Việt Nam, sau hơn 20 năm đổi mới đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như xóa đói giảm nghèo, kiềm chế lạm phát, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động…Vì thế mà đời sống của người dân từng bước được nâng lên… Tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng ở vị trí cao trong khu vực và trên thế giới (GDP) hàng năm tăng từ 7,5 - 8%. Và để đạt được tốc độ đó thì tỷ lệ đầu tư/GDP phải xấp xỉ 40%. Tuy nhiên một thực tế tồn tại đó là Việt Nam vẫn là một nước nghèo, cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt thiếu vốn cho hoạt động đầu tư phát triển phải dựa vào nguốn vốn bên ngoài rất nhiều, trong khi đó hàng năm lượng vốn thất thoát và lãng phí lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Trong những năm qua hiện tượng này ở mọi ngành, mọi lĩnh vực diễn ra hết sức rất phức tạp, gây nhiều nhức nhối trong xã hội làm cho kỷ cương pháp luật không nghiêm.Đặc biệt, là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Đã có rất nhiều cuộc hội thảo được tổ chức đưa ra câu hỏi tại sao lại có tình trạng thất thoát và lãng phí trên, nguyên nhân do đâu cùng tác hại của nó như thế nào? Những giải pháp khắc phục? Trong phạm vi bài viết này em xin trình bày thực trạng thất thoát và lãng phí trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam từ đó đề ra những giải pháp khắc phục thất thoát và lãng phí.Qua đây em cũng chân thành cảm ơn thầy TỪ QUANG PHƯƠNG đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bài viết này.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam, sau hơn 20 năm đổi mới đã thu được nhiều thành tựu tolớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như xóa đói giảmnghèo, kiềm chế lạm phát, giải quyết công ăn việc làm cho người laođộng…Vì thế mà đời sống của người dân từng bước được nâng lên… Tốc
độ tăng trưởng kinh tế đứng ở vị trí cao trong khu vực và trên thế giới(GDP) hàng năm tăng từ 7,5 - 8% Và để đạt được tốc độ đó thì tỷ lệ đầutư/GDP phải xấp xỉ 40% Tuy nhiên một thực tế tồn tại đó là Việt Nam vẫn
là một nước nghèo, cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt thiếu vốn cho hoạtđộng đầu tư phát triển phải dựa vào nguốn vốn bên ngoài rất nhiều, trongkhi đó hàng năm lượng vốn thất thoát và lãng phí lên tới hàng ngàn tỷđồng Trong những năm qua hiện tượng này ở mọi ngành, mọi lĩnh vựcdiễn ra hết sức rất phức tạp, gây nhiều nhức nhối trong xã hội làm cho kỷcương pháp luật không nghiêm.Đặc biệt, là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng
cơ bản Đã có rất nhiều cuộc hội thảo được tổ chức đưa ra câu hỏi tại saolại có tình trạng thất thoát và lãng phí trên, nguyên nhân do đâu cùng táchại của nó như thế nào? Những giải pháp khắc phục? Trong phạm vi bàiviết này em xin trình bày thực trạng thất thoát và lãng phí trong hoạt độngđầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam từ đó đề ra những giải pháp khắc phụcthất thoát và lãng phí.Qua đây em cũng chân thành cảm ơn thầy TỪQUANG PHƯƠNG đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bài viết này
Trang 2TSCĐ có hai loại là TSCĐ có tính chất sản xuát và TSCĐ không cótính chất sản xuất.
- TSCĐ có tính chất sản xuất là những tài sản trực tiếp tạo ra lợi nhuận:Nhà xưởng, vật kiến trúc, phương tiện thiết bị dùng cho sản xuất xây lắp.-TSCĐ không có tính chất sản xuất: Văn phòng, quản lý hành chính,sinh hoạt y tế, những tái sản này không trực tiếp tạo ra lợi nhuận tăng thêm.Nguồn gốc của mọi TSCĐ của các ngành kinh tế do lĩnh vực XDCBtạo ra
2 Ý nghĩa của hoạt động XDCB đối với nền kinh tế.
Hoạt động XDCB mang một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo
ra những tiền đề cơ bản phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế đất nước
Cụ thể là:
- XDCB là ngành duy nhất tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật chủyếu và cần thiết trong nền kinh tế, hình thành công trình xây dựng, dự ánxây dựng góp phần tạo ra tài sản mới…
- Hoạt động XDCB tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự pháttriển kinh tế đất nước, là tiền đề cơ bản để thực hiện CNH- HDH đất nước
Trang 3- Hoạt động XDCB góp phần tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các
ngành, các vùng và địa phương trong cả nước, đồng thời tạo ra tích lũy chonền kinh tế quốc dân khi các dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng
3 Nội dung và đặc điểm của xây dựng cơ bản.
Hoạt động xây dựng cơ bản nối ching là một phạm trù rộng bao gồm cảhoạt động XDCB và hoạt động khác Ví dụ như xây dựng nhà cửa phục vụcho sinh hoạt của người dân, xây dựng công trình dân dụng mà các hoạtđộng này không tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất cho nền kinh tế
3.1 Nội dung của hoạt động xây dựng cơ bản.
Lĩnh vực XDCB gồm có ba hoạt động: hoạt động khảo sát thiết kế,xây dựng và lắp đặt, mua sắm máy móc, vật liệu thiết bị
3.1.1 Khảo sát thiết kế.
Khảo sát thiết kế là một hoạt động của lĩnh vực XDCB có chức năng
mô tả hình dáng kiến trúc, nội dung kỹ thuật và tính kinh tế của công trình
- Khảo sát kinh tế nhằm trả lời câu hỏi sự cần thiết phải xây dựngcông trình và tính kinh tế của công trình
- Khảo sát kinh tế trả lời câu hỏi khả năng, điều kiện, phương tiện đểtiến hành xây dựng công trình
Thông thường khảo sát về mặt kinh tế được tiến hành trước khảo sát kỹthuật Nhũng tài liệu sử dụng trong khảo sát thiết kế: đại hình địa chất, thủyvăn khí tượng Các tài liệu này phải được tổ chức có chuyên môn thiết lập
và lập nên đảm bảo tính chất kỹ thuật đè ra
3.1.2 Xây dựng và lắp đặt: (hoạt động xây lấp)
Xây dựng và lắp đặt tiến hành thi công trên hiện trường để tạo ra nhữngsản phẩm xây dựng theo như trong thiết kế bảo đảm kế hoạch đề ra
Kết quả xây lắp bao gồm: những công trình xây dựng, công tác sữachữa nhà xưởng, kiến trúc, thành quả của công tác lắp đặt máy móc thiết bị,kết quả của công tác thiết kế, thăm dò, khảo sát phát sinh trong quá trình
Trang 4Trình tự đầu tư và xây dựng bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thựchiện đầu tư, vận hành kết quả đầu tư
Thực hiện đầu tư: chuẩn bị xây dựng, tiến hành xây dựng và lắp đặt
- Chuânt bị xây dựng: Kể từ khi luận chứng hoặc dự án được phêduyệt và được ghi vào kế hoạch đầu tư cho đến khi thực hiện được nhữngcông việc chủ yếu đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho việc khởi công xâydựng công trình: chuẩn bị mặt bằng xây dựng, lựa chọn tổ chức tư vấn
- Tiến hành xây dựng và lắp đặt: Tạo kiến trúc, kết cấu công trìnhtheo như trong thiết kế Thực hiện việc lắp đặt máy móc thiết bị vào côngtrình, rút ngắn thời gian xây dựng nhưng vẫn đảm bảo tiến độ, kỹ thuật,chất lượng công trình
3.1.3 Mua sắm vật liệu, máy móc thiết bị
Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn dầu tư xây dựng
3.2 Đặc điểm của XDCB
XDCB mang đặc điểm của của đầu tư phát triển:
- Tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho một công cuộc đầu tưthường rất lớn
- Thời gian xây dựng dài, thời gian vận hành kết quả cua XDCbthường kéo dài có khi là vĩnh viễn
- Các thành quả của hoạt động XDCB có thể được tạo dựng vật chất
kỹ thuật, co thể nguồn lực ( công trình xây dựng, vật kiến trúc như nhà máyhầm mỏ, các công trình thủy lợi, đường xá…) thì sẽ vận hành ở ngay nơi
mà nó dược tạo dựng lên
Do tính của nó nên xây lắp có tính lưu động : mỗi công trình, hạng mụccông trình có một đặc thù riêng phụ thuộc vào chức năng, đặc điểm xâydụng công trình:
- XDCB có tính chất liên ngành, nó liên quan đến nhiều đối tượng,nhiều lĩnh vực nên nó là sự kết hợp, phối hợp nhiều lực lượng tham gia
Trang 5- XDCB là một quá trình sử dụng đất đai, tìa nguyên thiên nhiên đấtnước vì vậy có sự kết hợp các lực lượng để đảm bảo điều kiện đầu tư : môitrường, KT-XH.
