Quốc tế hóa và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã và đang trở thành xu thế tất yếu trong quá trình xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia. Thực thế trong rất nhiều năm qua đặc biệt là những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 các quốc gia đã không ngừng nỗ lực hội nhập, hợp tác với các nước khác để cùng nhau tồn tại và phát triển. Sự ra đời của liên hiệp quốc, WTO, APEC, ASEAN, ASEM…đã cho thấy một sự hợp tác, hội nhập chặt chẽ trên toàn thế giới cũng như ở nhiều khu vực khác nhau. Ngày 7 tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Đây là một trong những kết quả quan trọng của quá trình thực hiện chính sách chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Gia nhập WTO mở ra cho nước ta những cơ hội mới và thách thức mới, một trong những điều được nhiều người quan tâm hiện nay là xem xét những ảnh hưởng của của việc thực hiện các cam kết khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới tới hoạt động đầu tư nước ngoài. Việc phải thực hiện những cam kết đó sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Qua đó góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế đất nước. Mặt khác, việc thực hiện đó cũng không khỏi gây ra một số tác động bất lợi cho nền kinh tế trong giai đoạn đầu gia nhập WTO của Việt Nam. Để xem xét những tác động của những cam kết trong tổ chức WTO đến hoạt động đầu tư của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu, tiếp tục phát huy được kết quả đã đạt được, khắc phục những yếu kém, vượt qua thách thức sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO nên em chọn đề tài “Ảnh hưởng của cam kết trong tổ chức Thương mại thế giới WTO đến hoạt động đầu tư nước ngoài của Việt Nam và giải pháp”.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Quốc tế hóa và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã và đang trở thành xu thếtất yếu trong quá trình xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia Thực thế trong rấtnhiều năm qua đặc biệt là những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 các quốc gia đãkhông ngừng nỗ lực hội nhập, hợp tác với các nước khác để cùng nhau tồn tại vàphát triển Sự ra đời của liên hiệp quốc, WTO, APEC, ASEAN, ASEM…đã chothấy một sự hợp tác, hội nhập chặt chẽ trên toàn thế giới cũng như ở nhiều khu vựckhác nhau
Ngày 7 tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150của WTO Đây là một trong những kết quả quan trọng của quá trình thực hiện chínhsách chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Gia nhập WTO mở ra cho nước
ta những cơ hội mới và thách thức mới, một trong những điều được nhiều ngườiquan tâm hiện nay là xem xét những ảnh hưởng của của việc thực hiện các cam kếtkhi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới tới hoạt động đầu tư nước ngoài.Việc phải thực hiện những cam kết đó sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tưnước ngoài tại Việt Nam, làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam trở nên hấp dẫnhơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài Qua đó góp phần thúc đẩy tiến trình đổimới và phát triển kinh tế đất nước Mặt khác, việc thực hiện đó cũng không khỏi gây
ra một số tác động bất lợi cho nền kinh tế trong giai đoạn đầu gia nhập WTO củaViệt Nam
Để xem xét những tác động của những cam kết trong tổ chức WTO đến hoạtđộng đầu tư của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu, tiếptục phát huy được kết quả đã đạt được, khắc phục những yếu kém, vượt qua thách
thức sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO nên em chọn đề tài “Ảnh hưởng của cam kết trong tổ chức Thương mại thế giới WTO đến hoạt động đầu
tư nước ngoài của Việt Nam và giải pháp”
Mục đích của đề tài
Trang 2Mục đích của đề tài là đánh giá tác động của các cam kết trong tổ chức WTO đối vớihoạt động đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằmthu hút vốn đầu tư nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Nội dung nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những cam kết của Việt nam trong WTO trong lĩnh vực đầu tư nướcngoài
Phân tích ảnh hưởng của việc gia nhập WTO với sự vận động của dòng vốn đầu tưnước ngoài vào Việt nam
Đề xuất một số giải pháp trong việc thực hiện cam kết của tổ chức WTO, nhằm nângcao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt nam
Kết cấu đề tài : gồm 3 chương
Chương I: Tổng quan về đầu tư nước ngoài và những cam kết WTO của Việt Nam gia nhập WTO
Chương II: Ảnh hưởng của những cam kết trong tổ chức thương mại thế giới tới hoạt động đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
Chương III: Giải pháp thực thi cam kết của WTO tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Do hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu cũng như kinh nghiêm thực tếnên đề tài không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được sự hướng dẫncủa thầy giáo PGS – TS Nguyễn Thường Lạng, các thầy, cô giáo vào các bạn để đềtài được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG CAM KẾT CỦA
VIỆT NAM GIA NHẬP WTO.
