≥ t2 Để mở rộng khái niệm hàm sinh, trước hết, ta xem xét các kết quả về so sánh giữa hai t-chuẩn Archimedean thông qua các hàm sinh của chúng
Định lý 2.2.5 [34] Cho t1, t2 là hai t-chuẩn Archimedean với g1, g2 là hai hàm sinh cộng tính tương ứng Khi đó, t1 ≤ t2 khi và chỉ khi h = g1○g2-1 là hàm dưới cộng tính,
nghĩa là:
g1○g2-1(u+v) ≤ g1○g2-1(u) + g1○g2-1(v)với mọi u, v ∈ [0,g2(0)] sao cho u+v ∈ [0,g2(0)]
Định lý 2.2.6 Cho t1, t2 là hai t-chuẩn Archimedean với f1, f2 là hai hàm sinh nhân tính tương ứng Khi đó, t1 ≤ t2 khi và chỉ khi h = f2○f1-1 là hàm dưới nhân tính, nghĩa
là:
f2○f1-1(uv) ≤ f2○f1-1(u)f2○f1-1(v)với mọi u, v ∈ [f1(0),1] sao cho uv ∈ [f1(0),1]
Chứng minh: Trước hết, ta xét điều kiện đủ Ta có, giả sử
f2○f1-1(uv) ≤ f2○f1-1(u)f2○f1-1(v)với mọi u, v ∈ [0,f1(0)] sao cho uv ∈ [0,f1(0)]
Đặt x = f1-1(u), y = f1-1(v), khi đó
Trang 15x, y ∈ [0,1], f1(x)f1(y) ∈ [f1(0),1] và u = f1(x), v = f1(y)
Từ giả thiết, ta có:
f2(0) ≤ f2○f1-1(f1(x)f1(y)) ≤ f2(x)f2(y)tức là:
f1-1(f1(x)f1(y)) ≤ f2-1(f2(x)f2(y))Nghĩa là với mọi x, y ∈ [0,f1(0)] sao cho f1(x)f1(y) ∈ [f1(0),1] ta có:
t1(x,y) = f1-1(f1(x)f1(y) ∨ f1(0)) ≤ f2-1(f2(x)f2(y) ∨ 0) = t2(x,y)
Hơn nữa, hiển nhiên, với f1(x)f1(y) ≤ f1(0), thì:
t1(x,y) = f1-1(f1(x)f1(y) ∨ f1(0)) = 0 ≤ t2(x,y)Chứng minh điều kiện cần tương tự như điều kiện đủ, xét với x, y ∈ [0,1] sao cho f1(x)f1(y) ∈ [f1(0),1] □
Bổ đề 2.2.7 Cho f1, f2 là hai hàm tăng chặt [0,1] → [0,1] với f1(1) = f2(1) = 1 sao cho
f2○f1-1(uv) ≤ (f2○f1-1(u)f2○f1-1(v))với mọi u, v ∈ [f1(0),1] sao cho uv ∈ [f1(0),1] Cho g1, g2 là hai hàm sao cho f1 =
Chứng minh: Trước hết, ta có nếu f1(x) = r 1
2 f uv
f − ≤f 2 f (u1))f 2 f 1(vr 1))
1 r 1 2 r 1 1 r 1
2 − − = g2○g1-1(u)g2○g1-1(v) □
Trang 16Chứng minh tương tự, ta cũng có kết quả sau.
Bổ đề 2.2.8 Cho g1, g2 là hai hàm giảm chặt [0,1] → [0,∞] với g1(1) = g2(1) = 0, sao cho
g1○g2-1(u+v) ≤ g1○g2-1(u) + g1○g2-1(v)với mọi u, v ∈ [0,g2(0)] sao cho uv ∈ [0,g2(0)] Cho f1, f2 là hai hàm sao cho g1 =
r1f1, g2 = r2f2, với r1, r2 > 0 nào đó, thế thì
f1○f2-1(u+v) ≤ f1○f2-1(u) + f1○f2-1(v)với mọi u, v ∈ [0,f2(0)] sao cho uv ∈ [0,f2(0)]
Hệ quả 2.2.9.
i) Cho T(x,y) là lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Archimedean với các t-chuẩn thành phần là t1, t2 nếu và chỉ nếu tồn tại a1, a2 thuộc [0,1), và (f1,f2) thuộc Aut(J,a1,a2) sao cho
t1(x,y) = f1-1(f1(x)f1(y) ∨ a1) và t2(x,y) = f2-1(f2(x)f2(y) ∨ a2)đồng thời h = f1○f2-1 là hàm dưới nhân tính
ii) Cặp (g1,g2) khác thoả điều kiện này nếu và chỉ nếu f1 = r 1
Trang 17i) Cho T(x,y) là lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Archimedean với các t-chuẩn thành phần là t1 và t2 nếu và chỉ nếu tồn tại g1, g2 là các hàm giảm chặt : [0,1]
Định nghĩa 2.2.3 Cặp hàm (f1,f2) là các hàm tăng chặt từ [0,1] → [0,1] sao cho f1○f2-1
là hàm dưới nhân tính có thể biểu diễn một lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Archimedean T nào đó và được gọi là cặp hàm sinh nhân tính của T
Định nghĩa 2.2.4 Cặp hàm (g1,g2) là các hàm giảm chặt từ [0,1] → [0,∞] sao cho
g2○g1-1 là hàm dưới cộng tính có thể biểu diễn một lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Archimedean T nào đó và được gọi là cặp hàm sinh cộng tính của T
Các kết quả về các cặp hàm sinh ở đây, sẽ được sử dụng trong việc xây dựng các lớp toán tử mờ có ngưỡng tham số trong phần cuối của tài liệu này
Từ nhận xét trên, ta có các kết quả sau:
Trang 18Hệ quả 2.2.11 Ký hiệu Tf 1 , f 2 là lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Archimedean sinh bởi cặp hàm sinh nhân tính (f1,f2), khi đó ánh xạ Tf 1 , f 2 → (R+)2(f1,f2) là tương ứng một-một giữa tập các lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Archimedean và phân hoạch {(R+)2(f1,f2) : (f1,f2) ∈ G2} của G2.