Từ những đặc điểm đó nên sản phẩm của XDCB là:
Hoạt động của XDCB tạo ra sản phẩm có tính đơn chiếc, cá biệt:mỗi công trình xây dựng đều có nét đặc thù riêng khác với quá trình sảnxuất liên tục hoặc gián đoạn thì kết quả của XDCB không phả sản phẩmsản xuất hàng loạt mà có tính khác biệt cao, sản phẩm mà do XDCB đemlại là duy nhất Các yếu tố đầu vào phụ thuộc cho sản xuất sản phẩm không
cố định và thường xuyên phải di chuyển vì vậy tính ổn định trong sản xuấtrất khó đảm bảo điều này phụ thuộc nhiều vào khâu quản lý sản xuất củanhà thầu trong quá trình thi công công trình
Quá trình sản xuất thi công XDCB thường tiến hành ngoài trờinên phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, tự nhiên nơi thi công Sản phẩmxây dựng thường có quy mô lớn vì vậy thời gian thi công kéo dài, trongthời giant hi công có hiện tượng ứ đọng vốn
4 Sự cần thiết của việc nghiên cứu sự thất thoát và lãng phí lãng phí vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản.
Bất kỳ một nước nào muốn tăng trưởng và phát triển cần đến một điềukiện không thể thiếu vốn Việt nam cũng nằm trong quy luật đó Nhưnghiện nay chúng ta đang đứng trước hai mâu thuẫn : Nhu cầu vốn lớn nhưngkhả năng đáp ứng chưa tương xứng do tích lũy từ nội bộ nền kinh tế thấp.Trong khi đó, việc quản lý sử dụng vốn còn kếm hiệu quả, nên làm cho nhucầu vốn trở nên lớn hơn
Trong thời gian qua, tại các kỳ họp quốc hội, trên các phương tiệnthông tin đại chúng và trong dư luận xã hội nói chung vấn đề thất thoát vốntrong XDCB được đề cập nhiều lần Có nhiều ý kiến khác nhau về mức độthất thoát: Những người thận trọng thì cho rằng tỷ lệ thất thoát là từ 5% -
Trang 6Thất thoỏt trong XDCb khụng chỉ cú vốn đầu tư mà nú cũn biểu hiện
ở nhiều khõu dưới nhiều hỡnh thức khỏc nhau Nhưng khỏi quỏt cú thể quy
ở 3 dạng chủ yếu sau: Thất thoỏt của cải vật chất như việc sử dụng mỏymúc thiết bị, để mất mỏt và hư hỏng nguyờn vật liệu; thất thoỏt dưới dạnglóng phớ sức lao động của con người mà biểu hiện trực tiếp rừ nhất là lóngphớ ngày cụng lao động của cụng nhõn trong cỏc đơn vị thi cụng xõy lắp;thất thoỏt dưới dạng tiền vốn, tức là khoản vốn bằng tiền khụng được đầu
tư cho cụng trỡnh mà lại bị thất thoỏt
Suy cho cựng cỏc khoản thất thoỏt trờn đều tập trung vào vốn đầu tư.Bởi vốn phải bỏ ra để mua sắm mấy múc thiết bị, để mua nguyờn vật liệu,
để trả lương cho cụng nhõn
II VỐN ĐẦU TƯ XDCB
1 Khái niệm vốn đầu t XDCB :
Vốn đầu t xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí để đạt đợc mục đích đầu t,bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát, qui hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị
đầu t, chi phí cho thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt máymóc, thiết bị và các chi phí khác đợc ghi trong tổng dự toán
Vốn đầu t XDCB đợc vật hoá để hình thành nên cơ sở vật chất-kỹ thuậtcho nền kinh tế, là điều kiện của tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mởrộng các tài sản cố định cho nền kinh tế, có vai trò quan trọng đối với quátrình phát triển kinh tế-xã hội Nhng cần lu ý rằng, có một số công tác màxét về tính chất lẫn nội dung kinh tế thì thuộc về hoạt động XDCB, nhngchi phí của chúng thì lại không đợc tính vào vốn đầu t xây dựng cơ bản Đó
là các hoạt động sau đây:
Hoạt động sửa chữa lớn nhà cửa, vật chất kiến trúc
Các chi phí khảo sát thăm dò tài nguyên, địa chất nói chung trongnền kinh tế mà không liên quan trực tiếp đến việc xây dựng công trình cụthể nào cả
Mặt khác có một số khoản mục, tuy không làm tăng giá trị tài sản cố
định nhng chi phí của chúng vẫn đợc tính vào vốn đầu t XDCB:
Chi phí cho việc mua sắm công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn làTSCĐ
Trang 7 Chi phí đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ côngnhân.
2 Bản chất và nội dung kinh tế của vốn đầu t XDCB:
2.1 Bản chất và vai trò của vốn đầu t XDCB:
Tích luỹ là nguồn chủ yếu của tái sản xuất mở rộng Tích luỹ là sử dụng
có kế hoạch một phần thu nhập quốc dân để mở rộng sản xuất, để xây dựng
xí nghiệp mới, cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các xí nghiệp hiện có, để tăngcác tài sản cố định không sản xuất và tạo lập các dự trữ vật t, tài chính.Phần thu nhập quốc dân dùng để tích luỹ đợc tạo nên bằng sản phẩm thặng
d, đợc hình thành một cách có kế hoạch và nhịp độ tăng của nó trớc hết phụthuộc vào nhịp độ tăng tuyệt đối khối lợng thu nhập quốc dân Trong những
điều kiện nh nhau, mức tích luỹ sản xuất phụ thuộc không chỉ vào khối lợngthu nhập quốc dân, mà còn phụ thuộc vào sự phân phối thu nhập quốc dânthành tích và tiêu dùng
Quá trình tích luỹ có tác dụng to lớn đến việc hình thành cơ sở vật
chất-kỹ thuật của nền kinh tế Để nâng cao không ngừng mức tiêu dùng củanhân dân, xã hội cần phải thờng xuyên mở rộng sản xuất và do đó cần phảităng tích luỹ Tích luỹ không chỉ kéo theo những sự thay đổi về số lợngtrong các yếu tố vật chất của lực luợng sản xuất, mà còn có tác động đến tấtcả moi lĩnh vực hoạt động của con ngời, tạo điều kiện để giảm nhẹ lao
động, nâng cao nhận thức và trình độ nghề nghiệp của mọi ngời lao động Tích luỹ trớc hết đợc thực hiện thông qua đầu t XDCB Theo nội dụngkinh tế, đầu t XDCB là sử dụng một phần tổng sản phẩm xã hội, mà trớc hết
là quỹ tích luỹ để tái sản xuất tài sản xuất tài sản cố định Vốn đầu t đầu tXDCB nh đã nói ở trên là toàn bộ chi phí để đạt đợc mục đích đầu t, baogồm: Chi phí cho việc khảo sát, qui hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu t,chi phí cho thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết
bị và các chi phí khác đợc ghi trong tổng dự toán Vốn đầu t đầu t XDCB vàvốn cố định là những khía niệm không giống nhau cả về nội dung kinh tếlẫn trong sự biểu hiện giá trị Sự khác nhau cơ bản giữa chúng thể hiện ởchỗ, vốn đầu t đầu t XDCB là vốn cố định dới dạng tiềm tàng, còn vốn cố