1 Tổng quan về đầu tư nước ngoài
1.1 Khái niệm về đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài hay đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về
vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiệnmột hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia
Thực chất, đầu tư nước ngoài là sự vận động của tiền tệ và tài sản giữa các quốc gianhằm điều chỉnh tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuất, tạo điều kiện cho nền kinh tế cácquốc gia phát triển, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu
Đầu tư nước ngoài được thực hiện với nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó
có thể tổng kết một số nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất: do sự mất cân đối về yếu tố sản xuất giữa các quốc gia nên có sựchênh lệch về giá cả các yếu tố Đầu tư nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánhcủa mỗi quốc gia
Thứ hai: do sự gặp gỡ của các bên tham gia: bên có vốn đầu tư thì cần tìm nơiđầu tư có lợi luận, cần mở rộng thị trường, mở rộng quy mô, tăng vị thế và uy tín;bên tiếp nhận vốn đầu tư thì thiếu vốn tích lũy, có nhu cầu tăng trưởng, nhu cầu đổimới công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm quản lý Đặc biệt đối với các nước đang pháttriển, thực hiện tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài còn nhằm mục đích chuyển dịch cơcấu kinh tế, xây dựng các khu công nghệ cao, góp phần thực hiện CNH – HĐH đấtnước
Thực tế cho thấy rằng, đầu tư quốc tế có những tác động mang tính hai mặt
cả đối với nước chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư
Trang 4Đối với nước có vốn đầu tư
- Tác động tích cực :
+ Khắc phục được xu hướng giảm sút lợi nhuận trong nước, có điều kiện thu
được lợi nhuận cao hơn cho chủ đầu tư do tìm được môi trường đầu tư thuận lợi hơn
+ Là biện pháp để vượt qua hàng rào bảo hộ mậu dịch nhằm mở rộng thịtrường: tận dụng triệt để những ưu ái của nước nhận đầu tư
+ Khuyếch trương được sản phẩm, danh tiếng, tạo lập uy tín và tăng cường vịthế của họ trên thị trường thế giới
+ Khai thác được nguồn yếu tố đầu vào sản xuất thấp hơn so với đầu tư trongnước
- Tác động tiêu cực
+ Nếu chiến lược và chính sách không phù hợp thì các nhà kinh doanh khôngmuốn kinh doanh trong nước, mà chỉ lao vào nước ngoài kinh doanh, do đó quốc gia
có nguy cơ tụt hậu dẫn đến giảm việc làm ở nước chủ đầu tư;
+ Có thể xảy ra hiện tượng chảy máu chất xám trong quá trình chuyển giaocông nghệ
+ Mặt khác chủ đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không hiểu rõ về môi trườngđầu tư
Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư
- Tác động tích cực :
+ Góp phần giải quyết khó khăn do thiếu vốn
+ Tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động trong nước
+ Học tập kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc tiên tiến
+ Tạo điều kiện khai thác các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả
Trang 5+ Giúp cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu công nghệ cao nhằm hỗtrợ quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Góp phần giải quyết những khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn và giả quyết cácvấn đề xã hội
1.2 Các hình thức đầu tư nước ngoài.
1.2.1/ Đầu tư gián tiếp.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia,trong đó người chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động
sử dụng vốn Nói cách khác, đầu tư gián tiếp nước ngoài là một lạo hình đầu tư quốc
tế mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng đối với một tài sản đầu tư Chủ đầu tưnước ngoài có thể đầu tư dưới hình thức cho vay và hưởng lãi suất hoặc đầu tư mua
cổ phiếu, trái phiếu và hưởng lợi tức
Đặc điểm của đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Trang 6Nguồn đầu tư gián tiếp nước ngoài được cung cấp bởi các Chính phủ, các tổchức quốc tế, các tổ chức phí Chính phủ (NGO) và tư nhân Nếu là vốn đầu tư củacác tổ chức quốc tế thì thường có khối lượng lớn và kèm theo là các điều kiện ưu đãi
về lãi suất và thời gian (bao gồm thời gian ân hạn và thời gian trả nợ) Ngoài ra, nócòn gắn liền với các yêu cầu mang sắc thái chính trị của các tổ chức quốc tế Nếu làvốn đầu tư của tư nhân thì được thực hiện thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu
Các hình thức của đầu tư gián tiếp nước ngoài.