Hệ quả 2.2.12 Ánh xạ Tf 1 , f 2 → (R+)2(f1,f2) là tương ứng một-một giữa tập các lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng chặt với phân hoạch {(R+)2(f1,f2) : (f1,f2) ∈ G2} của G2
Các kết quả trên cho ta thấy tương ứng giữa các lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng với các lớp cặp hàm sinh nhân tính Sau đây là các kết quả cho ta tương ứng giữa các cặp hàm sinh với các lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Trước hết, ta xét bổ
đề sau:
Bổ đề 2.2.13 Cho (a1,a2) ∈ (0,1)2 Khi đó, một lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng sẽ
có duy nhất một cặp hàm sinh nhân tính (f1,f2) sao cho f1(a1) = a1 và f2(a2) = a2
Chứng minh: Cho (f1,f2) ∈ G2 là cặp hàm sinh nhân tính của t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Archimedean Tf 1 , f 2 Ta có bổ đề tương đương với có duy nhất một phần
tử (r1,r2)(f1,f2) trong (R+)2(f1,f2) sao cho r 1
Trang 19Sau đây, ta sẽ xét biểu diễn của các lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng nilpotent Giả sử Tf 1 , f 2 là một lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng nilpotent với cặp hàm sinh nhân tính (f1,f2) Nghĩa là f1, f2 là các song ánh bảo toàn thứ tự từ [0,1] vào [b1,1] và [b2,1] tương ứng, với b1, b2 ∈ (0,1) Khi đó, với a1,a2 thuộc (0,1) cho trước, tồn tại duy nhất cặp (r1,r2) thuộc (R+)2 sao cho r 1
1
b = a1 và r 2
2
b = a2 Nghĩa là tồn tại duy nhất cặp (g1,g2) thuộc G2, với g1, g2 là các song ánh bảo toàn thứ tự từ [0,1] vào [a1,1] và [a2,1] tương ứng Từ đó, ta có kết quả sau:
Hệ quả 2.2.16 Cho (a1,a2) thuộc (0,1)2 Khi đó (g1,g2) → Tg 1 , g 2 là tương ứng một giữa các cặp song ánh bảo toàn thứ tự từ [0,1] vào [a1,1] và [a2,1] tương ứng với các lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng nilpotent
một-2.2.2 Đẳng cấu giữa các t-chuẩn có ngưỡng
Trước hết, ta xem xét một kết quả trong [28] và một số hệ quả
Định lý 2.2.17[28] Cho t là t-chuẩn, f thuộc Aut(J), khi đó tf(x,y) = f-1(t(f(x),f(y)) cũng là t-chuẩn Hơn nữa, nếu t là t-chuẩn liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent thì tf
cũng là liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent tương ứng
Hai t-chuẩn t và tf được gọi là đẳng cấu thông qua hàm f, và f được gọi là đẳng cấu giữa chúng
Hệ quả 2.2.18 Cho T(x,y,α) là t-chuẩn có ngưỡng, khi đó
f
α ) y (f , α ) x (f : )) y (f ), x (f ( t(
f
21
yx
11
là t-chuẩn có ngưỡng α’ := f-1(α) = (f-1(αx),f-1(αy)) Hơn nữa, nếu T là t-chuẩn có ngưỡng liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent, hỗn hợp, thì Tf cũng là t-chuẩn có ngưỡng liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent, hỗn hợp tương ứng
Chứng minh: Từ định lý 2.2.17, ta có
Trang 20t1’(x,y) = f-1(t1(f(x),f(y))) và t2’(x,y) = f-1(t2(f(x),f(y)))
là các t-chuẩn
Mặt khác, do f là song ánh tăng, nên f-1 là song ánh tăng Mặt khác, ta có
t1(x,y) ≥ t2(x,y) ⇒ t1’(x,y) = f-1(t1(f(x),f(y))) ≥ f-1(t2(f(x),f(y))) = t2’(x,y), vậy
Tf(x,y,α’) là t-chuẩn có ngưỡng
Các tính chất của T(x,y,α’) tương ứng với các tính chất của t1’, t2’, tương ứng với các tính chất của t1, t2, tương ứng với các tính chất của T(x,y,α) □