định là vốn đầu t XDCB đã đợc khai thác, sử dụng Biểu hiện vật chất củavốn cố định là nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phơng tiện vận tải,dụng cụ điều chỉnh, đo lờng, dụng cụ sản xuất và kinh doanh có giá trị vàthời gian sử dụng ở mức quy định
Trang 8Nh vậy, ngoài phần vốn đầu t XDCB huy động từ nớc ngoài, thì vốn đầu
t XDCB ở nớc ta đợc hình thành từ việc phân phối tổng sản phẩm xã hội vàthu nhập quốc dân Phần lớn thu nhập quốc dân đợc sử dụng để tích luỹ,
điều đó làm tăng khả năng đầu t XDCB vào nền kinh tế và tăng năng lựcsản xuất mới cho nền kinh tế ở Việt Nam cơ sở vật chất-kỹ thuật đã đợcxây dựng ngay từ những năm kháng chiến chống Pháp, Mĩ Trong khu vựcsản xuất vật chất, chúng ta đã tập trung đầu t XDCB và hình thành nên cơ
sở vật chất-kỹ thuật của 2 nghành là nông nghiệp và công nghiệp, trong khuvực phi sản xuất vật chất, vốn đầu t đợc tập trung nhiều vào các nghànhgiáo dục, văn hoá, nghệ thuật, khoa học Những cơ sở công nghiệp quantrọng nh điện, than, cơ khí, luyện kim, hoá chất, dệt, may mặc, các côngtrình thuỷ lợi, hệ thống đờng giao thông, các trờng học, bệnh viện Sau ngàythống nhất, việc xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế tiếp tục đ-
ợc đẩy mạnh, nguồn vốn đầu t XDCB đã đợc huy động cả ở những khu vựckhông phải là kinh tế Nhà nớc, đặc biệt là vốn đầu t thu hút từ đầu t nớcngoài đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá của nớc ta Đầu t tập trung, đúng hớng đã làm tăng nănglực sản xuất của nhiều nghành kinh tế quốc dân Đó là các cơ sở củanghành điện ( thuỷ điện Hoà Bình, Trị An, nhiệt điện Phả Lại, và hiện nay
là nhà máy thuỷ điện có tầm cỡ thế giới-thuỷ điện Sơn La đang đợc xâydựng), mạng lới điện đã đợc phủ hầu hết trên phạm vi cả nớc Đó là cơ sởcủa nghành vật liệu xây dựng (xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, ); giấy BãIBằng, Tân mai…các công trình giao thông với hệ thống các cầu (Thăngcác công trình giao thông với hệ thống các cầu (ThăngLong, Chơng Dơng, cầu Mỹ Thuận, Hoàng Long, đờng Hồ Chí Minhxuyên quốc gia đang đợc tiến hành xây dựng sẽ đóng vai trò hết sức quantrọng đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nớc); các nhà máy sợi,máy dệt, hàng vạn hecta cao su, cà phê, và đặc biệt là các dàn khoan đãcho hàng triệu tấn dầu thô, các trung tâm viễn thông, hệ thống truyền hình,phát thanh, các trung tâm nghiên cứu khoa học cùng với cơ sở vật chất-kỹthuật của nghành dịch vụ: ngân hàng, tài chính, viễn thông, thơng mại, dulịch, hàng không, các khu công nghiệp, khu đô thị, nhiều vùng kinh tếmới đợc hình thành đã tạo nên sức phát triển lớn mạnh của nền kinh tế nớc
ta, đẩy lùi khoảng cách trong phát triển kinh tế-xã hội của nớc ta so với thếgiới
2.2 Nội dung kinh tế của vốn đầu tư xdcb
Trang 9Nh ta biết, để tiếp tục quá trình sản xuất, khi phân phối tổng sản phẩm xã hội,
ngời sản xuất phải tính toán khôi phục các t liệu sản xuất (bao gồm cả t liệu lao
động và đối tợng lao động) đã tiêu hao trong quá trình sản xuất Đối tợng lao động(nguyên, nhiên vật liệu) có đặc tính tham gia một lần, toàn bộ vào một chu kỳ mộtchu kỳ sản xuất và sau quá trình sản xuất nó hoàn toàn thay đổi hình thái vật chấtcủa mình để trở thành sản phẩm, khi sản phẩm đợc tiêu thụ, toàn bộ giá trị của đối t-ợng lao động trở lại dới hình thái tiền tệ Nhằm khôi phục đối tợng lao động, ngời taphải tích và trích ra một lợng tiền từ doanh số bán hàng-ngang bằng với giá trị của
đôi tợng lao động đã di chuyển vào sản phẩm để mua sắm, dự trữ nguyên liệu choquá trình sản xuất tiếp theo T liệu lao động (chủ yếu là tài sản cố định), có đặc tínhtham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và không thay đổi về mặt hình thái hiện vật ban
đầu Cuối mỗi chu kỳ sản xuất, tài sản cố định bị hao mòn và phần giá trị tơng đơngvới mức hao mòn đó đợc chuyển vào giá trị sản phẩm sản xuất ra Khi sản phẩm đợctiêu thụ, phần giá trị tài sản cố định hao mòn đó lại trở về hình thái tiền tệ, gọi làvốn khấu hao tài sản cố định Vốn khấu hao đợc tích luỹ theo thời gian sử dụng củatài sản cố định hình thành quỹ khâu hao Quỹ khấu hao đợc chia ra hai phần: Quỹkhâu hao cơ bản và quỹ khấu hao sửa chữa lớn Quỹ khấu hao sửa chữa lớn tài sản
cố định đợc dùng sửa chữa lớn nhằm phục hồi và duy trì tính năng, công dụng củatài sản cố định Quỹ khấu hao cơ bản đợc dùng để tái tạo lại toàn bộ giá trị của tàisản cố định qua con đờng đầu t XDCB, có nghĩa là tái sản xuất giản đơn tài sản cố
định Quỹ khấu hao TSCĐ chỉ ngang bằng giá trị TSCĐ khi nào TSCĐ đó hết thời
hạn sử dụng Trong điều kiện tập trung quỹ khấu hao của nhiều TSCĐ, cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học-kỹ thuật và năng suất lao động xã hội ngày càng
đợc nâng cao thì quỹ khấu hao cơ bản không những đợc dùng tái sản xuất giản đơn
Nguồn vốn này có giới hạn bởi giá trị ban đầu của TSCĐ
Chủ yếu đợc dùng để tái sản xuất giản đơn TSCĐ
Tống sản phẩm xã hội sau khi bù đắp các t liệu sản xuất đã tiêu hao đợcgọi là thu nhập quốc dân Thu nhập quốc dân đợc chia ra thành quỹ tích luỹ
và quỹ tiêu dùng Quỹ tích luỹ là nguồn vốn để tái sản xuất mở rộng, trong
đó chủ yếu là tái sản xuất mở rộng TSCĐ ở các đơn vị, xí nghiệp thu nhập
Trang 10phần thu nhập thuần tuý đợc để lại xí nghiệp, một phần đợc tập trung vàongân sách Nhà nớc dới hình thức thuế Một phần thu nhập thuần tuý của xínghiệp và một phần trong số chi của ngân sách Nhà nớc đợc dùng làmnguồn vốn đầu t đầu t XDCB, để tạo ra TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân.Giữa TSCĐ và thu nhập quốc dân có mối quan hệ biện chứng phụ thuộc lẫnnhau: Tăng TSCĐ sản xuất sẽ dẫn tới tăng thu nhâp quốc dân Tăng thunhập quốc dân sẽ có điều kiện để tái sản xuất mơ rộng TSCĐ TSCĐ tăngthêm trên cơ sở tăng thêm vốn đầu t XDCB Khối lợng vốn đầu t XDCBtăng lên khi thu nhập quốc dân tăng lên và tăng phần tích luỹ trong thunhập quốc dân.