- Hình thức tài trợ không hoàn lại
- Hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu
- Hình thức cho vay ưu đãi hoặc không ưu đãi
Ngoài các hình thức trên nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA cũngđược coi là một bộ phân quan trọng của đầu tư gián tiếp nước ngoài
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official
Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vìcác khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấpvới thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danhnghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nướcđược đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay
Ưu điểm của ODA
- Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm)
- Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàntrả và thời gian ân hạn 8-10 năm)
Trang 7- Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất
là 25% của tổng số vốn ODA
Bất lợi khi nhận ODA: Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những
lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảmbảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họđều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợithế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chínhtrị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới) Ví dụ: Về kinh tế, nước tiếp nhậnODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệpnon trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODAcũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hànghoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếpnước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinhlời cao Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũngthường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phùhợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODAtrong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gianước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trảlương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cầnthuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới) Nguồn vốn viện trợ ODAcòn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩmcủa họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận mộtkhoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất Nước tiếp nhận ODA tuy có toànquyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũngphải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án
Trang 8nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lạităng lên Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạchthu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp,thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án…khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này cònthấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.
1.2.2/ Đầu tư trực tiếp.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏvốn để xây dựng hoặc mua phần lớn hoặc thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ởnước ngoài để trở thành chủ sở hữu từng phần hoặc toàn bộ cở sở kinh doanh đó.Đồng thời chủ đầu tư trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt độngcủa đối tượng mà họ bỏ vốn ra để đầu tư
nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùngvới quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt đầu tư trựctiếp nước ngoài với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhàđầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trongnhững trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sảnđược gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
Thực chất đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển tư bản giữacác quốc gia, người sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hànhquá trình sử dụng vốn, quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 9Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số tối thiểu vào vốn phápđịnh, tuỳ theo luật lệ của mỗi nước
- Quyền quản lý, điều hành đối tượng đầu tư tuỳ thuộc vào mức độ góp vốn
- Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh
và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài được xây dựng thông qua việc xây dựng doanhnghiệp mới, mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt dộng hoặc mua
cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau
Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Phân theo bản chất đầu tư.
+ Đầu tư phương tiện hoạt động + Mua lại và sáp nhập
- Phân theo tính chất dòng vốn.
+ Vốn chứng khoán + Vốn tái đầu tư + Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
- Phân theo động cơ của nhà đầu tư.
+ Vốn tìm kiếm tài nguyên + Vốn tìm kiếm hiệu quả + Vốn tìm kiếm thị trường
Trang 10Như vậy, dù dưới hình thức nào thì nguốn vốn nước ngoài cũng có những tácđộng nhất định đến nền kinh tế trong nước, do đó cần lựa chọn kỹ càng khi tiếp nhậnnguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.
2 Khái quát chung về Tổ chức thương mại thế giới WTO và các cam kết của Việt Nam sau khi Việt Nam ra nhập WTO.
2.1 Khái quát chung về Tổ chức thương mại thế giới – WTO.
Tổ chức Thương mại Thế giới, tiếng anh là: World Trade Organization, viết tắtWTO; là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sátcác hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc
có 152 thành viên Mọi thành viên của WTO được yêu cầu phải cấp cho nhữngthành viên khác những ưu đãi nhất định trong thương mại, ví dụ (với một số ngoạilệ) những sự nhượng bộ về thương mại được cấp bởi một thành viên của WTO chomột quốc gia khác thì cũng phải cấp cho mọi thành viên của WTO
Các cơ hội khi ra nhập WTO.