Hai t-chuẩn có ngưỡng T và Tf được gọi là đẳng cấu với nhau thông qua hàm f và f được gọi là đẳng cấu giữa chúng
Hệ quả 2.2.19 Cho T = {T(x,y,α)} là lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng và T f
= {Tf(x,y,α’) : α’ = f-1(α), α ∈ [0,1)} cũng là lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Hơn nữa, nếu T là liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent, hỗn hợp thì T f cũng là liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent, hỗn hợp tương ứng
Chứng minh: Ta có, theo hệ quả 2.2.18, các hàm Tf(x,y,α’) là các t-chuẩn có ngưỡng, hơn nữa, từ f là đẳng cấu trên J, ta có khi αx và αy biến thiên từ 0 tới 1 thì f-1(αx) và f-
1(αy) cũng biến thiên từ 0 tới 1 Từ đó ta có T f cũng là lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng Các tính chất của T f tương ứng với các tính chất của T theo hệ quả 2.2.18 □
Hai lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng T và T f được gọi là đẳng cấu với nhau thông qua hàm f và f được gọi là đẳng cấu giữa chúng
Bây giờ chúng ta sẽ xét một vài tính chất về các đẳng cấu giữa các t-chuẩn
Mệnh đề 2.2.20 Cho hai t-chuẩn có ngưỡng: T1(x,y,α1) = (t1
Trang 21Mệnh đề 2.2.21 Cho hai lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng T 1 = (t1
1,t1
2) và T 2 = (t2,t2) h là đẳng cấu giữa T 1 và T 2 nếu và chỉ nếu h là đẳng cấu giữa t1 và t2, đồng thời là đẳng cấu giữa t1 và t2
Chứng minh: Phần nếu là kết quả trực tiếp của mệnh đề 2.2.20 Sau đây chúng ta xét
phần chỉ nếu
Xét T1(x,y,(0,0)) = t1
1(x,y) thuộc T 1, theo định nghĩa, tồn tại T2(x,y,α) thuộc
T 2 sao cho h(T1(x,y,(0,0)) = T2(h(x),h(y),α), vậy α = (h(0),h(0)) = (0,0) Nghĩa là
T2(x,y,α) = t2(x,y), nghĩa là h là đẳng cấu giữa t1 và t2
Tương tự, xét trường hợp khi ngưỡng α = (1,1), ta cũng có h là đẳng cấu giữa t1 và t2 □
Ký hiệu:
i) Aut(J,t1,t2) là tập các đẳng cấu giữa hai t-chuẩn t1,t2
ii) Aut(J,T1,T2) là tập các đẳng cấu giữa hai t-chuẩn có ngưỡng T1, T2
iii) Aut(J,T 1,T 2) là tập các đẳng cấu giữa hai lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng T 1, T 2
Tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu một số tính chất về tự đẳng cấu
Định nghĩa 2.2.5 Xét f thuộc Aut(J)
i) f gọi là tự đẳng cấu của t-chuẩn t nếu và chỉ nếu f(t(x,y)) = t(f(x),f(y)) với mọi x,y
ii) f gọi là tự đẳng cấu của t-chuẩn có ngưỡng T nếu và chỉ nếu f(T(x,y,α) = T(f(x),f(y),f(α))
iii) f gọi là tự đẳng cấu của lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng nếu và chỉ nếu T = {T(x,y,α) : α ∈ [0,1]2} = {f-1(T(f(x),f(y),α’) : α’ ∈ [0,1]2}
Ký hiệu
i) Aut(J,t) là tập các tự đẳng cấu của t
Trang 22ii) Aut(J,T) là tập các tự đẳng cấu của T.
iii) Aut(J,T) là tập các tự đẳng cấu của T
Trên Aut(J), xác định phép toán hợp thành Từ [28] ta đã biết Aut(J) cùng với phép toán hợp thành lập thành một nhóm Từ [12], ta có Aut(J,T) là nhóm con của Aut(J) Kết hợp với mệnh đề 2.2.21 ta có kết quả sau:
Mệnh đề 2.2.22 Aut(J,T) là nhóm con của Aut(J,T)
Dựa trên mệnh đề 2.2.21 và mệnh đề 2.2.22, ta có kết quả sau:
Hệ quả 2.2.23.