Nguồn vốn đầu t XDCB đợc hình thành từ quỹ tích luỹ có các tính chấtcơ bản sau:
Đợc hình thành từ việc phân phối kết quả của sản xuất kinh doanh
Mức tăng của nguồn vốn này phụ thuộc mức tăng thu nhập quốc dân,chính sách đầu t phát triển sản xuất của Đảng, Nhà nớc và việc hiải quyếtmối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng
Chủ yếu đợc dùng để tái sản xuất mở rộng TSCĐ
Trong điều kiện quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế một bộ phận thu nhậpquốc dân nớc ngoài đợc di chuyển vào nớc ta dới hình thức viện trợ, chovay và trực tiếp đầu t của chính phủ và các tổ chức, cá nhân nớc ngoài.Nguồn vốn đầu t này có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tếnớc ta là không thể phủ nhận, tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
Đảng và Nhà nớc ta luôn coi nguồn vốn đầu t trong nớc (khấu hao cơ bản
và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân) là nhân tố chủ yếu, có tính chất
quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của
mình
3 Phõn loại vốn đầu tư xdcb
Vốn đầu t XDCB chủ yếu đợc phân loại theo một số tiêu thức sau: theonguồn hình thành, theo cơ cấu nghành, cơ cấu công nghệ và cơ cấu tái sảnxuất
3.1/ Vốn đầu t XDCB phân theo nguồn hình thành: Bao gồm vốn ngânsách Nhà nớc cấp, vốn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc (hai nguồn này
đã bao gồm nguồn ODA), vốn đầu t của doanh nghiệp Nhà nớc, vốn đầu tcủa t nhân và dân c, vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài
Trang 113.2/ Vốn đầu t XDCB phân theo cơ cấu nghành: Thể hiện sự phân phốivốn đầu t XDCB giữa các nghành của nền kinh tế quốc dân
3.3/ Vốn đầu t XDCB phân theo cơ cấu công nghệ: Cơ cấu công nghệthể hiện mối tơng quan của vốn đầu t XDCB theo công dụng Tức là thểhiện mối tơng quan giữa các phần chi phí cho các công tác xây dựng cơbản, đó là: vốn cho công tác xây dựng và lắp đặt, cho công tác mua sắmmáy móc và thiết bị và vốn đầu t XDCB cho các công tác kiến thiết cơ bảnkhác
Hoàn thiện cơ cấu công nghệ của vốn đầu t có nghĩa là tăng tơng đốiphần chi mua thiết bị, công cụ Sự thay đổi cơ cấu vốn đầu t XDCB theo h-ớng tăng chi phí mua thiết bị phản ánh tiến bộ kỹ thuật của sản xuất và có ýnghĩa kinh tế quan trọng Việc hoàn thiện cơ cấu công nghệ vốn đầu t sẽ
ảnh hởng tích cực đến cải tiến cơ cấu kỹ thuật của TSCĐ , bằng việc tăngphần máy móc, thiết bị Hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lợng, chất lợng
và trình độ sử dụng các máy móc thiết bị, cho nên nâng cao tỷ trọng chi phíthiết bị, tăng bộ phận tích cực của TSCĐ là một trong những phơng hớngquan trọng của hoàn thiện cơ cấu vốn đầu t
3.4/ Vốn đầu t XDCB phân theo hình thức tái sản xuất: Có bốn hìnhthức tái sản xuất TSCĐ: Xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, trang bị lại kỹthuật các cơ sở hiện có
Trong những giai đoạn nhất định của sự nghiệp xây dựng và phát triểnkinh tế, việc xác định tỷ lệ tối u giữa các hình thức tái sản xuất TSCĐ có ýnghĩa quan trọng Xây dựng mới cho phép áp dụng dễ dàng kỹ thuật mới
và thay đổi sự phân bố các nghành bằng cách bố trí các công trình xây dựngmới tại những nơi hợp lý, bảo đảm khai thác đầy đủ hơn các tài nguyênthiên nhiên Khi nhấn mạnh các u điểm trên, từ góc độ hiệu quả toàn bộ nềnsản xuất xã hội, xây dựng mới có những nhợc điểm nhất định: Đòi hỏi vốn
đầu t lớn, phần đáng kể vốn đầu t đợc hớng vào xây dựng nhà xởng và cáccông trình phục vụ, xây dựng mới là yếu tố phát triển sản xuất theo chiềurộng, còn cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các xí nghiệp hiện có là yếu tố pháttriển sản xuất theo chiều sâu
Có thể đạt đợc hiệu quả đáng kể nhờ cải tạo và trang bị lại các xí nghiệphiện có Điều đó gắn liền với hàng loạt các yếu tố, trớc hết là nhờ sử dụngcác TSCĐ sẵn có, đặc biệt là bộ phận nhà xởng, vật kiến trúc Những mốiliên hệ sản xuất đã đợc xác lập, với cán bộ chuyên môn đã có và kinh
Trang 12ơng đối ít và trong một thời gian ngắn hơn so với xây dựng các xí nghiệpmới Nâng cao năng lực sản xuất bằng cách cải tạo và trang bị lại các xínghiệp hiện có, áp dụng thiết bị kỹ thuật hiện đại hơn sẽ dẫn đến nâng cao
tỷ trọng bộ phận tích cực của TSCĐ (nâng tỷ trọng máy móc, thiết bị) vàgiảm thời hạn thu hồi vốn đầu t Cải tạo và trang bị lại kỹ thuật các xínghiệp không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội, có tác dụnggiảm nhẹ điều kiện lao động và nâng cao trình độ công nhân
Đối với vấn đề cơ cấu công nghệ của vốn đầu t XDCB, cùng với việcxét chọn chặt chẽ các công trình xây dựng mới, đầu t chiều sâu và đồng bộhoá phải đợc coi là một vấn đề rất quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu
đầu t, trớc hết nhằm vào những vào những khâu mấu chốt đem lại hiệu quảcao, tăng nhanh sản lợng và nâng cao chất lợng sản phẩm Đồng thời việc
sử dụng hợp lý, có hiệu quả vốn đầu t XDCB có ý nghĩa hết sức quan trọng
đối với sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá, ổn định và từng bớcnâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
4 Cỏc nguồn hỡnh thành vốn đầu tư xdcb
Vốn đầu t XDCB đợc hình thành từ các nguồn sau:
Vốn ngân sách Nhà nớc đợc hình thành từ một phần tích luỹ trong
n-ớc, một phần vốn khấu hao cơ bản do các đơn vị nộp Nhà nn-ớc, một phầnvốn vay trong nớc thông qua việc phát hành tín phiếu Nhà nớc, một phầnvốn vay nợ và viện trợ không hoàn lại của nớc ngoài bao gồm cả phần vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Vốn ngân sách Nhà nớc đợc cấp theo
kế hoạch Nhà nớc đã giao
Vốn tín dụng u đãi thuộc ngân sách Nhà nớc: hình thành từ ngânsách Nhà nớc, vốn thu nợ các năm trớc, vốn chính phủ vay nợ nớc ngoàitheo mục tiêu dự án phải thoả thuận với nớc ngoài Việc bố trí đầu t cho các
dự án này do chính phủ quyết định cụ thể cho từng đối tợng trong thời kỳ
kế hoạch Vốn vay này đợc hởng lãi suất u đãi hoặc không tuỳ theo dự án,công trình do chính phủ quyết định
Vốn tín dụng thơng mại áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả, và thựchiện đầy đủ các thủ tục đầu t và điều kiện vay trả vốn Vốn tín dụng thơngmại đợc ngân hàng Nhà nớc cho vay trực tiếp các chủ đầu t theo các hìnhthức vay ngắn hạn, dài hạn với lãi suất bình thờng
Vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nớc: vốn này hình thành
từ lợi nhuận để lại, sau khi đã nộp thuế đầy đủ cho Nhà nớc, tiền từ thanh lýtài sản, từ vốn khấu hao đợc Nhà nớc cho để lại, từ vốn cổ phần, vốn liên
Trang 13doanh với các doanh nghiệp khác và từ các quỹ của doanh nghiệp có thểhuy động đợc, cũng nh các khoản tự vay khác mà doanh nghiệp tự có.