- Thứ nhất, đó là đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài tăng mạnh Đây là cơ sởquyết định để thúc đẩy, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và đảm bảotăng trưởng
- Thứ hai là thị trường xuất khẩu được mở rộng, với các điều kiện ưu đãi thuậnlợi Đầu tư và xuất khẩu tăng, thị trường nội địa mở rộng tạo điều kiện cho côngnghiệp và dịch vụ phát triển, đưa GDP tăng mạnh
- Thứ ba là giúp Việt Nam hình thành tư duy quản lý mới và chuẩn mực kinhdoanh mới Việc thực thi các cam kết về mở cửa thị trường, minh bạch các cơ chếchính sách, không phân biệt đối xử, chỉnh sửa luật, cải cách hành chính, xóa bỏ baocấp, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ… đã giúp nước ngoài đánh giá tốt môi trường đầu
Trang 11tư ở Việt Nam Cái được lớn nhất khi gia nhập WTO là đã giúp Chính phủ, Nhànước Việt Nam đẩy nhanh cải cách hành chính và thay đổi lối tư duy Điều dễ nhậnthấy nhất là Chính phủ đã linh hoạt hơn, động thái phản ứng nhanh hơn, biết lắngnghe chuyên gia hơn, dám quyết định dứt khoát hơn.
2.2 Cam kết về lĩnh vực đầu tư nước ngoài của Việt Nam khi gia nhập WTO 2.2.1/ Cam kết về không phân biệt đối xử và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng.
Không phân biệt đối xử, được thể hiện qua 2 quy chế Đối xử tối huệ quốc(MFN) và Đối xử quốc tế (NT) là nguyên tắc nền tảng của WTO cũng như của các
tổ chức/thể chế kinh tế quốc tế Trong những năm qua, Việt Nam đã thực hiện nhiềubiện pháp cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc đối xử bình đẳng trongthương mại quốc tế và quan hệ đầu tư mà nước ta đã hoặc sẽ cam kết với các nướctrong các khuôn khổ hợp tác song phương và đa phương Chính phủ đã từng bướcgiảm và tiến tới sẽ huỷ bỏ các quy định có tính phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch
vụ và đầu tư của nước ta với nước ngoài Việt Nam đã cam kết đến ngày 31/12/2005
bỏ hoàn toàn chế độ 2 giá, 2 phía phân biệt đối xử Bên cạnh đó, chúng ta đã và đangtiếp tục tiến hành rà soát các văn bản pháp lý để tìm ra những quy định không phùhợp hoặc không cho phép thực hiện quy chế MFN và NT đối với hàng hoá, dịch vụ
và các nhà đầu tư nước ngoài để điều chỉnh hoặc huỷ bỏ Luật đầu tư mới là cơ sở
để đối xử bình đẳng giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, giữa đầu tư nướcngoài từ các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau và chính là công cụ hữu hiệu để thựchiện các nguyên tắc MFN và NT Việt Nam phải thực hiện sự đối xử bình đẳng(MFN và NT) đối với các nước thành viên Asean, Apec, WTO trong các lĩnh vựchàng hoá, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Đây không phải là điều dễ dàng Việckhông thực hiện đúng 2 định chế này (nhất là NT) đã là nguyên nhân của rất nhiềucác vụ kiện trong khuôn khổ GATT/WTO Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy,sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, Hoa Kỳ đã liên tục kiện Trung Quốc vi phạmNT
2.2.2/ Cam kết về tự do thương mại dịch vụ.