i) Aut(J,t1) ∩ Aut(J,t2) ⊆ Aut(J,T)
ii) Aut(J,t1) ∩ Aut(J,t2) = Aut(J,T)
Sau đây, ta sẽ nhắc lại một số kết quả trong [28] cũng như mở rộng của chúng cho t-chuẩn có ngưỡng Chú ý rằng, từ đây về sau, trong các phát biểu về hàm sinh, nếu không có chú thích gì, chúng tôi chỉ đề cập đến các hàm sinh nhân tính
Định lý 2.2.24[28] Cho tf và tg là hai t-chuẩn chặt, thế thì tập các đẳng cấu giữa chúng là g-1R+f
Hệ quả 2.2.25 Cho Tf 1 , f 2 và Tg 1 , g 2 là hai lớp t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng chặt, thế thì tập các đẳng cấu giữa chúng là g1-1R+f1 ∩ g2-1R+f2
Mệnh đề 2.2.26[28] Cho t là t-chuẩn liên tục, thế thì Aut(J,t) = f-1R+f, với f ∈ Aut(J) nào đó nếu và chỉ nếu t là t-chuẩn chặt
Hệ quả 2.2.27 Cho T là lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng liên tục, thế thì Aut(J,T) = f1-1R+f1 ∩ f2-1R+f2 với f1, f2∈ Aut(J) nào đó, nếu và chỉ nếu T là lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng chặt
Định lý 2.2.28[28] Cho tf, tg là t-chuẩn nilpotent r > 0, sao cho g(0) = fr(0) Khi đó g
-1rf là đẳng cấu duy nhất giữa tf và tg
Trang 23Hệ quả 2.2.29 Cho Tf 1 , f 2 và Tg 1 , g 2 là hai lớp t-chuẩn cú ngưỡng đồng dạng nilpotent đẳng cấu với nhau khi và chỉ khi tồn tại r1, r2 > 0 sao cho g1(0) = r 1
1
f (0) và
g2(0) = r 2
2
f (0), đồng thời g1-1r1f1 = g2-1r2f2 Khi đú g1-1r1f1 là đẳng cấu duy nhất
Hệ quả 2.2.30 Cho Tf 1 , f 2 và Tg 1 , g 2 là hai lớp t-chuẩn cú ngưỡng đồng dạng hỗn hợp là đẳng cấu với nhau khi và chỉ khi tồn tại r1, r2 > 0 sao cho g2(0) = r 2
2
f (0), đồng thời g1-1r1f1 = g2-1r2f2 Khi đú g2-1r2f2 là đẳng cấu duy nhất
Định lý 2.2.31[28] Cho t là t-chuẩn nilpotent Khi đú Aut(J,t) = {1}.
Hệ quả 2.2.32 Cho Tf 1 , f 2 là lớp cỏc t-chuẩn cú ngưỡng đồng dạng nilpotent (hỗn hợp) Khi đú Aut(J,Tf 1 , f 2 ) = {1}
2.2.3 t-đối chuẩn cú ngưỡng và bộ ba De Morgan cú ngưỡng
Cho s1, s2 là t-đối chuẩn sao cho s1(x,y) ≤ s2(x,y) với mọi x, y thuộc [0,1], β
là ngưỡng, nghĩa là β = (βx,βy), khi đú t-đối chuẩn cú ngưỡng được định nghĩa như sau
Định nghĩa 2.2.6[9] t-đối chuẩn cú ngưỡng S(x,y,β) được xỏc định trờn [0,1]ì[0,1]
s
β y, β x:
)y ,x ( s
2
yx
]1,0[
β, :)y,x
(s
βy, βx :)y,x
(s )β,y,
x(S
khác hợp trường
là lớp cỏc t-đốichuẩn cú ngưỡng đồng dạng
Trang 24Tương tự như đối với t-chuẩn, t-đối chuẩn có ngưỡng cũng được gọi là t-đối chuẩn liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent, hỗn hợp theo các tính chất của s1, s2.
Phần tiếp theo, chúng ta sẽ khảo sát tính đối ngẫu của t-chuẩn và t-đối chuẩn
có ngưỡng, trước hết, ta có các kết quả sau
ii) S là lớp các t-đối chuẩn có ngưỡng đồng dạng nếu và chỉ nếu tồn tại T
là lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng sao cho
S = {n(T(n(x),n(y),α)) : α ∈ [0,1]2}
và ngược lại
Chứng minh của mệnh đề là đơn giản dựa vào định lý 2.1.2, với chú ý là khi n(x) ≥ αx thì x ≤ n(αx) = βx, tương tự cho αy và βy, và khi αx, αy biến thiên từ 0 tới 1 thì
βx = n(αx) và βy = n(αy) biến thiên từ 1 tới 0, tương ứng
S và T, S và T được gọi là đối ngẫu với nhau qua phủ định chặt n
Từ [28], ta đã biết, các t-đối chuẩn Archimedean có thể được biểu diễn thông qua hàm đối sinh nhân tính g là song ánh giảm từ [0,1] vào [b,1] dạng: sg(x,y) =
g-1(g(x)g(y) ∨ b), với g = fn, trong đó f là hàm sinh nhân tính của t-chuẩn t là đối
Trang 25ngẫu của s qua phủ định chặt n Tương tự, lớp S các t-đối chuẩn Archimedean đồng dạng có thể được biểu diễn thông qua cặp hàm đối sinh (g1,g2) với g1 = f1n, g2 = f2n, trong đó (f1,f2) là cặp hàm sinh của T là lớp các t-đối chuẩn có ngưỡng đồng dạng đối ngẫu của S qua phủ định chặt n.