Vốn hợp tác liên doanh với nớc ngoài của các doanh nghiệp Nhà nớctheo luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam Vốn này là của các tổ chức cá nhânnớc ngoài trực tiếp đa vào Việt Nam bằng tiền nớc ngoài hoặc bằng tài sảnthiết bị máy móc, nguyên liệu đợc chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợptác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh xínghiệp 100% vốn nớc ngoài
Vốn góp của nhân dân: là vốn huy động nhân dân đóng góp bằngtiền, hiện vật hoặc bằng công lao động cho các dự án đầu t, chủ yếu sửdụng vào việc xây các công trình phúc lợi công cộng phục vụ trực tiếp chongời góp vốn theo điều kiện cam kết khi huy động vốn
Vốn đầu t của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh: là vốn đầu t củacác chủ đầu t là các đơn vị tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh nh doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn công ty cổphần dùng vào đầu t xây dựng cơ bản, vốn này có thể là vốn tự có hoặc vốnvay
Những nguồn vốn khác: ngoài những nguồn vốn nói trên, còn có vốn
đầu t của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các cơ quan nớc ngoàikhác đợc phép xây dựng trên nớc ta
Thất thoỏt trong XDCB cú nhiều nguyờn nhõn, cú nguyờn nhõn chủquan và nguyờn nhõn khỏc quan, về tự nhiờn, kinh tế, xó hội… nhưng cúthể tạp hợp thành cỏc nhúm nguyờn nhõn cơ bản sau:
- Cỏc nguyờn nhõn thuộc về chớnh sỏch nhà nước, cơ chế quản lýXDCB, mà vấn đề hàng đầu là quản lý cấp phỏt vốn đầu tư
- Hệ thống tiờu chuẩnkinh tế kỹ thuật, định mức tiờu hao vật chất, đơngiỏ xõy dựng, đấu thầu chưa phự hợp với cơ chế thị trường ở nước ta hiệnnay
- Chủ trương đầu tư, thanh kiểm tra, tham nhũng, năng lực, trỡnh độtay nghề cụng nhõn trong toàn bộ hệ thống từ cơ quan cấp phỏt vốn, quản
lý vốn đền sử dụng vốn
III CÁC DẠNG THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ TRONG XDCB
Trang 14Đây là một tình trạng thất thoát và lãng phí chi tiêu công diễn ra rấtnghiêm trọng Có thể kể đến các dạng thất thoát và lãng phí trong đầu tưxây dựng cơ bản như sau:
- Thất thoát và lãng phí trong khâu quy hoạch: Không có quy hoạchhoặc quy hoạch chất lượng thấp
- Thất thoát và lãng phí trong khâu xác định chủ trương đầu tư
- Thất thoát và lãng phí đầu tư trong khâu thẩm định, phê duyệt, thiết kế
kỹ thuật, tổng dự toán;
- Thất thoát và lãng phí trong khâu kế hoạch hoá đầu tư;
- Thất thoát và lãng phí trong đấu thầu xây dựng;
- Thất thoát và lãng phí trong công tác chuẩn bị xây dựng;
- Thất thoát và lãng phí trong tổ chức thực hiện;
- Thất thoát và lãng phí trong cơ chế quản lý giá trong xây dựng;
- Thất thoát và lãng phí trong khâu thanh toán;
- Thất thoát và lãng phí trong khâu quyết toán;
2 Nguyên nhân thất thoát và lãng phí trong đầu tư xdcb
Thất thoát trong XDCB có nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân chủquan và nguyên nhân khác quan, về tự nhiên, kinh tế, xã hội… nhưng cóthể tạp hợp thành các nhóm nguyên nhân cơ bản sau:
- Các nguyên nhân thuộc về chính sách nhà nước, cơ chế quản lýXDCB, mà vấn đề hàng đầu là quản lý cấp phát vốn đầu tư
- Hệ thống tiêu chuẩnkinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao vật chất, đơngiá xây dựng, đấu thầu chưa phù hợp với cơ chế thị trường ở nước ta hiệnnay
- Chủ trương đầu tư, thanh kiểm tra, tham nhũng, năng lực, trình độtay nghề công nhân trong toàn bộ hệ thống từ cơ quan cấp phát vốn, quản
lý vốn đền sử dụng vốn
Trang 16CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ VỐN
ĐẦU TƯ XDCB Ở NƯỚC TA
I.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ Ở NƯỚC TA
1 Thực trạng đầu tư chung ở Việt Nam những năm gần đây
Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển trong những năm qua,ngày càng tăng
Trong giai đoạn từ năm 2001-2005 Tổng chi Ngân sách Nhà nước bìnhquân bằng 28% GDP, trong đó chi cho đầu tư phát triển đạt bình quân30,2% tổng chi ngân sách nhà nước Vốn tín dụng đầu tư phát triển củaNhà nước có xu hướng cải thiện về mặt chất lượng và phương thức tài trợnhưng tỉ trọng không có sự gia tăng đáng kể: Giai đoạn 1991-1995, nguồnvốn này chiếm 5,6% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội thì giai đoạn 2001-
2005 đã chiếm 14% tổng số vốn toàn xã hội Nguồn vốn dân cư và tư nhântiếp tục gia tăng cả về quy mô và tỉ trọng chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu
tư toàn xã hội.Nguồn vốn trong nước đã được khai thác khá hơn, chiếmtrên 70% so với tổng vốn đầu tư, vượt dự kiến kế hoạch (60%), tạo điềukiện tốt hơn để tập trung đầu tư vào những mục tiêu phát triển nông nghiệp
và nông thôn, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt là xây dựng kết cấu hạ tầng;đồng thời đã có nhiều hình thức huy động mới như công trái giáo dục, tráiphiếu Chính phủ, trái phiếu đô thị , tăng thêm nguồn vốn đầu tư phát triển.Bên cạnh đó, chúng ta luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bênngoài, cả ODA và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm khoảng 30%tổng vốn đầu tư phát triển, coi đó là yếu tố quan trọng, góp phần tăng thêmnguồn vốn đầu tư phát triển, tạo ra cơ cấu hợp lý để thúc đẩy việc thực hiệncác mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trang 17Từ năm 1993 đến hết năm 2006, Việt Nam đã tổ chức được 14 hội nghịnhóm tư vấn các nhà tài trợ với tổng mức vốn cam kết hơn 36 tỷ USD Vớiquy mô tài trợ khác nhau, hiện nay Việt Nam có trên 45 đối tác phát triểnsong phương và hơn 350 tổ chức quốc tế và phi chính phủ dang hoạt động Đối với Việt Nam, sau 20 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa,nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã từng bước góp phần bổ sung vốn quantrọng cho đầu tư phát triển Tính từ năm 1998 đến giữa năm 2007, trênphạm vi cả nước đã có hàng nghìn dự án được cấp phép với tổng số vốnđăng ký là hơn 75 tỷ triệu USD Trong giai đoạn 2001-2006, FDI chiếmtrung bình khoảng 16,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Cho dến nay, ViệtNam đã thu hút được khoảng 70 quốc gia và vũng lãnh thổ đưa vốn vàođầu tư dưới các hình thức khác nhau.
2 Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực đầu tư:
Huy động các nguồn vốn đầu tư trong những năm qua tăng khá
Hàng năm vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng khoảng 18%, nhờ đó,
tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP không ngừng tăng Nguồn vốn đầu tư từ ngânsách Nhà nước đã có tác động thu hút được các nguồn vốn khác Trongđiều kiện nguồn vốn ngân sách Nhà nước hạn hẹp, Chính phủ đã thực thinhiều cơ chế để tăng cường thu hút đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân trongnước và nước ngoài, huy động nguồn vốn công trái giáo dục, trái phiếuChính phủ, trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình góp phần tăng nhanhtổng nguồn vốn đấu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển
Cơ cấu đầu tư đã có sự dịch chuyển, tập trung cho những mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế- xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Do các nguồn lực được huy động tốt hơn và tập trung đầu tư vào một sốcông trình chủ yếu, quan trọng trong các ngành, lĩnh vực và địa phương,đầu tư chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất theo hướng hiệu quả và phát huyđược lợi thế từng vùng, từng ngành, từng sản phẩm, tăng khả năng cạnh
Trang 18tranh của nền kinh tế; chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tếnông thôn.
Có nhiều đổi mới trong cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, trong chỉ đạo, điểu hành của Chính phủ
Trong hoạt động đầu tư, Nhà nước quản lý chặt chẽ đầu tư từ nguồnngân sách Nhà nước và tạo khung pháp lý cùng các hỗ trợ cần thiết cho nhàđầu tư mà không trực tiếp quyết định đầu tư Đồng thời, Nhà nước thựchiện cơ chế giám sát, kiểm tra, đánh giá, để thực hiện hiệu quả dự án đầu
tư, giảm bớt sai sót, vi phạm, thất thoát Trong quản lý đầu tư, đã tăngcường được vai trò của Hội đồng Nhândân, coi trọng sự tham gia giám sátcúa cộng đồng và các tổ chức xã hội
3 Một số tồn tại trong đầu tư
Chưa huy động hết tiềm năng các nguồn vốn cho đầu tư của nền kinh tế
Nhiều bộ, ngành và địa phương chưa chú trọng huy động các nguồnvốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước mà chủ yếu vẫntrông chờ vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước và nguồn vốn có nguồn gốcngân sách cho, chưa đủ sức thu hút được nhiều các nguồn vốn khác thamgia đầu tư, đặc biệt là khu vực tư nhân nên đã hạn chế rất lớn về quy môđầu tư, nhất là đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng có khả năng thu hồi vốnnhanh
Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn những hạn chế,chưa phục hồi được tốc độ huy động cao như những năm trước đây
Khối lượng giải ngân nguồn vốn ODA đạt thấp so với kế hoạch, hàngnăm chỉ đạt khoảng 80 - 90% mức đề ra
Cơ cấu đầu tư chưa thật hợp lý, sử dụng các nguồn vốn đầu tư chưa hiệu quả
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
Trang 19Chất lượng các dự án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội còn nhiềuhạn chế, các dự án quy hoạch chưa có tầm nhìn dài hạn, chưa có đủ các căn
cứ vững chắc, nhất là cấc thông tin về dự báo, nhất là dự báo tác động củacác yếu tố bên ngoài như thị trường thế giới, tiến bộ khoa học công nghệ,
sự cạnh tranh của các quốc gia và doanh nghiệp
Quản lý Nhà nước về quy hoạch còn nhiều yếu kém mà biểu hiện rõnhất là phân công, phân cấp không rõ ràng, thiếu một khung pháp lý đầy đủcho việc lập, phê duyệt, quản lý quy hoạch, thiếu sự chỉ đạo và hướng dẫnthống nhất về các vấn đề liện quan đến công tác quy hoạch, trách nhiệm đốivới công tác quy hoạch chưa đủ tầm.Việc thẩm định, kiểm tra, giám sát quyhoạch còn yếu, có trường hợp quy hoạch có chất lượng thấp vẫn đượcthông qua
Bố trí đầu tư còn dàn trải
Nhìn chung, bố trí đầu tư còn rất dàn trải, phân tán thể hiện ở tất cả cácnguồn, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước Nhữngnăm gần đây đã có tiến bộ bước đầu (tập trung hơn cho các dự án thuộcnhóm A); tuy nhiên nhiều Bộ, ngành và nhiều địa phương vẫn còn tìnhtrạng bố trí vốn chưa tập trung, chủ yếu là đối với các công trình, dự ánnhóm B và C
Lãng phí, thất thoát trong đầu tư còn lớn
Lãng phí, thât thoát vốn đầu tư hàng năm của Việt Nam phải lên tớihàng tỉ đồng Thực tế tình trạng này diễn ra phổ biến ở nhiều công trình, dự
án, lĩnh vực Tỉ lệ thất thoát, lãng phí của những công trình có mức lãngphí, thất thoát thấp cũng tới 10%, cao thì lên tới 30-40%, thậm chí có côngtrình lên đến 80% Trên phạm vi cả nước, mỗi năm có không dưới 500cuộc thanh tra, kiểm tra quy mô khác nhau và kết quả là không có cuộcthanh tra, kiểm tra nào là không tìm ra được những sai phạm
Tình hình nợ đọng trong đầu tư còn là vấn đề bức xúc
Trang 20Nợ đọng trong đầu tư, đặc biệt là trong đầu tư xây dựng cơ bản đang làvấn đề bức xúc hiện nay, vượt quá khả năng cân đối của ngân sách, chưađược xử lý dứt điểm Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tình hình thực hiệnvượt kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các Bộ, ngành và địaphương vẫn tiếp diễn và có xu hướng tăng (sau khi rà soát lại, số nợ vẫncòn trên 5 nghìn tỷ đồng, Trung ương khoảng 2 nghìn tỷ đồng, địa phươngkhoảng 3 nghìn tỷ đồng).