Trang 12Để gia nhập WTO, Việt Nam phải cam kết đảm bảo cho các nhà cung cấp dịch
vụ nước ngoài được đầu tư và hoạt động ở những lĩnh vực dịch vụ nhất định Trongthỏa thuận WTO, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngànhkhoảng 110 ngành Theo công bố của Bộ Tài chính thì hầu hết các dịch vụ tài chínhđều cam kết mở cửa rộng rãi, các DN nước ngoài có thể tham gia thị trường ViệtNam với hình thức đầu tư 100% vốn trong thời gian tối đa là 5 năm tới
Công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chinhánh, trừ phi điều đó được ta cho phép trong từng ngành cụ thể Ngoài ra, công tynước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng ítnhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam Việt Nam cho phép tổchức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Namnhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa thị trường ngành đó Riêng ngân hàng tachỉ cho phép ngân hàng nước ngoài mua tối đa 30% cổ phần
Dịch vụ kế toán - kiểm toán: đã được mở cửa hoàn toàn cho các bên nước ngoài.Lĩnh vực dịch vụ tư vấn thuế được cam kết tương tự dịch vụ kế toán - kiểm toán.Tuy nhiên các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập pháp nhân ởViệt Nam cung cấp dịch vụ tư vấn thuế chỉ được cấp phép hoạt động sau 1 năm kể
từ khi Việt Nam gia nhập WTO Theo Bộ Tài chính thì các cam kết trong lĩnh vựcdịch vụ kế toán - kiểm toán, tư vấn thuế nhìn chung là phù hợp với các quy địnhpháp luật hiện hành cũng như thực tế phát triển của thị trường dịch vụ này trongnước hiện nay
Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí: Đồng ý cho phép các DN nước ngoài đượcthành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập để đáp ứng cácdịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí Tuy nhiên, Việt Nam còn giữ nguyên quyền quản
lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ định các ty thăm dò, khai tháctài nguyên Bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các DN ViệtNam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa
Trang 13bờ… Tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phảiđăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Dịch vụ viễn thông: cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngoài để cungcấp dịch vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng (phải thuê mạng do DN ViệtNam nắm quyền kiểm soát) và nới lỏng một chút về việc cung cấp dịch vụ qua biêngiới để đổi lấy giữ lại hạn chế áp dụng cho viễn thông có gắn với hạ tầng mạng (chỉcác các doanh nghiệp nhà nước nắm đa số vốn mới đầu tư hạ tầng mạng, nước ngoàichỉ được góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên doanh với đối tác Việt Nam đãđược cấp phép)
Dịch vụ phân phối: Trước hết, về thời điểm cho phép thành lập DN 100% vốnnước ngoài là 1/1/2009 Thứ hai, Việt Nam không mở cửa thị trường phân phối xăngdầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quýcho nước ngoài Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi măng, phân bón… chỉ
mở cửa thị trường sau 3 năm DN có vốn đầu tư nước ngoài, mở điểm bán lẻ thứ haitrở đi phải được Việt Nam cho phép theo từng trường hợp cụ thể
Dịch vụ ngân hàng: Đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoàikhông muộn hơn ngày 1/4/2007 Ngoài ra ngân hàng nước ngoài muốn được thànhlập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó không được phép mở chi nhánh phụ
và vẫn phi chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND từ thể nhân Việt Nam trongvòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO Hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàngViệt Nam (không quá 30%)
Dịch vụ bảo hiểm: Cam kết của Việt Nam cho phép các công ty bảo hiểm hoạtđộng tại nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, dịch vụ tái bảo hiểm,dịch vụ bảo hiểm đối với vận tải quốc tế, môi giới bảo hiểm và các dịch vụ hỗ trợ vềđịnh phí, tư vấn Theo cam kết, không có hạn chế nào đối việc thành lập pháp nhâncủa công ty bảo hiểm nước ngoài, ngoại trừ dịch vụ bảo hiểm bắt buộc sẽ chỉ được
mở cửa cho công ty 100% vốn nước ngoài vào đầu năm 2008 Về chi nhánh, cho
Trang 14phép công ty bảo hiểm nước ngoài thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5năm kể từ khi gia nhập WTO và không cho phép thành lập chi nhánh bảo hiểm nhânthọ.