Sau đây là kết quả về đẳng cấu giữa các t-đối chuẩn có ngưỡng
Mệnh đề 2.2.35 Cho T1, T2 là hai t-đối chuẩn có ngưỡng đẳng cấu với nhau thông qua hàm f S1, S2 là hai t-đối chuẩn đối ngẫu với T1, T2 qua các phủ định chặt n1, n2
tương ứng Khi đó S1, S2 đẳng cấu với nhau thông qua n2fn1
Chứng minh: Thật vậy, dựa vào định nghĩa và mệnh đề 2.2.34, ta có :
Trang 26Các bộ ba De Morgan có ngưỡng cũng được gọi là liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent nếu t-chuẩn có ngưỡng T là liên tục, Archimedean, chặt, nilpotent tương ứng.
Lớp các bộ ba De Morgan có ngưỡng đồng dạng Archimedean, cũng có thể được biểu diễn thông qua các cặp hàm sinh đối với t-chuẩn có ngưỡng, hàm sinh đối với phép phủ định và cặp hàm đối sinh ứng với t-đối chuẩn có ngưỡng dạng: (Tf 1 , f 2
ii) q gọi là đẳng cấu giữa hai lớp (T 1,S 1,n1) và (T 2,S 2,n2) nếu và chỉ nếu q
là đẳng cấu giữa T 1, T 2, giữa S 1, S 2, giữa n1, n2
Ta xét mệnh đề 2.2.35, và hệ quả 2.2.36, xét trường hợp f = n2fn1, nghĩa là f(n1(x)) = n2(f(x)), hay n1 và n2 đẳng cấu với nhau qua hàm f Như thế, nếu q là đẳng cấu giữa T1, T2 và giữa n1, n2 thì q cũng là đẳng cấu giữa S1, S2 Tương tự, nếu q là đẳng cấu giữa T 1, T 2 và giữa n1, n2 thì q cũng là đẳng cấu giữa S 1, S 2 Như thế, khi xét các bộ ba De Morgan có ngưỡng, ta chỉ cần xét t-chuẩn và phủ định, tương tự như trong [28], ta cũng gọi (T,n) với T là t-chuẩn có ngưỡng là hệ De Morgan có ngưỡng, và (T,n) là lớp các bộ ba De Morgan có ngưỡng đồng dạng
Định lý 2.2.37.[28]: Cho (tf,ηg) và (tu,ηv) là hai hệ De Morgan đẳng cấu với nhau nếu
và chỉ nếu (tu,ηv) = (tfh,ηgh) với h ∈ Aut(J) nào đó, khi đó h-1 là đẳng cấu duy nhất giữa chúng
Từ định lý 2.2.37 và mệnh đề 2.2.21, ta có:
Trang 27Hệ quả 2.2.38 Cho (Tf 1 , f 2 ,ηg) và (Tu 1 , u 2,ηv) là hai lớp các hệ De Morgan có ngưỡng đồng dạng Archimedean đẳng cấu với nhau nếu và chỉ nếu (tu 1,tu 2,ηv) = (
h
f1
t ,tf2h,ηgh) với h ∈ Aut(J) nào đó, khi đó h-1 là đẳng cấu duy nhất giữa chúng
Từ [28], ta có kết quả sau về tính không duy nhất của phép phủ định đối với hai t-chuẩn và t-đối chuẩn đối ngẫu với nhau
Bổ đề 2.2.39[28] Cho (t,s,n1) và (t,s,n2) là hai bộ ba De Morgan có cùng chuẩn và đối chuẩn, khi đó n1n2∈ Aut(J,t)
t-Kết hợp với hệ quả 2.2.23 và mệnh đề 2.2.34., ta có các kết quả sau
Hệ quả 2.2.40 Nếu (T,S,n1) và (T,S,n2) là hai lớp các bộ ba De Morgan có ngưỡng đồng dạng có cùng lớp các t-chuẩn có ngưỡng đồng dạng và t-đối chuẩn có ngưỡng đồng dạng, khi đó n1n2∈ Aut(J,T)
Hệ quả 2.2.41 Nếu (T,S,n1) và (T,S,n2) là hai lớp các bộ ba De Morgan có ngưỡng đồng dạng nilpotent hay hỗn hợp thì n1 = n2
2.2.4 Kéo theo có ngưỡng
Tương tự như đối với t-chuẩn và t-đối chuẩn Ta cũng có định nghĩa về kéo theo có ngưỡng dựa trên hai phép kéo theo i1(x,y) ≤ i2(x,y) với mọi x,y ∈ [0,1] và ngưỡng γ
Định nghĩa 2.2.10 Kéo theo có ngưỡng γ = (γx,γy) được xác định:
2
yx1
γ y γ x:
)y ,x ( i
γ y, γ x:
)y ,x (i