Các cơ chế chính sách trong lĩnh vực đầu tư còn chậm được sửa đổi,
bổ sung và hoàn chỉnh, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tế của công tác quản lý hiện nay.
Công tác quản lý đầu tư còn nhiều thiếu sót, buông lỏng: công tác giámsát đầu tư, giám sát thi công chưa chặt chẽ, thiếu chế tài cụ thể để quy rõtrách nhiệm cá nhân và tập thể
Cơ chế tín dụng đầu tư ưu đãi còn nhiều bất cập: đối tượng cho vay dàntrải, mở rộng quá mức; lãi suất cho vay thấp, kéo dài thời gian trả nợ,khoanh nợ, dùng ngân sách để trả nợ vay Hiện tồn tại nhiều mức lãi suấttrong tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, gây phức tạp trong quản lý,đồng thời dễ phát sinh tiêu cực Về hình thức tín dụng, chủ yếu vẫn là chovay theo dự án, hình thức hỗ trợ lãi suất sau đầu tư mới được áp dụng
Những tồn tại trong công tác đấu thầu
Việc nhận thức công tác Đấu thầu còn nhiều hạn chế cả về nội dungđấu thầu, quy trình, trình tự và các quy định khác Một số cán bộ thuộc đơn
vị Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án thiếu tính chuyên nghiệp, chưa được đàotạo đầy đủ, thiếu kinh nghiệm nên còn nhiều hạn chế trong triển khai côngtác đấu thầu
Nhiều trường hợp không thực hiện đúng Quy chế Đấu thầu như mởthầu chậm, chỉ định thầu vượt mức cho phép, tổ chức đấu thầu mang tìnhhình thức, đặc biệt là hình thức đấu thầu hạn chế
Trang 21Chất lượng các công tác phục vụ cho đấu thầu (trực tiếp hoặc gián tiếp)như chất lượng của báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, tổng dựtoán còn thấp.
Các quy định trong một số hộp đồng thầu quá đơn giản, chưa đủ chặtchẽ, chưa gắn trách nhiệm giữa Chủ đầu tư và nhà thầu, dồn sức ép vàomột phía, thiếu các điều kiện chi tiết gây khó khăn cho thực hiện
Tồn tại trong giám sát và đánh giá đầu tư
Công tác giám sát và đánh giá đầu tư chưa được tất cả các Bộ, ngành vàđịa phương quan tâm đúng mức và thực hiện nghiêm túc theo quy định; chỉ
có khoảng 30% các chủ dự án sử dụng vốn ngân sách có báo cáo về giámsát và đánh giá đầu tư Chất lượng các báo cáo về đánh giá đầu tư còn sơsài, chưa đủ các thông tin cần thiết để tổng hợp báo cáo
Công tác giám sát nói chung còn chưa thường xuyên, bị động và chủyếu tổng hợp từ các báo theo quy định, chưa có tác dụng phát hiện kịp thời
và xử lý các vi phạm Công tác giám sát cộng đồng chưa được chú trọng
Thanh, quyết toán công trình còn chậm do thủ tục phức tạp
Việc giải ngân, thanh toán khối lượng vốn đầu tư hoàn thành còn chậm,chủ yếu do các thủ tục thanh toán phức tạp, công tác nghiệm thu của cácchủ đầu tư và các ban quản lý công trình còn chậm Chất lượng công tác tưvấn thiết kế chưa đảm bảo yếu cầu, nên trong quá trình triển khai thi công
đã phát sinh nhiều khối lượng không được chủ đầu tư bổ sung kịp thời, ảnhhưởng đến công tác thanh toán
II NHỮNG THÀNH TỰU TRONG ĐẦU TƯ XDCB
1 Giai đoạn 2001 – 2004
Trong 4 năm (2001-2004) vốn NSNN đã bố trí chi cho đầu tư phát triểnkhoảng 190 ngàn tỷ đồng, đạt 28,8% so với tổng chi NSNN và vượt so vớimục tiêu Đại hội Đảng IX đề ra (25- 26%) Trong đó, vốn cho đầu tư xâydựng cơ bản (XDCB) là 152,4 nghìn tỷ đồng, với vốn đầu tư bố trí ngày
Trang 22tỉnh, thành phố tăng cao hơn so với các Bộ, ngành Trung ương (địa phươngtăng khoảng 40%, Trung ương tăng khoảng 25%) Riêng năm 2004, tổngchi đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước là 47,7 nghìn tỷ đồng, (vốn đầu
tư thuộc địa phương quản lý là 68%, thuộc trung ương quản lý là 32%)trong đó đã tập trung chú trọng việc bố trí vốn cho lĩnh vực xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội Có thể nói đây là sự nỗ lực rất lớn của NSNN
“thắt lưng buộc bụng” dành nguồn tăng chi đầu tư, đồng thời là nguồn vốn
“mồi” thu hút thêm các nguồn lực toàn xã hội cho đầu tư phát triển
Trong những năm qua vốn đầu tư XDCB đã góp phần phát triển nhanhkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kết cấu hạtầng kỹ thuật và kinh tế- xã hội ngày càng được phát triển, hoàn thiện, thayđổi diện mạo của nhiều địa phương trong cả nước Tốc độ và quy mô tăngđầu tư XDCB đã góp phần quan trọng vào tốc độ tăng GDP hàng năm, tăngcường tiềm lực nền kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân Nguồn vốn quan trọng này cũng đã góp phần quan trọngchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăngđáng kể năng lực nhiều ngành sản xuất, kinh doanh góp phần tạo thêmsức cạnh tranh của nền kinh tế trong xu hướng hội nhập
Tuy nhiên, nhìn nhận, đánh giá về lĩnh vực đầu tư, XDCB m y nămqua vẫn còn những “mảng tối” là tình trạng thất thoát, lãng phí, tiêu cực,đầu tư dàn trải, hiệu quả đồng vốn đầu tư đạt thấp đã trở nên khá phổ biến
Có thể khẳng định việc thất thoát, lãng phí thể hiện ở tất cả các giai đoạn,các khâu trong lĩnh vực đầu tư Trước hết là trong công tác phê duyệt thủtục đầu tư, tư vấn, lập thiết kế, dự toán Trên thực tế đã có không ít dự án,cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết định đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dựtoán thiếu chính xác phải điều chỉnh nhiều lần, làm ảnh hưởng đến tiến
độ, chất lượng thi công, gây lãng phí vốn đầu tư Việc thực hiện kế hoạchđầu tư vốn chờ công trình, thời gian đầu tư kéo dài, chậm đưa vào khaithác, sử dụng gây lãng phí, hạn chế hiệu quả đầu tư vẫn còn phổ biến Bên
Trang 23cạnh đó, tình trạng nợ đọng vốn đầu tư lớn và kéo dài nhiều năm, triển khai
kế hoạch vốn đầu tư của các Bộ, ngành, địa phương thường chậm, cùng với
xu hướng ngày càng tăng các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư vẫn được bố trí
kế hoạch cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng đầu tư.Một vấn đề đã được đề cập đến rất nhiều là tình trạng đầu tư quá dàntrải, phân tán, thiếu tập trung trong khi nguồn vốn NSNN còn hạn h‹p, vẫntrở nên phổ biến và đang có xu hướng tăng lên ở các Bộ, ngành, địaphương, đặc biệt là các dự án B, C Theo số liệu tổng hợp năm 2001 tổng
số các dự án đầu tư thuộc các nhóm khoảng 7.000 dự án (trong đó nhóm A
đã hạn h‹p lại phải phân tán, “rải mành mành” làm nhiều dự án cùng dởdang chậm đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả đồng vốn đầu tư Có thể nóiđây là một nguyên nhân không nhỏ gây thất thoát, lãng phí trong đầu tưXDCB, nhưng khắc phục còn chậm