Dịch vụ chứng khoán: Cam kết của Việt Nam cho phép thành lập văn phòng đạidiện và liên doanh đến 49% vốn ĐTNN từ thời điểm gia nhập Sau 5 năm kể từ thờiđiểm gia nhập cho phép thành lập các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán 100%vốn nước ngoài và cho phép thành lập chi nhánh của các công ty cung cấp dịch vụchứng khoán nước ngoài hoạt động trong các loại hình dịch vụ quản lý tài sản, quản
lý quỹ đầu tư, lưu ký, thanh toán bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính,
tư vấn và các hoạt động môi giới và phụ trợ khác liên quan đến chứng khoán Tuynhiên, không mở cửa cho chi nhánh đối với các loại hình dịch vụ kinh doanh chứngkhoán và tham gia phát hành
Lĩnh vực Hải quan: Việt Nam đã cam kết tập trung chủ yếu vào xác định trị giáhải quan theo các phương pháp và quy định của Hiệp định xác định trị giá hải quanxác định trị giá tính thuế dựa trên trị giá giao dịch (CVA), không cho phép cơ quanhải quan áp dụng lại quy định về giá nhập khẩu tối thiểu hay là danh mục giá mangtính áp đặt nhằm hạn chế nhập khẩu Ngoài ra các thủ tục hải quan nhìn chung sẽphải đảm bảo không gây rào cản cho thương mại và phải được thực hiện phù hợp vớicác chuẩn mực quốc tế theo Công ước Kyoto Các khoản phí hải quan thu trên hoạtđộng xuất nhập khẩu sẽ phải đảm bảo không vì mục đích số thu hoặc tạo rào cànthương mại chỉ thu bằng mức dịch vụ cung cấp
2.2.3/ Cam kết về tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư liên quan đến thương mại.
Việt Nam đã cam kết tuân thủ hoàn toàn Hiệp định TRIMs của WTO, cam kếtxoá bỏ các rào cản về đầu tư, với mục tiêu tổng thể để tăng cường tính hấp dẫn,thông thoáng và minh bạch của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nhìnchung mức độ cam kết sẽ cao hơn nhiều so với cam kết của Việt Nam trong Hiệpđịnh Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ
Trang 16CHƯƠNG II ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG CAM KẾT TRONG TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.
1 Thực trạng của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước thời điểm ra
nhập WTO.
Thực hiện đường lối mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta,tháng 12 năm 1987 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã banhành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Sau những năm thực hiện Luật Đầu tưnước ngoài với bốn lần sửa đổi, bổ sung, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
đã không ngừng phát triển và trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng, có nhữngđóng góp ngày càng lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước
Tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng khá nhanh qua các năm Năm 2000,vốn đăng ký cấp mới và tăng đạt gần 2,4 tỷ USD, tăng 9% so với năm 1999 Riêngtrong 7 tháng đầu năm 2005 đầu tư nước ngoài đã đạt 3,3 tỷ USD Tính đến cuốitháng 10 năm 2006, cả nước đã có 6.716 dự án có hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng
ký 57,3 tỷ USD, vốn thực hiện (của dự án còn đang hoạt động) đạt trên 28,5 tỷ USD(nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiện đạt hơn 36 tỷ USD).Nền kinh tế đã xuất hiện sự gia tăng đầu tư của các tập đoàn, công ty lớn từ NhậtBản, Hoa Kỳ Hoa Kỳ đã trở thành nước đầu tư lớn nhất tại Việt Nam trong 10 thángđàu năm 2006 Nhiều dự án được cấp phép đã được tích cực triển khai thực hiện nhưcác nhà máy của Công ty Hoya Glass Disk, Canon, Matsushita, Brother Industries,Honda, Sing Masx Vina … Một đặc điểm nữa là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàitiếp tục phát triển năng động, doanh thu trong 10 tháng đầu năm 2006 đạt trên 25 tỷUSD, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2005 Giá trị sản xuất công nghiệp của khuvực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,5% cao hơn mức tăng sản xuất công nghiệpbình quân của cả nước (16,5%)
Trang 17Thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế vàtạo việc làm cho người lao động là xu hướng quan trọng không chỉ của Việt Nam màcòn của nhiều quốc gia trên thế giới Số lao động trực tiếp trong khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng theo từng năm: Từ trên 21 vạn người vàonăm 1995 lên 38 vạn người vào năm 2000 (tăng 72%) và từ 45 vạn người vào năm
2001 lên 59 vạn người vào năm 2002 (tăng 31%) và năm 2006 khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài đã thu hút trên 80 vạn lao động trực tiếp và hơn 1 triệu lao động giántiếp khác Qua hợp tác đầu tư, một số lượng đáng kể người lao động đã được đào tạonâng cao về các mặt: năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, đủ sức thaythế chuyên gia nước ngoài Thu nhập tăng lên đáng kể cho người lao động, góp phầnlàm tăng sức mua cho thị trường Lương bình quân của lao động Việt Nam trong khuvực này từ 75-80 USD/tháng, cao hơn bình quân chung của các doanh nghiệp trongnước
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong tổng kim ngạchxuất khẩu chung của cả nước, riêng năm 2005 khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đãchiếm 54,7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Cùng với quá trình phát triển, mức đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nướcngoài vào ngân sách nhà nước cũng tăng lên, góp phần nâng cao khả năng chủ độngcủa Chính phủ trong việc cân đối ngân sách Nộp ngân sách nhà nước của khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu khí)