Ta dễ dàng kiểm chứng được rằng hàm kéo theo có ngưỡng cũng là hàm kéo theo
Sau đây, chúng ta sẽ xét một số kết quả về hàm kéo theo làm tiền đề cho việc tạo phép kéo theo mờ có ngưỡng từ các toán tử mờ khác
Trang 28Mệnh đề 2.2.42[19] Cho s1 và s2 là hai t-đối chuẩn sao cho s1(x,y) ≤ s2(x,y), khi đó
i1(x,y) = s1(n(x),y) ≤ i2(x,y) = s2(n(x),y)
Mệnh đề 2.2.43[19] Cho t1 và t2 là hai t-đối chuẩn sao cho t1(x,y) ≥ t2(x,y), khi đó
i1(x,y) = supz(t1(x,z) ≤ y) ≤ i2(x,y) = supz(t2(x,z) ≤ y)
Mệnh đề 2.2.44[28] Cho t là t-chuẩn nilpotent, khi đó t có thể biểu diễn dưới dạng
t(x,y) = g-1(g(x) + g(y) - 1 ∨ 0) với g ∈ Aut(J) nào đó
g được gọi là hàm L-sinh của t
Ta đã biết, phủ định mạnh có thể được tạo ra từ hàm η(x) = 1 - x và hàm sinh Bên cạnh đó, ta còn có một cách khác để xây dựng phép phủ định dựa vào hàm L-sinh của các t-chuẩn nilpotent [28]
Mệnh đề 2.2.45[28] Cho t là t-chuẩn nilpotent có hàm L-sinh g, khi đó ηg(x) = g-1g(x)) là phủ định chặt và được gọi là phủ định tự nhiên của t
(1-Đặc biệt, t-chuẩn nilpotent, và t-đối chuẩn đối ngẫu qua phép phủ định tự nhiên sẽ tạo ra cùng một phép kéo theo
Mệnh đề 2.2.46 Cho t là t-chuẩn nilpotent có hàm L-sinh g, s là t-đối chuẩn đối ngẫu
với t qua phủ định tự nhiên ηg, khi đó it(x,y) = supz(t(x,z) ≤ y) = is(x,y) = s(ηg(x),y)
Chứng minh: Thật vậy, ta có:
is(x,y) = s(ηg(x),y) = ηg(t(x,ηg(y)) = g-1(1-g(t(x,g-1(1-g(y))))
= g-1(1-g(g-1(g(x)+g(g-1(1-g(y))))-1∨ 0))
= g-1(1-(g(x)-g(y)∨ 0)) = g-1(min(1-g(x)+g(y),1))Trong khi đó:
it(x,y) = supz(t(x,z) ≤ y) = supz(g-1(g(x)+g(z)-1) ≤ y)
= supz(g(x)+g(z)-1 ≤ g(y)) = supz(g(z) ≤ 1-g(x)+g(y))
= g-1(min(1-g(x)+g(y),1))
Vậy, ta có đpcm □
Trang 292.2.5 Các toán tử mờ tham số
Trong phần này chúng ta sẽ tiến hành khảo sát tính chất giải tích, quan trọng nhất là tính chất thứ tự của một số họ toán tử mờ tham số kinh điển nhằm làm tiền đề cho việc xây dựng các toán tử mờ có ngưỡng tham số
Ta chú ý rằng, khi xác định một chuẩn có ngưỡng, ta cần xác định hai chuẩn thành phần t1, t2 thoả t1(x,y) ≥ t2(x,y) Trước hết, chúng ta đã có các kết quả về
t-so sánh giữa hai t-chuẩn thông qua các hàm sinh và hàm đối sinh của chúng (định lý 2.2.5 và 2.2.6), giữa hai t-đối chuẩn thông qua t-chuẩn đối ngẫu tương ứng (mệnh đề 2.2.33), giữa hai phép kéo theo xây dựng từ t-chuẩn (mệnh đề 2.4.42), giữa hai phép kéo theo xây dựng từ t-đối chuẩn (mệnh đề 2.4.43) Bên cạnh đó, ta có các kết quả bổ sung sau
Mệnh đề 2.2.47 Cho f ∈ Aut(J), khi đó
t1(x,y) = f-1(f(x)f(y)) ≥ t2(x,y) = f-1(f(x)+f(y)-1 ∨ 0)
Chứng minh: Ta có f(x),f(y) ≤ 1, vậy (1-f(x))(1-f(y)) ≥ 0, do đó f(x)f(y) ≥ f(x)+f(y)-1,
Hệ quả 2.2.48[34] Cho t1, t2 là hai t-chuẩn Archimedean liên tục với các hàm sinh cộng tính tương ứng g1, g2 : [0,1] → [0,∞] Khi đó, t1 ≤ t2 nếu một trong các điều kiện sau thoả mãn:
i) Hàm g1○g2-1 : [0,g2(0)] → [0,∞] là lõm
ii) Hàm f : (0,g2(0)] → [0,∞]
Trang 30f(x) :=
x
) x )(
g g ( 1 2
' g
1 2
y y 1 x
x 1 1
Mệnh đề 2.2.50 Họ t-chuẩn Dombi là đơn điệu không giảm theo r.