Việc thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB còn có nhiều nguyên nhânkhác như công tác quy hoạch còn hạn chế, không theo kịp với tốc độ đầu
tư, nên nhiều dự án phải điều chỉnh, hoặc di chuyển làm kéo dài thời gian,cũng như gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư
Thất thoát qua đấu thầu, chỉ định thầu các dự án, ách tắc tiêu cực tronggiải phóng mặt bằng cũng làm mất đi không ít những đồng vốn của Nhànước đang phải “thắt lưng buộc bụng” dành cho đầu tư Việc thực hiệnnguồn vốn ODA, bố trí vốn đối ứng không đủ cũng không những làm chậm
Trang 24mà còn làm tăng chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng Ngoài ra, cơ chếchính sách trong quản lý đầu tư chưa đồng bộ, năng lực của các cá nhântham gia các khâu trong quá trình đầu tư chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đặtra- trong đó có một số bộ phận cán bộ cố ý làm trái gây thất thoát, tiêu cực-việc thực hiện giám sát, quản lý chất lượng công trình cũng như xử lý cácsai phạm còn hạn chế, nương nhẹ cũng làm “đậm” thêm sự lãng phí, thấtthoát, tiêu cực trong lĩnh vực đầu tư XDCB
2 Những thành tựu trong năm 2005 - 2007
Kế hoạch “chi tiêu” đối với đầu tư phát triển từ NSNN năm cuối của
kế hoạch 5 năm còn khá nặng, dự kiến khoảng 64,5 tỷ đồng, tăng 9,2% sovới thực hiện năm 2004 và chiếm 28% tổng chi ngân sách năm nay Tuyvậy một vấn đề còn “nặng” hơn là làm sao quản lý hiệu quả nguồn vốn nàycho “xứng tầm” với năm chống thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải trongđầu tư XDCB Bởi nguyên nhân của tình trạng lãng phí, thất thoát, tiêu cựctrong đầu tư nêu trên không hề có gì mới và đã được “đúc rút” từ nhiềunăm trước, nhưng trên thực tế thì vẫn đang rất khó khăn, lúng túng để tìmđược “liều thuốc đặc trị” thực sự hiệu quả
Năm 2005, những giải pháp nhằm hạn chế những bất cập trong đầu tưXDCB như tiếp tục hoàn thiện chính sách, văn bản pháp luật, thực hiện cơchế phối hợp tránh sự chồng chéo trong công tac quản lý Nhà nước; nângcao “tầm nhìn”, chất lượng, tính đồng bộ, tính pháp lý trong công tác quyhoạch, kế hoạch đầu tư XDCB; duy trì và nâng cao chất lượng các hoạtđộng kiểm tra, thanh tra, giám sát; cải cách hành chính trong lĩnh vực đầu
tư sẽ được tăng cường thực hiện để phát huy cao hơn hiệu quả của nhữngcông cụ này Đặc biệt, năm 2005 sẽ áp dụng các cơ chế giải pháp mạnhtrong việc làm rõ trách nhiệm của cá nhân, tập thể trong từng khâu như chủđầu tư, chủ dự án, tư vấn, thiết kế, nhà thầu đến việc nghiệm thu thanh,quyết toán Đây là một giải pháp được nhiều chuyên gia coi là “đột phákhẩu” trong việc quản lý chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong đầu tư
Trang 25Cụ thể là từ năm nay, sẽ cú chế tài chặt chẽ về trỏch nhiệm cỏ nhõn trongtừng khõu đầu tư Đồng thời kiờn quyết “tuyờn chiến” với tỡnh trạng dự ỏnđầu tư dàn trải khụng đỳng quy hoạch, kế hoạch; tỡnh trạng thực hiện vốnđầu tư vượt dự toỏn dẫn đến nợ đọng; kộo dài thời gian thực hiện dự ỏn sovới quy định đối với từng loại dự ỏn Đối với cỏc cơ quan chức năng Nhànước thực hiện phõn cấp rừ ràng trỏch nhiệm rừ ràng, khụng chồng chộonhiệm vụ và cú cỏc quy định phỏp lý cụ thể về trỏch nhiệm trong từngkhõu của quỏ trỡnh đầu tư Việc thất thoỏt lóng phớ trong đầu tư, cú thể núinếu “búc tỏch” ra thỡ cú khỏ nhiều nguyờn nhõn, mà cỏc cơ quan chức năngphải tớnh đến để cú cỏc giải phỏp phự hợp, nhưng xột cho cựng chủ yếu vẫn
là do con người Đú là một bộ phận cỏn bộ nằm trong cỏc “mắt xớch” trongquy trỡnh đầu tư yếu kộm về năng lực trỡnh độ chuyờn mụn, xuống cấp vềphẩm chất đạo đức, cố tỡnh coi thường và vi phạm phỏp luật, nhưng laịkhụng được xử lý nghiờm dẫn đến “nhờn thuốc” Chớnh vỡ vậy, việc cúnhững chế tài đủ mạnh về trỏch nhiệm cỏ nhõn, tập thể; tăng cường kiểmtra, giỏm sỏt, kịp thời xử lý kiờn quyết những sai phạm; xiết chặt kỷ cươngtrong bộ mỏy Nhà nước trong tất cả cỏc khõu đầu tư vẫn cần phải đượccoi là “điểm nhấn” quan trọng trong năm “nõng cao hiệu quả đầu tư chốngthất thoỏt, lóng phớ, đầu tư dàn trải, nợ đọng vốn trong đầu tư XDCB” này
III THỰC TRẠNG THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ VỐN ĐẦU TƯ XDCB Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
Trong những năm qua, việc thực hiện đầu t XDCB nhiều công trình lớnnhỏ đã hoàn thành và đợc đa vào sử dụng Trong đó có nhiều công trình cóvai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế củ nền kinh tế quốc dân nhthuỷ đIện Thác Mơ, đờng dây đIện 500 KV bắc nam, đờng quốc lộ 5 HàNội –HảI Phòng, đờng cao tốcLáng Hoà Lạc Những kết quả đó làm tăngthêm cho đất nớc nhiều năng lực sản xuất mới trên nhiều lĩnh vực kinh tế xã
hội Chớnh phủ đó đầu tư vốn d nh cho xõy dành cho xõy d ựng cơ bản chiếm khoảng 30
- 35% GDP Trong 5 năm (2001-2004), vốn đầu tư xõy dựng cơ bản trong
Trang 26bản hiện nay đang xảy ra phổ biến ở mức 10 - 40%" Vậy đâu là nguyênnhân của tình trạng này?Lãng phí thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bảnhiện còn rất lớn là những vấn đề nổi cộm nhất hiện nay Theo kết quả kiểmtra năm 2002 của 995 dự án với tổng số vốn đầu tư 20.736 tỷ đ đã phát hiện
về sai phạm về tài chính và sử dụng vốn đầu tư 1151 tỷ đ bằng khoảng5,5% tổng số vốn đầu tư các công trình được kiểm tra Riêng 17 công trình
do Thanh tra Nhà nước thực hiện kiểm tra đã phát hiện sai phạm về tàichính chiếm khoảng 13% Đó là chưa kể tới những lãng phí lớn do chậmtriển khai công trình và nhất là do sai sót trong chủ trương đầu tư mà hiệnchưa có cách đánh giá thống nhất Cũng trong năm 2003 Thanh tra Nhànước đã phối hợp với các Bộ ngành tiến hành nhiều hoạt động trong việcchấp hành nhiều quy định về đầu tư, đơn giá, khối lượng chủng loại vật tư
đã phát hiện tổng số sai phạm về tài chính là 1.235 tỷ đ chiếm trên 14%tổng số vốn
*** Nguyên nhân của tình trạng này thể hiện ở tất cả các khâu trong
quá trình đầu tư, hệ thống chính sách pháp luật về quản lý đầu tư, xây dựng
và đất đai chưa đồng bộ, chưa xác định rõ vai trò của chủ sở hưũ của Nhànước, phân công phân cấp chưa rõ ràng Theo báo cáo của Bộ KH- ĐT thìtổng nguồn vốn huy động và đưa vào nền kinh tế 3 năm qua, tính theo giánăm 2000 vào khoảng 526 tỷ đ chiếm 55,2% đạt gần 70% kế hoạch được