2 Tình hình thực hiện các cam kết về đầu tư nước ngoài từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO đến này.
Mặc dù mới vào WTO nhưng Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ thựchiện nghĩa vụ của một thành viên mới trong vấn đề mở cửa thị trường trong nước.Nhà nước đã ban hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp, đồng thời có những vănbản hướng dẫn thi hành hai luật này Hai luật này đã đảm bảo quyền tự do kinhdoanh của các nhà đầu tư Việt Nam cũng đang từng bước thực hiện cam kết mở cửathị trường dịch vụ, thương mại cho các nhà đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước
Trang 18ngoài đánh giá môi trường kinh doanh tại Việt Nam nói chung đã có thay đổi mạnh
mẽ Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn một số vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới làviệc mở cửa thị trường tài chính, cấp phép cho các ngân hàng nước ngoài có đủ điềukiện hoạt động tại Việt Nam, hay mở cửa thị trường phân phối, làm sao vừa đảm bảothực hiện cam kết, vừa đảm bảo cho doanh nghiệp phân phối trong nước đủ sức lớnmạnh Đối với những lĩnh vực mà chúng ta chưa có cam kết thì cần có văn bảnhướng dẫn để cho doanh nghiệp nước ngoài biết thực hiện
Việt Nam đang nỗ lực thực hiện các cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giớiWTO, nhưng các doanh nghiệp và hiệp hội nước ngoài cho rằng việc thực hiện phảinghiêm túc và tuân thủ lộ trình cam kết Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam(EuroCham) là một trong số những tổ chức nước ngoài đã lên tiếng về việc ViệtNam chậm cấp phép cho các doanh nghiệp nước ngoài trong các lĩnh vực đang
“nóng” hiện nay như phân phối, bán lẻ và ngân hàng Việc thực hiện các cam kếtWTO liên quan đến đầu tư thời gian qua vẫn còn khá nhiều vướng mắc mới phátsinh
Hàng loạt các quan ngại về một số thực tiễn triển khai theo các cam kết WTOliên quan tới hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đượcthẳng thắn đề cập tại cuộc hội thảo lấy ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp đầu tưnước ngoài cho Nghị định quy định chi tiết thi hành một số cam kết về đầu tư củaViệt Nam với WTO do Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và Chương trình
Hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO phối hợp tổ chức tại Hà Nội
Có một nhận định chung được khẳng định, đó là việc thực hiện theo biểu camkết có nhiều vướng mắc Nhiều doanh nghiệp cũng như các cơ quan cấp chứng nhậnđầu tư phản ánh ngôn ngữ trong biểu cam kết khó hiểu Đơn cử như việc hiểu ngônngữ “không cam kết”, “không hạn chế” như thế nào vẫn có những ý kiến khác nhau
và thậm chí không thống nhất cách hiểu ngay trong thành viên đoàn đàm phán
Thứ hai, trong biểu cam kết về dịch vụ, rất nhiều ngành của chúng ta đưa ra cácđiều kiện hạn chế nhà đầu tư nước ngoài chặt chẽ hơn so với luật pháp hiện hành của
Trang 19Việt Nam Trên thực tế, trong một số ngành trước khi gia nhập WTO, chúng ta đã
mở cửa với mức độ rất cao, không hạn chế phần vốn của nhà đầu tư nước ngoài Tuynhiên, theo quy định của biểu cam kết này thì chúng ta hạn chế lại Ví dụ như trongngành dịch vụ giáo dục, y tế thì đến ngày 1/1/2009, nhà đầu tư nước ngoài mới đượcphép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trong khi
đó, từ chục năm nay, chúng ta đã cho phép hình thức này Thậm chí đối với dịch vụgiáo dục, Việt Nam còn đặc biệt khuyến khích đầu tư và dành nhiều ưu đãi