Chứng minh: Thực vậy, xét t1, t2 là hai t-chuẩn thuộc họ với các hàm sinh cộng tính:
Trang 31g1(x) = 1
r
x
x 1
1
2 r
1
+ , nghĩa là f(x) = x
) x )(
g g ( 1 2
Định nghĩa 2.2.12 [28] Họ Jane Doe #1-Hamacher
1 r r
r r
y y 1 x x 1 a y y 1 x
x 1 1
− +
x
− + : a > 0, r > 0
Mệnh đề 2.2.51 Họ t-chuẩn Jane Doe #1-Hamacher là đơn điệu không tăng theo a,
đơn điệu không giảm theo r
Chứng minh: Rõ ràng họ t-chuẩn Jane Doe #1-Hamacher là đơn điệu không tăng theo
a dựa vào công thức định nghĩa của họ tham số
Xét t1, t2 là hai t-chuẩn thuộc họ với các hàm sinh cộng tính
g1(x) = -ln 1 1
1
r r
r
)x1(ax
r
)x1(ax
r − − , giả sử r1 < r2, khi đó f là không giảm
x, vậy t1 ≤ t2 theo hệ quả 2.2.48, ta có đpcm □
Định nghĩa 2.2.13 [28] Họ Aczél-Alsina
1 r
r ( ln y ) ) )
x ln ((
e− − +− : r > 0
1
e
Trang 32hàm sinh cộng tính (-lnx)r : r > 0
Mệnh đề 2.2.52 Họ t-chuẩn Aczél-Alsina là đơn điệu không giảm theo r
Chứng minh: Xét t1, t2 là hai t-chuẩn thuộc họ với các hàm sinh cộng tính
1 a
1 a 1 a 1
y x
: a > 0, a ≠ 1; xy : a = 1
hàm sinh nhân tính
1 a
x
1− : a > 0
hàm sinh cộng tính xa-1 : a < 0; 1- xa : a > 0; -lnx : a = 0
Mệnh đề 2.2.54 Họ t-chuẩn Schweizer là đơn điệu không tăng theo tham số a.
Chứng minh: Xét hai t-chuẩn t1, t2 thuộc họ với hai hàm sinh cộng tính tương ứng là
g1, g2, ta xét các trường hợp sau:
i) g1(x) = xa 1-1, g2(x) = xa 2-1, a2 < a1 < 0 hoặc 0 < a2 < a1
Trang 33x − là hàm không giảm, vậy t1 ≤ t2 theo hệ quả 2.2.48.
Định nghĩa 2.2.16 [28] Họ Jane Doe #2
t-chuẩn xye-alnxlny : a > 0; xy : a = 0
hàm sinh nhân tính
x ln a 1
1
−Dựa vào công thức định nghĩa của họ, ta có kết quả sau
Mệnh đề 2.2.55 Họ t-chuẩn Jane Doe #2 là đơn điệu không tăng theo tham số a Định nghĩa 2.2.17 [28] Họ Jane Doe #3
t-chuẩn 1-( ( ( ) ) ( ( ) ) )a
1 a
a 1 1 yx
11
1− − − − − : a > 0
hàm sinh nhân tính 1-(1-x)a : a > 0
Đạo hàm công thức t-chuẩn theo tham số a, ta có kết quả sau
Mệnh đề 2.2.56 Họ t-chuẩn Jane Doe #3 là đơn điệu không tăng theo tham số a.
Trang 341 a
x 1
phủ định tự nhiên 1-( )a
1 a
)x1(
1− − : a > 0
hàm sinh cộng tính (1-x)a
Mệnh đề 2.2.57 Họ t-chuẩn Yager là đơn điệu không giảm theo tham số a
Chứng minh: Xét hai t-chuẩn t1, t2 thuộc họ với hai hàm sinh cộng tính:
hàm sinh cộng tính 1-loga((a-1)x+1) : a > 0, a ≠ 1; 1-x : a = 1
Mệnh đề 2.2.58 Họ Jane Doe #4 là đơn điệu không giảm theo tham số a
Chứng minh: Xét hai t-chuẩn t1, t2 thuộc họ với hai hàm sinh cộng tính g1, g2 tương ứng, ta xét các trường hợp sau
i) g1(x) = 1-loga 1((a1-1)x+1) và g2(x) = 1-loga 2((a2-1)x+1), với a1 < a2 < 1 hoặc 1 < a1 < a2
1 1
aln)1a(
aln)1a(
−
−
1x)1a(
1x)1a(
Trang 35ii) g1(x) = 1-x và g2(x) = 1-loga((a-1)x+1) : a > 1.
hàm sinh cộng tính loga((a-1)(1-x)+1) : a > 0, a ≠ 1; 1-x : a = 1
Mệnh đề 2.2.59 Họ t-chuẩn Weber là đơn điệu không tăng theo tham số a
Chứng minh: Xét hai t-chuẩn t1, t2 thuộc họ với hai hàm sinh cộng tính g1(x), g2(x) tương ứng, ta xét các trường hợp sau:
i) g1(x) = loga 1((a1-1)(1-x)+1) và g2(x) = loga 2((a2-1)(1-x)+1), với a1 > a2 >
1 1
aln)a1(
aln)a1(
−
−
1)x1)(
1a(
1)x1)(
1a(
ii) g1(x) = 1-x và g2(x) = loga((a-1)(1-x)+1) : a < 1
Trang 36iii) g1(x) = loga((a-1)(1-x)+1) : a > 1 và g2(x) = 1 - x
1 a
1 a a
: a > 0, a ≠ 1; (x+y-1 ∨ 0), a = 1
phủ định tự nhiên loga(a-ax+1)
hàm sinh cộng tính
1-1 a
1
a x
−
−
Mệnh đề 2.2.60 Họ t-chuẩn Jane Doe #6 đơn điệu không tăng theo tham số a
Chứng minh: Xét hai t-chuẩn t1, t2 với các hàm sinh cộng tính
g1(x) =
1-1 a
1 a
1
x 1
−
−
và g2(x) =
1-1 a
1 a
2
x 2
1 2 1
1 2
a
a a ln ) 1 a (
a ln ) 1 a (
Trang 37Chứng minh: Giả sử t1 là t-chuẩn Yager với hàm sinh cộng tính g1(x) = (1-x)a, t2 là chuẩn Schweizer với hàm sinh cộng tính g2(x) = 1-xa, ta có:
x 1
Từ [28], ta có họ t-chuẩn Jane Doe #3 có hàm sinh 1-(1-x)a, họ Yager có
hàm L-sinh 1-(1-x)a, họ Frank có hàm sinh
1 a
1
a x
−
−, họ Jane Doe #6 có hàm L-sinh
Trang 38Mệnh đề 2.2.63 Cho t1 là t-chuẩn Jane Doe #3, t2 là t-chuẩn Yager có cùng tham số a, khi đó t1 ≥ t2.