đề ra Trong đó đầu tư vốn thuộc khu vực nhà nước 290 ngàn tỷ đ, chiếm55,2%, vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư chiếm 25,3% vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài chiếm 17,8% Nguồn vốn trong nước đã được khaithác khá hơn chiếm trên 70% so với tổng số vốn đầu tư đã tạo điều kiện tốthơn để tập trung đầu tư vào những mục tiêu phát triển nông nghiệp và nôngthôn, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn lực phát triển khoahọc công nghệ, đặc biệt xây dựng kết cấu hạ tầng đồng thời đã có nhiềuhình thức huy động mới như công trái giáo dục, trái phiếu Chính phủ, tráiphiếu đô thị đã tăng thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển Cùng với việc
Trang 27điều chỉnh chớnh sỏch và cơ cấu đầu tư cho nờn quy mụ vốn đầu tư ở cỏcvựng đều tăng mạnh Theo đú tỷ trọng vốn đầu tư ở cỏc vựng miền nỳivựng khú khăn tằn hơn so với thời kỳ 1996-2000 Cựng với việc giữ vữngmụi trường kinh tế vĩ mụ ổn định, giảm chi phớ đầu tư, giải quyết nhữngvướng mắc cụ thể cho cỏc nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, trong 3năm qua đó ban hành hàng loạt cỏc cơ chế chớnh sỏch mang tớnh khuyếnkhớch cao từng bước hạn chế và xoỏ bỏ những rào cản đó tạo ra nhiều
khả năng huy động cỏc nguồn vốn cho đầu tư phỏt triển
Bên cạnh đó còn rất nhiều tồn tại trong lĩnh vực này, vì vậy ta đi vào tìmhiểu thực trạng của nó
Lóng phớ, thất thoỏt trong đầu tư và xõy dựng vẫn cũn là vấn đề nổicộm hiện nay Cũn cú những biểu hiện tiờu cực trong quản lý đầu tư và thicụng cụng trỡnh Chất lượng ở một số cụng trỡnh cũn thấp, gõy lóng phớ vàkộm hiệu quả trong đầu tư
Cụ thể, kết quả kiểm tra năm 2002 của 995 dự ỏn với tổng vốn đầu tư20.736 tỷ đồng, đó phỏt hiện sai phạm về tài chớnh và sử dụng vốn đầu tư là1.151 tỷ đồng, bằng khoảng 5,5% tổng vốn đầu tư cỏc cụng trỡnh đượckiểm tra Riờng 17 cụng trỡnh do Thanh tra Nhà nước thực hiện kiểm traphỏt hiện sai phạm tài chớnh lờn tới 13% Đú là chưa kể đến cỏc lóng phớlớn do chậm triển khai cụng trỡnh và nhất là do sai sút trong chủ trương đầu
tư mà hiện chưa cú cỏch đỏnh giỏ thống nhất
Năm 2003, hoạt động thanh tra được siết chặt hơn, trong tổng số vốn8.235 tỷ đồng đầu tư cho cỏc cụng trỡnh xõy dựng cơ bản thỡ sai phạm tàichớnh lờn tới trờn 1.200 tỷ đồng, chiếm trờn 14% tổng số vốn
Nguyờn nhõn của tỡnh trạng thất thoỏt đầu tư cú nhiều, thể hiện ở tất cảcỏc khõu trong quỏ trỡnh đầu tư, hệ thống chớnh sỏch, phỏp luật về quản lýđầu tư và xõy dựng, quản lý đất đai chưa đồng bộ Nghịch lý là ngay từkhõu tớnh toỏn, xỏc định tổng mức vốn đầu tư cho dự ỏn đó thất thoỏt, nhiều
Trang 28dự án thiên về thiết kế phô trương hình thức, không phù hợp với thực tế sửdụng
Ngoài ra là 1001 những biểu hiện tiêu cực trong quản lý và thi côngcông trình rút ruột tiền Nhà nước, tình trạng chủ đầu tư và bên thi côngmóc nối, thoả thuận khai tăng số lượng, điều chỉnh dự toán rút tiền và vật
tư của công trình
Nợ đọng vượt khả năng cân đối của Ngân sách
Đây là vấn nạn đã được đặt ra từ rất lâu nhưng vẫn tiếp diễn và ngàycàng có xu hướng tăng Sau khi rà soát lại, số nợ đọng trong đầu tư và xâydựng cơ bản vẫn còn trên 5.000 tỷ đồng; trong đó, Trung ương khoảng2.000 tỷ và 3.000 tỷ còn lại là các địa phương
Vấn đề được đặt ra là hiện khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư từ Ngânsách Nhà nước rất hạn hẹp, chỉ đáp ứng được 40 - 50% nhu cầu Nguyênnhân có nhiều, nhưng điều đáng nói là các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố cònbuông lỏng quản lý đầu tư và xây dựng, cơ chế quản lý thiếu chế tài ''kiểmsoát và hạn chế việc phê duyệt dự án đầu tư tràn lan''
Ước tính hiện có khoảng 18% dự án chậm tiến độ, mà chủ yếu là ở cácđịa phương Có tỉnh như Lạng Sơn có trên 31% dự án phải điều chỉnh,thậm chí như Cà Mau có trên 69% dự án vi phạm thủ tục đầu tư Nhiều Bộ,ngành, địa phương còn tư tưởng ''nể nang'', dễ dàng với các chủ đầu tưtrong việc vay mượn vốn
Giải ngân ODA giảm dần
Khối lượng giải ngân nguồn vốn ODA còn thấp so với kế hoạch, hàngnăm chỉ đạt khoảng 80 - 90% mức đề ra Đến nay mới giải ngân được 13,5
tỷ USD trên tổng số 25 tỷ USD cam kết Tỷ lệ giải ngân giảm dần qua cácnăm Khối lượng giải ngân đạt thấp do nhiều nguyên nhân, trong đó, chủyếu là các nguyên nhân chủ quan như: chậm giải phóng mặt bằng; Các Bộ,ngành và địa phương bố trí không đủ vốn đối ứng, năng lực của các banquản lý dự án ODA còn thấp, thủ tục chưa hài hoà trong và ngoài nước
Trang 29Nhiều Bộ, ngành, địa phương chưa chú trọng huy động các nguồn vốnđầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước mà chủ yếu vẫntrông chờ vào nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn có nguồn gốcngân sách, chưa đủ sức thu hút các nguồn vốn khác tham gia đầu tư, đặcbiệt là khu vực tư nhân nên đã hạn chế rất lớn về quy mô đầu tư, nhất làđầu tư các công trình cơ sở hạ tầng có khả năng thu hồi vốn
Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn nhiều hạn chế,chưa phục hồi được tốc độ huy động cao như những năm trước đây Hầuhết các dự án được cấp giấy phép gần đây đều có quy mô nhỏ, môi trườngđầu tư tuy được cải thiện nhiều nhưng mức độ cạnh tranh so với các nướctrong khu vực vẫn chưa cao và còn nhiều bất cập như: một số chính sáchhay thay đổi và khó dự báo trước, có tình trạng cạnh tranh chưa hợp lýtrong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài giữa các địa phương
1 Khâu khảo sát thiết kế
Trong hoạt động XDCB, khảo sátvà thiết kế giữ vai trò quan trọng đốivới giá thành, chất lượng, quy mô và tuổi thọ công trình Một khi công việcnày làm không tốt có thể sẽ gây ra thất thoát lãng phí ở các bước sau:
- Lập phương án đầu tư không chính xác dẫn tới thừa vốn gây căngthẳng giả tạo khi sắp xếp bố trí kế hoạch vốn chung cho toàn ngành, toànquốc
Việc thừa vốn ở dự án này đôi khi không thể chuyển sang dự án khácnên nhiều chủ đầu tư phải tìm cách sử dụng cho hết vốn, công trình sinh rachắp vá, tốn kém Tại Dự án nâng cấp QL5, do tính toán vốn đầu tư banđầu không chính xác nên tổng số vốn đầu tư dôi ra khá nhiều, người ta phảinghĩ ra việc xây dựng đường gom, cầu vượt
Tất nhiên những công trình này khá hữu ích nhưng đã gây ra các khoảntốn kém không đáng có như: chi phí khảo sát thiết kế, đấu thầu cho toàn bộcông trình tăng lên do phải làm 2 lần; việc đào phá những nơi tiếp giáp