Căn cứ theo kỹ thuật đàm phán thì Việt Nam chỉ cam kết mở cửa những ngànhchúng ta đưa vào biểu cam kết, khi nhà đầu tư nước ngoài xin phép đầu tư lĩnh vựcngoài biểu cam kết thì Bộ Thương mại trả lời không mở cửa Đây là hiện tượngkhiến rất nhiều sở kế hoạch đầu tư các tỉnh không biết xử lý thế nào và trên thực tếtồn đọng rất nhiều dự án
Đó là trường hợp cấp mới, còn đối với các dự án đang hoạt động muốn điềuchỉnh chứng nhận đầu tư để mở rộng sang một hoạt động khác thuộc biểu cam kếtdịch vụ thì có bị hạn chế hay không cũng đang gặp vướng mắc Thực tế hiện nay,các cơ quan Nhà nước còn lúng túng chưa có phương án xử lý trong quá trình cấpphép
Mức độ cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ WTO và các hiệp định songphương không giống nhau cũng đang đặt ra không ít khó khăn trong quá trình triểnkhai Các cam kết song phương nhiều khi thông thoáng hơn, ít hạn chế hơn so vớicam kết trong WTO
Từ thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp bách, đó là cần có văn bản hướng dẫn thực hiệncam kết gia nhập WTO Thực tế Bộ Kế hoạch Đầu tư đã soạn thảo xong Nghị địnhhướng dẫn thi hành một số cam kết về đầu tư của Việt Nam với WTO từ tháng4/2007 và đang lấy ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
Việt Nam phải tuân thủ hoàn toàn Hiệp định TRIMs của WTO, theo đó ViệtNam bắt buộc phải cải cách các chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng giảm
Trang 20thiểu các rào cản trái với quy định của WTO, bãi bỏ sự phân biệt đối xử theo MFN
và NT Việc phải tuân thủ nguyên tắc minh bạch hoá và tính dự báo các quy định,chính sách thể chế thương mại, các nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn khi tiến hành đầu tư.Hơn nữa có thị trường tiêu thụ rộng lớn thì các nhà đầu tư mới yên tâm đầu tư vàoViệt Nam Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ về tài chính, tíndụng và viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và các Chính phủ nước ngoài Việcthực hiện những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ chắc chắn cũng sẽ kéo theomột làn sóng đầu tư nước ngoài vào nhiều ngành kinh tế như phân phối, bảo hiểm,ngân hàng, vận tải, viễn thông Việc tăng cường hội nhập và gia nhập WTO cũng sẽtạo điều kiện để Việt Nam cải cách chính sách, thể chế luật pháp với việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật, hoàn thiện cơ chế thị trường, cải cách hành chính và cải cáchdoanh nghiệp trong nước; tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phầnđào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động, sáng tạo , tạothế và lực cho Việt Nam trên trường quốc tế, hàng hoá và dịch vụ Việt Nam sẽ đượcđối xử bình đẳng trên thị trường của tất cả các thành viên WTO (theo nguyên tắcMFN) Việt Nam sẽ có lợi thế hơn trong giải quyết tranh chấp với các đối tác thươngmại chính, do tiếp cận được hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quảcủa WTO, tránh tình trạng bị các nước lớn gây sức ép trong các tranh chấp thươngmại quốc tế Gia nhập WTO cũng tạo điều kiện để Việt Nam không bị đối xử nhưmột nền kinh tế phi thị trường (NME) trong các vụ tranh chấp thương mại như hiệnnay
Qua phân tích những vấn đề trên, ta thấy tác động của việc hội nhập và gia nhậpWTO đến phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và đến thu hút đầu tư nước ngoàivào Việt Nam nói riêng thể hiện ở hai khía cạnh: khó khăn, thách thức không phải là
ít nhưng cơ hội cũng rất nhiều Vấn đề ở đây là chúng ta cần phải có những giảipháp thích hợp để giảm thiểu những mặt bất lợi và khai thác tối đa những cơ hội vốncó