Mệnh đề 2.2.64 Cho t1 là t-chuẩn Frank, t2 là t-chuẩn Jane Doe #6 có cùng tham số a, khi đó t1 ≥ t2
Mệnh đề 2.2.65[39] Xét hai t-chuẩn sau:
t-chuẩn min tm(x,y) = min(x,y)
:0
1 )y ,x max(
:) y, x min(
Thế thì, với mọi t-chuẩn, ta luôn có tm(x,y) ≥ t(x,y) ≥ tz(x,y)
Trong chương này chúng tôi đã tổng kết lại các nghiên cứu về toán tử mờ có ngưỡng Các khảo sát về cặp hàm sinh sẽ được sử dụng trong việc tạo ra các toán tử mờ có ngưỡng tham số Các xem xét giải tích về các họ toán tử mờ tham số ở cuối chương
là tổng kết các tính chất về thứ tự của các toán tử này và có thể sử dụng để tạo ra các t-chuẩn có ngưỡng tham số
Trang 393
LUẬT KẾT HỢP MỜ
Chương này tóm tắt lại một số khái niệm cơ bản của bài toán luật kết hợp mờ, khảo sát sơ lược một số vấn đề về không gian tìm kiếm, việc sử dụng các toán tử mờ và toán tử mờ có ngưỡng trong bài toán tìm luật kết hợp mờ Chúng tôi cũng đưa ra thuật toán F-Apriori để giải bài toán tìm luật kết hợp mờ
Sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ về thu nhận, lưu trữ và phân phối
dữ liệu đã dẫn tới sự bùng nổ về thông tin và dữ liệu Thách thức lớn nhất đối với các
tổ chức cũng như các cá nhân ngày nay không chỉ là ở việc có ngày càng nhiều dữ liệu càng tốt mà còn ở việc trích rút từ kho dữ liệu khổng lồ thu nhận được ra các tri thức hữu ích
Vấn đề này đã tập hợp nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như thống kê, máy học, cơ sở dữ liệu, … vào một lĩnh vực nghiên cứu mới, đó là
khai phá dữ liệu (Data Mining).
Trang 40Khai phá dữ liệu thường được xét đến như là một khâu trong một quá trình
lớn hơn đó là Phát hiện tri thức trong cơ sở dữ liệu (Knowledge discovery in
databases-KDD) [17] Bài toán này bao gồm:
• Tìm hiểu về lĩnh vực ứng dụng, các tri thức đã có trước đó, và mục tiêu của người sử dụng
• Lựa chọn loại tập dữ liệu tiến hành quá trình phát hiện tri thức, thực hiện công tác chuẩn hoá và chuyển đổi dữ liệu nếu cần
• Lựa chọn hình thức khai phá dữ liệu, giải thuật, và quyết định mô hình cũng như các tham số có thể có
• Thực hiện quá trình khái phá dữ liệu, trích ra các mẫu và mô hình
• Hiển thị, diễn giải và hợp nhất các tri thức được phát hiện
Quá trình này được tiến hành lặp đi lặp lại do một bước có thể dẫn đến những sửa đổi của bước đã được tiến hành trước đó Quá trình lặp cũng do người dùng có thể giới hạn lại khối lượng công việc của hệ thống trong phạm vi mà anh ta thực sự quan tâm
Bước khai phá dữ liệu là công việc trích rút các thông tin, một cách tự động
từ dữ liệu Các thông tin này có thể có giá trị đối với người sở hữu kho dữ liệu Định nghĩa vắn tắt về thao tác này được đưa ra trong [24]:
Khai phá dữ liệu là phân tích tập dữ liệu (thường là lớn, thậm chí
rất lớn) thu nhận được nhằm tìm kiếm các mối quan hệ chắc chắn và
tổng hợp dữ liệu theo một hình thức mới để trở nên hiểu được và hữu
dụng đối với chủ của dữ liệu
Để phân tích dữ liệu, một vài dạng công việc khác nhau đã được phân biệt, tương ứng với mục tiêu của quá trình phân tích, và quan trọng hơn là tương ứng với sản phẩm dự kiến Những công việc này có thể được phân loại như sau [24]